Hiển thị các bài đăng có nhãn LOD. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn LOD. Hiển thị tất cả bài đăng

Thứ Năm, 13 tháng 11, 2025

Các nội dung về AI trong tài liệu ‘Khung năng lực Tài nguyên Giáo dục Mở cho giảng viên V3.0’





Lê Trung Nghĩa, ORCID iD: https://orcid.org/0009-0007-7683-7703

Viện Nghiên cứu, Đào tạo và Phát triển Tài nguyên Giáo dục Mở (InOER)

Hiệp hội các trường đại học cao đẳng Việt Nam (AVU&C)


Giấy phép nội dung: CC BY 4.0 Quốc tế



------------------------------------------------------

Tóm tắt: Trong những năm gần đây, trí tuệ nhân tạo - AI (Artificial Intelligence), một công nghệ kỹ thuật số mới nổi lên, được ứng dụng và phát triển khắp mọi nơi trên thế giới, mở ra một kỷ nguyên mới, Kỷ nguyên AI. Việc ứng dụng và phát triển AI, nhất là AI tạo sinh, có tác động lớn tới ứng dụng và phát triển TNGDM nói riêng, và toàn bộ hệ sinh thái thông tin nói chung. Bài viết này trình bày các khía cạnh nội dung về AI dự kiến sẽ được cập nhật vào tài liệu ‘Khung năng lực Tài nguyên Giáo dục Mở cho giảng viên V3.0’ dựa trên phiên bản V2.0 đã có trước đó.

Từ khóa: AI, AI tạo sinh (GenAI), tài nguyên giáo dục mở (TNGDM), phạm vi công cộng, cấp phép mở, tín hiệu CC

------------------------------------------------------

1. Đặt vấn đề

Trong vài năm qua, trí tuệ nhân tạo - AI (Artificial Intelligence) được ứng dụng và phát triển khắp mọi nơi trên thế giới, và Việt Nam cũng không là ngoại lệ. Một mặt, nhiều cơ sở giáo dục, bao gồm cả giáo dục phổ thông, hiện đã và đang triển khai các khóa đào tạo và huấn luyện sử dụng các mô hình/hệ thống/ứng dụng AI; mặt khác các nghiên cứu gần đây trên thế giới chỉ ra rằng việc ứng dụng và phát triển AI có tác động lớn tới ứng dụng và phát triển TNGDM cũng như toàn bộ hệ sinh thái thông tin. Điều này cho thấy sự cần thiết phải đưa các nội dung về AI vào ‘Khung năng lực TNGDM cho giảng viên V3.0’ mà phiên bản V2.01 đã có trước đó còn thiếu bằng việc bổ sung thêm một lĩnh vực năng lực L7 AI trong ứng dụng và phát triển TNGDM. Tương tự, nội dung Tín hiệu CC: Khế ước xã hội mới trong kỷ nguyên AI cũng được đưa vào trong tài liệu Khung V3.0.

2. L7 AI trong ứng dụng và phát triển TNGDM

Lĩnh vực năng lực L7 AI trong ứng dụng và phát triển TNGDM gồm 2 năng lực: (1) L7.1 Hiểu về AI trong ứng dụng và phát triển TNGDM; và (2) L7.2 Thực hành AI trong ứng dụng và phát triển TNGDM.

L7.1 Hiểu về AI trong ứng dụng và phát triển TNGDM

Năng lực L7.1 có các nội dung: (1) AI trong Hội nghị TNGDM thế giới lần 3 năm 2024; (2) Khung năng lực AI cho giáo viên và học sinh của UNESCO; (3) AI tích cực và AI tiêu cực; (4) Giáo dục Mở và AI tạo sinh, sách giáo khoa tạo sinh; (5) AI nguồn mở so với AI nguồn đóng; và (6) Các ứng dụng AI nguồn mở, LLM nguồn mở.

AI trong Hội nghị TNGDM thế giới lần 3 năm 2024

Trong những năm gần đây, trí tuệ nhân tạo - AI (Artificial Intelligence) được nói đến khắp mọi nơi trên thế giới. Một trong những cột mốc quan trọng trong ứng dụng và phát triển TNGDM của thế giới là Hội nghị TNGDM Thế giới lần 3 được tổ chức trong các ngày 19-20/11/2024 tại Dubai, các Tiểu vương quốc Ả rập Thống nhất (UAE) với chủ đề: Hàng hóa Công cộng kỹ thuật số: Các Giải pháp Mở và AI vì Quyền truy cập Toàn diện tới Tri thức2. Hội nghị đã kết thúc bằng việc xuất bản tài liệu Tuyên bố Dubai về Tài nguyên Giáo dục Mở (TNGDM): Hàng hóa công cộng kỹ thuật số và các công nghệ mới nổi vì quyền truy cập công bằng và toàn diện tới tri thức3 khẳng định tiềm năng biến đổi của TNGDM và nhu cầu khai thác các công nghệ mới nổi, bao gồm cả AI, để góp phần vào việc giải quyết các thách thức liên quan đến quyền truy cập, sở hữu trí tuệ và tính bền vững, cũng như hoàn thành các mục tiêu phát triển bền vững của Liên hiệp quốc; qua đó nhấn mạnh mối quan hệ chặt chẽ giữa AI với TNGDM. Tuyên bố nêu rõ:

Hội nghị TNGDM Thế giới lần 3 tái khẳng định tiềm năng biến đổi của TNGDM như một hòn đá tảng cho quyền truy cập công bằng và toàn diện tới kiến thức trong kỷ nguyên số. Bằng việc khai thác các công nghệ mới nổi lên, bao gồm cả AI, và việc ôm lấy các giải pháp mở được điều chỉnh phù hợp với các nguyên tắc hàng hóa công cộng kỹ thuật số - DPG (Digital Public Goods), cộng đồng toàn cầu có thể thúc đẩy đổi mới đồng thời giải quyết các thách thức liên quan đến quyền truy cập, sở hữu trí tuệ và tính bền vững.

Các cam kết được đưa ra qua Tuyên bố Dubai nhằm nhấn mạnh những nỗ lực toàn cầu để lấp đi phân cách số, trao quyền cho các cộng đồng khác nhau và đóng góp cho sự tiến bộ của các Mục tiêu Phát triển Bền vững (SDG) của Liên hiệp quốc. Thông qua hành động hợp tác, chúng ta có thể đảm bảo rằng TNGDM vẫn là chất xúc tác cho việc học tập suốt đời và là động lực cho một tương lai công bằng hơn, nhiều tri thức hơn cho tất cả mọi người.

Phần giới thiệu của tài liệu Tuyên bố này cho thấy nhu cầu ngày càng cao về hạ tầng AI dựa trên phần mềm nguồn mở và nội dung được cấp phép mở, đặc biệt là với AI tạo sinh - GenAI (Generative AI) để đảm bảo các hệ thống AI minh bạch và nhân bản được:

Việc công chúng sử dụng các công nghệ mới nổi lên và các công cụ trí tuệ nhân tạo - AI (Artificial Intelligence) ngày càng gia tăng với tốc độ nhanh. Để đảm bảo các hệ thống AI là minh bạch và có thể được nhân bản và nhận xét, công chúng đòi hỏi hạ tầng AI dựa trên phần mềm nguồn mở và nội dung được cấp phép mở. Sự tiến bộ của AI tạo sinh (Generative AI) đã thúc đẩy các tranh luận quan trọng về các cách thức mới ở đó nội dung và dữ liệu có thể được thu thập, tạo lập, sử dụng, sử dụng lại và chia sẻ.

Cũng cần nhấn mạnh thêm rằng, mục tiêu của Hội nghị TNGDM Thế giới lần 3 là nhằm:

  • chia sẻ các thực hành tốt nhất và các đổi mới trong triển khai Khuyến nghị 2019 trong vòng 5 năm kể từ khi nó được thông qua;

  • xác định các chiến lược hỗ trợ triển khai Khuyến nghị 2019 để đáp ứng các thách thức mới nổi lên;

  • xác định các cơ chế cộng tác để huy động nhiều hơn các bên liên quan để triển khai Khuyến nghị 2019, và để mở rộng quyền truy cập tới các tài nguyên học tập chất lượng, miễn phí, truy cập được, được cấp phép mở nhằm hỗ trợ cho Hiệp ước Kỹ thuật số Toàn cầu4 và Lời kêu gọi Hành động của Hội nghị thượng đỉnh Biến đổi Giáo dục 2023.

Khung năng lực AI cho giáo viên và học sinh của UNESCO

Có nhận thức chung rằng, để biết ai thực sự có các năng lực số và nếu ai đó có một năng lực số nào đó thì nó ở mức độ thông thạo nào, chúng ta cần các khung năng lực số cho các đối tượng khác nhau. Vì AI là một trong những công nghệ số mới nổi lên, nên trước hết chúng ta cần có các khung năng lực số với sự tích hợp trong đó các năng lực AI và/hoặc các khung năng lực AI chuyên dụng. Trên thực tế, các năng lực AI có thể được thể hiện trong các dạng khung năng lực sau đây:

  1. Khung năng lực AI chuyên dụng, như Khung năng lực AI cho giáo viên5 và Khung năng lực AI cho học sinh6 của UNESCO. Điều đáng lưu ý trong các khung này là chúng đều nhấn mạnh vào 2 khía cạnh: (1) Tư duy lấy con người làm trung tâm; và (2) Đạo đức AI. Các khía cạnh liên quan đến kỹ thuật công nghệ là quan trọng, nhưng đều đứng sau 2 khía cạnh nêu trên. Đây là điều cần hết sức chú ý khi triển khai các mô hình/hệ thống/ứng dụng AI, bao gồm AI tạo sinh (GenAI) vào thực tế cuộc sống. Có thể tham khảo nội dung liên quan đến khía cạnh đạo đức AI trong tài liệu của UNESCO xuất bản năm 20217; và tham khảo khía cạnh tư duy lấy con người làm trung tâm trong tài liệu của Vương quốc Anh xuất bản tháng 6/20258.

Hình 1. Khung năng lực AI cho giáo viên

Hình 2. Khung năng lực AI cho học sinh

  1. Khung năng lực số có tích hợp các năng lực AI, chẳng hạn như Khung năng lực số cho công dân (DigComp) phiên bản V2.2 năm 2022 của Ủy ban châu Âu9 (Khung có 259 ví dụ, 35 trong số đó có liên quan đến AI, chiếm tỷ lệ 13,5%) hoặc các khung được tùy chỉnh từ nó, chẳng hạn như Khung năng lực số PIX10 của nước Pháp, Khung năng lực số cho công dân trên địa bàn thành phố Đà Nẵng11, Khung năng lực số cho người học của Bộ Giáo dục và Đào tạo12, hay Khung kiến thức, kỹ năng số cơ bản của Bộ Khoa học và Công nghệ13.

Hình 3. Khung năng lực số cho công dân V2.2 của Ủy ban châu Âu

  1. Khung năng lực số chuyên ngành có tích hợp các năng lực AI, chẳng hạn như Khung năng lực AI và công nghệ chăm sóc sức khỏe kỹ thuật số của Vương quốc Anh14. Khung trình bày các năng lực số cơ bản, các năng lực AI và các năng lực chuyên môn về y tế và chăm sóc sức khỏe.

AI tích cực và AI tiêu cực

Như trình bày ở trên, các Khung năng lực AI của UNESCO đều nhấn mạnh đến hai khía cạnh: tư duy lấy con người làm trung tâm và đạo đức AI, điều cảnh báo trước rằng AI không chỉ có các mặt tích cực, mà còn có cả các mặt tiêu cực. Các chuyên gia về AI của OpenPraxis đã chỉ rõ điều này trong nghiên cứu của mình15, cho thấy trong khi AI có 15 điểm tích cực, nó cũng có đến 20 điểm tiêu cực. Vì điều này, việc triển khai các ứng dụng AI vào thực tế cần được tiến hành thận trọng từng bước, có đạo đức và có trách nhiệm.

