Chủ Nhật, 19 tháng 11, 2017

Chính sách truy cập mở nên đi trước/đi cùng với chính sách về dữ liệu mở và OER


Truy cập mở (OA) tới các kết quả đầu ra nghiên cứu không phải là khái niệm bị cách ly. Nó nằm trong hệ sinh thái rộng lớn của các vấn đề ‘mở’ đang nắm lấy gốc rễ trong môi trường nghiên cứu khoa học và quả thực, trong xã hội rộng lớn hơn với các chương trình nghị sự mở của nó được tập trung vào thông tin của phạm vi công cộng mở. Cùng với OA trong lĩnh vực khoa học là những điều như vậy như Dữ liệu Mở, Sổ tay Mở (hoặc Khoa học Mở), Tài nguyên Giáo dục Mở - OER (các tư liệu dạy và học), Đổi mới Mở và Phần mềm Nguồn Mở.
Quan trọng, có sự phụ thuộc lẫn nhau giữa những thứ đó. Việc mở ra các tư liệu dạy và học có thể là chỉ một phần được lưu trữ nếu thông tin nghiên cứu không thể bao gồm vì nó vẫn còn bị khóa đằng sau các rào cản mất tiền sở hữu độc quyền: các kết quả nghiên cứu là các tư liệu dạy học trong nhiều trường hợp. Các sổ tay phòng thí nghiệm mở chỉ đi với vài cách thức hướng tới làm cho các kết quả thí nghiệm sẵn sàng cho tất cả mọi người: ngữ cảnh và sự tổng hợp các phát hiện trong lĩnh vực đó được thấy trong các bài báo nghiên cứu sẽ là OA cùng với các nội dung của sổ tay đó. Vì thế OA là bước đầu sớm quan trọng trong sự dịch chuyển hướng tới việc tạo ra tri thức chung và xây dựng các xã hội tri thức đúng đắn.
Open Access to research outputs is not an isolated concept. It sits within a broad ecosystem of ‘open’ issues that are taking root in the scientific research sphere and, indeed, in the wider society with its open agenda focused on open public domain information. Alongside Open Access in the scientific domain are such things as Open Data, Open Notebooks (or Open Science) 65 , Open Educational Resources (OER; teaching and learning materials) 66 , Open Innovation and Open Source Software.
Importantly, there is interdependency between these things. Opening up teaching and learning materials can be only partly achieved if research information cannot be included because it is still locked behind proprietary toll barriers: research results are teaching materials in many cases. Open laboratory notebooks only go some of the way towards making experimental results available to all: the context and synthesis of findings in that domain are found in research articles that should be Open Access alongside the notebooks’ content. So Open Access is an important early step in a move towards creating a knowledge commons and building true knowledge societies.
Nguồn: UNESCO, xuất bản năm 2012


Tuy nhiên, đang trở nên khó khăn hơn để tách bạch các lý lẽ cho OA tới tư liệu và Dữ liệu Mở, vì các mục tiêu là rất giống nhau và các kết quả đầu ra mong muốn về khía cạnh tiến bộ khoa học, thực tế, là không thể phân biệt được. Phát triển chính sách đang tiến hành theo các con đường y hệt cho cả 2 vấn đề, các hoạt động biện hộ là tương tự rộng hơn hiện nay, và sự phát triển hạ tầng xung quanh các nhu cầu để mở ra cả tư liệu nghiên cứu và dữ liệu nghiên cứu. Vì lý lẽ đang lên này, UNESCO sẽ thấy rằng việc xây dựng các chiến lược trong tương lai để hỗ trợ cho OA sẽ cần ôm lấy cả các chiến lược về Dữ liệu Mở.
Các chiến lược được theo đuổi ở các mức cơ sở, quốc gia và quốc tế.
It is, however, becoming harder to separate the arguments for Open Access to the literature and Open Data, since the aims are so alike and the desired outcomes in terms of scientific progress practically indistinguishable. Policy development is proceeding along the same lines for both issues, advocacy activities are similarly broader now, and infrastructural development is around the needs to open up both the research literature and research data. Because of this increasing alignment UNESCO will find that building strategies into the future to support Open Access will need to also embrace strategies for Open Data.
Strategies are pursued at institutional, national and international levels.
Nguồn: UNESCO, xuất bản năm 2012




Blogger: Lê Trung Nghĩa

Thứ Sáu, 17 tháng 11, 2017

Lớp thực hành tạo video truy cập mở & được cấp phép mở tại đại học Văn Lang


Quang cảnh đầu giờ lớp thực hành
Thành phố Hồ Chí Minh, ngày 17/11/2017, tại Đại học Văn Lang đã diễn ra lớp thực hành tạo video truy cập mở & được cấp phép mở từ các tài nguyên truy cập mở & được cấp phép mở có sẵn trên trực tuyến và/hoặc tự tạo.


