Thứ Năm, 5 tháng 3, 2020

Bài 1 - Dữ liệu mở là gì?


Dữ liệu mở là gì?
Dữ liệu mở là dữ liệu mà bất kỳ ai cũng có thể truy cập, sử dụng và chia sẻ. Các chính phủ, doanh nghiệp và cá nhân có thể sử dụng dữ liệu mở để mang lại những lợi ích xã hội, kinh tế và môi trường.
Trong bài này chúng ta sẽ khai thác những điều sau:
Dữ liệu mở là gì?
Dữ liệu là gì?
Điều gì làm cho dữ liệu là mở?
Vì sao chúng ta cần dữ liệu mở?
Khám phá dữ liệu mở - trong 2 phút
TS. David Tarrant, giảng viên của ODI giải thích dữ liệu là gì, điều gì làm cho nó thành mở và vì sao chúng ta cần dữ liệu mở.
Dữ liệu mở là gì?
Dữ liệu mở là dữ liệu mà bất kỳ ai cũng có thể truy cập, sử dụng và chia sẻ.
Dữ iệu mở trở nên sử dụng được khi được làm sẵn sàng ở định dạng phổ biến, máy đọc được.
Dữ liệu mở phải được cấp phép mở. Giấy phép của nó phải cho phép mọi người sử dụng dữ liệu đó theo bất kỳ cách gì họ muốn, bao gồm biến đổi, kết hợp và chia sẻ nó với những người khác, thậm chí một cách thương mại.
Từ dữ liệu thô tới thông tin mới và tri thức
Không có dữ liệu chúng ta không thể xây dựng thông tin, và không có thông tin sẽ không có tri thức mới.

Dữ liệu



Dữ liệu là tư liệu thô từ đó thông tin và tri thức có thể được dẫn xuất.
Hãy nghĩ về dữ liệu như các địa điểm, hình ảnh, mô tả, rà soát lại, và giá thành mà tạo nên cơ sở của thông tin có thể giúp cho bạn lập kế hoạch một ngày nghỉ, ví dụ thế.

Thông tin


Dữ liệu trở thành thông tin khi nó được đưa ra cho một ngữ cảnh.
Tiếp theo từ ví dụ trước, các địa điểm, hình ảnh, mô tả và giá thành tất cả có thể giúp cung cấp thông tin có liên quan tới điểm thu hút du lịch.
Bộ sưu tập và trình bày dữ liệu giúp tạo thành thông tin.

Tri thức


Tri thức là những gì được dẫn xuất từ thông tin, và được cá nhân hóa cho các nhu cầu của bạn.
Việc xây dựng tri thức là một quy trình biến thông tin thành các lựa chọn.
Xây dựng dựa vào ví dụ ở trên, biết rằng không ai trong gia đình của bạn thích chủ đề các công viên sẽ giúp bạn quyết định những địa điểm nào nên tránh trong kỳ nghỉ, và nơi nào phù hợp hơn với gia đình của bạn.
Điều gì làm cho dữ liệu thành mở?
Dữ liệu là mở nếu bất kỳ ai cũng có thể truy cập, sử dụng và chia sẻ nó.
Có vài điều đơn giản để cân nhắc khi định nghĩa tính mở:

Các hạn chế

Để dữ liệu là mở, nó không nên có các hạn chế cản trở nó khỏi việc được sử dụng theo bất kỳ cách thức cụ thể nào
Bất kỳ ai cũng nên có tự do để sử dụng, sửa đổi, kết hợp và chia sẻ dữ liệu đó, thậm chí một cách thương mại

Chi phí

Dữ liệu mở phải là tự do không mất tiền để sử dụng, nhưng điều này không ngụ ý nó phải là tự do không mất tiền để truy cập.
Thường có chi phí để tạo lập, duy trì, và xuất bản dữ liệu sử dụng được.
Lý tưởng, bất kỳ khoản phí nào để truy cập dữ liệu mở nên không nhiều hơn so với chi phí hợp lý để tái tạo lại đơn vị dữ liệu được yêu cầu.
Chi phí tái tạo lại này có xu hướng không đáng kể đối với nhiều tập hợp dữ liệu.
Dữ liệu sống và dữ liệu lớn có thể chịu các chi phí liên tục liên quan tới cung cấp dịch vụ tin cậy.

Sử dụng lại

Một khi người sử dụng có dữ liệu, họ được tự do để sử dụng, sử dụng lại và phân phối lại nó - thậm chí một cách thương mại.
Dữ liệu mở được đo lường bằng việc nó có thể được sử dụng cho những gì chứ không phải nó được làm cho sẵn sàng bằng cách nào.
Các khía cạnh như định dạng, cấu trúc và khả năng máy đọc được, tất cả làm cho dữ liệu sử dụng được nhiều hơn, và tất cả nên được cân nhắc thận trọng.
Tuy nhiên, chúng không làm cho dữ liệu đó mở hơn.
Vì sao chúng ta cần dữ liệu mở?
Dữ liệu mở có thể giúp mang lại những lợi ích khác nhau cho các chính phủ, doanh nghiệp và xã hội dân sự.