Hình 4. AI tích cực và AI tiêu cực

Giáo dục Mở và AI tạo sinh, sách giáo khoa tạo sinh

David Wiley đưa ra Mô hình Ngôn ngữ Giáo dục Mở - OELM (Open Education Language Model16) như một mô hình ngôn ngữ lớn - LLM (Large Language Model) với 4 thành phần của nó đều được cấp phép mở nhằm hỗ trợ cho việc giảng dạy và học tập và thay thế cho các mô hình AI tạo sinh (GenAI) sở hữu độc quyền để giải quyết các mối quan tâm chính về AI tạo sinh trong giáo dục và trả lời các câu hỏi như: (1) Làm thế nào để tôi sử dụng nó một cách hiệu quả? (2) Tôi có thể tin tưởng vào các phản hồi của nó là chính xác không? và (3) Tôi có thể tin tưởng vào tính phù hợp của hành vi đó không?

Hình 5. Các thành phần của một Mô hình Ngôn ngữ Giáo dục Mở (OELM)

Mỗi thành phần trong 4 thành phần này – trọng số mở của mô hình (Open Weights), TNGDM để tinh chỉnh (Fine-tuning with OER), TNGDM cho việc tạo sinh tăng cường truy xuất - RAG (Retrieval-Augmented Generation) và lời nhắc mở (Open Prompts) được viết sẵn – đều có thể được cấp phép mở, cung cấp cho giáo viên, người học và những người khác quyền tham gia vào các hoạt động 5R (Lĩnh vực L6.1 Hiểu về Sư phạm được TNGDM xúc tác, mục Mô tả các hoạt động 5R đặc trưng của TNGDM của tài liệu1). Hãy coi trọng số mô hình là sách giáo khoa cốt lõi và các thành phần khác là tài liệu bổ sung cần thiết để áp dụng rộng rãi. Và giống như TNGDM truyền thống, khả năng sao chép, chỉnh sửa và chia sẻ lời nhắc và các thành phần OELM khác có nghĩa là chúng có thể được bản địa hóa để đáp ứng tốt nhất nhu cầu của từng người học, giảm thiểu tác hại tiềm ẩn liên quan đến AI tạo sinh và tăng khả năng tiếp cận, khả năng chi trả và công bằng.


Bằng cách sử dụng OELM được tích hợp trong một mô hình GenAI, cùng đồng thời với việc xây dựng lời nhắc mở tinh xảo, chẳng hạn như các mẫu template có khả năng sử dụng lặp đi lặp lại nhiều lần, việc tạo ra các sách giáo khoa tạo sinh17 18(Generative Texbook) là hoàn toàn khả thi. Mặt khác, bằng cách này, quy trình tạo lập và tùy chỉnh TNGDM cũng sẽ được cải thiện, cả về chi phí có thể phải bỏ ra cùng với công sức và thời gian đối với những người sáng tạo ra chúng19, góp phần làm tăng khả năng tiếp cận tới các cơ hội giáo dục và quyền truy cập tới tài nguyên giáo dục cho mọi người học - bản chất của Giáo dục Mở. Nói một cách khác, AI tạo sinh (GenAI) là hiệu quả hơn trong việc nâng cao quyền truy cập tới cơ hội giáo dục so với TNGDM20.

AI nguồn mở so với AI nguồn đóng

Sự kiện mô hình AI DeepSeek được xây dựng dựa trên phần mềm nguồn mở từng làm rung chuyển ngành công nghệ thông tin cũng như thị trường chứng khoán toàn thế giới. Hàng loạt bài đăng trên Internet với các tiêu đề về DeepSeek đầu năm 2025 đã chứng minh cho điều này, chẳng hạn như21: “DeepSeek chứng minh: Nguồn mở là bí quyết thống trị thị trường công nghệ (và Phố Wall đã sai)”, “Nvidia giảm 18% và cổ phiếu công nghệ trượt dốc khi DeepSeek của Trung Quốc khiến các nhà đầu tư lo ngại”; “DeepSeek đã gây ra sự hoảng loạn trên thị trường — nhưng một số người cho rằng việc bán tháo là quá mức”; “DeepSeek sẽ làm đảo lộn ngành công nghiệp AI như thế nào — và mở ra cơ hội cạnh tranh”; “DeepSeek của Trung Quốc vừa cho mọi công ty công nghệ Mỹ thấy họ đang bắt kịp AI nhanh như thế nào”; “Mark Zuckerberg: DeepSeek cho thấy vì sao nước Mỹ phải là ‘tiêu chuẩn nguồn mở toàn cầu’ của AI; không có lý do gì để suy nghĩ lại về việc chi tiêu”; “Nhà khoa học AI hàng đầu của Meta cho biết thành công của DeepSeek cho thấy 'các mô hình nguồn mở đang vượt trội hơn các mô hình độc quyền”.

Hình 6. Chỉ số minh bạch dữ liệu AI (AIDTI) của các mô hình AI22

Nhưng liệu DeepSeek có thực sự là AI Nguồn Mở hay không, khi cũng có bài viết với tiêu đề “Nếu DeepSeek muốn trở thành một người phá vỡ thực sự, nó phải tiến xa hơn nữa về tính minh bạch của dữ liệu”. Cho dù DeepSeek đúng là đủ tiêu chuẩn để được gọi là phần mềm nguồn mở khi mà toàn bộ mã nguồn các thành phần của nó đều được cấp phép mở với giấy phép mở MIT và được đặt công khai trên GitHub (https://github.com/orgs/deepseek-ai/repositories) mà bất kỳ ai trên thế giới cũng có thể truy cập, tải xuống và sửa đổi các mã nguồn đó; nhưng DeepSeek, ít nhất, lại không đủ điều kiện để được coi là AI Nguồn Mở vì dữ liệu của DeepSeek là không mở, chỉ đạt ở mức độ thấp (Low) theo Chỉ số minh bạch dữ liệu AI – AIDTI (AI Data Transparency Index), như trên Hình 6, khi DeepSeek được so sánh với hơn 20 mô hình AI khác.

Ở một góc nhìn khác, tính minh bạch của một mô hình AI cụ thể đối với mã nguồn phần mềm, thông số mô hình và dữ liệu đào tạo của của nó có thể là minh bạch đầy đủ (hoàn toàn mở), minh bạch một phần (mở một phần hoặc cho phép truy cập hạn chế), hoặc nguồn đóng (hoàn toàn độc quyền). Điều này gây thêm khó khăn cho việc phân biệt giữa các mô hình AI Nguồn Mở và nguồn đóng.

Bảng 1. Các chiều minh bạch AI theo các thành phần23

Định nghĩa AI Nguồn Mở - (OSAID) của Sáng kiến Nguồn Mở (OSI)24, được nêu như sau:

AI Nguồn Mở (Open Source AI) là một hệ thống AI được làm cho sẵn sàng theo các điều khoản và theo một cách thức trao các quyền tự do để:

  • Sử dụng hệ thống đó vì bất kỳ mục đích gì và không phải hỏi sự cho phép;

  • Nghiên cứu cách hệ thống đó làm việc và kiểm tra các cấu thành của nó;

  • Sửa đổi hệ thống đó vì bất kỳ mục đích gì, bao gồm việc thay đổi đầu ra của nó;

  • Chia sẻ hệ thống đó với người khác để sử dụng với hoặc không với những sửa đổi, vì bất kỳ mục đích gì.

Những quyền tự do này áp dụng cho cả hệ thống hoạt động đầy đủ lẫn các thành phần riêng biệt của nó. Điều kiện tiên quyết để thực hiện các quyền tự do này là phải có quyền truy cập vào dạng hình thức ưu tiên để thực hiện các sửa đổi đối với hệ thống.

Để đáp ứng được các quyền tự do trong Định nghĩa AI Nguồn Mở, chẳng hạn như để sửa đổi hệ thống đó vì bất kỳ mục đích gì, tất cả các thành phần trong tất cả các lớp của một mô hình AI - cả phần mềm, dữ liệu, và tài liệu - đều phải được cấp phép mở như được đề xuất theo Khung Tính mở Mô hình - MOF (Model Openness Framework25) với 3 lớp như Bảng 2, mỗi lớp được xây dựng dựa trên lớp trước đó, đại diện cho các mức tăng dần của tính hoàn thiện và tính mở của mô hình; và với tất cả các thành phần của 3 lớp đó cần phải được cấp phép mở như được đề xuất trong Bảng 3.

Bảng 2. Các lớp của Khung Tính mở Mô hình (MOF)

Bảng 3. Các giấy phép mở tiêu chuẩn được khuyến nghị cho các thành phần của mô hình AI Nguồn Mở

Nghiên cứu cho thấy26, AI Nguồn Mở và AI nguồn đóng có những khác biệt cơ bản và đi cùng với các ưu điểm cũng như nhược điểm của riêng chúng:

  • Sự khác biệt giữa AI Nguồn Mở và AI nguồn đóng nằm ở những điểm chính sau: (1) Khả năng truy cập; (2) Hợp tác; (3) Minh bạch; (4) Chi phí; (5) Cập nhật và hỗ trợ; (6) Bảo mật; và (7) Tùy chỉnh.

  • Cả AI Nguồn Mở và AI nguồn đóng đều có những ưu và nhược điểm riêng của chúng, được trình bày chi tiết trong nghiên cứu.

Chính vì điều này, việc lựa chọn mô hình AI nào để sử dụng, nguồn mở hay nguồn đóng, sẽ tùy thuộc vào mục đích sử dụng được ưu tiên của từng cá nhân, tổ chức hay quốc gia. Đối với cá nhân, mục đích sử dụng có thể đơn giản là để giải quyết được các vấn đề trước mắt của riêng mình, trong khi đối với tổ chức hoặc quốc gia, mục đích sử dụng có thể sẽ khác, chẳng hạn như, sự ưu tiên hàng đầu là niềm tin vào mô hình AI được chọn để đảm bảo được quyền tự chủ đối với mô hình AI được chọn đó.

Câu hỏi đặt ra là: “AI Nguồn Mở so với nguồn đóng: Bạn sẽ tin ai?27 cũng chính là tiêu đề của một bài đăng trên trang web dành cho các lập trình viên các công ty Mỹ.

Hình 7. So sánh giữa AI Nguồn Mở và nguồn đóng

Một tham luận được trình bày tại hội thảo nhân sự kiện Security Bootcamp 202528 đã trích dẫn lời bài phát biểu của Bộ trưởng Bộ KHCN Nguyễn Mạnh Hùng như sau:

Công nghệ thông tin, công nghệ số đã trở thành nền tảng của kinh tế - xã hội. Cuộc di chuyển vĩ đại nhất trong lịch sử nhân loại là cuộc di chuyển từ thế giới thực sang thế giới số. Nhưng tất cả các quốc gia đều lo lắng về an ninh mạng. Niềm tin sẽ trở thành yếu tố quyết định cho sự thành công của cuộc di chuyển này. Các quốc gia chỉ có thể có niềm tin này khi công nghệ họ sử dụng là công nghệ mở. Công nghệ mở là để các quốc gia có thể làm chủ công nghệ mà mình sử dụng. Không còn như trước đây, chúng ta mua một "Black Box" (Hộp đen) từ một quốc gia khác và phó mặc số phận của quốc gia mình cho một quốc gia khác. Hiện nay, nhiều quốc gia đã tuyên bố chỉ mua công nghệ khi công nghệ là mở, nhất là khi các công nghệ đó dùng để xây dựng các hạ tầng nền tảng quốc gia như 5G, AI.”

Tương tự, tài liệu do Nhà Trắng, nước Mỹ, xuất bản ngày 23/07/2025 với tiêu đề “Chiến thắng cuộc đua: Kế hoạch hành động AI của nước Mỹ29 cũng có đoạn nội dung về “Khuyến khích AI Nguồn Mở và AI trọng số mở”, với mục đích như sau:

Các mô hình AI nguồn mở và AI trọng số mở được các nhà phát triển cung cấp miễn phí để bất kỳ ai trên thế giới cũng có thể tải xuống và chỉnh sửa. Các mô hình được phân phối theo cách này có giá trị đặc biệt cho đổi mới sáng tạo vì các công ty khởi nghiệp có thể sử dụng chúng một cách linh hoạt mà không phụ thuộc vào nhà cung cấp mô hình đóng. Chúng cũng mang lại lợi ích cho việc áp dụng AI trong thương mại và chính phủ vì nhiều doanh nghiệp và chính phủ có dữ liệu nhạy cảm mà họ không thể gửi cho các nhà cung cấp mô hình đóng. Và chúng rất cần thiết cho nghiên cứu học thuật, vốn thường dựa vào quyền truy cập vào trọng số và dữ liệu đào tạo của một mô hình để thực hiện các thí nghiệm khoa học nghiêm ngặt.

Chúng ta cần đảm bảo rằng nước Mỹ có các mô hình mở hàng đầu được xây dựng dựa trên các giá trị của Mỹ. Các mô hình nguồn mở và AI trọng số mở có thể trở thành tiêu chuẩn toàn cầu trong một số lĩnh vực kinh doanh và nghiên cứu học thuật trên toàn thế giới. Vì lý do đó, chúng cũng có giá trị địa chiến lược. Mặc dù quyết định về việc có nên phát hành mô hình mở hay đóng và cách phát hành về cơ bản là do nhà phát triển quyết định, nhưng chính phủ Liên bang nên tạo ra một môi trường hỗ trợ cho các mô hình mở.

Bên cạnh mục đích nêu trên, tài liệu cũng liệt kê hàng loạt hành động chính sách được khuyến nghị nhằm khuyến khích AI Nguồn Mở và AI trọng số mở phát triển.

Các ứng dụng AI nguồn mở, LLM nguồn mở

Có vô số các ứng dụng AI trong thực tế mà người dùng có thể chọn để sử dụng, trong số đó có những ứng dụng AI mục đích chung và chuyên dụng, bao gồm cả các ứng dụng AI nguồn mở và nguồn đóng30.

Dù về tính minh bạch như được nêu ở phần trên còn có thể gây tranh cãi, một số dự án AI được thừa nhận rộng rãi là nguồn mở được liệt kê trong một bài đăng có tựa đề ‘12 dự án AI Nguồn Mở hàng đầu để bổ sung vào kho công nghệ của bạn31 như: (1) TensorFlow; (2) PyTorch; (3) Keras; (4) Giskard; (5) Rasa; (6) Amazon SageMaker; (7) GPT4All; (8) Scikit-learn; (9) OpenCV; (10) H2O.ai; (11) Hugging Face Transformers; và (12) MindsDB.

Tương tự, bài đăng liệt kê ‘10 mô hình ngôn ngữ lớn (LLM) nguồn mở hàng đầu cho năm 202532 bạn có thể tùy chỉnh để tạo ra các ứng dụng AI cho riêng mình dựa trên chúng: (1) Meta AI; (2) Google Gemma 2; (3) Command R+; (4) Mistral-8x22b; (5) Falcon 2; (6) Grok 1.5; (7) Qwen1.5; (8) BLOOM; (9) GPT-NeoX; và (10) Vicuna-13B.

L7.2 Thực hành AI trong ứng dụng và phát triển TNGDM

Năng lực L7.2 có 4 nội dung: (1) Đầu ra của AI tạo sinh là TNGDM trong phạm vi công cộng; (2) Thừa nhận ghi công cho đầu ra của AI tạo sinh; (3) Lời nhắc đầu vào của AI tạo sinh nên được cấp phép mở để trở thành TNGDM; và (4) Các kỹ thuật lời nhắc.

Hình 8. Quan hệ giữa AI tạo sinh và TNGDM

Đầu ra của AI tạo sinh là TNGDM trong phạm vi công cộng

Báo cáo Bản quyền và AI33 của Văn phòng Bản quyền Hoa Kỳ, Phần 2, trang 10 nêu:

Hình 9. Đoạn trích từ báo cáo Bản quyền và AI

Trong khi AI chỉ hỗ trợ tác giả trong quá trình sáng tạo, việc sử dụng AI không làm thay đổi khả năng bảo vệ bản quyền của sản phẩm. Ở thái cực ngược lại, nếu nội dung hoàn toàn do AI tạo ra, thì nội dung đó không thể được bảo vệ bản quyền.”

Lý do của điều này cũng được giải thích trong tài liệu nghiên cứu AI, Thiết kế hướng dẫn, và OER34 của David Wiley, rằng các tòa án tại nước Mỹ, bao gồm cả Tòa án tối cao, đã thống nhất giới hạn bảo vệ bản quyền theo Đạo luật bản quyền đối với các sáng tạo của tác giả là con người. Vì thế, ông đã nhắc lại trong nghiên cứu của mình:

Theo Văn phòng Bản quyền Hoa Kỳ, đầu ra từ các chương trình như ChatGPT hoặc Stable Diffusion không đủ điều kiện để được bảo vệ bản quyền.”

Ông cũng khẳng định, trừ khi có điều gì đó khá nghiêm trọng xảy ra:

Đầu ra của các chương trình AI tạo sinh sẽ tiếp tục được chuyển ngay vào phạm vi công cộng. Do đó, chúng sẽ là TNGDM theo định nghĩa chung.”

Điều này chính xác là những gì được nêu trong Định nghĩa TNGDM35 của UNESCO đối với các tài nguyên giáo dục nằm trong phạm vi công cộng.

Việc hiểu rõ Đầu ra của AI tạo sinh là TNGDM trong phạm vi công cộng có thể sẽ giúp các giảng viên, bằng việc sử dụng chúng, tiết kiệm được nhiều thời gian và công sức để hoàn thành các nhiệm vụ cụ thể trong công việc giảng dạy và học tập của mình.

Thừa nhận ghi công cho đầu ra của AI tạo sinh

Việc thừa nhận ghi công cho tác giả và nguồn gốc của tài nguyên là cơ bản và thiết yếu khi bạn sử dụng bất kỳ tài nguyên nào không do bạn tự tạo ra, bao gồm cả các tài nguyên là đầu ra của AI tạo sinh.

Một khi đầu ra của các mô hình/hệ thống/ứng dụng AI tạo sinh không đủ điều kiện để được bảo hộ bản quyền vì không phải do con người tạo ra, thì theo Luật bản quyền/Luật sở hữu trí tuệ, chúng không thể được coi là các tác giả/đồng tác giả, dù chúng hỗ trợ cho các tác giả con người trong các tác phẩm họ tạo ra với sự trợ giúp của các mô hình/hệ thống/ứng dụng AI tạo sinh đó.

Vậy việc thừa nhận ghi công sẽ như thế nào cho một tác phẩm do tác giả con người tạo ra trong đó có sử dụng các kết quả đầu ra của AI tạo sinh? Ví dụ, tác giả Nguyễn Văn A sáng tạo ra một tác phẩm được cấp giấy phép CC BY 4.0 với tiêu đề ‘Tài nguyên Giáo dục Mở trong thư viện’ trong đó có sử dụng các hình ảnh do Meta AI tạo ra, thì theo lưu ý của một cơ sở giáo dục về ‘Những lợi ích và thách thức của việc sử dụng AI để tạo lập TNGDM36’, việc thừa nhận ghi công cho tác giả và các hình ảnh đó có thể nên là như sau:

Tài nguyên Giáo dục Mở trong thư viện” của Nguyễn Văn A được cấp giấy phép CC BY 4.0, ngoại trừ những nơi có ghi chú hoặc nội dung tương tự như “Tất cả hình ảnh đều do Meta AI tạo ra và thuộc phạm vi công cộng thông qua CC0”.

Lời nhắc đầu vào của AI tạo sinh nên được cấp phép mở để trở thành TNGDM

Trong khi đầu ra của AI tạo sinh được mặc định là các TNGDM nằm trong phạm vi công cộng, thì được khuyến nghị rằng lời nhắc đầu vào cho AI tạo sinh, một khi được thiết kế một cách tinh xảo, nên được cấp phép mở để trở thành TNGDM, để bất kỳ ai cũng có quyền không mất tiền để truy cập, sử dụng lại, tái mục đích, tùy chỉnh và phân phối lại chúng, như theo Định nghĩa TNGDM35 của UNESCO.

Nghiên cứu của David Wiley cho thấy, lời nhắc đầu vào cho AI tạo sinh, một khi được thiết kế một cách tinh xảo, có thể tạo ra các tài nguyên giáo dục chất lượng cao, ví dụ như các sách giáo khoa, có thể làm thay đổi cách thức quản lý và lưu trữ tài liệu ở thư viện, chẳng hạn như việc quản lý và lưu trữ các lời nhắc đầu vào cho AI tạo sinh là có thể xảy ra trong tương lai gần, thay vì việc quản lý và lưu trữ các tài liệu giấy/điện tử như hiện nay. Điều này có thể dẫn tới việc tạo ra các sách giáo khoa với nội dung “động” chứ không “tĩnh” như hiện nay, vì về bản chất, AI tạo sinh được đào tạo bởi lượng dữ liệu khổng lồ và gia tăng liên tục theo thời gian. Ông gọi các sách giáo khoa được tạo ra bởi AI tạo sinh là ‘Sách giáo khoa tạo sinh37’ (Generative Textbooks) và môi trường học tập mở có sử dụng AI tạo sinh là ‘Môi trường học tập mở tạo sinh38’ (Generative Open Learning Environment).

Hãy tưởng tượng, một ngày nào đó trong tương lai gần, bạn có thể tạo ra ngay lập tức bất cứ khi nào bạn cần một cuốn sách giáo khoa/tài liệu học tập bằng việc sử dụng một tệp mẫu temlate lời nhắc được cấp phép mở như là TNGDM để làm đầu vào cho các mô hình/hệ thống/ứng dụng AI tạo sinh chất lượng, và chắc chắn rằng việc làm đó là hoàn toàn hợp pháp, vì đầu ra của AI tạo sinh cũng là TNGDM nằm trong phạm vi công cộng.

Không giống như một lời nhắc thông thường dưới dạng một hoặc vài câu hỏi đơn giản, một lời nhắc được thiết kế một cách tinh xảo thường tuân theo một hoặc vài kỹ thuật lời nhắc cụ thể một cách bài bản, được tinh chỉnh liên tục để có thể được sử dụng lại nhiều lần, lặp đi lặp lại.

Ví dụ, để so sánh các điểm mạnh, yếu, cơ hội và thách thức (phân tích SWOT) của một khái niệm có tính tương phản hai mặt, chẳng hạn như AI Nguồn Mở và AI nguồn đóng, lời nhắc có thể được xây dựng như sau:

So sánh giữa AI Nguồn mở và AI nguồn đóng bằng phân tích SWOT

[Các điểm mạnh của AI Nguồn Mở]

[Các điểm yếu của AI Nguồn Mở]

[Các cơ hội của AI Nguồn Mở]

[Các thách thức của AI Nguồn Mở]

[Các điểm mạnh của AI Nguồn Đóng]

[Các điểm yếu của AI Nguồn Đóng]

[Các cơ hội của AI Nguồn Đóng]

[Các thách thức của AI Nguồn Đóng]

[So sánh các điểm mạnh, yếu, cơ hội, thách thức của AI Nguồn Mở và Nguồn Đóng]

[3-5 câu tóm tắt về việc lựa chọn AI Nguồn Mở so với AI Nguồn Đóng]

[URL tới các tài liệu tham chiếu của bài viết]

[Dịch toàn bộ bài viết trên sang tiếng Anh]

Tương tự, có thể xây dựng lời nhắc này bằng tiếng Anh rồi sau đó yêu cầu ứng dụng AI tạo sinh dịch kết quả nội dung đầu ra của nó sang tiếng Việt, như sau:

Comparison between Open AI and Closed AI using SWOT Analysis

[Strengths of Open AI]

[Weaknesses of Open AI]

[Opportunities of Open AI]

[Challenges of Open AI]

[Strengths of Closed AI]

[Weaknesses of Closed AI]

[Opportunities of Closed AI]

[Challenges of Closed AI]

[Compare the strengths, weaknesses, opportunities, and challenges of Open AI and Closed AI]

[3-5 sentences summary of the choice of Open AI vs. Closed AI]

[URL to the referenced documents of the article]

[Translate the entire article into Vietnamese]


 

Bằng mẫu template lời nhắc này, có thể so sánh bất kỳ khái niệm mới nào có hai mặt tương phản thông qua một phân tích SWOT, ví dụ như: phần mềm nguồn mở với phần mềm nguồn đóng; truy cập mở với truy cập đóng, dữ liệu mở với dữ liệu đóng …

Điều thú vị, bạn có thể thử so sánh các kết quả đầu ra khi lời nhắc được viết bằng tiếng Việt so với được viết bằng tiếng Anh cho cùng một ứng dụng AI tạo sinh, hoặc khi cùng một lời nhắc được đưa vào các ứng dụng AI tạo sinh khác nhau, ví dụ như Gemini, Meta AI, ChatGPT, DeepSeek hay Grok ... Trải nghiệm này còn cho thấy, bạn cần có tư duy phản biệnkiến thức chuyên sâu về bất kỳ chủ đề nào bạn quan tâm để có thể phân biệt đúng - sai, khi nào nên và không nên tin vào kết quả đầu ra của các ứng dụng AI.

Các kỹ thuật lời nhắc

Có thể có nhiều cách để học để đưa ứng dụng AI tạo sinh vào trong thực tế, nhưng cách tốt nhất có thể là học các kỹ thuật lời nhắc để tạo ra những lời nhắc tinh xảo, có ý nghĩa nhất cho các ứng dụng AI tạo sinh.

Bài đăng ‘Hướng dẫn kỹ thuật lời nhắc39 liệt kê chi tiết 18 kỹ thuật lời nhắc, bao gồm: (1) Zero-Shot Prompting; (2) Few-Shot Prompting; (3) Chain-of-Thought Prompting; (4) Meta Prompting; (5) Self-Consistency; (6) Generated Knowledge Prompting; (7) Prompt Chaining; (8) Tree of Thoughts (ToT); (9) Retrieval Augmented Generation (RAG); (10) Automatic Reasoning and Tool-use (ART); (11) Automatic Prompt Engineer (APE); (12) Active-Prompt; (13) Directional Stimulus Prompting; (14) PAL (Program-Aided Language Models); (15) ReAct Prompting; (16) Reflexion; (17) Multimodal CoT Prompting; và (18) GraphPrompts.

3. Tín hiệu CC: Khế ước xã hội mới trong kỷ nguyên AI

Theo truyền thống, các cơ sở lưu trữ kiến thức như các phòng trưng bày, thư viện, kho lưu trữ và viện bảo tàng là những nơi mà người tiêu dùng kiến thức tiếp cận tới. Với sự ra đời và phát triển của Internet và chuyển đổi số, các tài nguyên thông tin không ở dạng kỹ thuật số (văn bản, hình ảnh, âm thanh, phim .v.v.) lần lượt được số hóa và chuyển lên web dưới dạng các tài nguyên kỹ thuật số, bên cạnh nhiều thông tin ở dạng kỹ thuật số khác được tạo ra từ sự hiện diện và các hoạt động nghiệp vụ của chính các cơ sở đó.

Trong kỷ nguyên AI, khi Đầu ra của AI tạo sinh như là TNGDM trong phạm vi công cộng, thì tính bền vững của TNGDM cũng sẽ phụ thuộc vào tính bền vững của toàn bộ hệ sinh thái thông tin/dữ liệu mà các mô hình/hệ thống/ứng dụng AI dựa trên đó. Khi này, nhiều khả năng người tiêu dùng kiến thức sẽ không còn tiếp cận tới các cơ sở lưu trữ đó nữa để có được kiến thức và các thông tin liên quan đến chúng, mà giao tiếp trực tiếp với các mô hình/hệ thống/ứng dụng AI.

Một mặt, việc đào tạo các mô hình AI dựa trên số lượng lớn dữ liệu cho thấy việc cấp phép mở cho từng tài nguyên như với TNGDM hiện nay không còn phù hợp nữa, mặt khác, việc nạo vét/khai thác triệt để hầu như toàn bộ thông tin/dữ liệu của web mở cũng như các nguồn tài nguyên nằm trong phạm vi công cộng, kể cả theo thời gian thực, để đào tạo các mô hình AI và/hoặc đáp ứng các câu hỏi (lời nhắc) của người dùng các mô hình/hệ thống/ứng dụng AI40, gây rủi ro làm xói mòn tính mở và tính bền vững của toàn bộ hệ sinh thái thông tin.

Đứng trước thách thức lớn này, tổ chức Creative Commons, với vai trò là nhà quản lý hệ thống giấy phép mở CC được thừa nhận trên phạm vi toàn cầu - các giấy phép đã giúp xây dựng web mở, bao gồm cả TNGDM và dữ liệu mở - đã đề xuất Tín hiệu CC (CC Signals)41, một khung nhằm giúp người quản trị nội dung thể hiện cách họ muốn sử dụng tác phẩm của mình trong đào tạo AI — nhấn mạnh tính có đi có lại, sự công nhận và tính bền vững trong việc máy móc tái sử dụng nội dung. Mục tiêu là để bảo tồn kiến thức mở bằng cách khuyến khích hành vi AI có trách nhiệm mà không hạn chế sự đổi mới. Như Giám đốc điều hành Creative Commons khẳng định: "Cũng giống như giấy phép CC đã giúp xây dựng web mở, chúng tôi tin rằng Tín hiệu CC sẽ giúp định hình một hệ sinh thái AI mở dựa trên sự có đi có lại".

Khi trí tuệ nhân tạo (AI) biến đổi cách thức kiến thức được tạo ra, chia sẻ và tái sử dụng, chúng ta đang ở ngã ba đường sẽ định hình tương lai của việc tiếp cận kiến thức và sáng tạo chung. Một con đường dẫn đến việc khai thác dữ liệu và làm xói mòn tính mở; con đường còn lại dẫn đến một mạng Internet bị cản trở bởi các bức tường phí. Tín hiệu CC mang đến một con đường khác, dựa trên các giá trị tinh tế của cộng đồng được tập thể thể hiện.

Bộ các tín hiệu CC gồm 4 tổ hợp thành phần:

  1. Công trạng

  2. Công trạng + đóng góp trực tiếp

  3. Công trạng + đóng góp cho hệ sinh thái

  4. Công trạng + Mở

Trong đó:

Công trạng (Credit): Bạn phải ghi nhận công trạng phù hợp dựa trên phương pháp, phương tiện và bối cảnh sử dụng của bạn

Đóng góp trực tiếp (Direct Contribution): Bạn phải hỗ trợ bằng tiền hoặc hiện vật cho Bên công bố để họ phát triển và duy trì tài sản, dựa trên định giá thiện chí có tính đến việc bạn sử dụng tài sản & phương tiện tài chính của mình

Đóng góp cho hệ sinh thái (Ecosystem Contribution): Bạn phải cung cấp hỗ trợ trở lại bằng tiền hoặc hiện vật cho hệ sinh thái mà bạn đang được hưởng lợi, dựa trên định giá thiện chí có tính đến việc bạn sử dụng tài sản và phương tiện tài chính của mình.

Mở (Open): Hệ thống AI được sử dụng phải là mở. Ví dụ, hệ thống AI phải đáp ứng Khung tính mở mô hình (MOF) Lớp II, MOF Lớp I (xem Bảng 2) hoặc Định nghĩa AI nguồn mở (OSAID) , như được nêu ở phần trên.

4. Lời kết

Trong bối cảnh, khi mà Bộ Giáo dục và Đào tạo dự kiến trong năm 2025 sẽ ban hành Nghị định Quy định về xây dựng, khai thác và sử dụng nguồn TNGDM trong giáo dục đại học42 nhằm triển khai Quyết định 1117/QĐ-TTg43 ngày 25/09/2023 của Thủ tướng Chính phủ Phê duyệt Chương trình xây dựng mô hình nguồn TNGDM trong giáo dục đại học, cũng như Kế hoạch 1919/KH-BGDĐT44 về Triển khai Quyết định số 1117/QĐ-TTg, trong khi Bộ Khoa học và Công nghệ dự kiến ban hành Luật Trí tuệ nhân tạo (AI)45 cũng trong năm 2025, thì việc đưa các nội dung AI, bao gồm cả ‘Tín hiệu CC: Khế ước xã hội mới trong kỷ nguyên AI’ vào tài liệu ‘Khung năng lực TNGDM cho giảng viên V3.0’ là thiết thực và kịp thời nhằm giúp các giảng viên đại học có thể có được các năng lực cần thiết về AI khi ứng dụng và phát triển TNGDM trong công tác giảng dạy, học tập và nghiên cứu của mình.

Tài liệu tham khảo

  1. Lê Trung Nghĩa, Trần Ái Cầm (2024): Khung năng lực TNGDM cho giảng viên V2.0: https://zenodo.org/records/14235530

  2. UNESCO (2024): Third UNESCO World OER Congress: Shaping the future of learning and access to knowledge: https://www.unesco.org/en/articles/third-unesco-world-oer-congress-shaping-future-learning-and-access-knowledge?hub=785. Bản dịch sang tiếng Việt: https://giaoducmo.avnuc.vn/giao-duc/hoi-nghi-tai-nguyen-giao-duc-mo-the-gioi-lan-3-dinh-hinh-tuong-lai-viec-hoc-tap-va-quyen-truy-cap-toi-tri-thuc-1370.html

  3. UNESCO (2024): Dubai Declaration on Open Educational Resources (OER): Digital Public Goods and Emerging Technologies for Equitable and Inclusive Access to Knowledge: https://unesdoc.unesco.org/ark:/48223/pf0000392271.locale=en. Bản dịch sang tiếng Việt: https://zenodo.org/records/14675896

  4. United Nation Office for Digital and Emerging Technologies (2024): Global Digital Compact, p.5: https://www.un.org/global-digital-compact/sites/default/files/2024-09/Global%20Digital%20Compact%20-%20English_0.pdf. Bản dịch sang tiếng Việt: https://doi.org/10.5281/zenodo.15042420, tr.9.

  5. UNESCO (2024): AI competency framework for teachers: https://unesdoc.unesco.org/ark:/48223/pf0000391104. Bản dịch sang tiếng Việt: https://zenodo.org/records/14897590

  6. UNESCO (2024): AI competency framework for students: https://unesdoc.unesco.org/ark:/48223/pf0000391105. Bản dịch sang tiếng Việt: https://zenodo.org/records/14903158

  7. UNESCO (2021): Recommendation on Ethics of Artificial Intelligence: https://unesdoc.unesco.org/ark:/48223/pf0000381137. Bản dịch sang tiếng Việt: https://www.dropbox.com/scl/fi/lvse01tmogkwlyur8tl00/381137eng_Vi-19072025.pdf?rlkey=lds7uvwtfvawdtz5vzmm3cixb&e=1&st=tp6p1e0d&dl=0

  8. UK Cabinet Office (2025): The people factor: A human - centred approach to scaling AI tools: https://assets.publishing.service.gov.uk/media/683ef8c0d21e8a73d10d32ca/The_People_Factor_A_human-centred_approach_to_scaling_AI_tools.pdf. Bản dịch sang tiếng Việt: https://www.dropbox.com/scl/fi/2szhp8mxm8s51hv3uev0a/The_People_Factor_A_human-centred_approach_to_scaling_AI_tools_Vi-15062025.pdf?rlkey=rqlnac1a9t7ccrbyilae93uhg&e=1&st=mfspwgje&dl=0

  9. EC (2022): DigComp 2.2: The Digital Competence Framework for Citizens - With new examples of knowledge, skills and attitudes: https://publications.jrc.ec.europa.eu/repository/handle/JRC128415 Bản dịch (một phần) sang tiếng Việt: https://www.dropbox.com/scl/fi/vi9hkz4w8ybg2186o5k6v/2.JRC128415_01_Vi-Chuong2_Landscape_Blog.pdf?rlkey=qf4oetkkpd4asmjnkedf2zxqf&e=1&dl=0

  10. PixPro: Digital skills assessed by Pix: https://pix-site.cdn.prismic.io/pix-site/53462691-feb9-446f-95c0-edab1b16e11c_R%C3%A9f%C3%A9rentiel+comp%C3%A9tences+Pix+Pro_EN.pdf. Bản dịch sang tiếng Việt: https://zenodo.org/records/13365278

  11. Trang Luật Việt Nam: Quyết định 2242/QĐ-UBND Đà Nẵng 2024 Khung năng lực số cho Công dân trên địa bàn TP: https://luatvietnam.vn/thong-tin/quyet-dinh-2242-qd-ubnd-da-nang-2024-khung-nang-luc-so-cho-cong-dan-tren-dia-ban-tp-369815-d2.html

  12. Bộ Giáo dục và Đào tạo (24/01/2025): Thông tư số 02/2025/TT-BGDĐT: Quy định Khung năng lực số cho người học: https://datafiles.chinhphu.vn/cpp/files/vbpq/2025/01/02-bgddt.pdf

  13. Trang Thư viện Pháp luật: Quyết định số 757/QĐ-BKHCN ngày 29/04/2025 Ban hành Khung kiến thức, kỹ năng số cơ bản và hướng dẫn đánh giá, xác nhận hoàn thành mức độ phổ cập kỹ năng số: https://thuvienphapluat.vn/van-ban/Cong-nghe-thong-tin/Quyet-dinh-757-QD-BKHCN-2025-Khung-kien-thuc-ky-nang-so-co-ban-655456.aspx

  14. UK National Health Service (2023): AI and Digital Healthcare Technologies Capability framework: https://www.researchgate.net/publication/368684327_AI_and_Digital_Healthcare_Technologies_Capability_framework. Bản dịch sang tiếng Việt: https://www.dropbox.com/scl/fi/c5nyyiyu4wa7gzp3d67cx/NHS-DHTCapacityFramework-v3.3_Vi-23082024.pdf?rlkey=ugl2ew1zccn9vhac05784l3hd&e=1&st=d3kixz9g&dl=0

  15. OpenPraxis (2024): The Manifesto for Teaching and Learning in a Time of GenerativeAI: A Critical Collective Stance to Better Navigate the Future: https://openpraxis.org/articles/777/files/6749b446d17e9.pdf. Bản dịch sang tiếng Việt: https://www.dropbox.com/scl/fi/3rwkmzqodszn7xxuf3dln/6749b446d17e9_Vi-10052025.pdf?rlkey=2dul6urx28xp46qibhpoqlms7&e=1&st=1xog04bw&dl=0

  16. David Wiley (2024): Where Open Education Meets Generative AI: OELMs: https://opencontent.org/blog/archives/7628. Bản dịch sang tiếng Việt: https://giaoducmo.avnuc.vn/ai/noi-giao-duc-mo-gap-ai-tao-sinh-oelm-1480.html

  17. David Wiley (2023): Generative Textbooks: https://opencontent.org/blog/archives/7238. Bản dịch sang tiếng Việt: https://giaoducmo.avnuc.vn/ai/sach-giao-khoa-tao-sinh-1474.html

  18. David Wiley (2025): Democratizing Participation in AI in Education: https://opencontent.org/blog/archives/7821. Bản dịch sang tiếng Việt: https://giaoducmo.avnuc.vn/ai/dan-chu-hoa-su-tham-gia-vao-ai-trong-giao-duc-1547.html

  19. David Wiley (2024): How Generative AI Affects Open Educational Resources: https://opencontent.org/blog/archives/7568

  20. David Wiley (2025): Why Generative AI Is More Effective at Increasing Access to Educational Opportunity than OER: https://opencontent.org/blog/archives/7589. Bản dịch sang tiếng Việt: https://giaoducmo.avnuc.vn/giao-duc/vi-sao-ai-tao-sinh-la-hieu-qua-hon-trong-viec-nang-cao-quyen-truy-cap-toi-co-hoi-giao-duc-so-voi-tai-nguyen-giao-duc-mo-oer-1477.html

  21. Xem: https://giaoducmo.avnuc.vn/ai/, các bài đăng trong nửa đầu tháng 2/2025.

  22. Open Data Institute (2025): If DeepSeek wants to be a real disruptor, it should go much further on data transparency: https://theodi.org/news-and-events/blog/if-deepseek-wants-to-be-a-real-disruptor-it-should-go-much-further-on-data-transparency/. Bản dịch sang tiếng Việt: https://giaoducmo.avnuc.vn/ai/neu-deepseek-muon-tro-thanh-mot-nguoi-pha-vo-thuc-su-no-phai-tien-xa-hon-nua-ve-tinh-minh-bach-cua-du-lieu-1382.html

  23. Aaron Linskens (2025): Beyond open vs. closed: Understanding the spectrum of AI transparency: https://www.sonatype.com/blog/beyond-open-vs.-closed-understanding-the-spectrum-of-ai-transparency. Bản dịch sang tiếng Việt: https://giaoducmo.avnuc.vn/ai/vuot-ra-ngoai-ranh-gioi-mo-va-dong-hieu-ve-pho-minh-bach-cua-ai-1501.html

  24. Open Source Initiative (OSI): The Open Source AI Definition – 1.0: https://opensource.org/ai/open-source-ai-definition. Bản dịch sang tiếng Việt: https://giaoducmo.avnuc.vn/ai/dinh-nghia-ai-nguon-mo-v1-0-1374.html

  25. LF AI & Data - Generative AI Commons (2024): The Model Openness Framework (MOF) Specification: https://lfaidata.foundation/wp-content/uploads/sites/3/2025/01/05_White_paper_MOF_Specification.pdf. Bản dịch sang tiếng Việt: https://zenodo.org/records/16939515

  26. Multimodal (2024): Open-Source AI vs. Closed-Source AI: What’s the Difference?: https://www.multimodal.dev/post/open-source-ai-vs-closed-source-ai. Bản dịch sang tiếng Việt: https://giaoducmo.avnuc.vn/ai/ai-nguon-mo-so-voi-ai-nguon-dong-dau-la-su-khac-biet-1499.html

  27. index.dev: Open-Source vs. Closed AI: Who Should You Trust?: https://www.index.dev/blog/open-source-vs-closed-ai-guide. Bản dịch sang tiếng Việt: https://giaoducmo.avnuc.vn/ai/ai-nguon-mo-so-voi-dong-ban-se-tin-ai-1500.html

  28. Lê Trung Nghĩa, https://orcid.org/0009-0007-7683-7703: Bàn về 'Lợi thế của doanh nghiệp Việt là dữ liệu Việt, bài toán Việt' - bài phát biểu của Bộ trưởng Nguyễn Mạnh Hùng ngày 21/08/2025: https://zenodo.org/records/17103251

  29. The White House (2025): Winning the Race AMERICA’S AI ACTION PLAN: https://www.whitehouse.gov/wp-content/uploads/2025/07/Americas-AI-Action-Plan.pdf, p.4-5. Bản dịch sang tiếng Việt, đoạn về ‘Khuyến khích AI Nguồn Mở và AI trọng số mở’: https://giaoducmo.avnuc.vn/ai/khuyen-khich-ai-nguon-mo-va-ai-trong-so-mo-tu-tai-lieu-chien-thang-cuoc-dua-ke-hoach-hanh-dong-ai-cua-nuoc-my-do-nha-trang-xuat-ban-ngay-23-07-2025-1502.html

  30. Ema Lukan (2025): The 50 Best AI Tools for 2025 (Tried and Tested): https://www.synthesia.io/post/ai-tools. Bản dịch sang tiếng Việt: https://giaoducmo.avnuc.vn/ai/50-cong-cu-ai-tot-nhat-cho-nam-2025-da-thu-va-kiem-nghiem-1431.html

  31. Jess Lulka (2025): Top 12 Open Source AI Projects to Add to Your Tech Stack: https://www.digitalocean.com/resources/articles/open-source-ai-platforms. Bản dịch sang tiếng Việt: https://giaoducmo.avnuc.vn/ai/12-du-an-ai-nguon-mo-hang-dau-de-bo-sung-vao-kho-cong-nghe-cua-ban-1507.html

  32. NetappInstaclustr: Top 10 open source LLMs for 2025: https://www.instaclustr.com/education/open-source-ai/top-10-open-source-llms-for-2025/. Bản dịch sang tiếng Việt: https://giaoducmo.avnuc.vn/ai/10-mo-hinh-ngon-ngu-lon-llm-nguon-mo-hang-dau-cho-nam-2025-1557.html

  33. United States Copyright Office (January 2025): Copyright and Artificial Intelligence. Part 2: Copyrightability: https://www.copyright.gov/ai/Copyright-and-Artificial-Intelligence-Part-2-Copyrightability-Report.pdf, p.10.

  34. David Wiley (2023): AI, Instructional Design, and OER: https://opencontent.org/blog/archives/7129. Bản dịch sang tiếng Việt: https://giaoducmo.avnuc.vn/ai/ai-thiet-ke-huong-dan-va-tai-nguyen-giao-duc-mo-oer-1473.html

  35. UNESCO (2019): Recommendation on Open Educational Resources (OER), p.5: https://unesdoc.unesco.org/ark:/48223/pf0000373755/PDF/373755eng.pdf.multi.page=3. Bản dịch sang tiếng Việt: https://www.dropbox.com/scl/fi/7apdot5yilc9msz3f6wo1/DCPMS_U1911920_Vi-04122019.pdf?rlkey=x7pw6229008b06tvf23h9plw9&e=1&dl=0, tr. 6.

  36. Tiderwater Community College: ChatGPT and AI Tools Faculty Research Guide. Benefits and Challenges of Using AI to Create OER: https://libguides.tcc.edu/c.php?g=1313261&p=10209997.

  37. David Wiley (2023): Generative Textbooks: https://opencontent.org/blog/archives/7238. Bản dịch sang tiếng Việt: https://giaoducmo.avnuc.vn/ai/sach-giao-khoa-tao-sinh-1474.html

  38. David Wiley (2025): Naming Things is Hard: From OELMs to GOLEs: https://opencontent.org/blog/archives/7731. Bản dịch sang tiếng Việt: https://giaoducmo.avnuc.vn/ai/dat-ten-cho-moi-thu-that-kho-tu-oelm-den-gole-1481.html

  39. Prompt Engineering: Prompt Engineering Guide: https://www.promptingguide.ai/. Bản dịch sang tiếng Việt: https://giaoducmo.avnuc.vn/ai/huong-dan-ky-thuat-loi-nhac-1569.html

  40. Creative Commons (2025): From Human Content to Machine Data: Introducing CC Signals. Background. How AI Models Use Data, p.5-6: https://creativecommons.org/wp-content/uploads/2025/06/Human-Content-to-Machine-Data_Final.pdf. Bản dịch sang tiếng Việt: https://zenodo.org/records/17052076, tr. 5-7.

  41. Creative Commons: CC Signals: A New Social Contract for the Age of AI: https://creativecommons.org/ai-and-the-commons/cc-signals/. Bản dịch sang tiếng Việt: https://giaoducmo.avnuc.vn/ai/tin-hieu-cc-mot-khe-uoc-moi-voi-xa-hoi-cho-ky-nguyen-ai-1552.html

  42. Nghị định còn chưa được ban hành tại thời điểm tài liệu này hoàn thành.

  43. Trang thông tin điện tử Chính phủ: Quyết định số 1117/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ: Phê duyệt Chương trình xây dựng mô hình nguồn tài nguyên giáo dục mở trong giáo dục đại học: https://vanban.chinhphu.vn/?pageid=27160&docid=208699

  44. Bộ Giáo dục và Đào tạo (2024): Kế hoạch 1919/KH-BGDĐT về Triển khai Quyết định số 1117/QĐ-TTg ngày 25/09/2023 của Thủ tướng Chính phủ Phê duyệt Chương trình xây dựng mô hình nguồn TNGDM trong giáo dục đại học: https://moet.gov.vn/van-ban/vbdh/Pages/chi-tiet-van-ban.aspx?ItemID=3806

  45. Báo Điện tử Chính phủ (2025): Việt Nam sắp có Luật Trí tuệ nhân tạo (AI): https://baochinhphu.vn/viet-nam-sap-co-luat-tri-tue-nhan-tao-ai-102250830102345694.htm


 

Bài viết cho Hội thảo ‘Ứng dụng AI trong nghiên cứu khoa học và giáo dục mở’ do Trung tâm Công nghệ Thông tin, Bộ Khoa học và Công nghệ và Trường Đại học Nguyễn Tất Thành tổ chức ngày 14/11/2025 tại TP. Hồ Chí Minh.

Tự do tải về bài toàn văn định dạng PDF ở DOI: 10.5281/zenodo.17601373

Tự do tải về bài trình chiếu tại địa chỉ: https://www.dropbox.com/scl/fi/92ev5hded1z00kyuiy7wx/AI-OER-Framework-3.0_Presentation.pdf?rlkey=t3z4a1cfb6ss7gubyifmwvgef&st=h1jstm75&dl=0

X(Tweet)https://x.com/nghiafoss/status/1989184674451841159

Xem thêm:


Thứ Năm, 23 tháng 10, 2025

Tài nguyên Giáo dục Mở trong kỷ nguyên AI




Open Educational Resources in the Age of AI

Lê Trung Nghĩa. ORCID iD: https://orcid.org/0009-0007-7683-7703

Viện Nghiên cứu, Đào tạo và Phát triển Tài nguyên Giáo dục Mở (InOER),

Hiệp hội các trường đại học cao đẳng Việt Nam (AVU&C)


Giấy phép nội dung: CC BY 4.0 Quốc tế


----------------------------------------------------

Tóm tắt: AI đang được ứng dụng và phát triển một cách bùng nổ trong những năm gần đây ở khắp nơi trên thế giới, và cũng không là ngoại lệ, ở Việt Nam. Bài viết này đề cập tới mối quan hệ và tác động của AI, bao gồm AI tạo sinh (GenAI), với Tài nguyên Giáo dục Mở (TNGDM) ở một vài khía cạnh, được rút ra từ các tài liệu và nghiên cứu trên thế giới cùng một vài xu thế mới nổi có liên quan với mong muốn để việc ứng dụng và phát triển AI và TNGDM ở Việt Nam trong thời gian tới phù hợp với các xu thế đó của thế giới.

Từ khóa: TNGDM, AI, bản quyền, cấp phép mở, khung năng lực, hàng hóa công cộng kỹ thuật số

----------------------------------------------------

1. Định nghĩa TNGDM

Để có thể hiểu được các tác động của AI tới TNGDM như thế nào, trước hết cần phải dựa vào định nghĩa TNGDM là gì, điều được nêu trong Khuyến nghị TNGDM 20191 đã được 193 quốc gia thành viên thông qua ngày 25/11/2019, cụ thể như trên Hình 1 và phần dịch sang tiếng Việt ở bên dưới:


Hình 1. Định nghĩa TNGDM của UNESCO

  • TNGDM là các tư liệu dạy, học và nghiên cứu ở bất kỳ định dạng và phương tiện nào mà nằm trong phạm vi công cộng (PVCC) hoặc có bản quyền đã được phát hành theo một giấy phép mở cho phép những người khác không mất chi phí để truy cập, sử dụng lại, tái mục đích, tùy chỉnh và phân phối lại.

  • Giấy phép mở tham chiếu tới giấy phép tôn trọng các quyền sở hữu trí tuệ của người nắm giữ bản quyềnđưa ra sự cho phép trao cho công chúng các quyền để truy cập, sử dụng lại, tái mục đích, tùy chỉnh và phân phối lại các tư liệu giáo dục.

2. AI tạo sinh và TNGDM

2.1 Kết quả đầu ra của AI tạo sinh không đủ điều kiện để bảo vệ bản quyền

Theo báo cáo “Bản quyền và AI” của Văn phòng Bản quyền Hoa Kỳ2, “nếu nội dung hoàn toàn do AI tạo ra, thì nội dung đó không thể được bảo vệ bản quyền” (if content is entirely generated by AI, it cannot be protected by copyright). Điều này cũng được khẳng định trong một bài báo nghiên cứu3 của David Wiley, tác giả của các quyền 5R4 (xem Hình 2) nổi tiếng trong Định nghĩa “Mở” trong Nội dung Mở và Tài nguyên Giáo dục Mở, cũng nêu: “Theo Văn phòng Bản quyền Hoa Kỳ, đầu ra từ các chương trình như ChatGPT hoặc Stable Diffusion không đủ điều kiện để được bảo vệ bản quyền”.


Hình 2. Các quyền 5R của TNGDM5

2.2 Kết quả đầu ra của AI tạo sinh là TNGDM nằm trong phạm vi công cộng

Theo phổ các quyền6 như trên Hình 3, thì các nội dung không thể được bảo vệ bản quyền, sẽ đi vào phạm vi công cộng (PVCC), vì thế chúng là TNGDM theo định nghĩa của UNESCO được nêu ở trên. Lưu ý là, theo định nghĩa TNGDM của UNESCO thì các giấy phép Creative Commons (CC) là ở dạng giữ lại một số quyền (Some Rights Reserved) và TNGDM được gắn giấy phép CC là có bản quyền (under copyright).


Hình 3. Phổ các quyền

Điều này cũng được khẳng định trong bài báo nghiên cứu nêu trên của David Wiley, khi tác giả nêu: Đầu ra của các chương trình AI tạo sinh sẽ tiếp tục được chuyển ngay vào phạm vi công cộng. Do đó, chúng sẽ là TNGDM theo định nghĩa chung”.

2.3 Không liệt kê AI như là đồng tác giả, dù cần thiết thừa nhận ghi công cho nó

Tác giả của bài báo nghiên cứu7 Vai trò của AI trong cách mạng hóa Tài nguyên Giáo dục Mở (TNGDM)’ nêu quan điểm rằng khi sử dụng AI trong công trình học thuật thì không nên liệt kê AI như là đồng tác giả, dù cần phải thừa nhận ghi công cho nó trong vai trò là một công cụ hỗ trợ quá trình nghiên cứu và viết bài: "sẽ chính xác hơn khi xem AI là một công cụ hỗ trợ quá trình nghiên cứu và viết hơn là một cộng tác viên hoặc đồng tác giả. Khi sử dụng AI trong công trình học thuật, điều cần thiết là phải thừa nhận vai trò của nó, nhưng điều này thường không có nghĩa là liệt kê AI là đồng tác giả. Quan điểm này phù hợp với các chuẩn mực và thông lệ hiện hành trong AI và khoa học dữ liệu".

Điều này là hợp lý ở hai khía cạnh. Một là, đầu ra của AI tạo sinh không đủ điều kiện để bảo vệ bản quyền (quyền tác giả) theo các luật bản quyền/sở hữu trí tuệ chủ yếu vì lý do đầu ra đó không phải do con người tạo ra; điều này có nghĩa là đầu ra của AI tạo sinh không được coi là nội dung có tác giả hoặc đồng tác giả là con người.

Hai là, với vai trò là một công cụ hỗ trợ quá trình nghiên cứu và viết bài, thì đầu ra của AI tạo sinh cũng nên được thừa nhận ghi công theo một cách hợp lý nào đó. Theo hướng dẫn của một cơ sở giáo dục ở Hoa Kỳ8 với giả thiết là tác giả Nguyễn Văn A của bài báo “Tài nguyên Giáo dục Mở trong thư viện” được cấp giấy phép CC BY 4.0 và có sử dụng nhiều hình ảnh do Meta AI tạo ra, thì bài viết đó có thể được thừa nhận ghi công như sau: ““Tài nguyên Giáo dục Mở trong thư viện” của Nguyễn Văn A được cấp giấy phép CC BY 4.0, ngoại trừ những nơi có ghi chú hoặc nội dung tương tự như “Tất cả hình ảnh đều do Meta AI tạo ra và thuộc phạm vi công cộng thông qua CC0”.

2.4 Lời nhắc của AI tạo sinh nên là TNGDM thông qua việc cấp phép mở

Trong khi đầu ra của AI tạo sinh là các TNGDM nằm trong PVCC, thì đầu vào của nó là các lời nhắc do con người tạo ra, được bảo vệ bản quyền theo các luật bản quyền/sở hữu trí tuệ của quốc gia, rất nên được cấp phép mở, nhất là với các lời nhắc được thiết kế tinh vi, để trở thành TNGDM, để bất kỳ ai cũng có khả năng không mất tiền để truy cập, sử dụng lại, tái mục đích, tùy chỉnh và phân phối lại chúng, giúp tạo ra nhiều hơn nữa các tài sản chung vì lợi ích của xã hội. Đã có những gợi ý đặt tên cho TNGDM được tạo ra bằng việc sử dụng AI tạo sinh là TNGDM tạo sinh (Generative OER)9. Cũng bằng cách tương tự này, một môi trường học tập mở tạo sinh GOLE (Generative Open Learning Evironment)10 được tạo ra, nó được định nghĩa “là các hệ thống kết hợp các mô hình AI tạo sinh, nội dung giáo dục, lời nhắc sư phạm và phần mềm để hỗ trợ người học trong quá trình học tập. Các mô hình, nội dung, lời nhắc và phần mềm này nằm trong phạm vi công cộng hoặc đã được phát hành theo giấy phép bản quyền mở (Open Copyright Licence) cho phép chúng được giữ lại, sửa lại, phối lại, sử dụng lại và phân phối lại” theo các quyền 5R được nêu ở trên. Có thể sẽ xuất hiện nhiều hơn nữa các thuật ngữ mới đi với tiếp đầu từ “tạo sinh” khi AI tạo sinh phát triển nhanh chóng và ngày càng trở nên phổ biến.

2.5 Việc cấp phép mở cần được cải tiến cho phù hợp hơn với bộ sưu tập TNGDM

Hiện hành, các TNGDM được gắn một trong vài giấy phép Creative Commons khác nhau nhưng phù hợp với định nghĩa TNGDM của UNESCO như CC BY, CC BY-SA, CC BY-NC, và CC BY-NC-SA, trong khi các mô hình/hệ thống/ứng dụng AI thường sử dụng một lượng lớn dữ liệu, bao gồm cả các TNGDM để đào tạo bản thân chúng. Điều này tạo ra sự phức tạp cho người dùng/các nhà phát triển AI trong việc thừa nhận ghi công cho các bộ sưu tập TNGDM được sử dụng để đào tạo chúng, vì từng trong số các giấy phép AI nêu trên đều có các điều khoản và điều kiện hạn chế sử dụng khác nhau. Hiện hành, tổ chức Creative Commons đang trong quá trình tiến hành những cải cách đối với hệ thống cấp phép mở của chính mình nhằm đáp ứng nhu cầu mới này bằng việc đề xuất Bộ tín hiệu ưu tiên (The Suite of CC Signals)11 gồm 4 tổ hợp cụ thể là: (1) Công trạng - ghi công tác giả; (2) Công trạng + Đóng góp trực tiếp; (3) Công trạng + Đóng góp cho hệ sinh thái; và (4) Công trạng + Mở.

Việc cải cách hệ thống cấp phép mở còn nhằm để mang lại công bằng với sự có đi có lại giữa những người sáng tạo nội dung và các nhà phát triển sử dụng các nội dung đó để đào tạo các mô hình/hệ thống/ứng dụng AI nói chung, và AI tạo sinh nói riêng; để tránh khỏi các phản ứng tiêu cực không đang có và bảo vệ các tài sản chung của xã hội.

3. Khung năng lực AI/Khung năng lực số và Khung năng lực TNGDM

3.1 Khung năng lực AI/Khung năng lực số và Khung năng lực TNGDM

AI là công nghệ số mới nổi. Vì vậy, năng lực AI có thể được coi như một phần của năng lực số.

Năng lực số được định nghĩa như là việc sử dụng tự tin, nghiêm túc và có trách nhiệm của, và tham gia với, các công nghệ số để học tập, làm việc, và tham gia trong xã hội. Năng lực số được xây dựng dựa trên 3 yếu tố gồm: kiến thức, kỹ năng và thái độ, lần lượt được định nghĩa như sau12: (1) Kiến thức: kết quả của sự hấp thụ thông tin lý thuyết hoặc thực tế bằng cách học. Kiến thức là tập hợp các sự kiện, nguyên tắc, lý thuyết và thực hành có liên quan đến lĩnh vực công việc/nghiên cứu; (2) Kỹ năng: khả năng áp dụng kiến thức và sử dụng hiểu biết để hoàn thành các nhiệm vụ và giải quyết vấn đề. Có thể: kỹ năng nhận thức/thực hành; và (3) Thái độ: động cơ thúc đẩy sự thực thi, gồm: (a) các giá trị; (b) cảm hứng; và (c) ưu tiên.

Ngày nay ở nhiều quốc gia, việc đánh giá một cách định lượng một người hoặc tổ chức có đầy đủ năng lực số hay không, thường dựa vào bộ 4 sản phẩm gồm: (1) Khung năng lực số; (2) Công cụ đánh giá năng lực số; (3) Chương trình đào tạo để có được từng năng lực số trong Khung năng lực số; và (4) Chứng chỉ chứng thực năng lực số.

Một trong những Khung năng lực số nổi bật nhất trên thế giới phải kể tới Khung năng lực số cho công dân phiên bản V2.2 của Ủy ban châu Âu (xem Hình 4) được xuất bản năm 202213, gồm 5 chiều: (1) Lĩnh vực năng lực với 5 lĩnh vực, (2) Năng lực với 21 năng lực; (3) Mức thông thạo với 4 mức chính, mỗi mức chính được chia thành 2 mức phụ, tổng cộng 8 mức thông thạo; (4) Ví dụ với tổng cộng 259 ví dụ, trong đó có 35 ví dụ liên quan đến AI, chiếm tỷ lệ 13% tổng các ví dụ; (5) Kịch bản sử dụng với 2 kịch bản dành cho giáo dục và việc làm. Đây là dạng Khung năng lực số có tích hợp sẵn AI được thiết kế để sử dụng chung cho mọi đối tượng người dùng, khác với Khung năng lực AI cho giáo viên14 hay Khung năng lực AI cho học sinh15 của UNESCO - một dạng Khung năng lực chuyên dụng về AI cho một đối tượng cụ thể.

Các Khung năng lực số được ban hành gần đây ở Việt Nam đều dựa trên Khung năng lực số cho công dân phiên bản V2.2 của Ủy ban châu Âu với một số tùy chỉnh, gồm:


Hình 4. Khung năng lực số cho công dân phiên bản V2.2 của Ủy ban châu Âu

  1. Khung năng lực số cho cho Công dân trên địa bàn thành phố Đà Nẵng. Khung này được ban hành theo Quyết định số 2242/QĐ-UBND của UBND Thành phố Đà Nẵng, 18/10/202416. Khung áp dụng cho toàn bộ các cơ quan, tổ chức, doanh nghiệp, các đơn vị có liên quan và người dân trên địa bàn thành phố Đà Nẵng.

  2. Khung năng lực số cho người học. Khung này được ban hành theo Thông tư số 02/2025/TT-BGDĐT của Bộ Giáo dục và Đào tạo ngày 24/01/202517. Thông tư này áp dụng đối với các cơ sở giáo dục, các chương trình giáo dục, đào tạo và người học trong hệ thống giáo dục quốc dân; các tổ chức, cá nhân có liên quan.

  3. Khung kiến thức, kỹ năng số cơ bản và hướng dẫn đánh giá, xác nhận hoàn thành mức độ phổ cập kỹ năng số. Khung này được Bộ Khoa học và Công nghệ ban hành theo Quyết định số 757/QĐ-BKHCN ngày 29/04/202518. Khung này áp dụng cho các cơ quan nhà nước, tổ chức, doanh nghiệp và cá nhân thuộc phạm vi quản lý của Bộ Khoa học và Công nghệ và các đơn vị, tổ chức, cá nhân tham gia thực hiện phong trào “Bình dân học vụ số” (theo phân công tại Kế hoạch số 01-KH/BCĐTW ngày 21 tháng 3 năm 2025 của Ban Chỉ đạo Trung ương về phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số).

TNGDM là một dạng tài nguyên số (khi không được in ra giấy). Theo Khung năng lực số cho Tổ chức giáo dục của Ủy ban châu Âu (xem Hình 5), thì TNGDM và nội dung số cần phải được khuyến khích trong mọi cơ sở giáo dục. Để có được năng lực TNGDM, hầu hết các cơ sở giáo dục cần tới Khung năng lực TNGDM. Một trong các Khung năng lực TNGDM được nhắc tới nhiều trên thế giới là Khung năng lực TNGDM cho giảng viên được cộng đồng Pháp ngữ xuất bản năm 2016. Tại Việt Nam, dựa vào Khung này, Viện Nghiên cứu, Đào tạo và Phát triển TNGDM hợp tác với Trường Đại học Nguyễn Tất Thành đã xuất bản các tài liệu Khung năng lực TNGDM cho giảng viên phiên bản V1.019 và V2.020 vào các năm 2023 và 2024, một cách tương ứng, cùng với dự kiến sẽ xuất bản phiên bản V3.0 của Khung này với việc tích hợp các nội dung về mối quan hệ giữa AI và TNGDM mà một phần của nó được nêu ở trên trong bài viết này. Dựa trên các Khung năng lực TNGDM, nhiều khóa huấn luyện huấn luyện viên thực hành khai thác TNGDM đã và đang được triển khai tại nhiều cơ sở giáo dục đại học và cao đẳng trong cả nước, góp phần vào việc thực hiện các mục tiêu được nêu trong Quyết định 1117/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ ngày 25/09/202321 Phê duyệt Chương trình xây dựng mô hình nguồn tài nguyên giáo dục mở trong giáo dục đại học.


Hình 5. Khung năng lực số cho tổ chức giáo dục của Ủy ban châu Âu22

Có thể nói, Khung năng lực AI/Khung năng lực số là không thể thiếu, vì nó trả lời cho ít nhất 2 câu hỏi chính: Ai, tổ chức nào thực sự có năng lực AI/năng lực số? và nếu có một năng lực nào đó, thì năng lực đó ở mức thông thạo nào? Cũng có thể nói, Khung năng lực TNGDM là một thành phần không thể thiếu của Khung năng lực số cho các tổ chức giáo dục; nó không xung đột, mà bổ sung cho Khung năng lực số cho các tổ chức giáo dục và góp phần không nhỏ vào việc hoàn thành mục tiêu phát triển bền vững 4 (SDG4) của Liên hiệp quốc về đảm bảo giáo dục chất lượng toàn diện, công bằng và thúc đẩy các cơ hội học tập suốt đời cho tất cả mọi người, cũng như cho phong trào ‘bình dân học vụ số’.

3.2 Không chỉ năng lực AI về kỹ thuật công nghệ, mà quan trọng hơn, là năng lực AI dựa trên tư duy lấy con người làm trung tâm và đạo đức AI


Hình 6. Khung năng lực AI cho giáo viên (trên) và cho học sinh (dưới) của UNESCO

Các Khung năng lực AI của UNESCO, cả dành cho giáo viên và học sinh (xem Hình 6), đều dành sự ưu tiên hàng đầu cho năng lực AI lấy con người làm trung tâm (Human-Centric Mindset) và đạo đức AI, vượt lên trên các năng lực AI về kỹ thuật công nghệ. Điều này là để tránh các tác động tiêu cực mà AI có thể mang lại (AI Negative), bên cạnh rất nhiều điểm tích cực của nó (AI Positive), như được minh họa trên Hình 7.


Hình 7. AI tích cực (15 điểm) và AI tiêu cực (20 điểm)23

Để có thể hiểu rõ hơn thế nào là tư duy lấy con người làm trung tâm, có thể tham khảo tài liệu hướng dẫn của Chính phủ Vương quốc Anh được thiết kế cho những người tham gia vào quá trình phát triển, cung cấp hoặc mua sắm các công cụ GenAI trong các tổ chức thông qua việc áp dụng Khung 3 giai đoạn: Áp dụng, Duy trì, Tối ưu hóa đối với một ứng dụng AI cụ thể được lựa chọn để sử dụng trong tổ chức, nơi mà ở bất kỳ giai đoạn nào cũng cần có sự tham gia và kiểm soát của con người. Một cách khác để tránh các tác động tiêu cực hoặc các rủi ro mà AI có thể gây ra, là xây dựng Bộ công cụ giảm thiểu rủi ro AI “Ẩn” nhằm xác định, theo dõi và giảm thiểu hậu quả không mong muốn của việc áp dụng AI trong thực tế như kinh nghiệm của chính phủ Vương quốc Anh24.

Nhằm ứng dụng và phát triển AI có đạo đức và có trách nhiệm, điểm khởi đầu cho tất cả các bên liên quan để tham khảo có thể là tài liệu Khuyến nghị về Đạo đức AI của UNESCO25, được xuất bản năm 2021. “Khuyến nghị này coi đạo đức là một nền tảng năng động cho việc đánh giá và định hướng chuẩn mực về công nghệ AI, coi nhân phẩm, hạnh phúc và phòng ngừa tác hại của con người như một kim chỉ nam và bắt nguồn từ đạo đức khoa học và công nghệ”.

4. TNGDM, AI Nguồn Mở và Hàng hóa công cộng Kỹ thuật số

4.1 Không chỉ TNGDM, mà còn AI Nguồn Mở

Để có thể hỗ trợ tốt nhất cho khía cạnh ‘Tư duy lấy con người làm trung tâm’ và ‘Đạo đức AI’, cách tiếp cận tốt nhất đối với việc phát triển các mô hình/hệ thống/ứng dụng AI là hướng tới AI Nguồn Mở, nơi mà tất cả các thành phần cấu trúc tạo nên mô hình/hệ thống/ứng dụng AI đều được cấp phép mở phù hợp26 (cả mã nguồn phần mềm, dữ liệu, và tài liệu), trao cho con người khả năng kiểm soát và làm chủ được tất cả các thành phần đó trong mọi giai đoạn phát triển của nó, bằng cách này có thể tránh được các định kiến và rủi ro mà chúng có thể gây ra. Định nghĩa AI Nguồn Mở27 là như sau:

AI Nguồn Mở (Open Source AI) là một hệ thống AI được làm cho sẵn sàng theo các điều khoản và theo một cách thức trao các quyền tự do để:

  • Sử dụng hệ thống đó vì bất kỳ mục đích gì và không phải hỏi sự cho phép.

  • Nghiên cứu cách hệ thống đó làm việc và kiểm tra các cấu thành của nó.

  • Sửa đổi hệ thống đó vì bất kỳ mục đích gì, bao gồm thay đổi đầu ra của nó.

  • Chia sẻ hệ thống đó với người khác để sử dụng với hoặc không với những sửa đổi, vì bất kỳ mục đích gì.”

4.2 TNGDM và AI Nguồn Mở là các thành phần của Hàng hóa công cộng kỹ thuật số

Hội nghị TNGDM Thế giới lần 3 của UNESCO, được tổ chức tại Dubai, UAE trong các ngày 19-20/11/2024 đã đưa ra Tuyên bố Dubai về Hàng hóa Công cộng Kỹ thuật số: Các giải pháp Mở và AI vì Quyền truy cập Toàn diện tới Tri thức28, trong đó có đoạn:

Chủ đề chính của Hội nghị là hàng hóa công cộng kỹ thuật số - DPG (Digital Public Goods), được Lộ trình Hợp tác Kỹ thuật số của Tổng Thư ký Liên hiệp quốc định nghĩa như là phần mềm nguồn mở, dữ liệu mở, các mô hình AI mở, các tiêu chuẩn mở và nội dung mở mà gắn với quyền riêng tư và các luật hiện hành khác và các thực hành tốt nhất, không gây hại, và giúp đạt được các mục tiêu phát triển bền vững – SDG (Sustainable Development Goals). Các DPG sẵn sàng với một giấy phép bản quyền mở (Open Copyright Licence) đã trở thành thiết yếu trong các lĩnh vực khác nhau, bao gồm cả giáo dục, với TNGDM.

Điều này một lần nữa khẳng định, các DPG, bao gồm cả các mô hình AI (Nguồn) Mở và TNGDM, đều sẵn sàng với một giấy phép bản quyền mở, tôn trọng các quyền sở hữu trí tuệ của người nắm giữ bản quyền và đưa ra sự cho phép trao cho công chúng các quyền để truy cập, sử dụng lại, tái mục đích, tùy chỉnh và phân phối lại chúng, hệt như với định nghĩa TNGDM hay định nghĩa AI Nguồn Mở được nêu ở phần trên.

5. Vài gợi ý thay cho kết luận

Với việc ứng dụng và phát triển TNGDM ngày càng phổ biến cùng sự phát triển như vũ bão trong vài năm qua của AI (bao gồm AI tạo sinh) - một công nghệ kỹ thuật số mới nổi, nhiều khái niệm cũng như xu thế mới liên quan tới chúng và giữa chúng đang nổi lên. Bài viết này đề cập tới một vài trong số các khái niệm và xu thế đang nổi lên đó, dù không đi sâu vào việc phân tích chúng một cách chi tiết, với mục đích giới thiệu qua về chúng như những chủ đề mới cần được nghiên cứu và phát triển hơn nữa trong thời gian tới thông qua các tiêu đề chính và phụ của bài viết.

Một điều khẳng định chắc chắn rằng, sự phát triển của AI (bao gồm AI tạo sinh), càng nhanh và càng mạnh bao nhiêu, thì sự phát triển của TNGDM cũng càng nhanh và càng mạnh bấy nhiêu, và cùng với nó là các thành phần khác của hàng hóa công cộng kỹ thuật số như phần mềm nguồn mở, dữ liệu mở, các mô hình AI (nguồn) mở, các tiêu chuẩn mở và nội dung mở.

Và như được nêu ở phần trên, một điểm chung của tất cả các hàng hóa công cộng kỹ thuật số, là chúng đều được cấp phép mở bằng các giấy phép bản quyền mở. Điều này, một lần nữa nhắc nhở các nhà quản lý khoa học, giáo dục và văn hóa của Việt Nam rằng, đã tới lúc việc ban hành chính sách cấp phép mở bằng các giấy phép bản quyền mở trở thành một mệnh lệnh để chuyển đổi số (bao gồm cả AI và TNGDM) thành công.

Tài liệu tham khảo

  1. UNESCO, (25/11/2019): Recommendation on Open Educational Resources: https://unesdoc.unesco.org/ark:/48223/pf0000373755/PDF/373755eng.pdf.multi.page=3, p.5. Bản dịch sang tiếng Việt: https://www.dropbox.com/s/o6lml26uw88ear2/DCPMS_U1911920_Vi-04122019.pdf?dl=0

  2. United States Copyright Office (January 2025): Copyright and Artificial Intelligence, Part 2: Copyrightability, p. 10: https://www.copyright.gov/ai/Copyright-and-Artificial-Intelligence-Part-2-Copyrightability-Report.pdf

  3. David Wiley (2023): AI, Instructional Design, and OER: https://opencontent.org/blog/archives/7129

  4. David Wiley: Defining the “Open” in Open Content and Open Educational Resources: https://opencontent.org/definition

  5. Robert Schuwer, Ben Janssen (2018): Open Educational Resources in Technical and Vocational Education and Training: https://www.robertschuwer.nl/download/oerintvet.pdf, p.16

  6. Queen’s University Belfast: Research Data Management: Creative Commons License: https://libguides.qub.ac.uk/ResearchDataManagement/CCLicense

  7. Samuel Mormando, (Dec 18, 2023): AI’s Role in Revolutionizing Open Educational Resources (OER): https://medium.com/@SamMormando/ais-role-in-revolutionizing-open-educational-resources-oer-9a2f7f1c36c9. Bản dịch sang tiếng Việt: https://giaoducmo.avnuc.vn/giao-duc/vai-tro-cua-ai-trong-cach-mang-hoa-tai-nguyen-giao-duc-mo-tngdm-1464.html

  8. Tiderwater Community College|Libraries: ChatGPT and AI Tools Faculty Research Guide: https://libguides.tcc.edu/c.php?g=1313261&p=10209997

  9. David Wiley (2025): Vì sao AI tạo sinh là hiệu quả hơn trong việc nâng cao quyền truy cập tới cơ hội giáo dục so với Tài nguyên Giáo dục Mở (OER): https://opencontent.org/blog/archives/7589. Bản dịch sang tiếng Việt: https://giaoducmo.avnuc.vn/giao-duc/vi-sao-ai-tao-sinh-la-hieu-qua-hon-trong-viec-nang-cao-quyen-truy-cap-toi-co-hoi-giao-duc-so-voi-tai-nguyen-giao-duc-mo-oer-1477.html

  10. David Wiley (2025): Naming Things is Hard: From OELMs to GOLEs: https://opencontent.org/blog/archives/7731. Bản dịch sang tiếng Việt: https://giaoducmo.avnuc.vn/ai/dat-ten-cho-moi-thu-that-kho-tu-oelm-den-gole-1481.html

  11. Jack Hardinges, Sarah Pearson, & Rebecca Ross, Creative Commons (June 2025): From Human Content to Machine Data. Introducing CC Signals: https://creativecommons.org/wp-content/uploads/2025/06/Human-Content-to-Machine-Data_Final.pdf. Bản dịch sang tiếng Việt: https://www.dropbox.com/scl/fi/5xuyuvwnqaq0su6zwcl8r/Human-Content-to-Machine-Data_Final_Vi-02072025.pdf?rlkey=2gjas7b0c2wp9raf0suojbs7n&e=1&st=133m0kab&dl=0

  12. European Commission (2022): GreenComp - The European sustainability competence framework: https://publications.jrc.ec.europa.eu/repository/handle/JRC128040, pp. 31-32. Bản dịch sang tiếng Việt: https://www.dropbox.com/scl/fi/jge8bcypxyhfhwcik9vsn/jrc128040_greencomp_f2_Vi-16082022.pdf?rlkey=3vnpg2cb7jv2jacy9k6ar0z8x&e=1&dl=0, tr. 54-55.

  13. Vuorikari, R., Kluzer, S. and Punie, Y., DigComp 2.2: The Digital Competence Framework for Citizens, EUR 31006 EN, Publications Office of the European Union, Luxembourg, 2022, ISBN 978-92-76-48882-8, doi:10.2760/115376, JRC128415. Bản dịch sang tiếng Việt một phần tài liệu này: https://www.dropbox.com/scl/fi/vi9hkz4w8ybg2186o5k6v/2.JRC128415_01_Vi-Chuong2_Landscape_Blog.pdf?rlkey=qf4oetkkpd4asmjnkedf2zxqf&e=1&dl=0

  14. UNESCO (2024): AI competency framework for teachers: https://unesdoc.unesco.org/ark:/48223/pf0000391104. Bản dịch sang tiếng Việt: https://zenodo.org/records/14897590

  15. UNESCO (2024): AI competency framework for students: https://unesdoc.unesco.org/ark:/48223/pf0000391105. Bản dịch sang tiếng Việt: https://zenodo.org/records/14903158

  16. Luật Việt Nam: Quyết định 2242/QĐ-UBND Đà Nẵng 2024 Khung năng lực số cho Công dân trên địa bàn TP: https://luatvietnam.vn/thong-tin/quyet-dinh-2242-qd-ubnd-da-nang-2024-khung-nang-luc-so-cho-cong-dan-tren-dia-ban-tp-369815-d2.html

  17. Bộ Giáo dục và Đào tạo (2025): Thông tư số 02/2025/TT-BGDĐT ngày 24/01/2025 Quy định Khung năng lực số cho người học: https://datafiles.chinhphu.vn/cpp/files/vbpq/2025/01/02-bgddt.pdf

  18. Thư viện Pháp luật: Quyết định số 757/QĐ-BKHCN ngày 29/04/2025: https://thuvienphapluat.vn/van-ban/Cong-nghe-thong-tin/Quyet-dinh-757-QD-BKHCN-2025-Khung-kien-thuc-ky-nang-so-co-ban-655456.aspx

  19. Lê Trung Nghĩa, Trần Ái Cầm: Khung năng lực Tài nguyên Giáo dục Mở cho giảng viên V1.0: https://zenodo.org/records/10130129

  20. Lê Trung Nghĩa, Trần Ái Cầm: Khung năng lực Tài nguyên Giáo dục Mở cho giảng viên V2.0: https://zenodo.org/records/14235530

  21. Trang thông tin điện tử Chính phủ: Quyết định số 1117/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ: Phê duyệt Chương trình xây dựng mô hình nguồn tài nguyên giáo dục mở trong giáo dục đại học: https://chinhphu.vn/?pageid=27160&docid=208699

  22. Kampylis, P., Punie, Y. & Devine, J. (2015); Promoting Effective Digital-AgeLearning - A European Framework for Digitally-Competent Educational Organisations; EUR 27599 EN; doi:10.2791/54070: https://publications.jrc.ec.europa.eu/repository/bitstream/JRC98209/jrc98209_r_digcomporg_final.pdf, p.5. Bản dịch sang tiếng Việt: https://www.dropbox.com/scl/fi/wg1k8bvn2xiz6tu5octn7/jrc98209_r_digcomporg_final_Vi-18032021.pdf?rlkey=rlaut5n5j8yjs83vx09yjq5zs&dl=0, tr.10

  23. Aras Bozkurt et al. (2024): The Manifesto for Teaching and Learning in a Time of Generative AI: A Critical Collective Stance to Better Navigate the Future: https://doi.org/10.55982/openpraxis.16.4.777. Bản dịch sang tiếng Việt: https://www.dropbox.com/scl/fi/3rwkmzqodszn7xxuf3dln/6749b446d17e9_Vi-10052025.pdf?rlkey=2dul6urx28xp46qibhpoqlms7&st=1xog04bw&dl=0

  24. UK’ Cabinet Office (2025): The Mitigating ‘Hidden’ AI Risks Toolkit - A practical guide to identifying, tracking and mitigatingunintended consequences of AI adoption: https://assets.publishing.service.gov.uk/media/683ef9112c163eb35f1e453f/. Bản dịch sang tiếng Việt: https://www.dropbox.com/scl/fi/drzqoosvuyuj2644n14sb/The_Mitigating_Hidden_AI_Risks_Toolkit_Vi-18062025.pdf?rlkey=xzkktdtxis9iw9p0uk76vjec2&e=1&st=4eifuwnk&dl=0

  25. UNESCO (2021): Recommendation on the Ethics of Artificial Intelligence: https://unesdoc.unesco.org/ark:/48223/pf0000381137. Bản dịch sang tiếng Việt: https://www.dropbox.com/scl/fi/lvse01tmogkwlyur8tl00/381137eng_Vi-19072025.pdf?rlkey=lds7uvwtfvawdtz5vzmm3cixb&st=tp6p1e0d&dl=0

  26. LF AI & Data - Generative AI Commons (2024): The Model Openness Framework (MOF) Specification: https://lfaidata.foundation/wp-content/uploads/sites/3/2025/01/05_White_paper_MOF_Specification.pdf. Bản dịch sang tiếng Việt: https://www.dropbox.com/scl/fi/t25554np4o745vujtkph1/05_White_paper_MOF_Specification_Vi-21022025.pdf?rlkey=ejg41yluhlets5jeygmeysbys&st=4idhwi13&dl=0

  27. Open Source Initiative (OSI): The Open Source AI Definition – 1.0: https://opensource.org/ai/open-source-ai-definition. Bản dịch sang tiếng Việt: https://giaoducmo.avnuc.vn/ai/dinh-nghia-ai-nguon-mo-v1-0-1374.html

  28. UNESCO (2024): Dubai Declaration on Open Educational Resources (OER) - Digital Public Goods and Emerging Technologies for Equitable and Inclusive Access to Knowledge: https://unesdoc.unesco.org/ark:/48223/pf0000392271.locale=en, p.5. Bản dịch sang tiếng Việt: https://zenodo.org/records/14675896, tr.7



(Bài viết cho tọa đàm ‘AI và Tài nguyên Giáo dục Mở’ do Câu lạc bộ Giáo dục Mở tổ chức ngày 24/10/2025 tại Trường Đại học Mở, TP. Hồ Chí Minh).

Tự do tải về bài toàn văn định dạng PDF ở DOI: https://zenodo.org/records/17420956

Tự do tải về bài trình chiếu tại địa chỉ: https://www.dropbox.com/scl/fi/oj01jdka78xnhhmhhlii7/OER-in-the-Age-of-AI.pdf?rlkey=m96vcj3jyjddcqyytk10wq2f9&st=qhti2flu&dl=0

X(Tweet): https://x.com/nghiafoss/status/1981626575566373316

Xem thêm: