Conceptual Frameworks Guide
Deconstructing the ‘Concept’
Jabareen (2009) đưa ra một cách tiếp cận khác về khung khái niệm. Giống như Passey, Jabareen nhấn mạnh rằng các quan điểm đa ngành thường cần thiết để giải quyết các câu hỏi nghiên cứu đương đại, và xem các phương pháp định tính là cách tốt nhất để điều tra sự phức tạp bằng cách kết hợp các lĩnh vực kiến thức khác nhau.
Cách tiếp cận của Jabareen đối với khung khái niệm là xem chúng hướng tới sự hiểu biết sâu sắc hơn là một lời giải thích lý thuyết (điều mà các phương pháp định lượng cung cấp). Theo Deleuze & Guattari (1991:15-21), Jabareen (2009) đưa ra một cách giải thích hậu cấu trúc về 'khái niệm' như là mang tính lịch sử và được định nghĩa bởi các thành phần cấu tạo và mối quan hệ của chúng với các khái niệm khác.
Khung khái niệm không chỉ đơn thuần là một tập hợp các khái niệm mà là một cấu trúc trong đó mỗi khái niệm đóng một vai trò không thể thiếu.
Khung khái niệm không cung cấp một bối cảnh nhân quả/phân tích mà là một cách tiếp cận diễn giải đối với thực tại xã hội.
Thay vì đưa ra một lời giải thích lý thuyết, như các mô hình định lượng, khung khái niệm cung cấp sự hiểu biết.
Khung khái niệm không cung cấp kiến thức về “sự thật hiển nhiên” mà là “sự diễn giải mềm dẻo về ý định”.
Khung khái niệm mang tính chất bất định và do đó không cho phép chúng ta dự đoán kết quả.
Khung khái niệm có thể được phát triển và xây dựng thông qua quá trình phân tích định tính.
Nguồn dữ liệu bao gồm nhiều lý thuyết định hướng theo từng lĩnh vực, trở thành dữ liệu thực nghiệm của phân tích khung khái niệm. Mặc dù phân tích khung khái niệm tạo ra các lý thuyết hoặc khung khái niệm từ các khối kiến thức đa ngành, nhưng siêu tổng hợp, một sự tổng hợp có hệ thống các phát hiện từ các nghiên cứu định tính, tìm cách tạo ra các diễn giải mới mà trong đó có sự đồng thuận trong một lĩnh vực nghiên cứu cụ thể.
Giống như Passey, Jabareen (2009) nhấn mạnh tính đa nghĩa của các khung khái niệm và xem đây là cách để kết hợp các ý tưởng quan trọng từ các ngành hoặc lĩnh vực khác nhau. Tuy nhiên, một điểm khác biệt là phản ứng của Jabareen đối với sự mơ hồ hoặc không rõ ràng xung quanh các khung khái niệm là dành chúng cho các nỗ lực định tính nhằm rút ra sự hiểu biết từ nhiều “văn bản” thông qua một quá trình lý thuyết hóa.
Quá trình này được trình bày như sau:
Lập bản đồ các nguồn dữ liệu đã chọn
Đọc kỹ và phân loại dữ liệu đã chọn
Xác định và đặt tên các khái niệm
Phân tích cấu trúc và phân loại các khái niệm
Tích hợp các khái niệm
Tổng hợp, tái tổng hợp và làm cho tất cả có ý nghĩa
Xác thực khung khái niệm
Suy nghĩ lại về khung khái niệm
Quá trình này gợi nhớ đến một đánh giá tài liệu có hệ thống, nhưng tập trung vào việc tinh chỉnh các khung khái niệm phát sinh từ văn bản hơn là tóm tắt hiện trạng của một lĩnh vực nghiên cứu. Khi nghiên cứu sinh tiến sĩ được yêu cầu viết một bài đánh giá tài liệu ngay từ đầu dự án, ý tưởng phát triển một khung khái niệm như một phần của bài đánh giá này thường chỉ được ngụ ý. (Như chúng ta đã thấy ở trên, thường không có yêu cầu phải trình bày khung khái niệm của mình hoặc thậm chí dành nhiều thời gian để phân tích vấn đề của nó.) Việc làm rõ mối liên hệ giữa các nguồn văn bản và các yếu tố trong khung khái niệm của mình sẽ giúp ích cho cả nhà nghiên cứu và (cuối cùng) người hướng dẫn và giám khảo.
Weaver-Hart (1988) lập luận rằng các khung khái niệm không rõ ràng vì chính thuật ngữ này đã mang lại một cái gì đó trừu tượng (khái niệm) với một cái gì đó cụ thể (một khung). Công trình của Jabareen (2009) có thể được xem như một nỗ lực để thu hẹp khoảng cách này bằng cách nhấn mạnh mối quan hệ chặt chẽ giữa các khái niệm và nền tảng văn bản (cụ thể) của chúng.
Một cách tiếp cận phân tích cấu trúc sẽ không phù hợp với mọi dự án (mặc dù việc tuân theo khuôn khổ này có thể tạo ra những quan điểm thú vị). Tuy nhiên, sự chú trọng đến chi tiết mà Jabareen (2009) mang lại cho vai trò của văn bản trong việc định hình một khung khái niệm về mặt định tính nhìn chung là hữu ích, đặc biệt nếu người ta hiểu những thứ như phỏng vấn, tuyên bố cá nhân, tài nguyên nghe nhìn và phương tiện truyền thông tương tác như là các “văn bản”.
---------------------------------------------------
Thừa nhận:
Nội dung này được dịch từ tài liệu của các tác giả: Farrow, R. (ed.), Weller, M., Pitt, R., Iniesto, F., Algers, A., Almousa, S., Baas, M., Bentley, P., Bozkurt, A., Butler, W., Cardoso, P., Chtena., N., Cox, G., Czerwonogora, A., Dabrowski, M.T., Derby, R., DeWaard, H., Elias, T., Essmiller, K., Funk, J., Hayman, J., Helton, E., Huth, K., Hutton, S. C., Iyinolakan, O., Johnson, K. R., Jordan, K., Kuhn, C., Lambert, S., Mittelmeier, J., Nagashima, T., Nerantzi, C., O’Reilly, J., Paskevicius, M., Peramunugamage, A., Pete, J., Power, V., Pulker, H., Rabin, E., Rets, I., Roberts, V., Rodés, V., Sousa, L., Spica, E., Vizgirda, V., Vladimirschi, V., & Witthaus, G. (2023). Sổ tay Nghiên cứu Mở của GO-GN.
Mạng lưới Cao học Toàn cầu về Tài nguyên Giáo dục Mở / Trung tâm Nghiên cứu Giáo dục Mở.
https://go-gn.net/gogn_outputs/open-research-handbook/.
Giấy phép nội dung: CC BY 4.0 Quốc tế.
---------------------------------------------------
VỀ TRANG: HƯỚNG DẪN KHUNG KHÁI NIỆM
---------------------------------------------------
Xem thêm:


Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét
Lưu ý: Chỉ thành viên của blog này mới được đăng nhận xét.