Thứ Năm, 15 tháng 11, 2018

‘Chấp nhận Giấy phép để Xuất bản của JISC/SURF & các Nguyên tắc đi kèm từ các nhà xuất bản tạp chí truyền thống’ - bản dịch sang tiếng Việt


Là tài liệu của tác giả Annemarie Beunen, do Quỹ SURF xuất bản tháng 12/2007. Tài liệu đề cập tới các Nguyên tắc & Giấy phép để Xuất bản – LtP (License to Publish) do JISC/SURF đề xuất nhằm mục đích chuyển các nhà xuất bản truyền thống sang xuất bản Truy cập Mở.
Tài liệu đã chi tiết hóa được các Nguyên tắc chuyển đổi & mẫu LtP đó, chúng là rất tốt cho bất kỳ tác giả và/hoặc nhà xuất bản nào muốn đi với mô hình Truy cập Mở.
Tài liệu cho thấy, thế giới đã quan tâm tới việc chuyển đổi các nhà xuất bản truyền thống sang Truy cập Mở từ những năm 2000-2001, điều cho tới nay chưa hiện diện ở Việt Nam.


Bạn có thể tự do tải về bản dịch sang tiếng Việc có 57 trang tại địa chỉ: https://www.dropbox.com/s/4skfkidq4enj7da/LtP-final-report-dec07_Vi_14112018.pdf?dl=0




Blogger: Lê Trung Nghĩa

Thứ Hai, 12 tháng 11, 2018

Các chỉ thị truy cập mở và giấy phép để xuất bản

Nguồn: http://daibieunhandan.vn/ONA_BDT/NewsPrint.aspx?newsId=413051

Bài viết cho Hội thảo ‘Phát triển thư viện điện tử đáp ứng yêu cầu của CMCN4’ do Vụ Thư viện, Bộ VH-TT-DL tổ chức tại Hà Nội ngày 09/11/2018
------------------------------------


Tóm tắt:
Các chỉ thị truy cập mở không chỉ rất cần thiết cho giáo dục mở và dữ liệu mở, mà chúng còn rất cần thiết để mở đường cho sự phát triển khoa học và giáo dục nói chung và tránh được xung đột lợi ích giữa các bên tham gia đóng góp cho sự phát triển đó trong kỷ nguyên số. Và để phát huy được tác dụng trong thực tế, các chỉ thị truy cập mở cần thiết đi kèm với các chỉ dẫn về ‘Giấy phép để xuất bản’ ‘Thỏa thuận xuất bản truy cập mở’ nhằm loại bỏ các xung đột không đáng có giữa các bên tham gia, nhất là giữa các nhà nghiên cứu/những người sáng tạo và các nhà xuất bản.


A. Bối cảnh chung
Khi mà các quốc gia trong nhóm G7 gồm Canada, Pháp, Đức, Ý, Nhật, Vương quốc Anh, Mỹ và Ủy viên châu Âu về Nghiên cứu, Khoa học và Cách tân đã ra thông cáo nhấn mạnh và thống nhất phát triển Khoa học Mở[1], và dựa vào thông cáo đó Ủy ban châu Âu cũng đã đưa ra đường hướng ưu tiên thời gian tới trong nghiên cứu và cách tân của mình: (1) Truy cập Mở tới các xuất bản phẩm khoa học; và (2) Truy cập Mở tới dữ liệu nghiên cứu[2], thì điều này cho thấy truy cập mở thực sự đã và đang trở thành chủ đề nóng hiện nay trên thế giới.
B. Truy cập Mở là gì[3]
Truy cập mở tới tư liệu ngụ ý tính sẵn sàng tự do trên Internet công khai, cho phép bất kỳ người sử dụng nào để đọc, tải về, sao chép, phân phối, in, tìm kiếm, hoặc liên kết tới toàn văn các bài báo đó, đi sâu vào chúng để đánh chỉ mục, truyền chúng như là dữ liệu tới phần mềm, hoặc sử dụng chúng vì bất kỳ mục đích hợp pháp nào khác, mà không có các rào cản về tài chính, pháp lý hoặc kỹ thuật ngoại trừ những rào cản gắn liền với sự truy cập tới bản thân Internet.
Truy cập mở - OA (Open Access) ngụ ý truy cập tự do tới thông tin và sử dụng không có giới hạn các tài nguyên điện tử đối với bất kỳ ai. Bất kỳ dạng nội dung điện tử nào cũng có thể là OA, từ các văn bản và dữ liệu cho tới các phần mềm, audio, video, và đa phương tiện. Trong khi hầu hết chúng có liên quan chỉ tới các văn bản, thì số lượng ngày một gia tăng đang tích hợp văn bản với hình ảnh, dữ liệu, và mã thực thi được. OA cũng có thể áp dụng cho các nội dung phi hàn lâm, như âm nhạc, phim ảnh, và các tiểu thuyết.
Một xuất bản phẩm được coi là OA nếu:
  • nội dung của nó truy cập được vạn năng và tự do, độc giả không mất chi phí, qua Internet hoặc khác;
  • tác giả hoặc chủ sở hữu bản quyền trao cho tất cả những người sử dụng một cách không thể hủy bỏ, qua một giai đoạn thời gian không có giới hạn, quyền để sử dụng, sao chép, hoặc phân phối bài báo, với điều kiện thừa nhận ghi công thích hợp được đưa ra;
  • nó được ký gửi, tức thì, đầy đủ và ở dạng điện tử phù hợp, ít nhất vào một kho truy cập mở được thừa nhận quốc tế rộng rãi, cam kết truy cập mở.


Một bài viết gần đây với tiêu đề ‘Các chỉ thị truy cập mở rất cần cho giáo dục mở[4]’ đã nêu lên sự cần thiết phải có các chỉ thị truy cập mở ở Việt Nam. Mặc dù vậy, sẽ là không đủ nếu các chỉ thị đó không đi kèm với các hướng dẫn cụ thể cho các nhà nghiên cứu/những người sáng tạo về các cách thức để tránh xung đột với các nhà xuất bản, trong khi vẫn tuân thủ luật và các quy định về bản quyền, và trên hết, tuân thủ các yêu cầu và quy định về truy cập mở tới các xuất bản phẩm và dữ liệu nghiên cứu từ ngân sách của nhà nước. May thay, chúng ta hoàn toàn có thể học tập các kinh nghiệm đó từ thực hành truy cập mở ở châu Âu.
C. Chính sách truy cập mở và giấy phép để xuất bản
Mỗi khi nhà nghiên cứu/người sáng tạo muốn đăng bài báo/báo cáo khoa học về nghiên cứu của mình, họ làm việc với nhà xuất bản họ chọn và ký hợp đồng với nhà xuất bản đó. Theo truyền thống, nhà nghiên cứu/người sáng tạo ký hợp đồng chuyển giao toàn bộ các quyền bản quyền của bài báo cho nhà xuất bản để đổi lại việc đăng bài báo lên tạp chí của nhà xuất bản được chọn cùng với việc nhận tiền nhuận bút (nếu có) trong một lần thanh toán.
Bằng cách này, bất kỳ ai muốn đăng lại, sửa đổi bổ sung và/hoặc đăng các bản sửa đổi bổ sung của bài báo đó, đều phải xin phép nhà xuất bản để có được sự cho phép, kể cả chính tác giả của bài báo đó, nếu không, họ sẽ vi phạm bản quyền của nhà xuất bản theo luật định.
Thực tế này có ở khắp nơi trên thế giới, và ở Việt Nam cũng không là ngoại lệ.
Tuy nhiên, phong trào truy cập mở trong thời gian gần đây đã và đang đấu tranh để làm thay đổi bức tranh này của truyền thông hàn lâm theo cách trả quyền tự quyết trong xuất bản hàn lâm về lại cho cộng đồng các tác giả/các nhà nghiên cứu/người sáng tạo, để việc xuất bản hàn lâm không phụ thuộc hoàn toàn vào các nhà xuất bản và/hoặc các ban biên tập của các nhà xuất bản, trong khi vẫn tuân thủ luật và các quy định về bản quyền, và trên hết, tuân thủ các yêu cầu và quy định về truy cập mở tới các xuất bản phẩm và dữ liệu nghiên cứu được ngân sách của nhà nước cấp vốn. Bằng cách này sẽ thúc đẩy được sức sáng tạo liên tục, nhanh nhất có thể và không có giới hạn của cộng đồng hàn lâm trên toàn thế giới trên cơ sở của những sáng tạo và tri thức đã được nghiên cứu, đã được công bố, sẵn sàng để dễ dàng được phát hiện và truy cập được tự do tới tất cả mọi người.


Ví dụ điển hình ở châu Âu
Ủy ban châu Âu đã đưa ra chính sách khoa học mở, trong đó có truy cập mở tới các xuất bản phẩm và dữ liệu nghiên cứu có sử dụng ngân sách của nhà nước thông qua Ủy ban. Để tạo điều kiện cho các nhà nghiên cứu tuân thủ được chính sách này, các nhà nghiên cứu nhận vốn cấp từ các chương trình nghiên cứu của Ủy ban được khuyến cáo không chuyển giao toàn bộ các quyền bản quyền cho các nhà xuất bản, thay vào đó, họ sẽ ký với nhà xuất bản ‘Giấy phép để xuất bản[5]’ (License to Publish[6]) ‘Thỏa thuận xuất bản truy cập mở[7]’ (Open Access Publishing Agreement) với các nội dung câu chữ được biên soạn sẵn để các nhà nghiên cứu có thể dễ dàng điền các thông tin vào các mẫu đó với mục đích giữ lại các quyền của họ để dễ dàng phục vụ cho việc xuất bản truy cập mở sau này đối với các tác phẩm do chính bản thân họ sáng tạo ra mà không vướng phải bất kỳ rào cản pháp lý nào từ các nhà xuất bản.


Giấy phép để xuất bản
Giấy phép để xuất bản là thỏa thuận xuất bản giữa tác giả và nhà xuất bản. Không giống như nhiều thỏa thuận xuất bản truyền thống, nó không chuyển giao bản quyền của tác giả cho nhà xuất bản. Thay vào đó, tác giả giữ lại bản quyền của mình và trao cho nhà xuất bản “chỉ mỗi giấy phép để tái tạo và truyền đạt tác phẩm hàn lâm và các quyền nhất định khác cần thiết để xuất bản”. Nó giữ lại cho tác giả bản quyền để lưu giữ bài báo của mình trong các kho truy cập mở.
Với ‘Giấy phép để xuất bản’, nhà xuất bản và tác giả sẽ có các quyền như sau:
  1. Các quyền của nhà xuất bản được tác giả trao gồm:
    1. tái tạo toàn bộ hoặc một phần bài báo, và để truyền đạt bài báo đó tới công chúng ở dạng in ấn và/hoặc số, dù có hay không có sự kết hợp với các tác phẩm của những người khác, ví dụ, làm cho sẵn sàng cho công chúng thông qua Internet hoặc bất kỳ mạng nào khác, như một phần của cơ sở dữ liệu, trên trực tuyến hoặc phi trực tuyến, để các bên thứ 3 sử dụng;
    2. dịch bài báo đó sang các ngôn ngữ khác và để truyền đạt bản dịch của bài báo đó tới công chúng;
    3. tạo ra các tùy biến thích nghi, các bản tóm tắt hoặc các trích đoạn của bài báo hoặc các tác phẩm phái sinh khác dựa vào bài báo đó và thực hành tất cả các quyền trong các tùy biến thích nghi, các bản tóm tắt, các trích đoạn và các tác phẩm phái sinh như vậy;
    4. đưa bài báo đó vào, bất kể trong bản dịch hay như sự tùy biến thích nghi hoặc bản tóm tắt, toàn bộ hoặc một phần trong cơ sở dữ liệu được số hóa và làm cho cơ sở dữ liệu này sẵn sàng cho các bên thứ 3;
    5. đưa bài báo đó vào, toàn bộ hoặc một phần, bất kể là trong bản dịch hoặc như sự tùy biến thích nghi hoặc tóm tắt, trong các đầu đọc hoặc trong bản dịch;
    6. cho các bên thứ 3 thuê hoặc mượn;
    7. tái sản xuất bài báo đó bằng phương tiện sao chụp, dù có những giới hạn theo luật.
  2. Các quyền của tác giả được giữ lại cho bản thân để:
    1. Sử dụng cho giáo dục hoặc nghiên cứu: để tái sản xuất bài báo, toàn bộ hoặc một phần, và để truyền đạt nó hoặc làm cho nó sẵn sàng cho công chúng, dù ở dạng in và/hoặc dạng số, dù là một phần của gói khóa học hay như một bản biên dịch, để sử dụng trong giáo dục hoặc nghiên cứu ở cơ sở của riêng tác giả hoặc ở các cơ sở mà tác giả có liên quan.
    2. Phổ biến: để tải bài báo lên hoặc để trao cho cơ sở của riêng tác giả (hoặc tổ chức thích hợp khác) sự ủy quyền để tải bài báo lên, ngay tức thì từ ngày xuất bản tạp chí trên đó bài báo được xuất bản (trừ phi Tác giả và Nhà xuất bản đã đồng thuận bằng văn bản về một giai đoạn cấm vận ngắn, tối đa không quá (6) tháng);
      • trong mạng đóng của cơ sở (như, hệ thống intranet); và/hoặc
      • trong các kho được tổ chức tập trung và hoặc các kho của cơ sở truy cập được một cách công khai (như kho PubMed Central và các kho Quốc tế Tập trung PubMed khác), miễn là có đường liên kết được chèn vào dẫn tới bài báo đó trên website của nhà xuất bản đó.
    3. Bảo tồn: để trao cho sở sở của riêng tác giả (hoặc tổ chức thích hợp khác) sự ủy quyền để tái sản xuất bài báo đó vì mục đích ngăn cho nó không bị hỏng, hoặc nếu bản gốc hiện đang ở định dạng lỗi thời hoặc công nghệ được yêu cầu để sử dụng bản gốc là không sẵn sàng, vì mục đích để đảm bảo rằng bài báo đó tiếp tục sẵn sàng cho các mục đích giáo dục và nghiên cứu;
    4. Sử dụng lại trong tương lai: để sử dụng lại toàn bộ hoặc một phần bài báo trong luận án, bản dịch hoặc tác phẩm khác.
    5. Sử dụng cá nhân: để trình bày bài báo ở cuộc họp hoặc hội nghị và để truyền tay các bản sao của bài báo cho các đoàn tham dự cuộc họp đó.
    6. Sử dụng của những người sử dụng đầu cuối: để trao cho những người sử dụng đầu cuối của cơ sở của riêng tác giả (hoặc tổ chức thích hợp khác) ủy quyền sao chép, sử dụng, phân phối, truyền và trình bày tác phẩm công khai và để tạo ra và phân phối các tác phẩm phái sinh.
Rõ ràng đây là các bước thực hành xuất bản hoàn toàn khác với những thực hành xuất bản theo truyền thống, khi tác giả thường chuyển giao toàn bộ các quyền bản quyền cho các nhà xuất bản. Bạn có thể tham khảo bản dịch sang tiếng Việt của tài liệu ‘Giấy phép để xuất bản’ như được nêu ở trên để có được thông tin chi tiết hơn.


Thỏa thuận xuất bản truy cập mở
Thỏa thuận xuất bản truy cập mở’ được Ủy ban châu Âu hướng dẫn bổ sung thêm như là ‘Phụ lục’ cho ‘Giấy phép để xuất bản’ với các điều khoản nêu rõ trong mục ‘Truy cập mở’ như sau:
(Các) tác giả giữ lại quyền để:
  1. Ký gửi bản sao điện tử máy đọc được của phiên bản được xuất bản hoặc bản thảo cuối cùng (sau khi rà soát lại ngang hàng) trong kho của cơ sở, kho tập trung và/hoặc kho dựa vào chủ đề.
  2. Cung cấp sự truy cập mở (nghĩa là, truy cập không mất tiền tới bản sao điện tử cho bất kỳ ai) qua kho này;
    1. ngay tức thì, nếu bản thân xuất bản phẩm được xuất bản ‘truy cập mở’ (nghĩa là nếu phiên bản điện tử là sẵn sàng không mất tiền cho độc giả thông qua nhà xuất bản) hoặc
    2. trong vòng 6 hoặc 12 tháng sau khi xuất bản (tùy theo lĩnh vực).
  3. Trong trường hợp có các điều khoản xung đột nhau, thì ‘Phụ lục’ này có quyền ưu tiên hơn ‘Giấy phép để xuất bản’.
  4. Tất cả các điều khoản khác của ‘Giấy phép để xuất bản’ được giữ nguyên không thay đổi.
  5. Phụ lục’ này có hiệu lực vào ngày chữ ký cuối cùng được ký.


D. Thay cho lời kết
Được biết, dự thảo Luật Thư viện đã đưa vào khái niệm Truy cập mở. Đây sẽ là bước đi rất đúng trên con đường để Việt Nam tiếp cận được với CMCN4 với tri thức được rộng mở, trong đó hệ thống các thư viện là một bên tham gia quan trọng và không thể thiếu, và vì thế bước tiếp theo cũng sẽ rất cần tới các hướng dẫn cụ thể dạng như ‘Giấy phép để xuất bản’ và Thỏa thuận xuất bản truy cập mở để các chỉ thị/chính sách truy cập mở đi vào được thực tế cuộc sống, tránh được các rào cản và/hoặc các xung đột không cần thiết giữa các bên liên quan.
Dù để có được môi trường truy cập mở như ở các nước tiên tiến, có lẽ còn rất nhiều việc phải làm đối với Việt Nam. Bên cạnh những công việc cần thiết khác, nó đòi hỏi sự thay đổi khung pháp lý hiện hành ở Việt Nam với nhiều luật liên quan tới sở hữu trí tuệ, khoa học công nghệ, giáo dục đào tạo, thông tin truyền thông và có thể cả những luật liên quan khác.
Tài liệu và thông tin tham khảo
[1] Lê Trung Nghĩa biên dịch, 2018: Thông cáo của các bộ trưởng khoa học các nước G7, Turin, 27-28/09/2017: https://www.dropbox.com/s/ywum8nfcgw7c6jz/G7%20Science%20Communiqué_Vi_25022018.pdf?dl=0, các đoạn 19 và 20.
[2] Lê Trung Nghĩa biên dịch, 2018: Truy cập tới và bảo tồn thông tin khoa học ở châu Âu, Ủy ban châu Âu, xuất bản tháng 05/2018: https://www.dropbox.com/s/4n5r0cj4chkgfrw/KI0417824ENN.en_Vi-04082018.pdf?dl=0
[4] Lê Trung Nghĩa, 2018: Các chỉ thị truy cập mở rất cần cho giáo dục mở: https://www.dropbox.com/s/38zl8g7hd76u879/OA_Policy_Needed_LeTrungNghia.pdf?dl=0
[5] Lê Trung Nghĩa biên dịch, 2017: Giấy phép để xuất bản, JISC/SURF xuất bản 2006: https://www.dropbox.com/s/020m2pu44b6i1r2/licence_to_publish-Vi-30052017.pdf?dl=0
[6] Lê Trung Nghĩa biên dịch, 2017: Giấy phép để xuất bản là gì?, OpenAIRE.eu, 2015: https://vnfoss.blogspot.com/2017/05/giay-phep-e-xuat-ban-la-gi.html
[7] Lê Trung Nghĩa biên dịch, 2017: Thỏa thuận xuất bản truy cập mở, OpenAIRE.eu, 2017: https://www.dropbox.com/s/01qv5ynlizy0px2/h2020-oa-guide-model-for-publishing-a_en-Vi-05072017.pdf?dl=0