Biến đổi chính phủ


Dữ liệu mở có thể giúp làm cho các chính phủ minh bạch hơn. Nó có thể cung cấp bằng chứng rằng tiền của nhà nước được chi tiêu tốt và các chính sách đang được triển khai tốt.
Ví dụ, theo nhà hoạt động xã hội hàng đầu về chính phủ mở David Eaves, dữ liệu mở đã cho phép các công dân ở Canada tiết kiệm cho chính phủ 3,2 tỷ USD tiền quyên góp từ thiện gian lận trong năm 2010.
Dựa vào dự báo GDP của EU28+ GDP cho năm 2020, trong khi tính tới chi tiêu trung bình của chính phủ các quốc gia tương ứng, tiết kiệm chi phí cho mỗi quốc gia có thể tính được. Tổng các khoản tiết kiệm chi phí cho EU28+ trong năm 2020 là 1,7 tỷ EUR theo ước tính.
Lexbase là dịch vụ web cung cấp thông tin công cộng từ các tòa án và các cơ quan chức năng khác của Thụy Điển. Trên website các phán xét về các vụ kiện hình sự và dân sự có liên quan tới các cá nhân và công ty có thể được tìm thấy. Cơ sở dữ liệu đó được cập nhật với các phán xét và quyết định mới mỗi ngày. Website đó được sử dụng để cung cấp cho các công dân thông tin về các lĩnh vực tội phạm và khác.
Trong một ví dụ khác, theo Follow the Money (Đi theo Tiền) ở Nigeria, quy trình y hệt được sử dụng để đảm bảo công quỹ được chi tiêu để triển khai các chính sách được hứa hẹn với người dân.

Xây dựng các cơ hội kinh doanh mới


Dữ liệu mở đang mở ra các cơ hội mới cho các doanh nghiệp để kết nối với các khách hàng.
Giao thông cho Luân Đôn (Transport for London) đã phát hành dữ liệu mở các lập trình viên đã sử dụng để xây dựng hơn 800 ứng dụng giao thông.
Thomson Reuters đang sử dụng dữ liệu mở để kết nối với các khách hàng hiện đang có để cung cấp các dịch vụ tốt hơn.
Các công ty khởi nghiệp trong chương trình Khởi nghiệp của ODI bây giờ sử dụng tổng số hơn 70 người và sinh ra doanh thu hơn 4 triệu £. Xem báo cáo thường niên của ODI

Bảo vệ trái đất của chúng ta


Web đã trở thành phần chính hạ tầng của chúng ta và dữ liệu mở sẽ được xây dựng trên hạ tầng này.
Dữ liệu mở về việc liệu có thể cung cấp hệ thống cảnh báo sớm cho các thảm họa môi trường hay không, ví dụ thế.
Dữ liệu mở cũng đang giúp những người tiêu dùng hiểu được các tác động của cá nhân họ lên môi trường, và tiến hành các bước để cải thiện nó. Xem báo cáo Các lựa chọn tốt hơn làm được tốt hơn
Bạn đã sẵn sàng cho dữ liệu mở?
Có 4 điều có ích để ghi nhớ khi nghĩ về việc mở dữ liệu của bạn. Bạn có thể ghi nhớ được chúng chứ?


Dữ liệu mở là gì?
Dữ liệu mở là...
  • thông tin chúng ta bán cho các doanh nghiệp
  • dữ liệu nhìn thấy được trên Web
  • dữ liệu bất cứ ai cũng có thể truy cập, sử dụng và chia sẻ,


Đáp án đúng!
Dữ liệu mở là dữ liệu mà bất kỳ ai cũng có thể truy cập, sử dụng và chia sẻ. Dữ liệu mở cũng phải được cấp phép để cho phép sử dụng tự do không mất tiền và sẵn sàng để sử dụng thương mại.
Bạn chắc chắn chứ?
Dữ liệu mở là dữ liệu mà bất kỳ ai cũng có thể truy cập, sử dụng và chia sẻ. Dữ liệu mở cũng phải được cấp phép để cho phép sử dụng tự do không mất tiền và sẵn sàng để sử dụng thương mại.
Dữ liệu là gì?
Dữ liệu là...
  • các con số, từ ngữ, bản đồ và ảnh chụp.
  • thông tin được đăng trên Web.
  • tư liệu thô của thông tin và tri thức.


Đáp án đúng!
Dữ liệu là mức thấp nhất của tư liệu thô từ đó thông tin và tri thức có thể được dẫn xuất.
Bạn chắc chứ?
Dữ liệu là mức thấp nhất của tư liệu thô từ đó thông tin và tri thức có thể được dẫn xuất.
Điều gì làm cho dữ liệu thành mở?
Dữ liệu mở nên là...
  • được phát hành một cách chọn lọc với một khoản phí
  • tự do không có các hạn chế để sử dụng nó
  • bị hạn chế trong sử dụng nó


Đáp án đúng!
Nếu điều gì đó hạn chế sử dụng tự do dữ liệu, như hạn chế phi thương mại, thì điều này là không đủ điều kiện để là dữ liệu mở.
Bạn có chắc về điều đó chứ?
Nếu điều gì đó hạn chế sử dụng tự do dữ liệu, như hạn chế phi thương mại, thì điều này là không đủ điều kiện để là dữ liệu mở.
Vì sao chúng ta cần dữ liệu mở?
Dữ liệu mở có sức mạnh để làm những gì?
  • Làm cho các chính phủ có trách nhiệm
  • Trao sự truy cập tới các tập hợp dữ liệu khác
  • Mở khóa giá trị xã hội, môi trường và kinh tế

Đáp án đúng!
Dữ liệu mở có thể biến đổi tương tác giữa các chính phủ, doanh nghiệp và cá nhân. Nó có sức mạnh để giúp cải thiện các dịch vụ, tăng trưởng kinh tế và bảo vệ trái đất của chúng ta.
Bạn chắc chứ?
Dữ liệu mở có thể biến đổi tương tác giữa các chính phủ, doanh nghiệp và cá nhân. Nó có sức mạnh để giúp cải thiện các dịch vụ, tăng trưởng kinh tế và bảo vệ trái đất của chúng ta.
Dữ liệu mở
Dữ liệu mở là dữ liệu mà bất kỳ ai cũng có thể truy cập, sử dụng và chia sẻ.
Dữ liệu mở là tư liệu thô cho kỷ nguyên số mà, không giống như than, gỗ hay kim cương, nó có thể được bất kỳ ai và tất cả mọi người cùng một lúc sử dụng.
Bất kỳ hạn chế nào được áp đặt lên việc sử dụng dữ liệu mở sẽ giới hạn tiềm năng của nó để tạo ra giá trị mới.
Dữ liệu mở có thể mang tới những lợi ích khác nhau cho các chính phủ, doanh nghiệp và cá nhân. Nó có sức mạnh để giúp cải thiện các dịch vụ, tăng trưởng kinh tế và bảo vệ trái đất của chúng ta.
Ở bài tiếp sau, chúng ta sẽ khai thác cách thức giá trị được mở khóa trong dữ liệu mở như thế nào.


Dịch: Lê Trung Nghĩa
letrungnghia.foss@gmail.com

Thứ Tư, 4 tháng 3, 2020

Phát triển tài nguyên giáo dục mở



(Bài đăng trên tạp chí Tia Sáng số 4, xuất bản ngày 20/02/2020, các trang 24-27. Phiên bản điện tử có tại địa chỉ: http://www.tiasang.com.vn/-giao-duc/Phat-trien-tai-nguyen-giao-duc-mo-23020)
Để thực hiện mục tiêu phát triển bền vững của Liên Hiệp Quốc, giáo dục Việt Nam đã được xác định phát triển theo hướng là hệ thống mở. Tuy nhiên Việt Nam cần xác định hệ thống giáo dục mở đó gồm những thành phần nào, thành phần nền tảng của nó là gì để có thể tập trung các nguồn lực rất khiêm tốn của mình vào đâu để phát triển có hiệu quả nhất hệ thống đó.
Các tài liệu quan trọng mang tính định hướng gần đây ở Việt Nam như Nghị quyết số 29-NQ/TW năm 2013 về đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục và đào tạo, hay Luật Giáo dục số 43/2019/QH14 đều khẳng định hệ thống giáo dục quốc dân của Việt Nam là hệ thống giáo dục mở Phát triển hệ thống giáo dục mở, xây dựng xã hội học tập nhằm tạo cơ hội để mọi người được tiếp cận giáo dục, được học tập ở mọi trình độ, mọi hình thức, học tập suốt đời’. Về cơ bản, tương tự như với mục tiêu phát triển bền vững 4 - SDG 4 (Sustainable Development Goal 4) của Liên Hiệp Quốc tới năm 2030 về giáo dục, nhằm: ‘đảm bảo giáo dục chất lượng bao hàm toàn diện và công bằng và thúc đẩy các cơ hội học tập suốt đời cho tất cả mọi người’[1]. 
 
A. Xác định thành phần nền tảng để tác động hiệu quả nhất có thể
Định nghĩa tài nguyên giáo dục mở (TNGDM) gần đây nhất trong tài liệu Khuyến cáo TNGDM của UNESCO cuối năm 2019 gồm 2 mục sau[2]:
  • TNGDM là các tư liệu dạy, học và nghiên cứu ở bất kỳ định dạng và phương tiện nào mà nằm trong phạm vi công cộng hoặc có bản quyền đã được phát hành theo một giấy phép mở, cho phép những người khác không mất chi phí để truy cập, sử dụng lại, tái mục đích, tùy biến thích nghi và phân phối lại.
  • Giấy phép mở tham chiếu tới giấy phép tôn trọng các quyền sở hữu trí tuệ của người nắm giữ bản quyền và đưa ra sự cho phép trao cho công chúng các quyền để truy cập, sử dụng lại, tái mục đích, tùy biến thích nghi và phân phối lại các tư liệu giáo dục.
Các cuộc hội thảo gần đây về giáo dục mở (GDM) và tài nguyên giáo dục mở (TNGDM) ở Việt Nam đã cho thấy khái niệm hệ thống GDM được hiểu theo nghĩa rộng với nhiều khía cạnh của “mở” như: mở cho mọi đối tượng học; mở về thời gian học; mở về không gian học; mở về phương pháp giảng dạy - đào tạo; mở về quan hệ đào tạo xuyên quốc gia; mở về các loại hình học tập; mở rộng các công nghệ học tập và công nghệ thông tin; bên cạnh TNGDM[3]. Tương tự, khái niệm “Giáo dục Mở” có thể được gắn với văn hóa phát triển trong bối cảnh tự chủ giáo dục, hội nhập quốc tế và toàn cầu hóa[4].
Thông tin từ các hội thảo đó cho thấy khái niệm GDM được thế giới thừa nhận rộng rãi nhất cho tới nay là trong Tuyên ngôn Giáo dục Mở Cape Town năm 2007 với TNGDM là thành phần nền tảng của GDM[5]. Điều này là tương tự như với định nghĩa GDM của Liên minh Xuất bản Học thuật và Tài nguyên Hàn lâm - SPARC (Scholarly Publishing and Academic Resources Coalition)[6]. 
 
B. Mục tiêu trong Khuyến cáo tài nguyên giáo dục mở của UNESCO
Dù được thừa nhận rộng rãi rằng GDM không chỉ giới hạn trong TNGDM nhưng GDM và TNGDM luôn đi liền với nhau và nhận thức TNGDM là nền tảng của GDM được chứng minh qua các cột mốc lịch sử phát triển của hai khái niệm đó trong chương trình nghị sự quốc tế[7], từ Tuyên ngôn Giáo dục Mở Cape Town năm 2007 cho tới các hội nghị TNGDM thế giới năm 2012, năm 2017, và gần đây nhất là ngày 25/11/2019, tại hội nghị toàn thể UNESCO lần thứ 40 ở Paris, nước Pháp, nơi 193 quốc gia đã phê chuẩn Khuyến cáo TNGDM[8], nó khuyến cáo các quốc gia thành viên UNESCO áp dụng các điều khoản của Khuyến cáo nhằm phát triển TNGDM và hướng tới việc hoàn thành các SDG của Liên hiệp quốc tới năm 2030, đặc biệt là SDG 4 về giáo dục như được nêu ở trên ở từng quốc gia theo năm khía cạnh mục tiêu, gồm:
  1. Xây dựng năng lực: phát triển năng lực của tất cả các bên tham gia đóng góp chính cho giáo dục để tạo lập, truy cập, sử dụng lại, tái mục đích, tùy biến thích nghi, và phân phối lại TNGDM, cũng như để sử dụng và áp dụng các giấy phép mở theo cách thức ổn định với pháp luật bản quyền quốc gia và các bổn phận quốc tế;
  2. Phát triển chính sách hỗ trợ: khuyến khích các chính phủ, các nhà chức trách và các cơ sở giáo dục áp dụng thường xuyên khung công việc hỗ trợ cho việc cấp phép mở cho các tư liệu giáo dục và nghiên cứu được nhà nước cấp vốn, phát triển các chiến lược để xúc tác cho sử dụng và tùy biến thích nghi TNGDM để hỗ trợ cho giáo dục chất lượng cao, bao hàm toàn diện và học tập suốt đời cho tất cả mọi người, được nghiêu cứu thích hợp trong lĩnh vực này hỗ trợ;
  3. Truy cập hiệu quả, bao hàm toàn diện và công bằng tới TNGDM chất lượng: hỗ trợ áp dụng các chiến lược và chương trình, bao gồm qua các giải pháp công nghệ thích hợp để đảm bảo TNGDM trong bất kỳ phương tiện nào được chia sẻ ở các định dạng và các tiêu chuẩn mở để tối đa hóa truy cập công bằng, đồng sáng tạo, giám tuyển, và khả năng tìm thấy được, bao gồm cho những người từ các nhóm bị tổn thương và những người khuyết tật;
  4. Nuôi dưỡng sự sáng tạo các mô hình bền vững cho TNGDM: hỗ trợ và khuyến khích sáng tạo các mô hình bền vững cho TNGDM ở các mức quốc gia, khu vực và cơ sở, và lên kế hoạch và kiểm thử thí điểm các dạng thức bền vững mới của giáo dục và học tập;
  5. Khai thác và tạo thuận lợi cho hợp tác quốc tế: hỗ trợ hợp tác quốc tế giữa các bên tham gia đóng góp để tối thiểu hóa đúp bản không cần thiết trong các đầu tư phát triển TNGDM và để phát triển kho toàn cầu các tư liệu giáo dục đa dạng, phù hợp với địa phương, nhạy cảm với giới tính, truy cập được trong nhiều ngôn ngữ và định dạng.
C. Hướng dẫn triển khai các hoạt động liên quan tới Khuyến cáo TNGDM của UNESCO
Với khía cạnh mục tiêu ‘Xây dựng năng lực’ có liên quan tới ‘phát triển năng lực của tất cả các bên tham gia đóng góp chính cho giáo dục để tạo lập, truy cập, sử dụng lại, tái mục đích, tùy biến thích nghi, và phân phối lại TNGDM, cũng như để sử dụng và áp dụng các giấy phép mở theo cách thức ổn định với pháp luật bản quyền quốc gia và các bổn phận quốc tế’ và với sự trợ giúp không thể thiếu của các công nghệ thông tin và truyền thông (CNTT-TT), UNESCO đặc biệt quan tâm tới năng lực CNTT-TT của các giảng viên, những người trước hết cần có các năng lực và kỹ năng TNGDM để có thể chiếm lĩnh được tri thức dễ dàng nhất mà không phải đối mặt với các rào cản cả về tài chính, pháp lý và kỹ thuật, để rồi từ đó đào sâu tri thức và sáng tạo tri thức. Không là ngẫu nhiên UNESCO đã xuất bản tài liệu ‘Khung năng lực CNTT-TT cho các giảng viên’ phiên bản 3 năm 2018 với mục tiêu cao nhất nhằm biến các giảng viên thành những người sáng tạo với cấu trúc Khung gồm 3 mức độ sử dụng sư phạm CNTT-TT, 6 khía cạnh thực hành nghề giảng viên, 18 kỹ năng về năng lực CNTT-TT của các giảng viên, như được minh họa trên Hình 1.
Hình 1. Các thành phần của ICT CFT v3 của UNESCO năm 2018[9]
Tới nay, khoảng 20 quốc gia, tổ chức/cơ sở giáo dục trên thế giới đã và đang phát triển khung năng lực này. Điều quan trọng là tất cả các tài nguyên được sử dụng để xây dựng các khung năng lực đó đều được cấp phép mở và đều là TNGDM, cho phép bất kỳ ai tùy biến thích nghi/sửa đổi chúng cho phù hợp với ngữ cảnh của bất kỳ quốc gia và/hoặc cơ sở nào khác muốn phát triển khung năng lực tương tự cho mình[10]. Điều này có nghĩa là nếu chính phủ hay bất kỳ tổ chức/cơ sở giáo dục nào của Việt Nam muốn xây dựng cho mình khung năng lực CNTT-TT đều không phải làm từ đầu, từ không có gì cả, mà sẽ xây dựng trên cơ sở ‘đứng trên vai những người khổng lồ’.
Với khía cạnh ‘Phát triển chính sách hỗ trợ’, UNESCO và Khối thịnh vượng chung về học tập - COL (Commonwealth of Learning) đã trình bày nó trong tài liệu ‘Các hướng dẫn phát triển chính sách TNGDM’ được xuất bản năm 2019. Phát triển chính sách TNGDM là một quy trình với tầm nhìn dài hạn gồm 7 pha được triển khai tuần tự như trên Hình 2, gồm: (1) Hiểu tiềm năng của TNGDM; (2) Xác định tầm nhìn chính sách TNGDM; (3) Lên khung chính sách TNGDM; (4) Tiến hành phân tích khoảng cách; (5) Thiết kế kế hoạch tổng thể; (6) Lập kế hoạch điều hành và triển khai; (7) Khởi xướng chính sách TNGDM. Từng trong số 7 pha đó đều được chi tiết hóa để bất kỳ ai cũng có thể dựa vào và tùy biến thích nghi chúng theo ngữ cảnh cụ thể của quốc gia/cơ sở giáo dục khi phát triển chính sách TNGDM cho mình. 
Hình 2: Quy trình xây dựng chính sách OER với 7 pha[11]
Ví dụ, pha thứ 5 trong tổng số 7 pha là thiết kế kế hoạch tổng thể với 8 bước: (1) Áp dụng khung cấp phép mở; (2) Tích hợp TNGDM vào chương trình giảng dạy; (3) Đảm bảo phát triển, lưu trữ và khả năng truy cập TNGDM; (4) Điều chỉnh phù hợp các thủ tục đảm bảo chất lượng; (5) Hỗ trợ xây dựng năng lực và nâng cao nhận thức về TNGDM; (6) Khuyến khích các mô hình kinh doanh bền vững và khởi xướng các chiến lược cấp vốn; (7) Thúc đẩy nghiên cứu dựa vào bằng chứng về tác động của TNGDM; và (8) Có cơ chế điều hành cho chính sách TNGDM. Mỗi bước thành phần đều được chi tiết hóa theo các nội dung cụ thể bằng các câu hỏi như: (1)Mục tiêu là gì? (2) Các hoạt động là gì? (3) Ai làm? (4) Đo đếm thành quả các hoạt động như thế nào? Bạn hoàn toàn có thể bổ sung các tiêu chí để so sánh hiện trạng của quốc gia/cơ sở của bạn với các ví dụ/trường hợp điển hình trên thế giới như: (5) các ví dụ điển hình trên thế giới; và (6) hiện trạng ở Việt Nam[12].
Các hướng dẫn và khuyến cáo ở trên cho thấy tính khả thi để Việt Nam lên kế hoạch triển khai các hoạt động xây dựng năng lực và phát triển chính sách hỗ trợ cho TNGDM.

D. Một vài gợi ý cho Việt Nam
Phát triển TNGDM là một vấn đề lớn, quan trọng, liên quan tới nhiều đối tượng trong xã hội và cần có tầm nhìn dài hạn, ngày càng sự quan tâm nhiều hơn ở Việt Nam, dù với các mức độ khác nhau đối với các đối tượng khác nhau trong xã hội chỉ mới bắt đầu trong thời gian rất gần đây.
Các văn bản chỉ đạo của Bộ Giáo dục Đào tạo như Công văn số 4301/BGDĐT-GDTX ngày 20/09/2019 về việc xây dựng và phát triển TNGDM của Bộ Giáo dục và Đào tạo rõ ràng cột mốc tích cực để phát triển TNGDM ở Việt Nam, dù chúng chưa nằm trong quy trình bài bản với 7 pha như được khuyến cáo, ví dụ như, để có thể hạn chế các xung đột với các luật và văn bản quy phạm pháp luật hiện hành khi phát triển chính sách TNGDM.
Ngay trong năm 2019, đã có thể kể tới vài sự kiện/hoạt động điển hình có liên quan tới phát triển TNGDM, như: hội thảo ‘Vai trò của trường đại học với việc xây dựng TNGDM, đáp ứng yêu cầu học tập suốt đời của người lớn(tháng 08/2019) do Bộ Giáo dục và Đào tạo, Hội Khuyến học Việt Nam và Trường Đại học Tôn Đức Thắng phối hợp tổ chức) [13]; Công văn số 4301/BGDĐT-GDTX về việc xây dựng và phát triển TNGDM[14], theo đó Bộ “đề nghị Thủ trưởng các đại học, học viện, trường đại học, trường cao đẳng sư phạm (gọi chung là nhà trường) triển khai các nội dung” liên quan tới TNGDM; hội thảo ‘Xây dựng và khai thác TNGDM[15]’ tại Trường Đại học Thăng Long, Hà Nội (tháng 10/2019) do Hiệp hội các trường đại học, cao đẳng Việt Nam (AVU&C) cùng với Hội Thư viện Việt Nam (VLA), Hội Tin học Việt Nam (VAIP), Câu lạc bộ Phần mềm Tự do Nguồn Mở Việt Nam (VFOSSA), Câu lạc bộ các Khoa - Viện - Trường CNTT-TT Việt Nam (FISU), và Khoa Thông tin - Thư viện của ĐHKHXH-ĐHQGHN đã đồng tổ chức; đề tài ‘Xây dựng nền giáo dục theo hướng mở ở Việt Nam theo tinh thần Nghị quyết số 29-NQ/TW về đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục và đào tạo’ do Ban Tuyên giáo Trung ương chủ trì là một trong số ít các đề tài nghiên cứu khoa học có liên quan tới GDM và TNGDM ở Việt Nam cho tới thời điểm hiện tại…
Bên cạnh các hoạt động nâng cao nhận thức, Ban Tư vấn Phát triển Giáo dục Mở (OEDAB) đã phối hợp cùng với các đơn vị trong AVU&C triển khai suốt trong năm 2019 tổng cộng 26 khóa tập huấn thực hành khai thác TNGDM ở dạng huấn luyện các huấn luyện viên cho hơn 500 cán bộ thư viện, cán bộ/nhân viên CNTT và giảng viên các bộ môn/khoa/phòng/trung tâm của hơn 70 trường đại học, cao đẳng và dạy nghề khắp cả nước[16].
Các hoạt động được nêu ở trên tuy hữu ích và thiết thực nhưng so với những gì có trong Khuyến cáo TNGDM của UNESCO và các hạng mục chi tiết của 5 khía cạnh mục tiêu của thì các hoạt động đó còn rất khiêm tốn, cả về cường độ, mức độ, quy mô và thành phần các bên tham gia đóng góp cho TNGDM.
So sánh với các tài liệu gần đây của UNESCO có liên quan tới TNGDM như được nêu ở phần trên đã chỉ ra cho chúng ta thấy các hoạt động về TNGDM ở Việt Nam mới đang ở giai đoạn khởi đầu và rất nhiều công việc cần phải làm với sự tham gia của rất nhiều đối tượng trong xã hội để có thể thay đổi từ văn hóa đóng/khép kín sang văn hóa chia sẻ mở tri thức còn rất yếu hiện nay, kể cả trong các giảng viên/các nhà giáo dục và giới hàn lâm học thuật nói chung.
Và cuối cùng, không chỉ là GDM và TNGDM, mà còn là khoa học mở như những gì UNESCO đang chuẩn bị cho ‘Khuyến cáo Khoa học Mở[17]’dự kiến sẽ được các quốc gia thành viên UNESCO đề xuất phê chuẩn vào năm 2021 và sẽ nằm trong khuyến cáo mới của UNESCO về TNGDM. Việt Nam có bắt kịp xu thế khoa học mở của thế giới hay không trong tương lai, có lẽ phụ thuộc rất nhiều vào việc ứng dụng và phát triển TNGDM của Việt Nam ngay từ bây giờ và càng sớm càng tốt.
Để hòa chung vào dòng chảy của thế giới và hướng tới hoàn thành SDG 4, phát triển TNGDM phải nằm trong chiến lược giáo dục Việt Nam giai đoạn 2021-2030! 
 
E. Các chú giải tham chiếu
[1] Lê Trung Nghĩa biên dịch, 2019: Các hướng dẫn phát triển các chính sách tài nguyên giáo dục mở: https://www.dropbox.com/s/458ak3vspexdzhj/371129eng_Vi-08122019.pdf?dl=0, UNESCO-COL xuất bản năm 2019, CC BY-SA 3.0, phần lời nói đầu, trang 5-6.
[2] Lê Trung Nghĩa biên dịch, 2019: Khuyến cáo phác thảo về tài nguyên giáo dục mở. UNESCO xuất bản tháng 10/2019: https://www.dropbox.com/s/o6lml26uw88ear2/DCPMS_U1911920_Vi-04122019.pdf?dl=0, giấy phép CC BY-SA 3.0, trang 6.
[3] GS.TS Phạm Tất Dong, Hội Khuyến học Việt Nam: Trường đại học trong sự nghiệp xây dựng xã hội học tập, góp phần đào tạo nhân lực chất lượng cao trước bối cảnh phát triển của cách mạng công nghiệp lần thứ tư. Kỷ yếu hội thảo: Tái cấu trúc hệ thống giáo dục đại học và giáo dục nghề nghiệp của Việt Nam cho các thập niên đầu của thế kỷ XXI, tập 3, trang 1-22.
[4] TS. Vũ Ngọc Hoàng, Hiệp hội các trường đại học, cao đẳng Việt Nam: Về hệ thống giáo dục mở: Kỷ yếu hội thảo Hệ thống giáo dục mở trong bối cảnh tự chủ giáo dục và hội nhập quốc tế, tập 3, trang 19-27
[6] Lê Trung Nghĩa biên dịch, 2018: Giáo dục Mở (theo Liên minh Xuất bản Học thuật và Tài nguyên Hàn lâm – SPARC), http://vnfoss.blogspot.com/2018/04/giao-duc-mo-theo-lien-minh-xuat-ban-hoc.html
[7] Lê Trung Nghĩa, 2019: OER- Các cột mốc quan trọng của giáo dục mở và tài nguyên giáo dục mở trong chương trình nghị sự quốc tế: http://tiasang.com.vn/-doi-moi-sang-tao/OER-Cac-cot-moc-quan-trong-cua-giao-duc-mo-va-tai-nguyen-giao-duc-mo-trong-chuong-trinh-nghi-su-quoc-te-15217
[8] Lê Trung Nghĩa biên dịch, 2019: Khuyến cáo phác thảo về tài nguyên giáo dục mở. UNESCO xuất bản tháng 10/2019: https://www.dropbox.com/s/o6lml26uw88ear2/DCPMS_U1911920_Vi-04122019.pdf?dl=0, giấy phép CC BY-SA 3.0.
[9] Lê Trung Nghĩa biên dịch, 2018: Khung năng lực CNTT-TT cho giảng viên của UNESCO: https://www.dropbox.com/s/xgnx8ji27w48fuc/265721e_Vi-27112018.pdf?dl=0, CC BY-SA, trang 2
[10] ICT-CFT Aligned Resource: https://www.TNGDMcommons.org/hubs/UNESCO#ict-cft-aligned-resource, truy cập ngày 07/01/2020.
[11] Lê Trung Nghĩa biên dịch, 2019: Các hướng dẫn phát triển các chính sách Tài nguyên Giáo dục Mở: https://www.dropbox.com/s/458ak3vspexdzhj/371129eng_Vi-08122019.pdf?dl=0, CC BY-SA, tr. 22
[12] Lê Trung Nghĩa, 2019: Các thành phần cơ bản trong kế hoạch tổng thể xây dựng chính sách tài nguyên giáo dục mở - TNGDM (Open Educational Resources): https://giaoducmo.avnuc.vn/bai-viet-toan-van/cac-thanh-phan-co-ban-trong-ke-hoach-tong-the-xay-dung-chinh-sach-tai-nguyen-giao-duc-mo-oer-open-educational-resources-93.html, CC BY-SA 4.0.
[13] VOH: Phát triển tài nguyên giáo dục mở, đáp ứng yêu cầu học tập suốt đời của người lớn: https://voh.com.vn/giao-duc/phat-trien-tai-nguyen-giao-duc-mo-dap-ung-yeu-cau-hoc-tap-suot-doi-cua-nguoi-lon-330327.html
[14] Công văn số 4301/BGDĐT-GDTX ngày 20/09/2019 do Bộ trưởng Phùng Xuân Nhạ ký về việc xây dựng và phát triển tài nguyên giáo dục mở: https://www.dropbox.com/s/s53gavq29rvnpym/1569234901196_4301_BGDDT_GDTX.signed.pdf?dl=0
[15] Trang Giáo dục Mở - Tài nguyên Giáo dục Mở của AVU&C: Tài liệu Hội thảo “Xây dựng và khai thác tài nguyên giáo dục mở”, 4/10/2019: https://giaoducmo.avnuc.vn/hoi-thao/tai-lieu-hoi-thao-xay-dung-va-khai-thac-tai-nguyen-giao-duc-mo-44.html
[16] Trang Giáo dục Mở - Tài nguyên Giáo dục Mở của AVU&C: Các lớp tập huấn thực hành ‘Khai thác tài nguyên giáo dục mở tới hết năm 2019’: https://giaoducmo.avnuc.vn/tap-huan/cac-lop-tap-huan-thuc-hanh-khai-thac-tai-nguyen-giao-duc-mo-toi-het-nam-2019-101.html
[17] Lê Trung Nghĩa biên dịch, 2019: UNESCO đi đầu trong phát triển công cụ thiết lập tiêu chuẩn mới toàn cầu về khoa học mở: https://giaoducmo.avnuc.vn/khoa-hoc-mo/unesco-di-dau-trong-phat-trien-cong-cu-thiet-lap-tieu-chuan-moi-toan-cau-ve-khoa-hoc-mo-95.html


Giấy phép nội dung: CC BY-SA 4.0
Lê Trung Nghĩa 

PS: Tải về bài viết ở định dạng PDF ở địa chỉ:
https://www.dropbox.com/s/ny1xn035zyun7xn/OER_Dev_for_SDG4_Blog.pdf?dl=0 

Thứ Ba, 3 tháng 3, 2020

‘Việc cấp phép mở của các tư liệu đọc cấp tiểu học: Các cân nhắc và khuyến cáo’ - bản dịch sang tiếng Việt



Là tài liệu của các tác giả Sofia Cozzolino từ Reading within Reach và Cable Green từ Creative Commons viết với sự hỗ trợ của những người Mỹ thông qua Cơ quan Phát triển Quốc tế Hoa Kỳ (USAID). Tài liệu đã được chuẩn bị cho việc xây dựng bằng chứng và hỗ trợ đổi mới sáng tạo của USAID để cải thiện hỗ trợ đọc ở cấp tiểu học. Tài liệu được xuất bản tháng 10/2019, mang giấy phép Creative Commons Ghi công 4.0 Quốc tế (CC BY 4.0).
Mục đích của tài liệu này là để cung cấp thông tin về bản quyền và cấp phép mở cho các bên tham gia đóng góp khác nhau có liên quan tới các chương trình cải thiện việc đọc, đặc biệt những ai được USAID hỗ trợ. Tài liệu này trả lời cho các câu hỏi phổ biến và cung cấp các khuyến cáo đặc thù cho các chính phủ các quốc gia chủ nhà, các nhân viên của các nhà tài trợ, các đối tác triển khai, các nhà xuất bản, và những người khác sao cho họ có thể cộng tác sử dụng các giấy phép Creative Commons.


Tự do tải về bản dịch sang tiếng Việt có 65 trang tại địa chỉ:


Blogger: Lê Trung Nghĩa
letrungnghia.foss@gmail.com

Thứ Hai, 2 tháng 3, 2020

Khóa bồi dưỡng ‘Thực hành khai thác tài nguyên giáo dục mở’ ở trường Đại học Thăng Long


Khóa thực hành OER ởTLU, 03-04/03/2020

Chào mừng Tuần lễ Giáo dục Mở Toàn cầu năm 2020 sẽ diễn ra trong các ngày 02-06/03/2020;
Trong các ngày 03-04/03/2020, Hiệp hội các trường đại học, cao đẳng Việt Nam đã phối hợp cùng với trường Đại học Thăng Long tổ chức khóa bồi dưỡng ‘Thực hành khai thác tài nguyên giáo dục mở’ cho 20 học viên là các cán bộ giảng viên của nhà trường.


Tự do tải về tài liệu khóa học tại địa chỉ:

Blogger: Lê Trung Nghĩa

Chủ Nhật, 1 tháng 3, 2020

Creative Commons và USAID cộng tác trong Hướng dẫn Cấp phép Mở


Creative Commons and USAID Collaborate on Guide to Open Licensing
By Cable Green, January 13, 2020
Bài được đưa lên Internet ngày: 13/01/2020


Creative Commons thường xuyên làm việc với các chính phủ, các quỹ, và các cơ sở khác khắp trên thế giới để giúp họ tạo lập, áp dụng, và triển khai các chính sách cấp phép mở. Các chính sách đó thường yêu cầu những người nhận trợ cấp cấp phép mở và chia sẻ tự do không mất tiền tác phẩm họ sáng tạo với các vốn trợ cấp. Chúng tôi làm điều này để đảm bảo các tác phẩm được nhà nước (và tư nhân) cấp vốn được cấp phép mở và sẵn sàng tự do không mất tiền để công chúng truy cập, sử dụng, và pha trộn.

Trong 2 năm qua, chúng tôi đã và đang làm việc với USAID, Liên minh Sách Toàn cầu (Global Book Alliance), Thư viện Số Toàn cầu (Global Digital Library), và Mạng Đọc Toàn cầu (Global Reading Network) trong các chương trình đọc của trẻ nhỏ, với trọng tâm để giúp cho các chương trình đó nhận thức được tiềm năng của việc cấp phép mở để gia tăng tầm với và hiệu quả của các tài nguyên thúc đẩy năng lực của thanh niên. Trong quá trình làm công việc đó, tất cả chúng tôi đã nhận thấy rằng các tư liệu bổ sung cần phải được tạo ra cho những người nhận trợ cấp của các chương trình để không chỉ hiểu được các yêu cầu trợ cấp của cấp phép mở, mà còn tiến hành các bước thực tế triển khai các giấy phép mở. Để đáp ứng được nhu cầu này, chúng tôi đã cộng tác với USAID và Mạng Đọc Toàn cầu để viết và cùng xuất bản Cấp phép Mở của các Tư liệu Đọc Cấp Tiểu học: Các cân nhắc và Khuyến cáo (Open Licensing of Primary Grade Reading Materials: Considerations and Recommendations), một hướng dẫn cho các giấy phép mở, bao gồm giới thiệu những điều cơ bản của bản quyền, tổng quan về các lợi ích của việc cấp phép mở, và các gợi ý chọn và triển khai các giấy phép mở.
Tài liệu được cấp giấy phép CC BY 4.0, ngụ ý nó có thể được công chúng, bao gồm cả các cơ quan chính phủ, những người làm chính sách, và các cơ sở làm trợ cấp xem xét đào tạo các nhân viên của họ về những lợi ích của tính mở và các thực hành tốt nhất trong triển khai cấp phép mở.
Các cộng tác như thế này là vài trogn số các công việc quan trọng và đáng thưởng nhất mà CC tham gia. Nếu bạn có liên quan với chính phủ hoặc cơ sở có thể sử dụng sự trợ giúp của chúng tôi để tạo ra một trường hợp về cấp phép mở, vui lòng liên hệ với chúng tôi ở info@creativecommons.org.
Creative Commons regularly works with governments, foundations, and other institutions worldwide to help them create, adopt, and implement open licensing policies. These policies typically require grant recipients to openly license and freely share the work they create with grant funds. We do this to ensure publicly (and privately) funded works are openly licensed and freely available to be accessed, used, and remixed by the public.
Over the past two years, we’ve been working with USAID, the Global Book Alliance, the Global Digital Library, and the Global Reading Network on early childhood reading programs, with a focus on helping these programs to recognize the potential of open licensing to increase the reach and efficacy of resources that promote youth literacy. In the course of doing that work, we all realized that additional materials needed to be created for grantees of the programs to not only understand the open license grant requirements, but to undertake the practical steps of implementing open licenses. To respond to that need, we collaborated with USAID and the Global Reading Network to write and co-publish Open Licensing of Primary Grade Reading Materials: Considerations and Recommendations, a guide to open licenses that includes an introduction to the basics of copyright, an overview of the benefits of open licensing, and suggestions for choosing and implementing open licenses.
The document is licensed under CC BY 4.0, meaning that it can be freely used by the public, including government agencies, policy makers, and grant making institutions looking to educate their constituencies about the benefits of openness and best practices in implementing open licensing.
Collaborations like this are some of the most important and rewarding work CC is involved with. If you’re affiliated with a government or institution that could use our help in making the case for open licensing, please get in touch with us at info@creativecommons.org.
Dịch: Lê Trung Nghĩa
letrungnghia.foss@gmail.com