Đây là lớp thực hành lần thứ 3 theo tiếp cận này, tiếp sau lớp thực hành lần đầu tại đại học Thăng Long - Hà Nội trong các ngày 21-22/09/2017 và lần thứ 2 tại đại học Hoa Sen – TP. Hồ Chí Minh đúng 2 tuần trước.


Bạn có thể xem và tải về bài chỉ dẫn tạo video truy cập mở, được cấp phép mở tại: https://www.dropbox.com/s/92fy9eeb5ryr7le/Create-OA-Video.pdf?dl=0




Blogger: Lê Trung Nghĩa

Thứ Năm, 16 tháng 11, 2017

Số lượng khổng lồ các tài nguyên được cấp phép mở trên thế giới


Hơn 1 tỷ 200 triệu tư liệu được cấp phép mở CC tới năm 2016
65% trong số 1 tỷ 200 triệu tư liệu được chia sẻ theo các giấy phép của "Văn hóa tự do"

Theo thống kê của Creative Commons (https://stateof.creativecommons.org/), năm 2016, trên thế giới có 1 tỷ 200 triệu tư liệu được cấp phép mở Creative Commons, nghĩa là từng công dân Việt Nam, nếu có đủ các kỹ năng và khả năng, đều có thể khai thác và sử dụng được hàng tỷ tư liệu được cấp phép mở nêu trên, mà không vi phạm các luật bản quyền.

Trong số hơn 1 tỷ 200 triệu tư liệu được cấp phép mở Creative Commons đó, có 65% các tư liệu được cấp phép theo "Văn hóa Tự do" (780 triệu tư liệu), là các tư liệu nằm trong phạm vi công cộng (Public Domain) hoặc mang các giấy phép như CC0, CC BY hoặc CC BY-SA. Đây là các tư liệu mà các doanh nghiệp, nhất là các doanh nghiệp vừa và nhỏ, sẽ rất quan tâm vì chúng cho phép tùy biến sửa đổi và, quan trọng hơn cả, cho phép sử dụng cho các mục đích thương mại. 


Ai có trách nhiệm đào tạo - huấn luyện cho người dân Việt Nam sử dụng các tài nguyên này nhỉ?




Blogger: Lê Trung Nghĩa

Thứ Tư, 15 tháng 11, 2017

Vài khoản đầu tư lớn được công khai của thế giới cho khoa học mở


Horizon 2020 là chương trình nghiên cứu và đổi mới lớn nhất của Liên minh châu Âu từ trước tới nay với gần 80 tỷ tiền vốn cấp sẵn sàng trong vòng 7 năm (2014-2020) - cộng thêm đầu tư của tư nhân do khoảng tiền này sẽ hấp dẫn được. Nó hứa hẹn nhiều đột phá, phát hiện và kỷ lục thế giới hơn bằng việc đưa các ý tưởng lớn từ phòng thí nghiệm tới thị trường.
Horizon 2020 is the biggest EU Research and Innovation programme ever with nearly €80 billion of funding available over 7 years (2014 to 2020) – in addition to the private investment that this money will attract. It promises more breakthroughs, discoveries and world-firsts by taking great ideas from the lab to the market.


Quy định cấp phép mở mới của Bộ Giáo dục Mỹ đã có hiệu lực. Bắt đầu từ năm tài chính 2018, các tài nguyên giáo dục được tạo ra với các trợ cấp có tính cạnh tranh được quyền tự do làm theo ý mình của Bộ Giáo dục (4,2 tỷ USD trong năm tài chính 2016) phải được cấp phép mở và được chia sẻ với công chúng. Creative Commons (CC) chúc mừng Bộ Giáo dục Mỹ vì đảm bảo công chúng có sự truy cập tới các tài nguyên giáo dục mà Bộ cấp tiền.
Tuyên bố này tới sau nhiều năm làm việc của các nhân viên Bộ Giáo dục, nhiều tổ chức xã hội dân sự, và cá nhân các lãnh đạo giáo dục mở.
The U.S. Department of Education’s new open licensing rule has gone into effect. Starting in FY 2018, education resources created with Department of Education discretionary competitive grants ($4.2 billion in FY 2016) must be openly licensed and shared with the public. Creative Commons (CC) congratulates the U.S. Department of Education for ensuring the public has access to the education resources it funds.


Lê Trung Nghĩa,

Thứ Ba, 14 tháng 11, 2017

Vài khuyến cáo đáng chú ý về tài nguyên giáo dục mở (OER)


Một trong các khuyến cáo của Hội nghị Thế giới lần thứ 2 về OER, Ljubljana, Slovenia, 18-20/09/2017
Thiết lập các chính sách mua sắm dựa vào OER. Nhiều quốc gia mua sắm các tư liệu giáo dục để phân phối giữa các trường học và các học sinh hoặc xuất bản các tư liệu giáo dục của riêng họ thông qua các cơ quan sản xuất sách giáo khoa chuyên trách. Các chính phủ cần yêu cầu bất kỳ nội dung có được nào thông qua quy trình mua sắm quốc gia, bao gồm cả các tài nguyên sách giáo khoa và dạy học, phải được cấp phép mở. Cũng là quan trọng các cơ quan sản xuất sách giáo khoa được chính phủ hỗ trợ áp dụng OER.
Establish OER-based procurement policies. Many countries procure educational materials for distribution amongst schools and students or publish their own educational materials through dedicated textbook production agencies. Governments need to require that any content acquired through the national procurement process, including textbooks and teaching resources, be openly licensed. It is also important that government-supported textbook production agencies adopt OER.
Nguồn: Khối Thịnh vượng chung về Học tập (COL), 2017


Một trong 10 khuyến cáo của Hội nghị Thế giới lần thứ nhất về OER, Paris, Pháp, 20-22/06/2012:
  1. Khuyến khích cấp phép mở các tư liệu giáo dục được sản xuất bằng tiền nhà nước.
Các cơ quan chức năng có thẩm quyền/của Chính phủ có thể tạo ra những lợi ích to lớn cho các công dân của họ bằng việc đảm bảo các tư liệu giáo dục được phát triển bằng tiền nhà nước được làm cho sẵn sàng theo các giấy phép mở (với bất kỳ hạn chế nào họ coi là cần thiết) để tối đa hóa hiệu quả đầu tư.
  1. Encourage the open licensing of educational materials produced with public funds.
Governments/competent authorities can create substantial benefits for their citizens by ensuring that educational materials developed with public funds be made available under open licenses (with any restrictions they deem necessary) in order to maximize the impact of the investment.


Blogger: Lê Trung Nghĩa

Thứ Hai, 13 tháng 11, 2017

Định nghĩa Tài nguyên Giáo dục Mở


Tài nguyên giáo dục mở (OER) bất kỳ dạng tư liệu giáo dục nào nằm trong phạm vi công cộng hoặc được giới thiệu với một giấy phép mở. Bản chất tự nhiên của các tư liệu mở đó là bất kỳ ai cũng có thể tự do và hợp pháp để sao chụp, sử dụng, tùy biến thích nghi và định hình lại chúng. OERs trải từ các sách giáo khoa cho tới chương trình giảng dạy, đề cương khóa học, các ghi chép bài giảng, các bài tập, bài kiểm tra, các dự án, âm thanh, video và hoạt hình.
Open Educational Resources (OERs) are any type of educational materials that are in the public domain or introduced with an open license. The nature of these open materials means that anyone can legally and freely copy, use, adapt and re-share them. OERs range from textbooks to curricula, syllabi, lecture notes, assignments, tests, projects, audio, video and animation.


Tài nguyên giáo dục mở (OER) là các tư liệu có thể được truy cập, sử dụng lại, sửa đổi và chia sẻ tự do để hỗ trợ cho việc dạy và học ở tất cả các mức giáo dục.
Open educational resources (OER) are materials that may be freely accessed, reused, modified and shared to support teaching and learning at all levels of education.
Nguồn: Khối Thịnh vượng chung về Học tập (COL), 2017



Tài nguyên giáo dục được cấp phép mở là các tài nguyên học tập, giảng dạy, và nghiên cứu nằm trong phạm vi công cộng hoặc đã được phát hành theo giấy phép cho phép tự do sử dụng, sử dụng lại, sửa đổi và chia sẻ chúng với những người khác.
Openly licensed educational resources as teaching, learning, and research resources that reside in the public domain or have been released under a license that permits their free use, reuse, modification, and sharing with others.
Nguồn: Trang của Bộ Giáo dục Mỹ, https://tech.ed.gov/open/




Blogger: Lê Trung Nghĩa

Chủ Nhật, 12 tháng 11, 2017

Định nghĩa Dữ liệu Liên kết và Dữ liệu Mở Liên kết


Dữ liệu Liên kết là tập hợp các nguyên tắc thiết kế để chia sẻ các dữ liệu được kết nối với nhau trên Web mà máy đọc được.
Linked Data is a set of design principles for sharing machine-readable interlinked data on the Web.


Dữ liệu Mở Liên kết là sự pha trộn mạnh mẽ của Dữ liệu Liên kết và Dữ liệu Mở: nó vừa được liên kết với nhau và sử dụng các nguồn dữ liệu mở.
Linked Open Data is a powerful blend of Linked Data and Open Data: it is both linked and uses open data sources.


Xem thêm các bài đã được dịch sang tiếng Việt:




Blogger: Lê Trung Nghĩa