Lê Trung Nghĩa

Chủ Nhật, 11 tháng 11, 2018

CMCN4 và gợi ý đào tạo nhân lực ngành TT-TV với các kỹ năng và năng lực khoa học mở (toàn văn)



Bài viết cho hội thảo khoa học ‘Đào tạo ngành thông tin - thư viện trong cuộc cách mạng công nghiệp 4.0’ do Khoa TT-TT Đại học KHXHNV, ĐHQG-HCM tổ chức ngày 09/11/2018 tại thành phố Hồ Chí Minh
Bài được đăng trong kỷ yếu hội thảo, các trang 8-21
--------------------------------------------------------

Tóm tắt:
Rất cần khoa học mở cho cách mạng công nghiệp lần thứ tư (CMCN4) ở Việt Nam. Bộ các kỹ năng và năng lực khoa học mở và các thành phần của nó là mới lạ đối với các cơ sở giáo dục mọi cấp ở Việt Nam. Các thư viện, các thủ thư, những người chuyên nghiệp về thông tin và các nhà nghiên cứu là các tác nhân không thể thiếu trong ứng dụng và phát triển khoa học mở. Vì vậy, bài viết gợi ý đào tạo và huấn luyện các kỹ năng và năng lực khoa học mở, trước hết là các thành phần như truy cập mở và tài nguyên giáo dục mở, những thành phần là cơ bản và phù hợp nhất với môi trường huấn luyện và đào tạo cho các thủ thư, sinh viên và giảng viên chuyên ngành thông tin - thư viện (TT-TV).
Các từ khóa: cách mạng công nghiệp lần thứ tư (CMCN4); khoa học mở; truy cập mở (TrCM); tài nguyên giáo dục mở (TNGDM); dữ liệu mở (DLM); dữ liệu mở liên kết (DLMLK); thông tin - thư viện (TT-TV); thủ thư; kỹ năng và năng lực.
--------------------------------------------------------
Cách mạng công nghiệp lần thứ tư (CMCN4) đang len lỏi khắp mọi lĩnh vực của xã hội trên phạm vi toàn cầu, đang và sẽ mang lại những thay đổi chưa từng có trong lịch sử loài người. Giống như bất kỳ cuộc cách mạng nào, việc đào tạo huấn luyện các kỹ năng và năng lực mới để đáp ứng các nhu cầu của cuộc cách mạng là cần thiết, và với CMCN4, trong số những điều khác, các kỹ năng và năng lực của khoa học mở là điều không thể thiếu, được cả các quốc gia G7, G20, OECD và đặc biệt là các quốc gia của Liên minh châu Âu đề cập tới ngày một nhiều trong thời gian gần đây. Các hoạt động huấn luyện/đào tạo khoa học mở trong lĩnh vực Thông tin - Thư viện (TT-TV) có vai trò quan trọng trong việc nâng cao nhận thức và có khả năng cung cấp các kỹ năng và năng lực cần thiết để Việt Nam cũng có thể tiếp cận CMCN4 phù hợp với điều kiện hoàn cảnh hiện nay.
A. Định nghĩa Khoa học Mở và các thành phần liên quan tới nhau của nó

Các nhà khoa học châu Âu định nghĩa Khoa học Mở như sau:
Khoa học Mở[1] đại diện cho tiếp cận nghiên cứu có tính cộng tác, minh bạch, và truy cập được. Một dải rộng lớn các hoạt động tới dưới cái ô Khoa học Mở, bao gồm xuất bản Truy cập Mở, Dữ liệu Mở, Sổ ghi chép Mở, Rà soát lại Ngang hàng Mở, và Giáo dục Mở. Nó cũng bao gồm cả khoa học công dân, nơi những người không phải là các chuyên gia tham gia trực tiếp vào nghiên cứu.
Liên minh Xuất bản Học thuật và Tài nguyên Hàn lâm – SPARC (Scholarly Publishing and Academic Resources Coalition), một liên minh toàn cầu với cam kết làm cho Mở thành mặc định cho nghiên cứu và giáo dục đã đưa ra các định nghĩa cho một vài thành phần quan trọng của Khoa học Mở như sau:
Truy cập mở là sự sẵn sàng tự do, ngay lập tức, trên trực tuyến của các bài báo nghiên cứu có sự kết hợp với các quyền để sử dụng các bài báo đó một cách đầy đủ trong môi trường số. Truy cập mở là sự cập nhật hiện đại cần thiết cho truyền thông nghiên cứu sử dụng đầy đủ Internet cho những gì đã được xây dựng từ ban đầu để làm - tăng tốc cho nghiên cứu.
Truy cập mở là sự sẵn sàng tự do, ngay lập tức, trên trực tuyến của các bài báo nghiên cứu đi cùng với các quyền để sử dụng đầy đủ các bài báo đó trong môi trường số. Truy cập mở đảm bảo rằng bất kỳ ai cũng có thể truy cập và sử dụng các kết quả đó - để biến các ý tưởng thành các ngành công nghiệp và các đột phá để cuộc sống tốt đẹp hơn.
Dữ liệu Mở là dữ liệu nghiên cứu sẵn sàng tự do trên Internet cho phép bất kỳ người sử dụng nào tải về, sao chép, phân tích, tái chế, truyền tới các phần mềm hoặc sử dụng vì bất kỳ mục đích nào khác mà không có các rào cản về tài chính, pháp lý hay kỹ thuật khác với các rào cản không thể tách rời khỏi việc có được sự truy cập tới bản thân Internet.
Dữ liệu Mở Liên kết là dữ liệu liên kết được phát hành theo một giấy phép mở, không cản trở sử dụng lại nó một cách tự do.
Giáo dục Mở xoay quanh các tài nguyên, các công cụ và các thực hành là tự do, không có các rào cản về pháp lý, tài chính và kỹ thuật và có thể hoàn toàn được sử dụng, được chia sẻ và được tùy biến thích nghi trong môi trường số.
Nền tảng của Giáo dục Mở là Tài nguyên Giáo dục Mở - OER (Open Educational Resources), chúng là các tài nguyên dạy, học và nghiên cứu không có các chi phí và không có các rào cản truy cập, và chúng cũng mang sự cho phép về pháp lý để sử dụng mở. Thông thường, sự cho phép này được trao thông qua việc sử dụng một giấy phép mở (ví dụ, các giấy phép Creative Commons) cho phép bất kỳ ai tự do để sử dụng, tùy biến thích nghi và chia sẻ tài nguyên đó - bất kỳ lúc nào, bất kỳ ở đâu. Sự cho phép “Mở” thường được định nghĩa theo “5R”: người sử dụng được tự do để Giữ lại, Sử dụng lại, Làm lại, Pha trộn và Phân phối lại (Retain, Reuse, Revise, Remix and Redistribute) các tư liệu giáo dục đó.
Các thành phần của khoa học mở có liên quan tới nhau. Tuy nhiên, vì mục đích và trong phạm vi của bài viết này, chỉ nêu lên sự liên quan giữa một vài thành phần như tài nguyên Truy cập Mở (TrCM), Dữ liệu Mở (DLM) và Tài nguyên Giáo dục Mở (TNGDM) từ khía cạnh cấp phép mở Creative Commons, như trong Hình 2.
Hình 2 cho thấy phổ các giấy phép khác nhau có khả năng gắn vào các tài nguyên để đáp ứng được với các định nghĩa khác nhau của DLM và TNGDM là khác nhau, cụ thể:
  • Chỉ 3 giấy phép ở phần trên cùng có thể gắn vào tài nguyên để nó đáp ứng được định nghĩa của DLM.
  • Chỉ 5 giấy phép ở phần trên có thể gắn vào tài nguyên để nó đáp ứng được định nghĩa của TNGDM.
  • Cả 7 giấy phép đều có thể gắn vào tài nguyên để nó trở thành tài nguyên TrCM.
Điều quan trọng được nêu ở đây là: từ khía cạnh cấp phép mở Creative Commons, DLM và TNGDM trước hết đều là tài nguyên TrCM được.

Hình 2[2]. Phân biệt phổ các giấy phép Creative Commons với các tài nguyên mở[3]

B. CMCN4 với các đặc tính nổi bật của nó cần được đáp ứng
Trong thời gian qua, đã có không ít các bài viết nêu những đặc tính của CMCN4, trong số đó, có lẽ nổi bật nhất là: (1) người máy có khả năng thay thế con người; và (2) sự thông minh trong giải quyết nhiều vấn đề khác nhau trong cuộc sống của con người theo các mức độ ‘thông minh’ khác nhau, với mức thông minh cao nhất được cho là nhờ vào khả năng sử dụng các kết quả phân tích dữ liệu lớn theo thời gian thực (hoặc gần với thời gian thực) để đưa ra các quyết định điều khiển sự vận hành của một (vài) quy trình công việc nào đó cũng theo thời gian thực (hoặc gần với thời gian thực).’
Cả 2 đặc tính nổi bật nhất đó có khả năng hiện thực hóa được trong cuộc sống nhờ vào việc ứng dụng và phát triển của dữ liệu mở (DLM) và dữ liệu mở liên kết (DLMLK).
B1. Người máy có khả năng thay thế con người


Để người máy có khả năng thay thế con người, các dữ liệu được xuất bản phải có khả năng để máy cũng có khả năng đọc/hiểu được, chứ không chỉ con người đọc/hiểu được như trước kia, nghĩa là:
  • Dữ liệu cần tuân thủ quy tắc 4 điểm và lược đồ tiêu chuẩn 5 sao của Tim Berners-Lee, trong đó DLM là mức thấp nhất 1 sao trong lược đồ tiêu chuẩn 5 sao của DLMLK do Tim Berners-Lee, nhà phát minh ra World Wide Web, đã đưa ra vào năm 2006; và/hoặc
  • Dữ liệu cần tuân thủ các nguyên tắc FAIR (Findable, Accessible, Interoperable, Reusable) để các dữ liệu nghiên cứu tìm thấy được, truy cập được, tương hợp được và sử dụng lại được.
B2. Có được sự thông minh mức cần thiết


Để có được sự thông minh cần thiết, châu Âu, nơi đã nghiên cứu và triển khai hướng tới khoa học mở từ hơn 10 năm trước qua các chương trình khung FP7 cho các năm 2007-2013 và hiện nay qua chương trình Horizon 2020 và dự kiến qua chương trình khung FP9 cho các năm sau 2020, đã chỉ ra rằng, nếu:
  • Đi theo tiếp cận DLM thì kết quả thu được nhiều nhất là các ứng dụng thông minh
  • Đi theo tiếp cận DLMLK thì kết quả thu được không chỉ là các ứng dụng thông minh, mà còn cả các sản phẩm thông minh và các hệ thống thông minh.
B3. Gợi ý
Các nội dung được nêu ra ở các phần B1 và B2 ở trên đều là những cái đích quan trọng chúng ta muốn hướng tới, chứ chúng chưa hiện diện ở bất kỳ đâu ở Việt Nam hiện nay. Vì vậy nhu cầu và vai trò của đào tạo huấn luyện là quan trọng để các dữ liệu được xuất bản trong thời gian tới sẽ từng bước đạt được các yêu cầu của DLM và DLMLK.
Có thể tham khảo bài viết ‘Rất cần khoa học mở cho CMCN 4.0[4]’ trên tạp chí Tia Sáng để có thêm các chi tiết làm rõ thêm về các yêu cầu của DLM và DLMLK.

C. Các kỹ năng và năng lực cần thiết về khoa học mở
Hiện hành, các kỹ năng khoa học mở có thể được phân loại thành 4 nhóm chính sau đây:
  1. Các kỹ năng liên quan tới xuất bản TrCM
    1. Các kỹ năng thông tin thư viện và nghiên cứu
    2. Các kỹ năng về năng lực xuất bản mở (mức người sử dụng nghiên cứu).
  2. Các kỹ năng liên quan tới quản lý dữ liệu và DLM
    1. Các kỹ năng kỹ thuật, đặc biệt là các kỹ năng khoa học dữ liệu
  3. Các kỹ năng xúc tác để tiến hành nghiên cứu chuyên nghiệp
    1. Các kỹ năng quản lý nghiên cứu
    2. Các kỹ năng pháp lý
    3. Các kỹ năng về liêm chính và đạo đức nghiên cứu
  4. Các kỹ năng khoa học công dân
Có thể phân loại các kỹ năng khoa học mở theo một cách khác, như trong Hình 5. Khoang giữa bên phải Hình 5 liệt kê các kỹ năng khoa học mở ở mức tổng quát nhất cần được huấn luyện cho các đối tượng khác nhau. Các kỹ năng đó là: Truy cập Mở; Dữ liệu Mở; Quản lý dữ liệu nghiên cứu; Hạ tầng nghiên cứu; Các vấn đề pháp lý, bao gồm các quyền số, bản quyền, cấp phép; Đánh giá nghiên cứu; Khai thác văn bản và dữ liệu; Liêm chính nghiên cứu và hàn lâm; Lưu trữ bảo tồn; Thông tin nghiên cứu và quản lý hệ thống thông tin nghiên cứu hiện hành - CRIS (Current Research Information System); Tài nguyên Giáo dục Mở; và các kỹ năng khác.
Hình 5. Khả năng cung cấp huấn luyện các kỹ năng khoa học mở ở châu Âu[5]

Để có thể có được bức tranh toàn diện và chi tiết hơn về các kỹ năng cần thiết về khoa học mở, tham khảo toàn bộ chương 3 tài liệu ‘Cung cấp cho các nhà nghiên cứu các kỹ năng và năng lực họ cần để thực hành Khoa học Mở[6]’.


D. Gợi ý nội dung đào tạo nhân lực ngành thông tin thư viện với các kỹ năng và năng lực khoa học mở cần thiết
Với việc liệt kê các kỹ năng khoa học mở ở phần C, cộng với lưu ý ở phần A rằng từ khía cạnh cấp phép mở Creative Commons, DLM và TNGDM trước hết đều là tài nguyên TrCM được, cộng với đặc thù của việc đào tạo và nghiên cứu chuyên ngành TT-TV, gợi ý trước mắt nên tập trung vào đào tạo nhân lực ngành TT-TV về TrCM và TNGDM.

D1. Gợi ý đào tạo phần lý thuyết
Không phải ngẫu nhiên UNESCO năm 2015 đã xuất bản 2 bộ tài liệu chuyên về TrCM dành cho các trường thư viện và các nhà nghiên cứu. Đây chính là những nội dung cơ bản về TrCM rất nên được cân nhắc, nghiên cứu để có thể đưa vào đào tạo phần lý thuyết rất tốt cho các sinh viên và giảng viên chuyên ngành TT-TV. Các tài liệu đó đều đã được dịch sang tiếng Việt, gồm:
  1. Bộ tài liệu về TrCM dành cho các trường thư viện:
    1. Giới thiệu truy cập mở[7]
    2. Hạ tầng truy cập mở[8]
    3. Tối ưu hóa tài nguyên[9]
    4. Tính tương hợp và truy xuất[10]
  2. Bộ tài liệu về TrCM dành cho các nhà nghiên cứu:
    1. Truyền thông hàn lâm[11]
    2. Các khái niệm về tính mở và truy cập mở[12]
    3. Các quyền sở hữu trí tuệ[13]
    4. Đo đếm đánh giá nghiên cứu[14]
    5. Chia sẻ tác phẩm của bạn theo truy cập mở[15]
  3. Ngoài 2 bộ tài liệu trên, nên tham khảo tài liệu hướng dẫn làm chính sách TrCM của UNESCO: Chỉ dẫn chính sách để phát triển và thúc đẩy truy cập mở[16]. Bổ sung thêm là có rất nhiều các tài liệu liên quan tới chính sách TrCM ở tất cả các mức như nhóm quốc gia, quốc gia, tổ chức quốc tế, tổ chức quốc gia, cơ sở viện – trường. Tuy nhiên, chúng là nằm ngoài phạm vi trọng tâm của bài viết này.
Về TNGDM cũng có rất nhiều tài liệu. Gợi ý chắt lọc các nội dung từ các tài liệu sau đây để đưa vào đào tạo lý thuyết cho các sinh viên và giảng viên chuyên ngành TT-TV:
  1. Các tài liệu của UNESCO và Khối Thịnh vượng chung về Học tập (COL):
    1. Chỉ dẫn cơ bản về TNGDM[17]
    2. Các chỉ dẫn về TNGDM trong giáo dục đại học[18]
    3. TNGDM: Chính sách, các chi phí và sự biến đổi[19]
    4. TNGDM: Từ cam kết tới hành động[20]
  2. Các tài liệu khác
    1. Vai trò của các thư viện và các thủ thư trong các sáng kiến TNGDM[21]
    2. TNGDM trong các ngôn ngữ ít được sử dụng[22]
  3. Tham khảo thêm:
    1. Tài liệu ‘Tổng quan về TNGDM và một kịch bản giả tưởng về tương lai của giáo dục Việt Nam[23]’, được viết cho hội thảo do Hiệp hội Các trường đại học cao đẳng Việt Nam (AVNUC) tổ chức tại Hà Nội ngày 16/05/2018.
    2. Nhiều tài liệu về TNGDM đã được dịch sang tiếng Việt trên Blog: Phần mềm tự do nguồn mở cho Việt Nam[24].

D2. Gợi ý huấn luyện thực hành
Một số phần lý thuyết được gợi ý ở phần trên có khả năng được hiểu rõ hơn thông qua các bài thực hành sau:
  1. Thực hành cấp và sinh giấy phép mở Creative Commons cho các tài nguyên bằng các công cụ cấp và sinh giấy phép của Creative Commons. Thực hành này đặc biệt quan trọng vì nó chung cho tất cả các dạng tài nguyên mở như tài nguyên TrCM, TNGDM, DLM... Tham khảo thêm: ‘Sổ tay cấp phép mở của Liên bang’[25].
  2. Tìm kiếm và sử dụng các kho tài nguyên TrCM, TNGDM, DLM có sẵn trên Internet qua: ‘Tìm kiếm và sử dụng các nguồn tài nguyên được cấp phép mở[26]’.
  3. Thực hành theo ‘Khóa tập huấn ‘Xây dựng tài nguyên giáo dục mở trên nền tảng công nghệ mở’, một bước tiến nhỏ hướng tới ứng dụng và phát triển tài nguyên giáo dục mở (TNGDM) trong các thư viện đại học[27]’, như lược đồ trong Hình 6.

Hình 6. Lược đồ tạo lập và chia sẻ video truy cập mở, được cấp phép mở

  1. Bản địa hóa các tài nguyên TrCM, TNGDM từ tiếng Anh sang tiếng Việt bằng việc sử dụng môi trường trực tuyến của hệ thống wikiHow, bao gồm cả wikiHow.com và wikiHow.vn qua: ‘Viết bài trên wikiHow.vn[28]’ và một vài bài ví dụ cụ thể.
  2. Tạo lập sách điện tử định dạng epub bằng phương pháp mở[29].
  3. Ngoài các nội dung thực hành được nêu ở trên, một số bài thực hành khoa học mở có thể được nghiên cứu và tùy biến thích nghi để triển khai trong các cơ sở giáo dục đào tạo ở Việt Nam qua tài liệu ‘Sổ tay huấn luyện khoa học mở’ do ‘một nhóm 14 tác giả vào tháng 02/2018 đã cùng tới Thư viện Khoa học Công nghệ Quốc gia Đức ở Hannover để tạo ra cuốn sổ tay mở sống động này nhằm huấn luyện khoa học mở’[30].
Kết luận
Rất cần khoa học mở cho CMCN4 ở Việt Nam. Khoa học mở đang và sẽ trở thành dòng chính thống trên thế giới, trong khi ở Việt Nam hiện nay hầu như không tồn tại. Các kỹ năng và năng lực khoa học mở không được huấn luyện, đào tạo tại bất kỳ cơ sở giáo dục nào ở Việt Nam hiện nay. Các thư viện, các thủ thư, những người chuyên nghiệp về thông tin và các nhà nghiên cứu đều là các tác nhân chính trong ứng dụng và phát triển khoa học mở. Vì vậy, việc huấn luyện, đào tạo các kỹ năng và năng lực khoa học mở trong những năm tới tại các khoa TT-TV là quan trọng và cấp bách.
Trong phạm vi một bài viết cho hội thảo, sẽ không thể nêu hết được các vấn đề cần thiết có liên quan tới huấn luyện, đào tạo các kỹ năng và năng lực khoa học mở. Vì vậy, từ quan điểm chủ quan của tác giả, bài viết này chỉ gợi ý tham chiếu tới vài tài liệu được cho là cơ bản và có khả năng giúp cho việc huấn luyện, đào tạo các kỹ năng và năng lực khoa học mở trong thời gian tới, cả về lý thuyết và thực hành.
Cũng cần bổ sung thêm, để các cơ sở giáo dục, nhất là các cơ sở giáo dục công lập, có khả năng triển khai các hoạt động huấn luyện, đào tạo các kỹ năng và năng lực khoa học mở một cách chính thống, rất cần có chính sách khoa học mở và các thành phần cơ bản của nó ở mọi cấp quản lý, đặc biệt là ở cấp chính phủ[31].

Các tham chiếu
[1] Lê Trung Nghĩa biên dịch: Cung cấp cho các nhà nghiên cứu các kỹ năng và năng lực họ cần để thực hành khoa học mở, EC xuất bản tháng 7/2017: https://www.dropbox.com/s/qc0cfjd80ipmvnx/os_skills_wgreport_final_Vi_01032018.pdf?dl=0, trang 8
[2] TS. Cable Green, Open Education: The Moral, Business & Policy Case for OER, hình được tùy biến từ slide số 26 https://www.slideshare.net/cgreen/updated-keynote-slides-october-2014, giấy phép CC BY.
[3] Lê Trung Nghĩa, Cấp phép mở Creative Commons cho các tài nguyên truy cập mở, tài nguyên giáo dục mở và dữ liệu mở: https://vnfoss.blogspot.com/2018/05/cap-phep-mo-creative-commons-cho-cac.html
[4] Lê Trung Nghĩa: Rất cần khoa học mở cho CMCN4.0, Tạp chí Tia Sáng, 26/08/2017: http://tiasang.com.vn/-doi-moi-sang-tao/Rat-can-khoa-hoc-mo-cho-CMCN-40--10878
[5] Lê Trung Nghĩa biên dịch: Cung cấp cho các nhà nghiên cứu các kỹ năng và năng lực họ cần để thực hành Khoa học Mở, EC xuất bản tháng 07/2017: https://www.dropbox.com/s/qc0cfjd80ipmvnx/os_skills_wgreport_final_Vi_01032018.pdf?dl=0, trang 42
[6] Lê Trung Nghĩa biên dịch: Cung cấp cho các nhà nghiên cứu các kỹ năng và năng lực họ cần để thực hành Khoa học Mở, EC xuất bản tháng 07/2017: https://www.dropbox.com/s/qc0cfjd80ipmvnx/os_skills_wgreport_final_Vi_01032018.pdf?dl=0
[7] Lê Trung Nghĩa biên dịch: Giới thiệu truy cập mở, UNESCO xuất bản 2015: https://www.dropbox.com/s/pieghb3m5r7hm5i/231920E-Vi-06082017.pdf?dl=0
[8] Lê Trung Nghĩa biên dịch: Hạ tầng truy cập mở, UNESCO xuất bản năm 2015: https://www.dropbox.com/s/u1wc3yp0i9vib9h/232204E-Vi-16082017.pdf?dl=0
[9] Lê Trung Nghĩa biên dịch: Tối ưu hóa tài nguyên, UNESCO xuất bản năm 2015: https://www.dropbox.com/s/d7oh3271m0z622h/232201E-Vi-22082017.pdf?dl=0
[10] Lê Trung Nghĩa biên dịch: Tính tương hợp và truy xuất, UNESCO xuất bản năm 2015: https://www.dropbox.com/s/1xkxe2y8oy0ln2m/232199E-Vi-06082017.pdf?dl=0
[11] Lê Trung Nghĩa biên dịch: Truyền thông hàn lâm, UNESCO xuất bản năm 2015: https://www.dropbox.com/s/6irainzgx3qa65h/231938e-Vi-20092017.pdf?dl=0
[12] Lê Trung Nghĩa biên dịch: Các khái niệm về tính mở và truy cập mở, UNESCO xuất bản năm 2015: https://www.dropbox.com/s/bnpg9kn6phkqnii/232207E-Vi-27092017.pdf?dl=0
[13] Lê Trung Nghĩa biên dịch: Các quyền sở hữu trí tuệ, UNESCO xuất bản năm 2015: https://www.dropbox.com/s/dboxp5uju3kjy0u/232208E-Vi-09092017.pdf?dl=0
[14] Lê Trung Nghĩa biên dịch: Đo đếm đánh giá nghiên cứu, UNESCO xuất bản năm 2015: https://www.dropbox.com/s/n1xohy7tgjdnt4o/232210E-Vi-12102017.pdf?dl=0
[15] Lê Trung Nghĩa biên dịch: Chia sẻ tác phẩm của bạn theo truy cập mở, UNESCO xuất bản năm 2015: https://www.dropbox.com/s/bff7xp7ppmm6yun/232211E-Vi-14092017.pdf?dl=0
[16] Lê Trung Nghĩa biên dịch: Chỉ dẫn chính sách để phát triển và thúc đẩy truy cập mở, tác giả: Almar Swan, UNESCO xuất bản 2012: https://www.dropbox.com/s/t0pw2yrsfludxp5/215863e-Vi-04102017.pdf?dl=0
[17] Lê Trung Nghĩa biên dịch: Chỉ dẫn cơ bản về TNGDM, UNESCO và COL xuất bản năm 2011 và cập nhật 2015: https://www.dropbox.com/s/lr35lwf436l4ggj/215804e-Vi-04102015.pdf?dl=0
[18] Lê Trung Nghĩa biên dịch: Các chỉ dẫn về TNGDM trong giáo dục đại học, UNESCO và COL xuất bản năm 2011 và cập nhật 2015: https://www.dropbox.com/s/p1tfmi5swd229e8/213605e-Vi-21092015.pdf?dl=0
[19] Lê Trung Nghĩa biên dịch: TNGDM: Chính sách, các chi phí và sự biến đổi, UNESCO và COL xuất bản năm 2016: https://www.dropbox.com/s/rsweet9lr2j50i5/244365e-Vi-20072016.pdf?dl=0
[20] Lê Trung Nghĩa biên dịch: TNGDM: Từ cam kết tới hành động, COL xuất bản năm 2017: https://www.dropbox.com/s/vyoczt07w3r49pf/2017_COL_OER-From-Commitment-to-Action-Vi-15102017.pdf?dl=0
[21] Lê Trung Nghĩa biên dịch: Vai trò của các thư viện và các thủ thư trong các sáng kiến TNGDM, JISC và CETIS xuất bản tháng 08/2012: https://www.dropbox.com/s/u74gh16watjwqo2/OER-Libraries-Survey-Report-Vi-16032016.pdf?dl=0
[22] Lê Trung Nghĩa biên dịch: TNGDM trong các ngôn ngữ ít được sử dụng, các tác giả: Linda Bradley, Sylvi Vigmo, 2014: https://www.dropbox.com/s/uqae2g324jt49mf/WP2%20study%200207-Vi-24042016.pdf?dl=0
[23] Lê Trung Nghĩa: Tổng quan về TNGDM và một kịch bản giả tưởng về tương lai của giáo dục Việt Nam: https://www.dropbox.com/s/bfjjs0c64b8lq9d/OER-Overview_For_AVNUC_Conference_16052018.pdf?dl=0
[24] Lê Trung Nghĩa biên dịch: Giáo dục mở và tài nguyên, giấy phép tư liệu mở: http://vnfoss.blogspot.com/2014/06/giao-duc-mo-va-tai-nguyen-giay-phep-tu.html
[25] Lê Trung Nghĩa biên dịch: Sổ tay cấp phép mở của Liên bang (Mỹ): https://www.dropbox.com/s/4s48mcx47b6wb0c/open_licensing_playbook_final_Vi-26052018.pdf?dl=0
[26] Lê Trung Nghĩa, 2018: Tìm kiếm và sử dụng các nguồn tài nguyên được cấp phép mở: https://www.dropbox.com/s/xaz6kjsyh2ag44y/OER_Searching_%26_Using.pdf?dl=0
[27] Lê Trung Nghĩa, 2017: Khóa tập huấn ‘Xây dựng tài nguyên giáo dục mở trên nền tảng công nghệ mở’, một bước tiến nhỏ hướng tới ứng dụng và phát triển tài nguyên giáo dục mở (TNGDM) trong các thư viện đại học: http://vnfoss.blogspot.com/2018/10/khoa-tap-huan-xay-dung-tai-nguyen-giao.html
[28] wikihow.vn: Cách để Viết bài trên wikihow.vn: https://www.wikihow.vn/Vi%E1%BA%BFt-b%C3%A0i-tr%C3%AAn-wikihow.vn
[29] wikihow.vn: Cách để Tạo eBook định dạng ePub trong LibreOffice bằng Writer2ePub: https://www.wikihow.vn/T%E1%BA%A1o-eBook-%C4%91%E1%BB%8Bnh-d%E1%BA%A1ng-ePub-trong-LibreOffice-b%E1%BA%B1ng-Writer2ePub
[30] Lê Trung Nghĩa biên dịch, 2018: Sổ tay huấn luyện khoa học mở: https://www.dropbox.com/s/1qey0usiae43y5l/Open_Science_Trainning_Handbook_Vi-20052018.pdf?dl=0
[31] Lê Trung Nghĩa, Kỹ năng và năng lực cho khoa học mở: Thách thức và gợi ý cho Việt Nam: http://tiasang.com.vn/-khoa-hoc-cong-nghe/Ky-nang-va-nang-luc-cho-khoa-hoc-mo-Thach-thuc-va-goi-y-cho-Viet-Nam-12350

Lê Trung Nghĩa

PS: Bạn có thể tự do tải về bài trình bày ở định dạng PDF theo địa chỉ: