Thứ Năm, 3 tháng 10, 2024

‘Định nghĩa Sư phạm được Tài nguyên Giáo dục Mở xúc tác’ - bản dịch sang tiếng Việt


Là bản dịch sang tiếng Việt tài liệu của các tác giả David Wiley và John Hilton có tên ‘Định nghĩa Sư phạm được Tài nguyên Giáo dục Mở xúc tác’ được đăng trên tạp chí Đánh giá Nghiên cứu Quốc tế về Học tập Mở và Phân tán; Tập 19, Số 4, tháng 9/2018; giấy phép mở CC BY 4.0 Quốc tế.

“Trong bài viết này, thay vì cố gắng tranh luận về một định nghĩa chuẩn mực về sư phạm mở, chúng tôi đề xuất một thuật ngữ mới, "sư phạm được OER xúc tác" (OER-enabled Pedagogy), được định nghĩa là tập hợp các hoạt động giảng dạy và học tập chỉ khả thi hoặc thực tế trong bối cảnh của các quyền 5R đặc trưng của OER. Chúng tôi đề xuất các tiêu chí được sử dụng để đánh giá xem một hình thức giảng dạy có cấu thành sư phạm được OER xúc tác hay không và phân tích một số ví dụ về sư phạm được OER xúc tác với các tiêu chí này.

…

Wiley (không có ngày) mô tả 5R chi tiết hơn:

  • Retain - Giữ lại: quyền tạo lập, sở hữu và kiểm soát các bản sao của nội dung (ví dụ: tải xuống, sao chép, lưu trữ và quản lý).

  • Reuse - Sử dụng lại: quyền sử dụng nội dung theo nhiều cách khác nhau (ví dụ: trong lớp học, trong nhóm học tập, trên trang web, trong video).

  • Revise - Sửa lại: quyền tùy chỉnh, điều chỉnh, sửa đổi hoặc thay đổi bản thân nội dung đó (ví dụ: dịch nội dung sang ngôn ngữ khác).

  • Remix - Phối lại: quyền kết hợp nội dung gốc hoặc đã sửa lại với các tài liệu khác để tạo ra nội dung mới (ví dụ: kết hợp nội dung vào bản phối lại).

Redistribute - Phân phối lại: quyền chia sẻ các bản sao của nội dung gốc, bản sửa đổi hoặc bản phối lại của bạn với người khác (ví dụ: tặng một bản sao nội dung cho bạn bè).

…

Chúng tôi đề xuất kiểm thử 4 phần sau đây để xác định mức độ ở đó một hoạt động thực hành dạy và học cụ thể có đủ điều kiện là sư phạm được OER xúc tác hay không, như được minh họa bằng ý tưởng về các bài tập có thể tái tạo lại được:

  1. Học sinh có được yêu cầu tạo ra các chế tác mới (tiểu luận, thơ, video, bài hát, v.v.) hay sửa lại/phối lại OER đang có không?

  2. Chế tác mới có giá trị nào ngoài việc hỗ trợ việc học của tác giả không?

  3. Học sinh có được mời chia sẻ công khai các chế tác mới hoặc OER được sửa lại/phối lại của mình không?

  4. Học sinh có được mời cấp phép mở cho các chế tác mới hoặc OER được sửa lại/phối lại của mình không?”

Tự do tải về bản dịch sang tiếng Việt của tài liệu có 21 trang tại địa chỉ: https://www.dropbox.com/scl/fi/0cpetcu3bzohqh2jlotp6/aupress-admin-3601-27623-2-LE-1_Vi-18092024.pdf?rlkey=n6sky8zqxz0jcs3htzmcfl85c&st=ojc0mpum&dl=0

Xem thêm:

Blogger: Lê Trung Nghĩa

letrungnghia.foss@gmail.com

Thứ Tư, 2 tháng 10, 2024

Giảng dạy với Sư phạm Mở


Teaching with Open Pedagogy

https://www.utrgv.edu/textbook-affordability-project/resources-and-support/teaching-with-open-pedagogy/index.htm

Giáo dục Mở gồm phổ rộng các hoạt động xoay quanh ý tưởng chia sẻ. Sự cộng tác tập thể để tạo lập kiến thức, nghiên cứu, và các tư liệu học tập được chia sẻ tự do không mất tiền, làm lợi cho tất cả chúng ta.

“Sư phạm Mở (Open Pedagogy) có nhiều định nghĩa. Chúng tôi định nghĩa sư phạm mở như là các dự án hoặc bài tập có các đặc tính: tham gia với người học như những người sáng tạo thông tin thay vì chỉ đơn giản tiêu dùng nó; học tập trải nghiệm ở đó người học thể hiện sự hiểu biết thông qua hành động sáng tạo; mời người học trở thành một phần của quá trình giảng dạy/tham gia trong việc đồng tạo lập kiến thức; rời bỏ khỏi các bài tập sử dụng chỉ một lần để chuyển sang các bài tập có vị trí, có tính cộng tác, và tái tạo lại được; Quyền tự quyết của người học trong việc quyết định có chia sẻ công việc của mình hay không và chia sẻ như thế nào.” (Lộ trình của Dự án Sư phạm Mở)

Thực hành Giáo dục Mở - OEP (Open Educational Practices), chẳng hạn như sư phạm mở, sử dụng TNGDM để mở rộng quyền tự do hàn lâm của các nhà giáo dục và cho phép họ trở thành các nhà giám tuyển và các nhà thiết kế nội dung khi lên kế hoạch cho chương trình giảng dạy của họ. Một số ví dụ về sư phạm mở là để sinh viên chú thích xã hội các bài báo học học thuật hoặc tạo một ngân hàng câu hỏi cho một sách giáo khoa mở. Khi thực hiện các hoạt động này, chúng ta có thể thu hẹp khoảng cách về khả năng tiếp cận và tạo ra nội dung khóa học công bằng có thể được chia sẻ và triển khai miễn phí trong các lớp học trên toàn thế giới.

Được liệt kê bên dưới là các tài nguyên và ý tưởng giúp bạn mạng các hoạt động giáo dục mở và sư phạm mở vào trong lớp học của bạn. Nếu bạn có các ý tưởng về một dự án hoặc muốn biết nhiều hơn về thực hành giáo dục mở hoặc sư phạm mở, hay nhấn vào đây để yêu cầu sự tư vấn.

Nguồn cảm hứng

Các nguồn và ví dụ về Sư phạm Mở

Các bài tập ví dụ

“Các ví dụ bài tập”, là một dẫn xuất của “Hiểu biết TNGDM”. Được cung cấp bởi: Các dịch vụ TNGDM của SUNY. Có tại: https://oer.suny.edu/. Dự án: Khóa học của cộng đồng TNGDM. Giấy phép: CC BY: Ghi công. "Các ví dụ bài tập" được cấp giấy phép CC BY 4.0 của Natalie Young

Các ví dụ dự án

  • Kho bài kiểm tra: sinh viên tạo lập các câu hỏi cho kho bài kiểm tra

  • Đa dạng và Toàn diện: thêm các quan điểm đa dạng về TNGDM hiện có.

  • Tùy chỉnh sách giáo khoa: Biến TNGDM nghiên cứu chung thành văn bản có nội dung cụ thể.

  • Các thuật ngữ chính: Tạo một bảng thuật ngữ chính cho TNGDM còn chưa có bảng thuật ngữ.

  • Những người đóng góp cho Wikipedia: Cập nhật hoặc tạo lập thông tin về một chủ đề khóa học.

  • Câu chuyện sinh viên: Giám tuyển nội dung xung quanh triển vọng độc đáo của sinh viên khi tiếng nói của họ theo truyền thống không được đại diện đầy đủ.

  • Quản điểm lịch sử: Để sinh viên thu thập các chế tác lịch sử từ gia đình hoặc thư viện cộng đồng của họ và viết về lịch sử một chế tác. Điều này cũng có thể được sử dụng để làm kế hoạch bài giảng lịch sử TEKS. (Ví dụ: Hướng dẫn nguồn chính của Rio Grande Valley)

  • Đóng góp cho các dự án hiện có: Tuyển tập mở về văn học Mỹ thời kỳ đầu

  • Sách giáo khoa mở do sinh viên tạo ra: La lingüística hispánica: Una introducción

Các câu hỏi thường gặp

Sư phạm mở liên quan đến TNGDM như thế nào?

Thường thì, sư phạm mở bao gồm việc tạo lập, sử dụng, hoặc sửa lại TNGDM. Robin DeRosa và Scott Robison (2017) gợi ý rằng “Khi chúng ta nghĩ về TNGDM chỉ như tài nguyên kỹ thuật số miễn phí, như các sản phẩm, … chúng ta phần lớn bỏ qua cơ hội trao quyền cho người học của chúng ta, để giúp họ thấy nội dung như thứ gì đó họ có thể giám tuyển và sáng tạo, và để giúp họ thấy bản thân như là những thành viên đóng góp cho thị trường công cộng các ý tưởng”.

DeRosa, R và Robison S. 2017. Từ TNGDM đến Sư phạm Mở: Khai thác sức mạnh của Mở. Trong: Jhangiani, R S và Biswas-Diener, R. (eds.) Mở: Triết lý và Thực hành đang cách mạng hóa giáo dục và khoa học. Các trang 115-124. Luân Đôn: Ubiquity Press. DOI: https://doi.org/10.5334/bbc.i. Giấy phép: CC-BY 4.0

Các bài tập sử dụng một lần so với các bài tập tái tạo lại được là gì?

Các bài tập sử dụng một lần là các bài tập mà một sinh viên bỏ ra nhiều giờ tạo lập, một giảng viên chấm điểm cho nó, và sau đó sinh viên này có khả năng xem lại phản hồi và vứt bỏ hoặc xóa bài tập đó. Ngay cả dù chúng là dạng các bài tập và đánh giá mà sinh viên quen sử dụng, nếu họ thực sự dừng nghĩ về tất cả công việc họ đặt vào bài tập đó chỉ để vứt bỏ nó, họ có lẽ bắt đầu oán giận hệ thống đó. Mặt khác, các bài tập tái tạo lại được, liên quan đến sự hiểu biết rằng công việc của sinh viên sẽ không bị vứt bỏ khi kết thúc quá trình đó, mà thay vào đó sẽ đóng góp cho kiến thức tập thể theo vài cách thức. (Hướng đến các đánh giá tái tạo lại được)

Bạn có thể thấy mẫu template bài tập tái tạo lại được đặc thù môn học với phiếu đánh giá ở đây.

Bạn có được sự cho phép từ sinh viên để sử dụng tác phẩm của họ trước khi bắt đầu một dự án sư phạm mở?

Bất cứ khi nào bạn muốn sử dụng tác phẩm của sinh viên - dù cho các mục đích nghiên cứu hay sư phạm - bạn phải hỏi sự cho phép của sinh viên. Chúng tôi khuyên bạn nên dành thời gian vào đầu khóa học để thông báo cho sinh viên về cách thức chia sẻ bài tập của họ nếu họ chọn tham gia các dự án sư phạm mở đối mặt với công chúng. Trong thời gian này, bạn có thể phân phối các miễn trừ FERPA, nếu có, và cung cấp các bài tập thay thế hoặc các cách chia sẻ tác phẩm của họ mà không đính kèm thông tin cá nhân của họ vào đó nếu đây là mối lo ngại. Bạn cũng nên xác định rõ ràng trong giáo trình về cách thức và địa điểm chia sẻ nội dung khóa học do sinh viên tạo ra.

Sinh viên cũng nên nhận được chỉ dẫn về cách để loại bỏ tên của họ khỏi các tài liệu công khai trong tương lai nếu học quyết định họ không còn muốn có liên quan đến tác phẩm đó nữa.

Để biết thêm thông tin về chủ đề quyền riêng tư của sinh viên và các ví dụ về cách các giảng viên bảo vệ quyền riêng tư của sinh viên trong các dự án sư phạm mở của mình, hãy xem các tài nguyên này.

Tôi phải làm gì nếu sinh viên không muốn tác phẩm của họ sẵn sàng công khai?

Trong khi một số sinh viên sẽ hồ hởi với ý tưởng rằng bài tập về nhà của họ có thể được nhìn thấy, được sử dụng, hoặc thậm chí được cải thiện bởi các sinh viên tương lai trong một lớp học, thì những sinh viên khác có thể cảm thấy không thoải mái với bước này. Việc cho phép sinh viên lựa chọn không tham gia làm cho tư liệu của họ công khai nếu họ không chắc chắn về việc làm như vậy và trao cho họ lựa chọn loại bỏ tên của họ khỏi các tài liệu công khai nếu họ không chắc chắn về điều này vì bất kỳ lý do nào (Bộ công cụ Khởi tạo TNGDM: Cân nhắc sử dụng Sư phạm Mở).

Làm thế nào tôi có thể chắc chắn sinh viên của mình biết các thực hành trích dẫn và cấp phép đúng cách khi làm việc về tư liệu công khai hoặc được cấp phép mở?

Là quan trọng rằng sinh viên đang sáng tạo các hạng mục có thể được xuất bản và chia sẻ mở có thể hiểu mở có ý nghĩa gì. Nếu bạn không thoải mái thảo luận về bản quyền và trích dẫn với sinh viên của mình, hãy lên lịch tham vấn với Thư viện Đại học và một thủ thư sẽ hạnh phúc đến thăm lớp học của bạn để làm cho quá trình đó dễ dàng hơn.

Đáng lưu ý rằng sinh viên quen nói về việc “trích dẫn nguồn của họ” khi viết học thuật, mặc dù trong thế giới TNGDM việc trích dẫn các tư liệu được cấp phép mở thường được tham chiếu tới như là sự “ghi công”. Trích dẫn và ghi công hoàn thành cùng một mục tiêu thừa nhận các tác giả cho nội dung và ý tưởng của họ, vì thế là quan trọng rằng sinh viên biết chính xác làm thế nào và khi nào trích dẫn các nguồn của họ. Có thể hữu ích trong một dự án sư phạm mở để sinh viên của bạn thực hành cả các dạng trích dẫn (ví dụ, MLA + Ghi công) vì họ có thể hưởng lợi từ thực hành với cả hai. Khi trích dẫn các tư liệu được cấp phép mở, bạn có thể hướng sinh viên đến Trình xây dựng Ghi công Mở hoặc dạy họ phương pháp Tiêu đề, Tác giả, Nguồn, Giấy phép - TASL (Title, Author, Source, License) như được giải thích ở đây. Ngoài ra, Đại học Indiana đã tạo ra các học phần về đạo văn hướng đến sinh viên để giúp họ học cách nhận biết đạo văn và tránh nó khi họ viết bài.

Nghiên cứu nào là có sẵn về sư phạm mở?

Hướng dẫn Giảng viên về Sư phạm Mở trình bày các phương pháp sư phạm mở khác nhau và các nghiên cứu về từng phương pháp này.

Tôi muốn làm một dự án sư phạm mở trong khóa học của mình nhưng không biết bắt đầu từ đâu

Việc lên kế hoạch về phạm vi và các chi tiết cho dự án sư phạm mở của bạn là bước quan trọng đầu tiên. Bạn có thể yêu cầu sự tham vấn từ một thủ thư có kiến thức về dự án của bạn và nên cân nhắc làm việc qua các học phần Lộ trình Dự án Sư phạm Mở trước khi bắt đầu một dự án với sinh viên.

Open education consists of a broad spectrum of practices that encompass the idea of sharing. The collaborative creation of knowledge, research, and learning materials, that are freely shared, benefits us all. 

"Open pedagogy has many definitions. We are defining open pedagogy as projects or assignments which have the characteristics of: engaging with students as creators of information rather than simply consumers of it; experiential learning in which students demonstrate understanding through the act of creation; inviting students to be part of the teaching process/participating in the co-creation of knowledge; moving away from single-use assignments in favor of situated , collaborative , and renewable ones; Student agency in deciding if and how their work is shared ." (The Open Pedagogy Project Roadmap)

Open Educational Practices (OEP), such as open pedagogy, utilize open educational resources (OER) to expand the academic freedom of educators and allow them to become curators and content designers when planning out their curriculum. Some examples of open pedagogy would be to have students socially annotate scholarly articles or create a test bank of questions for an open textbook. In implementing these practices, we can close accessibility gaps and create equitable course content which can be freely shared and implemented in classrooms around the world.

Listed below are resources and ideas to help you bring open educational practices and open pedagogy into your classroom. If you have ideas about a project or would like to learn more about open educational practices or open pedagogy click here to request a consultation.

Resources for Inspiration

  • Tools to Promote Open Pedagogy in the Classroom

    • A toolkit explaining multiple distinct teaching methods that promote open pedagogy. The toolkit explains open pedagogy and its relationship to OER and has additional resources and next steps if faculty want to implement some of these methods.

  • Open Pedagogy Notebook

    • A collection of open pedagogy projects that faculty have created and implemented in their courses.

  • Wiki Education

    • Learn more about how to engage students in sharing their knowledge with the general public through Wikipedia, Wikidata, and other open collaboration projects on the web.

  • Case Studies: How professors are teaching with Wikipedia

    • In this brochure, professors around the world will explain Wikipedia assignments they’ve used to meet learning objectives for their courses. They will also explain how they graded these assignments. 

Open Pedagogy Resources and Examples

Assignment Examples

  • Make a tutorial video over a topic or assignment from class.

  • Worked examples that provide other students with step-by-step templates of how to do problems.

  • Create games to be played by future generations of learners to help them prepare for, or deepen their learning on, specific topics.

  • Create guides to direct other students through readings or lectures.

  • Written or video-based presentations that summarize an idea.

"Assignment Examples", is a derivative of "Understanding OER". Provided by: SUNY OER Services. Located at: https://oer.suny.edu/. Project: OER Community Course. License: CC BY: Attribution. "Assignment Examples" is licensed under CC BY 4.0 by Natalie Young

Project Examples

  • Test Banks: students create test bank questions

  • Diversity and Inclusion: Add diverse points of view to existing OER.

  • Textbook Adaptation: Turn a general studies OER into a content-specific text.

  • Key Terms: Create a glossary of key terms for an OER that does not have one.

  • Wikipedia Contributors: Update or create information on a course topic.

  • Student Stories: Curate content around the unique perspective of students whose voices are traditionally underrepresented.

  • Historical Perspectives: Have students collect historical artifacts from their family or community library and write about the history of the artifact. This can also be used to make TEKS history lesson plans. (Example: Rio Grande Valley Primary Souce Guides)

  • Contribute to Existing Projects: Open Anthology of Earlier American Literature

  • Student-authored Open Textbooks: La lingüística hispánica: Una introducción

Frequently Asked Questions

How does open pedagogy relate to OER?

Often, open pedagogy includes the creation, use, or revision of Open Educational Resources. Robin DeRosa and Scott Robison (2017) suggest that “when we think of OER as just free digital stuff, as products,... we largely miss out on the opportunity to empower our students, to help them see content as something they can curate and create, and to help them see themselves as contributing members to the public marketplace of ideas.” 

DeRosa, R and Robison S. 2017. From OER to Open Pedagogy: Harnessing the Power of Open. In: Jhangiani, R S and Biswas-Diener, R. (eds.) Open: The Philosophy and Practices that are Revolutionizing Education and Science. Pp. 115–124. London: Ubiquity Press. DOI: https://doi.org/10.5334/bbc.i. License: CC-BY 4.0

What are single-use assignments vs. renewable assignments?

Single-use (or disposable) assignments are assignments that a student spends hours creating, a teacher grades it, and then the student likely reviews feedback and throws the assignment away or deletes it. Even though these are the kinds of assignments and assessments students are used to, if they really stopped to think about all the work they put into the assignment only to discard it, they might begin to resent the system. Renewable assignments, on the other hand, involve an understanding that the student’s work won’t be discarded at the end of the process, but will instead contribute to collective knowledge in some way. (Towards Renewable Assessments)

You can find disciple-specific renewable assignment templates with rubrics here.

Do you have to get permission from students to use their work before starting an open pedagogical project?

Any time you want to use student work-- whether for research or for pedagogical purposes-- you must ask for student permission. We recommend setting aside time at the beginning of your course to inform your students about exactly how their work will be shared if they opt-in to participating in public-facing open pedagogy projects. During this time, you can distribute FERPA waivers, if applicable, and offer alternative assignments or ways to share their work without attaching their personal information to it if this is a concern. It is also good to clearly define on your syllabus how and where student-created course content will be shared.

Students should also be given instructions about how to remove their names from public documents in the future if they ever decide they no longer want to be associated with the work.

For more information on the subject of student privacy rights and examples of how instructors have protected student privacy in their open pedagogy projects, check out these resources.

What do I do if a student does not want their work to be available to the public?

While some students will be energized by the idea that their homework can be seen, used, or even improved upon by future students in the class, others may feel uncomfortable with this step. Allow students to opt out of making their materials public if they are uncertain about doing so and give them the option to remove their name from public documents if they are uncertain about this for any reason (The OER Starter Kit: Considerations for Using Open Pedagogy).

How can I be sure my students know proper citation and licensing practices when working on Openly Licensed or public material?

It’s important that students who are creating items that might be published and shared openly can understand what open means. If you are uncomfortable about discussing copyright and citation with your students, schedule a consultation with the University Library, and a librarian will happily visit your class to make the process easier.

It’s also worth mentioning that students are used to talking about “citing their sources” when writing academically, however in the OER world citing openly licensed materials is usually referred to as “attribution.” Citation and attribution accomplish the same goal of crediting authors for their content and ideas, so it’s important that students know exactly how and when to cite their sources. It may be helpful in an open pedagogy project to have your students practice both forms of citation (i.e. MLA + Attribution) because they may benefit from practice with both. When citing openly licensed materials, you can direct students to this Open Attribution Builder or teach them the TASL (Title, Author, Source, License) method which is explained here. Additionally, Indiana University created in-depth student-oriented plagiarism modules that help students learn how to recognize plagiarism and avoid it in their writing.

What research is available about open pedagogy?

The Faculty Guide to Open Pedagogy presents different open pedagogical practices and research studies on each of these practices.

I want to do an open pedagogy project in my course but don’t know where to start.

Planning out the scope and details of your open pedagogy project is an important first step. You can request a consultation from a knowledgeable librarian about your project and should consider working through the Open Pedagogy Project Roadmap modules before beginning a project with students.

Dịch: Lê Trung Nghĩa

letrungnghia.foss@gmail.com

Thứ Ba, 1 tháng 10, 2024

Sư phạm Mở: ví dụ về các hoạt động của lớp học


Open pedagogy: examples of class activities

Theo: https://blogs.ubc.ca/chendricks/2017/10/08/open-pedagogy-examples/

by Christina Hendricks

Một bài nói chuyện sắp tới của tôi

Vào ngày 26/10 tôi sẽ có bài nói chuyện tại trường Cao đẳng Douglas ở Vancouver, vùng BC (Canada), với tiêu đề: “Mở là gì với Sư phạm Mở?” Đây là một phần các sự kiện của Tuần lễ Truy cập Mở của trường Cao đẳng Douglas.

Tôi động não bằng việc viết, và tôi nghĩ mình có thể chia sẻ những suy nghĩ sơ bộ của mình với người khác trong trường hợp họ thấy chúng hữu ích. Tôi cũng sẽ chia sẻ các slide từ bài nói chuyện ở đây trên blog của tôi khi chúng kết thúc. Tôi kỳ vọng mọi điều sẽ thay đổi đáng kể một khi các ý nghĩ của tôi có từ sự động não sơ bộ này sẽ tạo nên các slide đó!

Tôi đang nghĩ vào thời điểm một phác thảo cho bài nói chuyện dài (với một lời giới thiệu còn chưa được xác định, nói về vì sao nó hữu dụng để thảo luận điều này):

  1. Vài ví dụ về điều mà mọi người gọi là “sư phạm mở” là gì?

  2. Những người khác đã định nghĩa sư phạm mở như thế nào? Tôi nghĩ gì?

    • Tôi đã có rồi nhiều điều để nói về điều này trong loạt bài đăng trên blog đầu năm nay. Bạn có thể thấy các đường liên kết của tất cả chúng trong bài đăng mới nhất, gọi là “Điều hướng Sư phạm Mở phần 2”

    • Đâu là mối quan hệ giữa sư phạm mở, thực hành giáo dục mở, sinh viên như là nhà sản xuất, và sinh viên như là đối tác?

  3. Mở là gì với sư phạm mở?

    • “Mở” có vẻ có nghĩa là gì, theo đó nó có thể bao gồm quyền truy cập mở, dữ liệu mở, khoa học mở, chính phủ mở, sư phạm mở… (đây là một chủ đề khổng lồ; tôi sẽ không thể giải thích hết được nhưng tôi sẽ bắt đầu)

    • Liệu điều đó có phù hợp với quan điểm sư phạm mở từ (1) và (2)?

    • Liệu có bất kỳ điều gì trong số đó làm thay đổi quan điểm của chúng ta về “sư phạm mở”?

Bây giờ tôi viết điều đó ra, tôi nghĩ: điều này sẽ quá nhiều cho một cuộc nói chuyện kéo dài một giờ cộng với phần Hỏi & Đáp sau đó. Điều này có lẽ phải là một cuốn sách. Hãy xem những gì là kết quả từ việc động não của tôi và liệu điều đó có khả thi.

Trong bài đăng này tôi chỉ tập hợp một vài ví dụ về những gì mọi người đã gọi là các hoạt động “sư phạm mở” trong các lớp học.

Các ví dụ về các hoạt động sư phạm mở


Có nhiều, nên tôi sẽ tóm tắt một vài trong một danh sách ngắn gọn tôi có thể thảo luận trong bài nói chuyện của mình - một mẫu đại diện của các loại. Không phải tất cả các sản phẩm từ các hoạt động đó được cấp phép mở, nhưng chúng ít nhất nằm trong loại “các bài tập không sử dụng một lần”, được được thảo luận bên dưới.

Tác phẩm của sinh viên gia tăng giá trị cho thế giới: bài tập không sử dụng một lần

Trong bài đăng trên blog của tôi vào tháng 7/2016 David Wiley nói về có bao nhiêu bài tập trong các khóa học sau trung học là “sử dụng một lần” - các sinh viên viết chúng chỉ cho đối tượng là các giảng viên và/hoặc trợ lý giảng viên, và một khi họ có điểm số thì tác phẩm đó chỉ sử dụng một lần vì nó không phục vụ cho mục đích nào khác. Wiley gợi ý rằng học sinh cũng được đưa ra “những đánh giá có thể tái tạo lại được”: “công việc của sinh viên sẽ không bị loại bỏ khi kết thúc quá trình, mà thay vào đó sẽ mang lại giá trị cho thế giới theo một cách nào đó”.

Tom Woodward nói điều gì đó tương tự trong một cuộc phỏng vấn về sư phạm mở được xuất bản trên Campus Technology năm 2014: “Sinh viên đang xuất bản cho đối tượng lớn hơn so với giảng viên của họ. Điều đó có ý nghĩa. Tác phẩm của họ, là mở, có tiềm năng được sử dụng cho thứ gì đó lớn hơn so với bản thân khóa học và là một phần của một hội thoại toàn cầu lớn hơn”.

Các ví dụ về các bài tập không sử dụng một lần:

  • Sinh viên trong chương trình Nghiên cứu về Người bản địa và Người bản xứ đầu tiên tại Đại học British Columbia ở Vancouver, BC, Canada làm một thực tập nghiên cứu năm thứ tư của họ, theo đó họ làm việc với một tổ chức cộng đồng để phát triển một dự án nghiên cứu sẽ cung cấp sản phẩm hữu ích cho đối tác.

  • Một số điều được liệt kê bên dưới là các ví dụ về “các bài tập không sử dụng một lần” hoặc các bài tập “tái tạo lại được”.

Các bài tập của Wikipedia

David Wiley nêu chúng trong một bài đăng trên blog từ 2013 như là các ví dụ về sư phạm mở. Một vài dự án gần đây của Wikipedia từ UBC:

  • Các sinh viên khóa Tiếng Anh 470 đã viết hoặc biên tập các bài báo về văn học Canada (2017)

  • Các sinh viên BIOL 345 đã viết hoặc biện tập các bài báo về các chủ đề xung quanh tính bền vững, biến đổi khí hậu, hoặc sinh thái học, tập trung vào Canada (2017)

Sinh viên đóng góp cho sách giáo khoa mở

Wiley nêu điều này trong cùng bài đăng trên blog từ 2013 như đường liên kết ở trên. Vài ví dụ:

  • Hai cuốn sách được Robin DeRosa mô tả trong đó sinh viên đã có những đóng góp đáng kể

  • Dự án Logic Mở là một cuốn sách giáo khoa logic cộng tác với các tác giả là các giảng viên và sinh viên (hầu hết là sinh viên đã tốt nghiệp, nhưng cũng có một số sinh viên chưa tốt nghiệp cũng đóng góp)

  • Một vài ví dụ về các sinh viên đã đóng góp như thế nào cho các cuốn sách giáo khoa mở có thể thấy trong phần “các trường hợp điển hình” (case studies) của Hướng dẫn Tạo lập Sách giáo khoa Mở với Sinh viên của Quỹ Rebus (ed. Liz Mays)

Sinh viên tạo lập hoặc đóng góp cho các TNGDM khác

  • Các ví dụ của UBC (không phải tất cả được cấp phép mở, nhưng chúng là sẵn sàng công khai):

  • Các giảng viên, sinh viên tốt nghiệp và chưa tốt nghiệp đang đóng góp cho dự án Nghiên cứu điển hình Mở

  • Các sinh viên chưa tốt nghiệp đang tạo ra các đối tượng học tập cho những người khác trong các lớp học của họ trong khóa học Vật lý 101 của Simon Bates (xem hướng dẫn tạo lập các đối tượng học tập cho khóa học, đối với các thông tin về sinh viên đã là gì và vì sao)

  • Khoa Địa lý của UBC có website hướng dẫn sinh viên nghiên cứu các vấn đề về môi trường và tính bền vững

Vài ví dụ trong một bài đăng trên blog của Lorna Campbell, từ Đại học Edinburgh: Sinh viên tham gia với TNGDM ở Đại học Edinburgh

Sinh viên trong lớp học về chim học tại Đại học Đảo Vancouver ở British Columbia, Canada đã viết các bài đăng trên blog về một loài chim địa phương và tập hợp thành một bộ sưu tập giới thiệu các loài chim bản địa trong khu vực: VIU, trang web Biology 325. (không được cấp phép mở)

Sinh viên năm thứ 4 chuyên ngành Truyền thông bản địa mới và Kể chuyện kỹ thuật số tại Đại học British Columbia ở Vancouver, BC đã viết bài đăng trên blog, sáng tạo các câu chuyện kỹ thuật số và đưa ra ý tưởng thiết kế cho các cuộc triển lãm tại Trung tâm Đối thoại và Lịch sử Trường nội trú dành cho người da đỏ mới tại UBC.

Sinh viên tạo lập giáo trình (hoặc các phần của nó)

Trong bài đóng góp của mình cho chủ đề “sư phạm mở” vào tháng 4/2017 trong loạt bài Năm của quan điểm Mở, Maha Bali nói về phương pháp giảng dạy độc lập với nội dung, trong đó sinh viên đặt câu hỏi và tìm tài liệu đọc để giúp trả lời câu hỏi, sau đó viết blog về những điều đó.

Trong cùng bài đăng, Maha cũng nói về sinh viên đóng góp vào giáo trình và sinh viên viết câu hỏi trắc nghiệm hoặc câu hỏi thi (xem bài đăng của Rajiv Jhangiani về sinh viên viết câu hỏi trắc nghiệm trong lớp Tâm lý xã hội); cô lưu ý cách lớp Kể chuyện kỹ thuật số, DS106 tại Đại học Mary Washington, yêu cầu sinh viên đóng góp bài tập để sinh viên khác làm, trong ngân hàng bài tập.

Robin DeRosa giải thích cách sinh viên tạo ra kết quả học tập và bài tập trong Hội thảo năm thứ nhất, trong bài đăng của cô ấy Extreme Makeover: Pedagogy Edition (2017). Sinh viên cũng tạo ra một cuốn sách giáo khoa từ bài tập của họ trong khóa học.

An upcoming talk I’m giving

On October 26 I’m giving a talk at Douglas College in the Vancouver, BC (Canada) area, with the title: “What’s Open about Open Pedagogy?” It’s part of Douglas College’s Open Access Week events.

I brainstorm by writing, and I figured I might as well share my rough thoughts with others in case they find any of it useful. I’ll also share the slides from the talk here on my blog when they’re finished. I expect things will change significantly once my thoughts get from the rough brainstorm form to the slides!

I’m thinking at the moment of an outline for the talk along these lines (with an intro as yet unspecified, talking about why it’s useful to discuss this at all):

  1. What are some examples of things that people have called “open pedagogy”?

  2. How have others defined open pedagogy? What do I think?

    • I’ve already had a lot to say about this in a series of blog posts earlier this year. You can see links to all of them in the last post, called “Navigating Open Pedagogy part 2.”

    • What are the relationships between open pedagogy, open educational practices, students as producers, and students as partners?

  3. What’s open about open pedagogy?

    • What does “open” seem to mean, such that it can cover open access, open data, open science, open government, open pedagogy… (this is a gigantic topic in and of itself; I won’t be able to do it justice but I’ll make a start)

    • Does that fit the views of open pedagogy from (1) and (2)?

    • does any of this change our views of “open pedagogy”?

Oh my…now that I write that out, I think: this is going to be too much for a one-hour talk plus Q&A afterwards. This could probably be a book. Oh well…let’s see what comes out of my brainstorming and whether it’s feasible.

In this post I am just collating a few examples of what people have called “open pedagogy” activities in classes.

Examples of open pedagogy activities

There are lots, so I’m going to briefly list a few I might discuss in my talk–a representative sample of sorts. Not all of the products from these activities are openly licensed, but they do at least fall under “non-disposable assignments,” as discussed below.

Student work adding value to the world: non-disposable assignments

In a blog post from July 2016 David Wiley talks about how many assignments in post-secondary courses are “disposable”–students write them only for an audience of the instructor and/or TA, and once they get a grade the work is disposable because it serves no other purpose. Wiley suggests students are also given “renewable assessments”: “the student’s work won’t be discarded at the end of the process, but will instead add value to the world in some way.”

Tom Woodward says something similar in an interview about open pedagogy published in Campus Technology in 2014: “Students are publishing for an audience greater than their instructor. That matters. Their work, being open, has the potential to be used for something larger than the course itself and to be part of a larger global conversation.”

Examples of non-disposable assignments:

  • Students in the First Nations and Indigenous Studies program at the University of British Columbia in Vancouver, BC, Canada do a research practicum in their fourth year, where they work with a community organization to develop a research project that will provide a product useful to the partner.

  • A number of the things listed below are examples of “non-disposable” or “renewable” assignments as well.

Wikipedia assignments

David Wiley mentions these in a blog post from 2013 as examples of open pedagogy. A couple of recent Wikipedia projects from UBC:

  • English 470 students wrote or edited articles on Canadian literature (2017)

  • BIOL 345 students wrote or edited articles on topics around sustainability, climate change, or ecology, focused on Canada (2017)

Students contributing to open textbooks

Wiley mentions this in the same blog post from 2013 as linked above. Some examples:

  • Two books described by Robin DeRosa in which students made significant contributions

  • The Open Logic Project is a collaborative logic textbook authored by faculty and students (mostly grad students, but some undergrads also contribute)

  • Several examples of how students have contributed to open textbooks can be found in the “case studies” section of the Rebus Foundation’s Guide to Making Open Textbooks with Students (ed. Liz Mays)

Students making or contributing to other OERs

UBC examples (not all are openly licensed, but they are publicly available):

Some examples in a blog post by Lorna Campbell, from U of Edinburgh: Student Engagement with OER at University of Edinburgh

Students in an ornithology class at Vancouver Island University in BC, Canada, created blog posts about a local bird species that were collated into a collection showcasing birds local to the area: VIU, Biology 325 site. (not openly licensed)

Students in a 4th year course in Indigenous New Media & Digital Storytelling at the University of British Columbia in Vancouver, BC, wrote blog posts, created digital stories, and came up with design ideas for exhibits at the new Indian Residential School Dialogue and History Centre at UBC.

Students creating the curriculum (or parts of it)

In her contribution to the April 2017 topic of “open pedagogy” in the Year of Open perspectives series, Maha Bali speaks of content-independent teaching, where the students ask questions and find readings to help answer them, and then blog about those things.

In the same post Maha also talks about students contributing to syllabi, and also students writing quiz or exam questions (see Rajiv Jhangiani’s post about students writing multiple choice questions in a Social Psychology class); she notes how a Digital Storytelling class, DS106 at the University of Mary Washington, has students contribute assignments for other students to do, in an assignment bank.

Robin DeRosa explains how students created learning outcomes and assignments in a First Year Seminar, in her post Extreme Makeover: Pedagogy Edition (2017). The students also generated a textbook from their work in the course.

Dịch: Lê Trung Nghĩa

letrungnghia.foss@gmail.com

Gợi ý triển khai tài nguyên giáo dục mở tại các trường đại học theo Quyết định 1117/QĐ-TTg ngày 25/09/2023 của Thủ tướng Chính phủ


Lê Trung Nghĩa, ORCID iD: https://orcid.org/0009-0007-7683-7703

Viện Nghiên cứu, Đào tạo và Phát triển Tài nguyên Giáo dục Mở - InOER (Institute for Research, Training and Development of Open Educational Resources),

Hiệp hội các trường đại học cao đẳng Việt Nam (AVU&C)


Giấy phép nội dung: CC BY 4.0 Quốc tế.


------------------------------------------------------


Tóm tắt
: Đã hơn một năm trôi qua kể từ ngày Thủ tướng Chính phủ bạn hành Quyết định số 1117/QĐ-TTg Phê duyệt Chương trình xây dựng mô hình nguồn tài nguyên giáo dục mở trong giáo dục đại học, nhiều trường đại học ở Việt Nam đã và đang triển khai các hoạt động theo Quyết định này, dù mức độ triển khai chúng có thể khác nhau và không đồng đều giữa các trường. Bài viết này gợi ý các hoạt động các trường đại học có thể đã, đang hoặc sẽ triển khai trong thời gian tới dưới dạng một bảng câu hỏi khảo sát, dù chúng không là toàn diện hay vét cạn.

Từ khóa: Tài nguyên Giáo dục Mở (TNGDM), nhận thức/năng lực TNGDM, chính sách hỗ trợ/khuyến khích TNGDM, mô hình bền vững TNGDM

------------------------------------------------------

Đặt vấn đề

Ngày 25/09/2023, Thủ tướng Chính phủ ban hành Quyết định số 1117/QĐ-TTg[1] Phê duyệt Chương trình xây dựng mô hình nguồn tài nguyên giáo dục mở trong giáo dục đại học, với mục tiêu chung, các mục tiêu cụ thể cho giai đoạn 2023-2026 và 2027-2030, cùng với 4 nhiệm vụ và giải pháp nhằm triển khai thực hiện quyết định này.

Có thể thấy là với vai trò của mình được nêu trong quyết định, các trường đại học hoàn toàn có thể chủ động tích cực triển khai nhiều trong số các hoạt động thuộc 4 nhiệm vụ và giải pháp được nêu trong đó[2]. Dưới đây là một số gợi ý ở dạng một bảng câu hỏi khảo sát, dù không là toàn diện hay vét cạn, một loạt hoạt động cụ thể các trường đại học có thể đã, đang hoặc sẽ triển khai.



BẢNG CÂU HỎI KHẢO SÁT

Câu hỏi sơ bộ

Nhà trường có kế hoạch triển khai 1117/QĐ-TTg ngày 25/09/2023 hay không?

  • Nếu không, vui lòng cho biết lý do

  • Nếu có, vui lòng cho biết những điểm dưới đây

1. Xây dựng và nâng cao nhận thức/năng lực TNGDM

  • Khảo sát hiểu biết và/hoặc cuộc thi tìm hiểu TNGDM trong cán bộ/giảng viên và/hoặc sinh viên. Bảng các câu hỏi khảo sát. Kết quả/đánh giá khảo sát.

  • Có bao nhiêu hội nghị/hội thảo/tập huấn và/hoặc các sự kiện tương tự, cả mặt đối mặt/trên trực tuyến và/hoặc kết hợp cả 2 hình thức nêu trên đã được tổ chức/đồng tổ chức cho đội ngũ cán bộ quản lý, giảng viên, người học về Tài nguyên Giáo dục Mở (TNGDM)?

  • Mục đích/Chủ đề và các nội dung cụ thể của các sự kiện đó là gì? Số lượng người tham gia cụ thể trong từng sự kiện là bao nhiêu, bao gồm cả cán bộ quản lý, giảng viên và người học?

  • Đánh giá kết quả/tác động/ảnh hưởng của việc tổ chức các sự kiện đó tới việc ứng dụng/phát triển/chia sẻ/khai thác TNGDM là gì?

  • Số lượng/tỷ lệ chuyển đổi các tài liệu nội sinh của nhà trường thành TNGDM và được chia sẻ/khai thác với tần suất như thế nào trên Internet.

  • Số lượng/tỷ lệ các cán bộ/giảng viên của nhà trường chuyển đổi các tài liệu nội sinh của nhà trường thành TNGDM và được chia sẻ/khai thác trên Internet.

  • Số lượng/tỷ lệ TNGDM do các cán bộ/giảng viên của nhà trường tạo lập mới từ đầu và được chia sẻ/khai thác với tần suất như thế nào trên Internet.

  • Số lượng/tỷ lệ các cán bộ/giảng viên của nhà trường tạo lập TNGDM mới từ đầu và được chia sẻ/khai thác trên Internet.

  • Số lượng/tỷ lệ TNGDM được tạo lập mới dựa trên cơ sở tùy chỉnh các tài liệu đã có của các đồng nghiệp trong và ngoài nhà trường, cả trong nước và quốc tế và được chia sẻ/khai thác với tần suất như thế nào trên Internet.

  • Số lượng/tỷ lệ các cán bộ/giảng viên của nhà trường tạo lập mới TNGDM dựa trên cơ sở tùy chỉnh các tài liệu đã có của các đồng nghiệp trong và ngoài nhà trường, cả trong nước và quốc tế và được chia sẻ/khai thác trên Internet.

  • Chất lượng TNGDM được tạo ra ở nhà trường được đánh giá như thế nào, theo phương pháp nào, với các tiêu chí cụ thể nào?

  • TNGDM được sử dụng trong việc giảng dạy, học tập và nghiên cứu như thế nào?

  • Đề tài nghiên cứu liên quan tới các khía cạnh của TNGDM ở cấp cơ sở, liên cơ sở, bộ, ngành? Tên đề tài, người/cơ sở chủ trì, người/bên tham gia, mục đích và kết quả của đề tài.

  • Có hay không việc gắn kết các năng lực TNGDM với các năng lực chuyển đổi số tại nhà trường. Ví dụ: Khung năng lực TNGDM[3] là một thành phần không thể thiếu trong Khung năng lực số của bất kỳ cơ sở giáo dục nào, bất kỳ cấp học nào, như được minh họa trên Hình 1 [4].


Hình 1
. TNGDM (OER) trong Khung năng lực số cho các cơ sở giáo dục[4]

  • Có hay không việc thực hành tự kiểm tra đánh giá năng lực số của bản thân, bao gồm năng lực TNGDM và cấp phép mở Creative Commons trên một số trang web cung cấp dịch vụ tự kiểm tra đánh giá năng lực số, bao gồm năng lực TNGDM và cấp phép mở Creative Commons, ví dụ như Euro Pass và/hoặc Pix Pro.

  • Có hay không việc tham gia các hoạt động dự án với các tổ chức nước ngoài có nội dung liên quan đến TNGDM.

  • Có hay không việc tham gia các hoạt động liên quan đến TNGDM với quốc tế, ví dụ Tuần lễ Giáo dục Mở Toàn cầu, Tuần lễ Truy cập Mở Quốc tế, Ngày Dữ liệu Mở Quốc tế, mạng lưới các trường đại học mở khu vực và quốc tế v.v.

2. Xây dựng chính sách hỗ trợ/khuyến khích TNGDM tại nhà trường

Vui lòng cho biết các chính sách hỗ trợ/khuyến khích TNGDM tại nhà trường, ví dụ:

  • Xây dựng chính sách/chiến lược cấp trường để hỗ trợ/khuyến khích TNGDM

  • Có chính sách hỗ trợ/khuyến khích cụ thể cán bộ quản lý, giảng viên và/hoặc học viên ứng dụng và phát triển TNGDM bằng khen thưởng, tài chính, thăng tiến, bổ nhiệm, nâng lương và/hoặc khác

  • Xây dựng/áp dụng khung năng lực TNGDM cho giảng viên và/hoặc học viên

  • Xây dựng chính sách cấp phép mở Creative Commons cấp trường để thúc đẩy việc tạo lập TNGDM mới và/hoặc tùy chỉnh TNGDM sẵn có.

  • Có chính sách khuyến khích các cán bộ quản lý/giảng viên đi học chương trình đào tạo chuyên về cấp phép mở Creative Commons[5] cho các đối tượng: (a) nhà giáo dục; (b) thủ thư hàn lâm; và (3) văn hóa mở để có chứng chỉ quốc tế đó.

  • Xây dựng chính sách cấp phòng/ban/trung tâm/đơn vị trực thuộc để hỗ trợ/khuyến khích TNGDM

  • Thành lập đơn vị trực thuộc có chức năng/nhiệm vụ về TNGDM

  • Xây dựng quy định về đánh giá chất lượng của TNGDM

  • Xây dựng chính sách gắn kết các năng lực TNGDM với các năng lực chuyển đổi số tại nhà trường. Ví dụ: Khung năng lực TNGDM là một thành phần không thể thiếu trong Khung năng lực số của bất kỳ cơ sở giáo dục nào, bất kỳ cấp học nào, như được minh họa trên Hình 1[4].

  • Xây dựng website chuyên dụng và/hoặc kho TNGDM tại nhà trường và chính sách duy trì/cập nhật liên tục cho website đó.

  • Kết nối/tải lên TNGDM của nhà trường tới các website/kho TNGDM chuyên dụng của các trường và/hoặc tổ chức giáo dục khác, trong nước và/hoặc quốc tế. Ví dụ: Tải TNGDM do nhà trường tạo ra lên trang OER Commons, YouTube, Vimeo Creative Commons, v.v. và chính sách theo dõi việc cập nhật/khai thác các TNGDM đó.

  • Xây dựng phần mềm chuyên để quản lý các hoạt động liên quan đến TNGDM, ví dụ phần mềm giúp đánh giá, tính điểm, xếp hạng năng lực TNGDM.

  • Xây dựng chính sách khuyến khích các cán bộ/giảng viên của nhà trường tham gia các hoạt động giảng dạy và/hoặc quảng bá TNGDM trên các phương tiện truyền thông mạng, ví dụ qua Zalo, Facebook, Blogs, v.v.

  • Xây dựng chính sách khuyến khích các cán bộ/giảng viên của nhà trường tham gia các hoạt động giảng dạy và/hoặc quảng bá TNGDM cho các cơ sở giáo dục khác, các cấp học khác, bất kể hình thức nào. Ví dụ, mở các lớp thực hành khai thác TNGDM để xây dựng và nâng cao năng lực TNGDM cho các cán bộ/giảng viên giáo dục phổ thông các cấp tiểu học, trung học cơ sở, trung học phổ thông, giáo dục đào tạo nghề và/hoặc các cơ sở khác của giáo dục đại học.

  • Xây dựng chính sách khuyến khích các cán bộ/giảng viên của nhà trường tham gia xây dựng (các) cộng đồng TNGDM chung/theo chuyên đề trên các phương tiện truyền thông trên Internet, ví dụ như trên Zalo, Facebook, Google Newsletters...

3. Các mô hình bền vững TNGDM được áp dụng tại nhà trường[6]

  • Khi áp dụng các mô hình bền vững TNGDM, nhà trường quan tâm nhất đến điều gì sau đây?

    • (a) mô hình bền vững kinh tế, bao gồm cả các mô hình có khả năng sinh doanh thu và các mô hình có khả năng thu hồi các chi phí để tạo lập, tùy chỉnh và duy trì dài hạn TNGDM, bao gồm cả chi phí duy trì, mở rộng quy mô mạng và hạ tầng cho TNGDM;

    • (b) Mô hình bền vững TNGDM phải tính đến giá trị TNGDM tạo ra để làm cho nó có thể hoàn thành các tầm nhìn, mục tiêu và mục đích đa dạng của giáo dục nhằm “Đảm bảo giáo dục có chất lượng, công bằng và toàn diện, đồng thời thúc đẩy cơ hội học tập suốt đời cho tất cả mọi người”, như được nêu ở mục tiêu phát triển bền vững 4 (SDG4) về giáo dục của Liên hiệp quốc đến năm 2030[7], chứ không chỉ tính tới duy nhất giá trị về kinh tế - tài chính.

  • Nhà trường hiện đang áp dụng thực tế (các) mô hình bền vững TNGDM nào về kinh tế - tài chính? ví dụ, cấp vốn công từ nhà nước, cấp vốn nội bộ của cơ sở, các nguồn cấp vốn khác (vui lòng nêu cụ thể).

Thay cho lời kết

Kết luận của Bộ Chính trị số 91-KL/TW[8] ngày 12/08/2024 ‘tiếp tục thực hiện Nghị quyết số 29-NQ/TW[9], ngày 04/11/2013 của Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XI “Về đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục và đào tạo, đáp ứng yêu cầu công nghiệp hóa, hiện đại hóa trong điều kiện kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa và hội nhập quốc tế”’... tập trung thực hiện tốt các nhiệm vụ sau:

“...

5. Tiếp tục hoàn thiện hệ thống giáo dục quốc dân theo hướng mở, linh hoạt, liên thông, thúc đẩy xã hội học tập và học tập suốt đời; đẩy mạnh chuyển đổi số trong giáo dục và đào tạo. .... Đẩy nhanh tiến trình chuyển đổi số trong giáo dục và đào tạo; phát triển giáo dục số, giáo dục thông minh, giáo dục cá nhân hóa, giáo dục sáng tạo, giáo dục thích ứng với sự phát triển của trí tuệ nhân tạo; đồng thời, trang bị cho học sinh, sinh viên các kỹ năng thiết yếu để thích ứng học tập, làm việc hiệu quả, an toàn trong không gian số. Phát triển các phương thức đào tạo mở, các nền tảng dạy và học trực tuyến mở, phát triển học liệu mở trực tuyến.”

Việc ứng dụng và phát triển TNGDM tại các trường đại học Việt Nam không chỉ nhằm thực hiện Quyết định 1117/QĐ-TTg, mà còn đóng góp để thúc đẩy triển khai nhanh nội dung được nêu ở trên trong kết luận của Bộ Chính trị số 91-KL ngày 12/08/2024.

Tài liệu/thông tin tham khảo

[1] Trang thông tin điện tử Chính phủ: Quyết định số 1117/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ: Phê duyệt Chương trình xây dựng mô hình nguồn tài nguyên giáo dục mở trong giáo dục đại học: https://chinhphu.vn/?pageid=27160&docid=208699

[2] Lê Trung Nghĩa (2023): Xây dựng nguồn tài nguyên giáo dục mở và vai trò của các trường đại học: https://giaoducmo.avnuc.vn/bai-viet-toan-van/xay-dung-nguon-tai-nguyen-giao-duc-mo-va-vai-tro-cua-cac-truong-dai-hoc-1063.html

[3] Lê Trung Nghĩa & Trần Ái Cầm (2023). Khung năng lực Tài nguyên Giáo dục Mở cho giảng viên V1.0. Zenodo. https://doi.org/10.5281/zenodo.10130129

[4] Kampylis, P., Punie, Y. & Devine, J. (2015); Promoting Effective Digital-AgeLearning - A European Framework for Digitally-Competent Educational Organisations; EUR 27599 EN; doi:10.2791/54070: https://publications.jrc.ec.europa.eu/repository/bitstream/JRC98209/jrc98209_r_digcomporg_final.pdf. Bản dịch sang tiếng Việt: https://www.dropbox.com/scl/fi/wg1k8bvn2xiz6tu5octn7/jrc98209_r_digcomporg_final_Vi-18032021.pdf?rlkey=rlaut5n5j8yjs83vx09yjq5zs&dl=0

[5] Creative Commons: Creative Commons Certificate for Educators, Academic Librarians, and Open Culture: https://certificates.creativecommons.org/cccertedu/. Bản dịch sang tiếng Việt: https://giaoducmo.avnuc.vn/cap-giay-phep-mo/chung-chi-creative-commons-cho-cac-nha-giao-duc-thu-thu-han-lam-va-van-hoa-mo-1138.html

[6] Lê Trung Nghĩa (2024): Các mô hình bền vững Tài nguyên Giáo dục Mở: https://giaoducmo.avnuc.vn/bai-viet-toan-van/cac-mo-hinh-ben-vung-tai-nguyen-giao-duc-mo-1186.html

[7] Trang thông tin điện tử của Hiệp hội vì giáo dục cho mọi người (VAEFA): Mục tiêu phát triển bền vững số 4: https://vaefa.edu.vn/cac-hoat-dong/tin-hoat-dong/44-muc-tieu-phat-trien-ben-vung-so-4.html

[8] Trang thông tin điện tử Bộ Giáo dục và Đào tạo, 14/08/2024: Kết luận của Bộ Chính trị tiếp tục thực hiện đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục và đào tạo: https://moet.gov.vn/tintuc/pages/chi-tiet.aspx?ItemID=9716

[9] Trang thông tin điện tử Bộ Giáo dục và Đào tạo, 05/11/2013: Nghị quyết số 29-NQ/TW ngày 4/11/2013 Hội nghị Trung ương 8 khóa XI về đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục và đào tạo: https://moet.gov.vn/tintuc/Pages/doi-moi-can-ban-toan-dien-gd-va-dt.aspx?ItemID=3928



(Bài viết cho Tọa đàm: ‘Chia sẻ kinh nghiệm triển khai Tài nguyên Giáo dục Mở tại các Trường Đại học ở Việt Nam’, do Câu lạc bộ Giáo dục Mở thuộc Hiệp hội các trường đại học, cao đẳng Việt Nam tổ chức tại Trường Đại học Nguyễn Tất Thành, TP. Hồ Chí Minh, ngày 01/10/2024).

Tự do tải về bài viết định dạng PDF ở địa chỉ DOI: 10.5281/zenodo.13864737

Tự do tải về bài trình chiếu tại hội thảo ở địa chỉ: https://www.dropbox.com/scl/fi/nbb3umj7dnqehn1w6yu0j/Goi-Y-Trien-Khai-1117-QD-TTg_Slides.pdf?rlkey=205csh6vo9v3xxy9c8fefjjm1&st=juj4tfty&dl=0

X (Tweet): https://twitter.com/nghiafoss/status/1841025414195491287

Xem thêm: