Thứ Ba, 7 tháng 4, 2020

Sử dụng thực tế các API MỞ cho các viện bảo tàng

Practical Uses of Open APIs for Museums
Diane Drubay, Aug 9, 2019 · 4 min read
(back from the first edition of the API Culture Day on 28th June 2019 in Lyon, France)
Theo: https://medium.com/open-glam/back-from-the-first-api-culture-day-part-2-e9547bd08dea
Bài được đưa lên Internet ngày: 09/0/2020
Tiếp sau bài báo cuối cùng của tôi về học từ Ngày Văn hóa API (API Culture Day) đầu tiên được biinlab tổ chức với sự cộng tác với We Are Museums (Chúng tôi là các viện bảo tàng) ở Viện bảo tàng Mỹ thuật Lyon ở Pháp vào ngày 28/06 năm ngoái, tôi hôm nay giới thiệu với các bạn những điều học được từ bài nói chuyện của Isabelle ReusaAPI and Museums — A Story to Write” (API và các viện bảo tàng - chuyện để viết).
Isabelle Reusa đã làm việc 4 năm ở phòng triển lãm của viện bảo tàng quốc gia Réunion (RMN) - Grand Palais sau khi tiến hành thách thức tái tạo lại mô hình khuếch tán cơ sở dữ liệu các ảnh chụp của RMN.
“Khi chúng ta làm việc trong dạng số, chúng ta tạo ra thế giới ngày mai”
Là có khả năng làm việc trong dự án “Images d’Art” (Ảnh Nghệ thuật) trong vòng 5 năm đã làm cho cô học được về các API (giao diện lập trình ứng dụng) nhưng cũng cả về hạ tầng công nghệ và quản lý biến đổi. Cô bây giờ làm việc như là một chuyên gia API cho các nền công nghiệp khác nhau. Cô đã tạo ra cuộc gặp gỡ đổi mới sáng tạo mở “API dot Culture” được tổ chức ở Paris vài lần mỗi năm và tham gia trong hội nghị quốc tế API Days (Các Ngày API).

©Anaïs Guyon
Trong Ngày Văn hóa API, Isabelle đã giải thích cách để các cơ sở văn hóa có thể trở thành một phần của cuộc sống thường ngày của mọi người thông qua các giao diện số thông minh. Ngày nay, tất cả nội dung sẵn sàng trong viện bảo tàng nên là sẵn sàng để trở nên hữu dụng và được sử dụng, và các API hiện diện ở đây vì điều đó.
“Làm việc về API của bạn là đang chuẩn bị cho các tương tác số mà bạn sẽ có với khán thính phòng của bạn”
API nghĩa là “Giao diện Lập trình Ứng dụng” (Applications Programmation Interface), và nó là giao diện được các lập trình viên sử dụng để truy cập nội dung số, không gì hơn. Isabelle lấy ví dụ về website của Viện bảo tàng Mỹ thuật Lyon để chỉ ra rằng tư liệu hiện hành trên trực tuyến có thể được một “Bộ sưu tập API” nuôi dưỡng để đưa ra thông tin về các bộ sưu tập thường trực và chương trình giáo dục. Nhưng điều này không phải là tất cả! Website đó có thể được cập nhật thông minh nhờ vào “API Thông tin Thực hành” (Practical Info API) để nuôi dưỡng các giờ mở cửa, truy cập bản đồ, một “API Chương trình nghị sự” (Agenda API) mà sẽ đưa ra thông tin về các sự kiện sắp tới trong viện bảo tàng hoặc có liên quan tới chương trình đó, một “API Tài nguyên” (Ressource API) cung cấp truy cập tới các hình ảnh, video, các hướng dẫn âm thanh, nội dung giáo dục hoặc thậm chí đường đi đặc biệt cho trẻ em, các khách viếng thăm người Trung Quốc hoặc về một chủ đề nào đó.

Việc nghĩ về dạng khác nhau các API như vậy là cách để dự đoán trước được tất cả các nhu cầu trong tương lai và có khả năng tự động hóa cuộc sống của website, các ứng dụng hoặc tất cả các giao diện dạng số khác từ viện bảo tàng đó. Để mở API của bạn ra cho các lập trình viên ngụ ý có khả năng nuôi dưỡng các văn phòng Du lịch, Google Maps, Tripadvisor, nhưng cũng cả các công ty khởi nghiệp văn hóa khác nhau như Cloudguide, vài chatbots, .v.v. Đây là cách để lan truyền nhiều thông tin hơn về viện bảo tàng của bạn và vẫn giữ được sự kiểm soát nó.

Nó cũng xúc tác cho các viện bảo tàng để kết nối nội dung chuyên môn của họ với các dữ liệu chung hơn như vị trí địa lý, Wikipedia, video hoặc podcast hoặc đối với cơ sở dữ liệu hay nội dung khác. Nó cũng cho phép các viện bảo tàng sử dụng nội dung bên ngoài để nuôi dưỡng các giao diện số với nội dung cao cấp (đa ngôn ngữ từ Wikipedia, video lưu trữ từ INA, phiên bản âm thanh của tư liệu, .v.v.) và thậm chí tự động hóa dây chuyền sản xuất nội dung cho các bản tường thuật cao cấp, các trò chơi, .v.v.

Và để kết thúc, Isabelle trao cho chúng tôi các hướng dẫn quý giá về những biến đổi văn hóa mà chúng tôi nên bắt đầu thể hiện để chào đón tiềm năng các API một cách đầy đủ:
  • Hãy đi theo cách kiểm soát các giao diện và trao ưu tiên cho sức mạnh của nội dung
  • Hãy luôn sử dụng nội dung nhiều lần và bình ổn hóa nó như nó nên thế
  • Hãy hiểu rằng chính vai trò của bạn như là một viện bảo tàng để chia sẻ chỉ các nội dung được thẩm định và trở thành một đại lý xác thực
Bài tiếp sau: ‘Bạn đã sẵn sàng làm gì để duy trì chất lượng dữ liệu?’ của Philippe Rivière, Giám đốc Truyền thông và Số ở Viện bảo tàng Paris
Following up on my last article about the learnings from the first API Culture Day organized by biinlab in collaboration with We Are Museums at the Museum of Fine Arts of Lyon in France last June 28th, I give you today the learnings from Isabelle Reusa’ speech “API and Museums — A Story to Write”.
Isabelle Reusa worked for 4years at the exhibition department of the Réunion des musées nationaux — Grand Palais after taking the challenge to re-invent the diffusion model of the photo database of the RMN.
“When we work in digital, we create the world of tomorrow”.
Being able to work on the project “Images d’Art” for 5 years led her to learn about APIs but also about the technological infrastructure and transformation management. She now works as an API expert for different industries. She created the open-innovation meetups “API dot Culture” held in Paris a few times per year and participates in the international conference API Days.
During the API Culture Day, Isabelle explained how cultural institutions can be part of people’s daily life via smart digital interfaces. Today, all the content available in a museum should be ready to be useful and used, and APIs are here for that.
“Working on your API is preparing the digital interactions that you will have with your audience.”
API means “Applications Programmation Interface”, and it is an interface used by developers to access digital content, nothing else. Isabelle took the example of the website of Fine Arts Museum of Lyon to show that the material currently online could be fed by a “Collection API” to give info about the permanent collections and the education programme. But this is not all! The website could be smartly updated thanks to a “Practical Info API” to feed the opening hours, the access map, a ”Agenda API” that will give info about the upcoming events in the museum or related to the programme, a “Ressource API” to provide access to images, videos, audio guides, educational content or even a specific road for kids, Chinese visitors or about one topic.
Thinking about a different kind of APIs like that is a way to anticipate all the future needs and being able to automatize the life of the website, apps or all the other digital interfaces from the museum. To open your API to developers means being able to feed Google Maps, Tripadvisor, Tourism offices, but also different cultural startups like Cloudguide, some chatbots, etc. It is a way to spread more info about your museum and still staying in control of it.
It also enables museums to connect their specialized content with more generalist data like geolocalisation, Wikipedia, video or a podcast or to other database or content. It also allows museums to use external content to feed digital interfaces with augmented-content (multilingual from Wikipedia, archive video from the INA, voice-version of material, etc.) and even to automatize multimedia content production line augmented-narratives, games, etc.
And to finish, Isabelle gave us precious guidances on the cultural transformations that we should start to embody to welcome the potential of APIs fully:
  • Let go on the control of the interfaces and give priority to the power of the content
  • Always use content multiple times and valorize it as it should
  • Understand that it is your role as a museum to share only verified content and become an authentification agent
Next article: ‘What are you ready to do to preserve the data quality?’ by Philippe Rivière, Head of Communication and Digital at Paris Musées
Dịch: Lê Trung Nghĩa
letrungnghia.foss@gmail.com

Thứ Hai, 6 tháng 4, 2020

Các khả năng vô tận của Nội dung Mở và API Mở cho các Viện bảo tàng

The Unlimited Possibilities of Open Content and Open API for Museums
Diane Drubay, Jul 25, 2019 · 6 min read
(back from the first edition of the API Culture Day on 28th June 2019 in Lyon, France)
Theo: https://medium.com/open-glam/back-from-the-first-api-culture-day-part-1-fff88d3df893
Bài được đưa lên Internet ngày: 25/07/2019
Vào ngày 28/06/2019, chúng tôi đã ở Viện bảo tàng Mỹ thuật Lyon ở nước Pháp để dự Ngày Văn hóa API lần đầu tiên được biinlab tổ chức trong sự cộng tác với tổ chức We Are Museums (Chúng tôi là các viện bảo tàng). Trong ngày phản ánh và truyền cảm hứng này xung quanh sử dụng các API về văn hóa, chúng tôi đã cố gắng hiểu sự quảng bá và điều chỉnh di sản đang được thay đổi bằng việc mở ra dữ liệu của các viện bảo tàng và các API của chúng và bằng việc sử dụng máy học mới.
Trong vòng một ngày, khoảng 20 người chuyên nghiệp về văn hóa đã làm việc về câu hỏi này, với sự can thiệp của 3 chuyên gia của chúng tôi: Isabelle Reusa (cố vấn về API, nhà giám tuyến của API Days, ex- Réunion des Musées Nationaux), Philippe Rivière (Người đứng đầu về giao tiếp và số ở viện bảo tàng Paris Musées) và Diane Drubay (sáng lập viên của We Are Museums).
Để bắt đầu loạt bài về những gì chúng tôi đã chia sẻ và học được trong Ngày Văn hóa API đầu tiên của chúng tôi, đây là sự rà soát lại bài trình chiếu của tôi:
‘Các khả năng vô hạn của Nội dung Mở và API Mở cho các Viện bảo tàng’ - Diane Drubay
Như là tác nhân chính của sự thay đổi xã hội và đổi mới sáng tạo xã hội, các viện bảo tàng cung cấp các sự việc được thẩm định mà tất cả chúng ta cần và có thể hành động chống lại các vấn đề khí hậu hiện chúng ta đang đối mặt. Khi chúng ta nói về Dữ liệu Mở trong các viện bảo tàng, chúng ta thường nghĩ về công việc nặng nhọc nó đòi hỏi, bắt đầu bằng sự số hóa bộ sưu tập, điều còn lâu mới trở thành tác vụ dễ dàng cho bất kỳ ai, rồi lưu trữ và sắp xết trật tự cho dữ liệu đó, làm cho chúng thông minh và được nâng lên và đó chỉ là các bước đầu. Nhưng những gì tôi đã thử trình bày trong giới thiệu ngắn này là điều này đáng giá bao nhiêu, và thậm chí nhiều hơn những gì bạn có thể tưởng tượng!
“Chúng ta phải tự hỏi mình tiềm năng của con người, xã hội và sinh thái là gì đằng sau việc mở ra các bộ sưu tập. Việc mở ra dữ liệu của chúng ta ngụ ý việc biến đổi cuộc sống và, tôi dám nói, cứu thế giới”.
Văn hóa Mở là nền tảng để tạo lập tương lai bền vững!
Mở ra giấy phép và sử dụng nội dung văn hóa được số hóa cho phép cơ sở dữ liệu thụ động của các viện bảo tàng trở thành các tài sản tích cực. Các bộ sưu tập của viện bảo tàng được số hóa đang trở thành các công cụ để tác động tới cuộc sống, các cộng đồng và xã hội.
Nếu bạn tuân theo Định nghĩa Mở, ‘Mở ngụ ý bất kỳ ai cũng có thể tự do không mất tiền để truy cập, sử dụng, và chia sẻ vì bất kỳ mục đích gì’. Văn hóa mở là công cụ làm thay đổi trò chơi vì khả năng truy cập toàn cầu tới văn hóa. Là có khả năng để mở ra các bộ sưu tập cho càng nhiều người càng tốt, không phụ thuộc vào thời gian, không gian, tiền bạc, văn hóa và bất kỳ điều gì là cách tốt nhất để hoàn thành sứ mệnh của các viện bảo tàng. Các tổ chức như Wikipedia với phong trào Open Glam và Europeana có danh sách gia tăng nhanh các viện bảo tàng đi theo để mở ra các bộ sưu tập của họ, đặt nội dung của họ lên trên trực tuyến với độ phân giải cao, để sử dụng tự do không mất tiền cho các mục đích riêng tư và thương mại. Nếu bạn muốn mở ra bộ sưu tập của bạn, một trong những thách thức lớn nhất là làm sạch bản quyền và các quyền liên quan và truyền đạt rõ ràng cách để các hình ảnh và siêu dữ liệu có thể sử dụng lại được.
Tôi nghĩ chúng tôi đã chia sẻ để hiểu đầy đủ tiềm năng và các khả năng của nội dung mở trong các viện bảo tàng khi Rijksmuseum đã quyết định mở bộ sưu tập của nó lên trên trực tuyến vào năm 2013. Dự án này đi cùng với hỗ trợ tài chính và quảng bá của các dự án sao cho các tác phẩm sáng tạo có thể biến các ý tưởng của họ thành thực tế và sử dụng nó cho các mục đích riêng tư hoặc thậm chí ưu tiên thương mại.
“Thu hút công chúng hoàn toàn được tính mở của dữ liệu tạo thuận lợi. Chúng tôi đã bắt đầu thực sự hiểu ra rằng công chúng có thể tương tác, sử dụng và thậm chí tích hợp các nội dung của bộ sưu tập vào cuộc sống hàng ngày”.
Các nghệ sỹ đã và đang sử dụng dữ liệu và nội dung mở của các viện bảo tàng để sáng tạo ra các dạng khác nhau các tác phẩm và trực quan hóa như sự trực quan hóa lựa chọn thay thế bộ sưu tập Tate theo các chiều của tác phẩm nghệ thuật từ Jim Davenport. Việc mở ra bộ sưu tập của viện bảo tàng cũng ngụ ý cung cấp nội dung cho các công ty nhỏ và lớn hơn để tạo ra các sản phẩm hoặc dịch vụ từ chúng. Ví dụ, Artsy đang tích hợp các tác phẩm nghệ thuật của viện bảo tàng vào tính năng thực tế tăng cường trong ứng dụng Artsy, cho phép những người sử dụng ‘treo’ ảo các tác phẩm nghệ thuật 2 chiều với bất kỳ mặt thẳng đứng nào.
Việc mở ra bộ sưu tập của viện bảo tàng có thể tăng tốc nghiên cứu quốc tế bằng việc cung cấp sự kết nối lẫn nhau giàu có, các dạng cộng tác mới và đảm bảo minh bạch.
Ví dụ, Parson đã bắt đầu một loạt các trực quan hóa dữ liệu dựa vào API mở của MET để phân tích các xu thế xã hội khác nhau. Ở đây, bạn có thể thấy số lượng các tác phẩm nghệ thuật được Met thu thập được đàn ông hoặc đàn bà làm ra. Ngoài ra, bằng việc mở ra dữ liệu của họ, các Viện bảo tàng Lịch sử Tự nhiên có thể cộng tác theo cách thức địa phương và toàn cầu, với từng cặp đôi hoặc với các công dân. Ví dụ, Viện bảo tàng Lịch sử Tự nhiên của Luân Đôn kết hợp cơ sở dữ liệu mở của họ với dữ liệu từ các nhà nghiên cứu khắp trên thế giới để tìm kiếm và dự đoán các mẫu thiệt hại của các loài, và hé lộ những gì chúng ta có thể làm để làm dừng điều đó. Là có khả năng để có truy cập tới cơ sở dữ liệu từ các thế kỷ trước cũng có thể thực sự có giá trị cho các nhà khoa học và các nhà nghiên cứu môi trường trong cuộc đấu tranh của họ chống lại biến đổi khí hậu. Ít tháng trước, website tuyệt vời này Watercolour World đã chỉ ra các bức ảnh từ các bức tranh trước khi nhiếp ảnh tồn tại.


Từ vật lý tới số tới vật lý, văn hóa mở cho phép nội dung có hành trình riêng của chúng thông qua con người, không gian và thời gian và trở thành các công cụ để đổi mới sáng tạo xã hội.
Văn hóa Mở có thể biến các bức tường tạm thời của các thành phố của chúng ta thành các cánh cửa cho các câu chuyện hoặc phản ánh mới, như những gì dự án OPEN SMK đã trao cho thành phố Copenhagen. Và Nghệ thuật cũng có thể được sử dụng như là bộ kích hoạt đối thoại về khả năng bị tổn thương vật lý hoặc tinh thần, các hành động dân chủ và hơn thế nữa. Đây là ví dụ từ khóa huấn luyện Taboo Workshop được tổ chức với bộ sưu tập của SMK cuối tháng 9 vừa qua ở Copenhagen cho cuộc họp của thanh niên (xem các slide từ Merete Sanderhoff).
Và tất cả điều này là có thể nhờ Creative Commons phạm vi công cộng ngụ ý là bạn có thể sử dụng tư liệu vì bất kỳ mục đích gì mà không có bất kỳ hạn chế nào. Nó xúc tác cho Wikipedia, các nhà nghiên cứu hoặc sinh viên để có được nội dung xác thực chất lượng cao.
Tự do không mất tiền để tải về các hình ảnh độ phân giải cao từ các bộ sưu tập của các viện bảo tàng để sử dụng cho các mục đích cá nhân, xã hội hoặc thương mại.
On June 28th, we were at the Museum of Fine Arts of Lyon in France for the first API Culture Day organized by biinlab in collaboration with We Are Museums. During this day of reflection and inspiration around the use of APIs in culture, we tried to understand how the promotion and mediation of heritage are being changed with the opening of museum data and their APIs and with the new uses of machine learning.
During one day, some twenty cultural professionals have been working on this question, informed by the interventions of our three experts: Isabelle Reusa (API Consultant, API Days Curator, ex- Réunion des Musées Nationaux), Philippe Rivière (Head of communication and digital at Paris Musées) and Diane Drubay (founder of We Are Museums).
To start this series of articles about what we shared and learned during our first API Culture Day, here is the review of my presentation:
‘The Unlimited Possibilities of Open Content and Open API for Museums’ — Diane Drubay
As key agent of social change and social innovation, museums provide the verified facts that we all need and can act against the current climate issues we are facing. When we talk about Open Data in museums, we often think about the hard job that it requires starting with the digitisation of the collection that is far away from being an easy task for everyone, then on storing and ordering the data, making them smart and augmented and these are only the first steps. But what I tried to show during this short introduction is how much this is worth it, and even more than what you can imagine!
“We must ask ourselves what is the human, social and ecological potential behind the opening of the collections. Opening your data means transforming lives and, I dare say, saving the planet. »
Open Culture is fundamental to create a sustainable future!
Opening the licence and the uses of digitised cultural content allows the passive database of museums to become active assets. Digitised museum collections are becoming tools to impact lives, communities and societies.
If you follow the Open Definition, ‘Open means that anyone can freely access, use, modify, and share for any purpose.’ Open Culture is a game-changing tool for global accessibility to culture. Being able to open up the collections to as many people as possible not depending on the time, space, money, culture and whatsoever is the best way to fulfil the mission of museums. Organisations like Wikipedia with the Open Glam movement and Europeana are followed by a fast-growing list of museums open-up their collections, putting their content online in high definition, for free private or commercial use. If you want to start opening up your collection, one of the biggest challenges is to clear copyright and related rights and to clearly communicate how images and metadata can be reused.
I think we started to fully understand the potential and possibilities of open content in museums when the Rijksmuseum decided to open its collection online in 2013. This project came along with the financial and promotional support of projects so creatives could turn their ideas into reality and made a private or even preferably a commercial use of it
“Public engagement is completely facilitated by the openness of the data. We have begun to really understand that the public can interact, use and even integrate the contents of a collection into everyday life. »
Artists have been using open data and content by museums to create different types of works and visualisation like the alternative visualization of the Tate collection according to artwork dimensions by Jim Davenport. Opening up the museum’s collection also means providing content to small or bigger companies to create products or services from them. For instance, Artsy is integrating the museum’s artworks into the augmented-reality feature on the Artsy app, allowing users to virtually ‘hang’ two-dimensional artworks to any vertical surface
Opening-up the museum’s collection can speed up international research by providing rich interconnectivity, new forms of collaborations and guarantee transparency.
For instance, Parson’s started a series of data visualisations based on the open API of the MET in order to analyse various social trends. Here, you can see the number of artworks collected by the Met made by male or female. But also, by opening their data, Natural History Museums can collaborate in a local and global way, with pairs or with citizens. For instance, the Natural History Museum of London combines their open database with data from researches around the globe to find and predict patterns of species loss, and reveal what we can do to stop it. Being able to have access to the database from the last centuries could also be really valuable for scientists and environmentalists in their combat against climate change. A few months ago, this great website Watercolour World showed pictures from landscapes before photography existed.
From physical to digital to physical, open culture allows content to have their own journey through people, space and time and become tools for social innovations.
Open Culture can turn the temporary walls of our cities as doors for new stories or reflections, like what the OPEN SMK project gave to the city of Copenhagen. And Art can also be used as a conversation starter about physical or mental vulnerability, democratic actions and more. This is an example from the Taboo Workshop organised with the collection of the SMK last September in Copenhagen for the Young People’s Meeting (see the slides from Merete Sanderhoff).
And all this is possible thanks to the creative commons public domain means that you can use the material for any purpose without any limits. It enables Wikipedia, researches or students to have high quality certified content.
Dịch: Lê Trung Nghĩa
letrungnghia.foss@gmail.com

Chủ Nhật, 5 tháng 4, 2020

Các câu hỏi để hỏi các cơ sở văn hóa về truy cập mở


Questions to ask cultural institutions about open access
Bài được đưa lên Internet ngày: 22/07/2019
Thư viện & Kho lưu trữ của Bang Florida, Dấu phạm vi công cộng
Thảo luận gần đây trên Twitter đề cập tới những câu hỏi mọi người có thể muốn hỏi các Phòng trưng bày, Thư viện, Kho lưu trữ, Viện bảo tàng - GLAM (Galleries, Libraries, Archives, Museums) về chính sách và thực hành truy cập mở của họ.
Đây là tóm tắt các câu hỏi được gợi ý thường xuyên nhất, được sắp xếp theo chủ đề. Hãy tự nhiên sử dụng và pha trộn chúng, hoặc gợi ý của riêng bạn trong các bình luận.
Chính sách và thực hành
  • Hãy nói cho chúng tôi biết về chính sách truy cập mở trong cơ sở của bạn
  • Chính sách đó đã được phát triển như thế nào? Ai từng là các tác nhân chính?
  • Động lực để áp dụng truy cập mở trong cơ sở của bạn là gì?
  • Bạn đang cố gắng với tới những ai?
  • Những thách thức chính nào đối với việc thực hành truy cập mở trong viện bảo tàng của bạn?
  • Bạn cân bằng truy cập mở với các sức ép sinh doanh thu như thế nào?
  • Các nhân viên/phòng ban nào trong cơ sở của bạn quản lý và duy trì truy cập mở?
Sứ mệnh và tác động
  • Truy cập mở liên quan thế nào với sứ mệnh của cơ sở của bạn?
  • Bạn đang/sẽ đo đếm tác động của truy cập mở như thế nào?
  • Bạn đang/sẽ thúc đẩy sứ mệnh truy cập mở vượt ra khỏi các hình ảnh và dữ liệu của bộ sưu tập trong việc thu hút công chúng (như, xuất bản học thuật, các chương trình công cộng, Tài nguyên Giáo dục Mở) như thế nào?
  • Hãy mô tả vài sáng kiến truy cập mở viện bảo tàng của bạn đã triển khai. Sáng kiến nào đã thành công? Sáng kiến nào đang diễn ra?
Pháp lý và Kỹ thuật
  • Bạn đánh giá như thế nào tình trạng bản quyền các bộ sưu tập của bạn? Ai có liên quan?
  • Các công cụ pháp lý nào (các giấy phép và các tuyên bố quyền) bạn sử dụng cho truy cập mở?
  • Bạn có giao diện lập trình ứng dụng - API (Application Programming Interface) chứ? Bạn cung cấp/quản lý truy cập như thế nào?
  • Tài liệu API của bạn có truy cập được trên trực tuyến?
  • Các tiêu chuẩn/khung dữ liệu quốc tế nào bạn triển khai?
  • Các mô hình dữ liệu mở liên kết - LOD (Linked Open Data Models) nào và/hoặc các hồ sơ có thẩm quyền nào bạn sử dụng để làm cho siêu dữ liệu của bạn tương hợp được?
Đối tác và các cộng đồng
  • Các quan hệ đối tác quan trọng ra sao đối với thực hành truy cập mở trong viện bảo tàng của bạn?
  • Các tổ chức và/hoặc cộng đồng nào bạn đang làm việc cùng?
  • Bạn có chia sẻ/xuất bản dữ liệu mở trên các nền tảng khác (như, Wikimedia Commons, CC Search, Europeana)?
  • Cơ sở của bạn có tổ chức, hay tham gia trong, các cuộc thi hackathons, edit-a-thons hay các sự kiện tương tự hay không?
  • Các bộ sưu tập của bạn có bao gồm các tư liệu có liên quan tới các cộng đồng bản địa và tri thức truyền thống không? Bạn tiếp cận sự cho phép, việc cấp phép và thừa nhận ghi công đúng như thế nào cho tư liệu này và cho các cộng đồng của nó?
Những điều khác
  • Khuyến cáo nào bạn có thể đưa ra cho các viện bảo tàng khác đang cân nhắc truy cập mở?
  • Những người có ảnh hưởng tới truy cập mở ở quốc gia/khu vực của bạn?
  • Các chủ đề hay công cụ nào bạn nghĩ có hứa hẹn từ ngữ cảnh của truy cập mở?
Cảm ơn bất kỳ ai mà những câu hỏi và bình luận của họ đã đóng góp cho bài viết này.
A recent Twitter discussion addressed what questions people would like to ask GLAMs (Galleries, Libraries, Archives, Museums) about their open access policy and practice.
Here’s a summary of the most frequently suggested questions, arranged by topic. Feel free to use and remix them, or suggest your own in the comments.
Policy and Practice
  • Tell us about your institution’s open access policy
  • How was the policy developed? Who were the key players?
  • What motivated your institution to adopt open access?
  • Who are you trying to reach?
  • What are the main challenges to practising open access in your museum?
  • How do you balance open access with income-generating pressures?
  • Which staff members/departments in your institution manage and maintain open access?
Mission and Impact
  • How does open access relate to your institution’s mission?
  • How do/will you measure the impact of open access?
  • How do/will you advance the mission of open access beyond collection images and data into public engagement? (e.g. scholarly publication, public programmes, Open Educational Resources)
  • Describe some open access initiatives that your museum has undertaken. Which of these has been successful? Which are ongoing?
Legal and Tech
  • How do you evaluate the copyright status of your collections? Who’s involved?
  • Which legal tools (licences and rights statements) do you use for open access?
  • Do you have an API? How do you provide/manage access?
  • Is your API documentation accessible online?
  • Which international data standards/frameworks do you employ?
  • Which Linked Open Data (OD) models and/or authority files do you use to make your metadata interoperable?
Partnerships and Communities
  • How important are partnerships to your museum’s open access practice?
  • Which organisations and/or communities are you working with?
  • Do you share/publish open data on other platforms (e.g. Wikimedia Commons, CC Search, Europeana)?
  • Does your institution host, or take part in, hackathons, edit-a-thons or similar events?
  • Do your collections include material relating to traditional knowledge and indigenous communities? How do you approach permissions, licensing and appropriate acknowledgement for this material and its communities?
Miscellaneous
  • What advice would you give to other museums considering open access?
  • Who are the open access influencers in your country/sector?
  • What topics or tools do you think are missing from the open access scene?
Thanks to everyone whose questions and comments contributed to this article.
Dịch: Lê Trung Nghĩa

Thứ Sáu, 3 tháng 4, 2020

Vừa giải trí vừa học trong những ngày cách ly xã hội vì COVID-19: Tham quan và tìm hiểu về Truy cập Mở tới các di sản văn hóa (OpenGLAM)


Tùy biến từ OpenGLAM logo của Open Knowledge Foundation, CC BY-SA 3.0 Unported.


Trong những ngày thực hiện cách ly xã hội v COVID-19, việc bỏ ra chút thời gian để tham quan các viện bảo tàng trên Internet có thể là một hình thức vừa giải trí vừa học - tìm hiểu về phong trào Truy cập Mở tới các di sản văn hóa - OpenGLAM (Open Galleries, Libraries, Archives, Museums) của thế giới.
Từ thứ hai tuần sau, ngày 06/04/2020, sẽ có loạt bài về OpenGLAM. Kính mời các anh chị và các bạn đón xem.
Blogger: Lê Trung Nghĩa

Thứ Năm, 2 tháng 4, 2020

Khám phá các mô hình xuất bản cộng tác phi thương mại cho Truy cập Mở: Áp dụng để thực hiện nghiên cứu


Exploring collaborative non-commercial publishing models for Open Access: Apply to perform a study
27/03/2020
Bài được đưa lên Internet ngày: 27/03/2020
cOAlition S hôm nay, 27/03/2020, đã đưa ra lời kêu gọi về một nghiên cứu đầy đủ thông tin gồm một phân tích và tổng quan về việc xuất bản cộng tác phi thương mại (gọi là “Kim cương - Diamond”) các tạp chí và nền tảng. Nghiên cứu này được Science Europe hỗ trợ tài chính. Mục đích là để xác định các cách thức hỗ trợ cho các sáng kiến xuất bản với mong muốn triển khai các mô hình kinh doanh Kim cương.
Nghiên cứu sẽ giải quyết các vấn đề sau:
  • Cung cấp phân tích bức tranh toàn cầu về các tạp chí và nền tảng cộng tác phi thương mại, lập biểu đồ sự đa dạng, mức độ phạm vi, và tác động của chúng lên các lĩnh vực và khu vực khác nhau, các thực hành đảm bảo chất lượng biên tập và khoa học của chúng, và các thách thức chúng đối mặt.
  • Xác định mức độ ở đó các tác giả và những người cộng tác của chúng xuất bản trên các tạp chí và các nền tảng Truy cập Mở không có các khoản phí xử lý bài báo - APC (Article Processing Charges), và các xu thế qua thời gian.
  • Xác định các mô hình cấp vốn hiện hành cho các tạp chí và nền tảng cộng tác phi thương mại.
  • Xác định các khu vực xuất bản học thuật các nơi đạt được hiệu quả, sự cộng tác và huấn luyện về các khía cạnh các dịch vụ hoặc hạ tầng chia sẻ được yêu cầu.
  • Xác định các thách thức chính các tạp chí và nền tảng cộng tác phi thương mại đối mặt trong việc đáp ứng các nhu cầu của các chính sách Truy cập Mở và các yêu cầu kỹ thuật và hoạt động theo các tiêu chuẩn công nghiệp và đưa ra các khuyến cáo để vượt qua được các thách thức đó.
  • Đưa ra kế hoạch hành động và các khuyến cáo cho các lĩnh vực và các cơ chế cấp vốn với các cách thức đồng thuận, công bằng, minh bạch, hiệu quả và hiệu lực cho một dải các tác nhân cùng cung cấp tài chính cho các tạp chí và các nền tảng cộng tác phi thương mại và không có APC.
Đáp ứng lời kêu gọi này
Mô tả đầy đủ lý do và các yêu cầu cho lời kêu gọi này cũng như mẫu đề xuất là sẵn sàng trong “gói nghiên cứu Truy cập Mở Kim cương” (Diamond OA study pack). Các nhà cung cấp nào muốn đề xuất thì nên hoàn tất theo mẫu template này (trang 4-6) và gửi nó tới info@coalition-s.org, không muộn hơn 24/04/2020.
cOAlition S publishes today, 27 March 2020, a call for an informed study containing an analysis and overview of collaborative non-commercial (aka “Diamond”) publishing journals and platforms. The study is financially supported by Science Europe. The objective is to identify ways to support publishing initiatives wishing to implement Diamond business models.
The study should address the following objectives:
  • Provide an analysis of the global landscape of collaborative non-commercial journals and platforms, charting their variety, scope, and impact in various disciplines and regions, their scientific and editorial quality assurance practices, and the challenges they face.
  • Identify the extent to which authors and their collaborators do publish in non-APC Open Access journals and platforms, and trends over time
  • Identify the current funding models for collaborative non-commercial journals and platforms.
  • Identify scholarly publishing sectors where efficiency gains, collaboration, and training in terms of shared services or infrastructure are required.
  • Identify the main challenges faced by collaborative non-commercial journals and platforms in meeting the needs of Open Access policies and industry-standard operational and technical requirements and formulate recommendations to overcome these challenges.
  • Provide an action plan and recommendations for principles and funding mechanisms with agreed, equitable, transparent, efficient and effective ways for a range of actors to co-finance relevant collaborative non-commercial non-APC journals and platforms.
Responding to this call
The full description of the rationale and requirements for this call as well as the application form are available within the “Diamond OA study pack”. Providers who wish to apply should complete the template (pages 4-6) and send it to info@coalition-s.org, no later than 24 April 2020.
Dịch: Lê Trung Nghĩa

Thứ Tư, 1 tháng 4, 2020

Truy cập Mở và Kế hoạch S: 5 hoạt động chính


Open Access and Plan S: 5 key activities
18/02/2020
Bài được đưa lên Internet ngày: 18/02/2020


Sự nổi lên của Coronavirus (COVID19) một lần nữa đã nhấn mạnh nhu cầu đối với các nhà nghiên cứu để có sự truy cập không có trở ngại tới tư liệu nghiên cứu. Quả thực, một bài báo gần đây trên tờ Guardian đã viện lý rằng “việc dấu đi các tài liệu nghiên cứu đằng sau bức tường thanh toán, có thể đang giết người”, trong khi một nhóm các tổ chức bảo vệ bệnh và bệnh nhân của Mỹ đã nêu rằng “thông tin là quan trọng cho y tế không nên bị việc xuất bản bí mật bắt làm con tin”.
Tuy nhiên, bất chấp những lo ngại và những lời kêu gọi thay đổi như vậy, và sau hơn 15 năm các chỉ thị, các tuyên ngôn và thảo luận về Truy cập Mở - OA (Open Access), khoảng 75% các tư liệu nghiên cứu trên thế giới, khi xuất bản, chỉ sẵn sàng cho những thuê bao trả tiền.
Dù trong trường hợp của COVID19, các nhà xuất bản đã nhanh chóng cung cấp truy cập tới nghiên cứu về chủ đề này trước đó nằm sau bức tường thanh toán - ví dụ, thấy các câu trả lời từ WileyElsevier – một giải pháp tốt hơn nhiều, và là giải pháp làm việc xuyên khắp tất cả các lĩnh vực mọi lúc, là hỗ trợ thế giới khi tất cả các nghiên cứu đều là truy cập mở. Đây là những gì Kế hoạch S đang tìm cách làm, và vì sao 24 tổ chức cấp vốn nghiên cứu đang ủng hộ sáng kiến này.
Trong đoạn ngắn này Robert Kiley, Giám đốc Nghiên cứu Mở ở Wellcome và Quyền Điều phối Liên minh S (cOAlition S) cung cấp bản cập nhật về 5 hoạt động chính cOAlition S hiện đang hỗ trợ.
1. Phát triển lượng thành viên của cOAlition S
cOAlition S là nhóm các cơ quan cấp vốn đã tán thành điều chỉnh các chính sách Truy cập Mở của họ cho phù hợp với Kế hoạch S. Hiện hành, có 24 thành viên, bao gồm cả UKRI, Quỹ Gates, và Ủy ban châu Âu, bao gồm cả Hội đồng Nghiên cứu châu Âu. Tuy nhiên, chúng tôi nhận thức rằng nếu chúng tôi thành công trong việc mang lại sự thay đổi toàn cầu trong cách thức nghiên cứu được phổ biến, chúng tôi cần nhiều nhà cấp vốn hơn ủng hộ Kế hoạch S.
Trong vài tháng qua chúng tôi đã có sự đảm bảo hỗ trợ của WHO/TDR, Hội đồng Nghiên cứu Y học Nam PhiAligning Science Against Parkinson. Chúng tôi tiếp tục làm việc với nhiều cơ quan khác, khuyến khích họ cân nhắc những lợi ích tiềm năng mà Truy cập Mở có thể đem lại.
Làm việc với các cơ quan cấp vốn của nước Mỹ vẫn là ưu tiên cao và có tin đồn Lệnh Thực thi của Nhà Trắng (Whitehouse Executive Order) dường như được điều chỉnh tốt với Kế hoạch S. Chúng tôi đang theo dõi điều này với sự quan tâm.
2. Hỗ trợ các nhà nghiên cứu
Vài nhà nghiên cứu đã thể hiện mối quan ngại với Kế hoạch S, sợ rằng nếu các lựa chọn xuất bản của họ bị giảm thiểu, thì điều này có thể ảnh hưởng tiêu cực lên khả năng của họ để có được các trợ cấp và nhiệm kỳ trong tương lai.
Lo ngại này đã nổi lên vì Kế hoạch S rõ ràng nói rằng các chi phí xuất bản Truy cập Mở (thường được gọi là phí xử lý bài báo - APC [Article Processing Charge]) đối với các bài báo được xuất bản trên các tạp chí thuê bao sẽ không còn được cấp vốn nữa, nằm ngoài các Hợp đồng Chuyển đổi quá độ (Transformative Agreement). Tuy nhiên, các nhà nghiên cứu, có thể vẫn còn tìm cách xuất bản trên các tạp chí thuê bao, miễn là họ có bản sao của bài báo nghiên cứu của họ (hoặc bản thảo được chấp nhận, hoặc phiên bản được xuất bản) tự do không mất tiền không có cấm vận và với một giấy phép mở.
Cũng đáng nhấn mạnh rằng các nhà cấp vốn nào điều chỉnh các chính sách Truy cập Mở của họ cho phù hợp với Kế hoạch S cũng làm rõ rằng khi đánh giá các kết quả đầu ra nghiên cứu như một phần của quyết định cấp vốn, họ sẽ đánh giá giá trị thực chất của tác phẩm và không xem xét kênh xuất bản, yếu tố tác động của nó hoặc các thước đo khác dựa vào tạp chí.
Trong cOAlition S chúng tôi cũng đã thành lập đội đặc nhiệm để giám sát các hiệu quả của Kế hoạch S. Vì các nhà nghiên cứu sự nghiệp sớm cảm thấy đặc biệt bị/có ảnh hưởng vì Kế hoạch S, các đại diện từ Global Young Academy, Eurodoc, Young Academy of Europe và Marie Curie Alumni đã ra nhập nhóm này để đảm bảo tiếng nói của họ được lắng nghe.
Trước khi chính sách của Kế hoạch S trở nên có hiệu lực, chúng tôi cũng cung cấp công cụ đơn giản dựa vào web theo đó các nhà nghiên cứu có thể xác định cách để tuân thủ với chính sách này trong bất kỳ con đường xuất bản đặc thù nào. Một Lời mời Thầu xây dựng công cụ này đã được xuất bản. Chúng tôi biết trước là chúng tôi sẽ chỉ định một nhà thầu trong vòng 3 tháng tới và có dịch vụ sống động hoạt động tới tháng 8/2020.
3. Hỗ trợ các xã hội học tập
Kế hoạch S, với cam kết rõ ràng của nó không cấp vốn cho các khoản phí truy cập mở lai, đòi hỏi các nhà xuất bản thuê bao đánh giá lại các mô hình kinh doanh của họ. Điều này ảnh hưởng tới tất cả các nhà xuất bản, nhưng cảm nhận sâu sắc hơn bởi các nhà xuất bản của xã hội học tập , nhiều trong số họ dựa vào doanh thu xuất bản để hỗ trợ cho các hoạt động khác của họ, như các trợ cấp thưởng và tổ chức các cuộc gặp.
Để giúp các xã hội học tập khai phá các mô hình lựa chọn thay thế, Wellcome đối với với UKRI, đã ủy quyền cho Information Power để xem xét vấn đề này. Báo cáo tiếp theo (và bộ công cụ hỗ trợ) đã xác định 27 mô hình kinh doanh tiềm tàng được phác thảo mà các nhà xuất bản xã hội có thể áp dụng.
Mô hình Hợp đồng Chuyển đổi quá độ - theo đó vốn cấp từ các thuê bao thư viện và các APC của nhà cấp vốn được sử dụng để cung cấp cho các cơ sở với truy cập tới tất cả các nội dung thuê bao, trong khi cho phép các bài báo nghiên cứu mà các nhà cung cấp là tác giả ở các cơ sở thuê bao được làm thành Truy cập Mở đầy đủ - đang giành được xung lực. Bằng cách lấy ví dụ, trong 3 tháng qua cả Microbiology SocietyBiochemical Society đã thương lượng các thỏa thuận như vậy, vì thế đảm bảo rằng lượng đang gia tăng kết quả đầu ra được xuất bản của họ là Truy cập Mở.
Wellcome, đối tác với HHMI, cũng đã khởi xướng các Giải thưởng Giám tuyển của Xã hội Học tập (Learned Society Curation Awards) để tìm cách hỗ trợ cho các nhà xuất bản của xã hội học tập nào muốn khai phá các cách thức mới đánh tín hiệu về tầm quan trọng các các kết quả đầu ra nghiên cứu được xuất bản theo cách thức mở và minh bạch.
4. Tham gia với các nhà xuất bản
cOAlition S tiếp tục tham gia với các nhà xuất bản, khuyến khích họ phát triển các lựa chọn xuất bản phù hợp với các nguyên tắc của Kế hoạch S.
Như được thảo luận ở trên, điều này bao gồm việc hỗ trợ phát triển các Hợp đồng Chuyển đổi quá độ, như các hợp đồng “Đọc và Xuất bản” và “Thuê bao sang Mở”.
Chúng tôi cũng đã phát triển tập hợp các tiêu chí để khuyến khích các đầu tạp chí riêng rẽ chuyển đổi sang Truy cập Mở. Được biết tới như là “Các tạp chí chuyển đổi quá độ” - TJ (Transformative Journal), bất kỳ tạp chí nào cam kết với tập hợp các KPI có thể tiếp tục thu tiền APC và ở những nơi chúng là công bằng và hợp lý, kỳ vọng các thành viên của cOAlition S đáp ứng điều đó. Một tư vấn về các tiêu chí được đề xuất cho các TJ đã kết thúc đầu tháng 1 và chúng tôi sẽ báo cáo về kết quả đầu ra của điều này trước cuối tháng 3/2020.
Hỗ trợ cho các tạp chí và các nền tảng Truy cập Mở đầy đủ tiếp tục là phần chính trong chiến lược của Kế hoạch S. Dù nhận thức được rằng giá thành APC duy nhất, toàn cầu cho bất kỳ tập chí nào có lẽ không luôn là cách thức bình đẳng nhất để trang trải cho các chi phí xuất bản, chúng tôi đã bắt đầu thảo luận với một số nhà xuất bản Truy cập Mở ý tưởng liên kết APC cho sự tương trợ sức mua (PPP) của các quốc gia khác nhau.
5. Phát triển minh bạch giá thành
Vào năm 2017 đã được ước tính doanh thu hàng năm sinh ra từ việc xuất bản của tạp chí STM tiếng Anh là 10 tỷ $. Với khoảng 3 triệu bài báo được xuất bản mỗi năm, điều này gợi ý doanh thu trung bình từ mỗi bài báo được xuất bản là khoảng 3.333 USD.
Để sang một bên liệu trong thế giới trên trực tuyến tổng số này có là công bằng hay thích hợp hay không, mô hình xuất bản hiện hành đưa ra ít hoặc không minh bạch về những gì các khách hàng - các thư viện, nhà cấp vốn và nhà nghiên cứu - nhận được đối với số tiền này.
Để giải quyết điều này, Wellcome và UKRI, nhân danh cOAlition S, đã hợp đồng với Information Power để phát triển khung công việc qua đó các nhà xuất bản có thể định giá các dịch vụ họ cung cấp. Khung phác thảo tìm cách phân nhỏ giá thành được lấy thành 7 “khoản dịch vụ” riêng rẽ như “% giá thành từ đệ trình tới bàn từ chối hoặc chấp nhận” và “% giá thành cho quản lý rà soát lại ngang hàng”.
Để xác định liệu có là khả thi hay không cho các nhà xuất bản để cung cấp mức dữ liệu này và liệu thông tin này có sử dụng được cho các thư viện và các nhà cấp vốn hay không, khung đó sẽ được thí điểm sau Quý I năm 2020. 10 nhà xuất bản đã đồng ý tham gia thí điểm này, bao gồm cả Springer Nature, Brill, PLOS the Company of Biologists và EMBO press.
Thông tin thêm?
Bài viết này vừa đưa ra tóm tắt các hoạt động chúng tôi tham gia với sự hỗ trợ triển khai Kế hoạch S.
Nếu bạn có bất kỳ câu hỏi hay cần bất ký thông tin nào khác, vui lòng sử dụng mẫu biểu Liên hệ với chúng tôi.
The emerging Coronavirus (COVID19) has once again highlighted the need for researchers for have unfettered access to the research literature. Indeed, a recent article in the Guardian argued that “hiding research papers behind a subscription paywall, could be killing people”, whilst a group of . US patient and disease advocacy organizations stated that “information critical to health should no longer be held hostage by arcane publishing”.
However, despite such concerns and calls for change, and after more than 15 years of Open Access (OA) mandates, declarations and discussions, some 75% of the world’s research literature is, on publication, only available to paying subscribers.
Although in the case of COVID19, publishers have been quick to provide access to previously paywalled research on this topic – for example, see responses from Wiley and Elsevier – a much better solution, and one which works across all disciplines at all times, is to support a world when all research is open access. This is what Plan S is seeking to do, and why 24 research funding organisations are supporting this initiative.
In this short piece Robert Kiley, Head of Open Research at Wellcome and interim cOAlition S Coordinator provides an update on five key activities cOAlition S is currently supporting.
1. Growing the cOAlition S membership-base
cOAlition S is a group of funding agencies which have agree to align their OA policies with Plan S. Currently there are 24 members, including UKRI, the Gates Foundation and the European Commission, including the European Research Council. We recognise however, that if we are to be successful in bringing about a global change in the way research is disseminated, we need more funders to support Plan S.
Over the last few months we have secured the support of the WHO/TDR, the South African Medical Research Council and the Aligning Science Against Parkinson. We continue to work with many other agencies, encouraging them to consider the potential benefits OA can deliver.
Working with US funding agencies remains a high priority and the rumoured Whitehouse Executive Order appears to be well-aligned with Plan S. We are watching this with interest.
2. Supporting researchers
Some researchers have expressed concerns with Plan S, fearing that if their publication choices are reduced, then this may negatively impact on their likelihood to secure future grants and tenure.
This concern has arisen as Plan S is explicit in saying that OA publications costs (typically Article Processing Changes, APCs) for articles published in subscription journals will no longer be funded, outside of Transformative Agreements. Researchers however, can still seek to publish in subscription journals, as long as they make a copy of their research article (either the accepted manuscript, or the published version) freely available without an embargo and with an open licence.
It is also worth stressing that funders which align their OA policies with Plan S make clear that when assessing research outputs as part of a funding decision, they will value the intrinsic merit of the work and not consider the publication channel, its impact factor or other journal-based metrics.
Within cOAlition S we have also established a task force to monitor the effects of Plan S. As early career researchers feel especially affected by Plan S, representatives from the Global Young Academy, Eurodoc, Young Academy of Europe and the Marie Curie Alumni have joined this group to ensure their voice is heard.
In advance of the Plan S policy coming into effect, we also provide a simple web-based tool in which researchers can determine how to comply with this policy at any specific publishing venue. An Invitation to Tender to build this tool has been published. We anticipate that we will appoint a contractor within the next three months and have a live service running by Autumn 2020.
3. Supporting learned societies
Plan S, with its explicit commitment not to fund hybrid open access fees, requires subscription publishers to reassess their business models. This affects all publishers, but is felt more acutely by learned society publishers, many of whom rely on publishing revenue to support their other activities, such as awarding grants and organising meetings.
To help learned societies explore alternative models, Wellcome in partnership with UKRI, commissioned Information Power to look at this issue. The subsequent report (and supporting toolkit) identified outlined 27 potential business models society publishers could adopt.
The Transformation Agreement model – in which funding from library subscriptions and funder APCs is used to provide institutions with access to all subscription content, whilst allowing research articles authored by researchers at subscribing institutions to be made fully OA – is gaining traction. By way of example, within the past 3 months both the Microbiology Society and the Biochemical Society have negotiated such agreements, thus ensuring that a growing volume of their published output is OA.
The Wellcome, in partnership with HHMI, has also launched the Learned Society Curation Awards which seeks to support learned society publishers who want to explore new ways of signalling the significance of published research outputs in an open and transparent manner.
4. Engaging with publishers
cOAlition S continues to engage with publishers, encouraging them to develop publishing options in line with the Plan S principles.
As discussed above this includes supporting the development of Transformative Agreements, such as “Read and Publish” and “Subscribe to Open” arrangements.
We have also developed a set of criteria to encourage individual journal titles to transform to OA. Known as “Transformative Journals” (TJ’s), any journal which commits to a set of KPI’s can continue to levy APCs and where they are fair and reasonable, expect cOAlition S members to meet these. A consultation on the proposed criteria for TJ’s closed in early January and we will report on the outcome of this before the end of March 2020.
Support for fully OA journals and platforms continues to be a key part of the Plan S strategy.   Recognising however, that a single, global APC price for any given journal may not always be the most equitable way to cover publishing costs, we have started to discuss with a number of OA publishers the idea of linking the APC to the purchasing power parity (PPP) of different countries.
5. Developing price transparency
In 2017 it was estimated that the annual revenues generated from English-language STM journal publishing was $10bn. As around 3m articles are published every year, this suggests that the average revenue from every published article is around $3,333.
Leaving aside whether in an online world this sum is fair or appropriate, the current publishing model provides little or no transparency as to what the customers – libraries, funders and researchers – receive for this money.
To address this, Wellcome and UKRI, on behalf of cOAlition S, contracted Information Power to develop a framework through which publishers could price the services they provide. The draft framework seeks to breakdown the price charged into seven discrete “service buckets” such as “% of price from submission to desk reject or acceptance” and “% of price for peer review management”.
To determine whether it is feasible for publishers to provide this level of data and whether this information is of use to libraries and funders, the framework will be piloted in then first quarter of 2020. 10 publishers have agreed to join this pilot including Springer Nature, Brill, PLOS the Company of Biologists and EMBO press.
More information?
This post has just given a snapshot of the activities we are engaged with to support the implementation of Plan S.
If you have any questions or need any more information, please use the Contact Us form.
Dịch: Lê Trung Nghĩa
letrungnghia.foss@gmail.com

Thứ Ba, 31 tháng 3, 2020

Khoa học Mở - Open Science


Bên dưới là các thông tin liên quan tới Khoa học Mở - Open Science cho các nội dung từ năm 2020 trở đi. Các thông tin này được sắp xếp theo thời gian được đưa lên Blog, thông tin ra sau đứng trên. Các thông tin sẽ được cập nhật theo thời gian.
Để xem các thông tin tương tự từ năm 2019 trở về trước, vui lòng nhấn vào địa chỉ: http://vnfoss.blogspot.com/2016/05/khoa-hoc-mo-open-science.html




Blogger: Lê Trung Nghĩa