Thứ Hai, 6 tháng 8, 2018

Thông cáo báo chí của Ủy ban châu Âu - đề xuất 100 tỷ € cho nghiên cứu và cách tân giai đoạn 2021-2027 thông qua chương trình Horizon Europe

Thông cáo báo chí của Ủy ban châu Âu: ‘Ngân sách của Liên minh châu Âu (EU): Ủy ban đề xuất chương trình Nghiên cứu và Cách tân tham vọng nhất từ trước tới nay’ được đưa ra tại Brussels ngày 07/06/2018 với ngân sách dài hạn tiếp theo của EU giai đoạn 2021-2027Ủy ban đang đề xuất 100 tỷ € (khoảng 120 tỷ USD) cho nghiên cứu và cách tân theo Khoa học Mở thông qua chương trình Horizon Europe.


EU cũng đã đầu tư gần 80 tỷ trong giai đoạn 2014-2020 cho nghiên cứu và cách tân thông qua chương trình Horizon 2020; trong số đó 30 tỷ là cho giai đoạn 2018-2020.


Bạn có thể tự do tải về bản dịch sang tiếng Việt có 7 trang tại địa chỉ:


Blogger: Lê Trung Nghĩa

Chủ Nhật, 5 tháng 8, 2018

Thu hút các bên liên quan đến lợi ích công cộng vào Giáo dục mở


Engaging Public Interest Stakeholders in Open Education
By Camille Thomas
Tuesday, July 10, 2018 News
Bài được đưa lên Internet ngày: 10/07/2018
Đối với nhiều người trong chúng ta, các bên tham gia đóng góp chính cho giáo dục mở gồm các sinh viên, giảng viên, thủ thư, các cửa hàng sách và các nhà xuất bản sách giáo khoa. Có lẽ thậm chí dễ dàng để nghĩ về các bên tham gia đóng góp bổ sung thêm ở mức khu trường - học tập từ xa, văn phòng đăng ký tuyển sinh, … Khi thư viện của tôi đang làm việc trong các sáng kiến về tài nguyên giáo dục mở - OER (Open Educational Resources), họ là các bên tham gia đóng góp chúng tôi cũng nghĩ về.
Tuy nhiên, chúng tôi không thường nghĩ đủ về các bên tham gia đóng góp của giáo dục mở vượt ra khỏi cộng đồng hàn lâm. Thực sự có nhiều hơn các bên tham gia đóng góp tiềm năng làm việc trong các vấn đề quan tâm công cộng. Ví dụ, khi tôi nói chuyện với các bạn bè về các lĩnh vực phương tiện và lao động, tổ chức cộng đồng và phi lợi nhuận, họ coi tài nguyên giáo dục mở là thích hợp với các mối quan tâm và những lo ngại của họ. Tuy nhiên, họ không luôn biết rằng các thư viện, các trường đại học và các tổ chức thông tin như SPARC (cũng như Wikimedia, Creative Commons, …) đã và đang làm việc trong các sáng kiến đó trong nhiều năm. Họ cũng không biết rằng giáo dục mở là phong trào quốc tế. Có nhiều hơn nhiều điều chúng ta có thể làm để lôi kéo sự tham gia của các liên minh tiềm năng đó.
Trong quá trình làm việc tại SPARC của tôi, trọng tâm công việc của tôi là xây dựng và tăng cường các mối quan hệ của SPARC với các tổ chức công bằng xã hội và quan tâm công cộng để mở rộng phong trào giáo dục mở vượt ra khỏi các bên tham gia đóng góp chính của giới hàn lâm. Mục tiêu chính của dự án này là để giữ cho các thủ thư ở tiền tiêu của các sáng kiến đó như những người dẫn dắt có tổ chức, có tri thức và có tính cộng tác. Công việc của tôi sẽ tập trung vào việc lôi kéo sự tham gia của 4 nhóm các bên tham gia đóng góp chính sau:
Lao động
Đặc biệt, lao động chia sẻ nhiều lo ngại chồng lấn nhau với phong trào giáo dục mở, bao gồm giáo dục kham được và huấn luyện truy cập được cho lực lượng lao động trong tương lai. Lĩnh vực này cũng quan tâm tới các thực hành thông tin minh bạch và có đạo đức (như, thu thập dữ liệu). Các tổ chức lao động cũng giao cắt với các bên tham gia đóng góp chủ chốt khác, quan trọng nhất là các giảng viên và những người phụ tá. Khi ngày càng nhiều bang và khu trường áp dụng các chính sách liên quan tới OER, là quan trọng đối với các nhóm lao động đại diện cho những người chuyên nghiệp hàn lâm để được thông tin về cách OER hỗ trợ cho sự tự do hàn lâm.
Truyền thông
Clay Shirky, một nhà xã hội học về Internet ở Đại học New York (NYU) đã nói, “Phương tiện truyền thông ngày càng ít hơn chỉ là một nguồn thông tin và ngày càng trở thành nhiều trang là một trang web phối hợp”. Các dự án truyền thông của những người dân thường (grassroots media projects) và các trạm truyền thông khác chia sẻ mối quan tâm của chúng ta trong việc trình bày thông tin chính xác còn tiêu hóa được, nhũng cái nhìn quan trọng vào sự truy cập, kết nối công chúng tới những người làm chính sách bảo tồn hồ sơ của công chúng. Phong trào giáo dục mở có xu hướng nhấn mạnh sự tiết kiệm, nhưng có nhiều chỗ để lôi kéo nhiều người hơn vào các thảo luận về sư phạm mở, các thực hành dữ liệu của các nhà xuất bản, và các gợi ý khác về khoản nợ của các sinh viên. Việc làm tươi mới và lên khung lại cách thức chúng ta nói về giáo dục mở với các bên tham gia đóng góp mới có thể ngụ ý về một bài thuyết trình giàu có hơn.
Các nhóm cộng đồng
Các tổ chức, từ Tiến bộ Quốc gia của Những người Da màu - NAACP (National Advancement of Colored People) cho tới Viện Toán học Mỹ - AIM (American Institute of Mathematics) đã đưa ra các tuyên bố tán thành OER. Dạng các tuyên bố đó là quan trọng vì chúng cung cấp bằng chứng rằng các nhóm cộng đồng hàn lâm và công chúng ủng hộ những người chỉ dẫn mà nếu khác có thể cảm thấy bị cô lập trong mối quan tâm của họ để áp dụng các tài nguyên mở trong các khu trường của họ. Tôi có kế hoạch làm việc với nhiều hơn các tổ chức cộng đồng để đưa ra sự tán thành, gia tăng mối quan tâm chung, và có khả năng thiết lập các tiêu chí cho các thực hành tốt nhất có thể cải thiện cộng đồng OER khi nó tiến hóa.
Các nhóm sinh viên
Các sinh viên không chỉ là các bên hưởng lợi của giáo dục mở, mà còn là các đồng minh tự nhiên trong việc biện hộ cho nó. Các nhóm sinh viên tích cực tham gia rồi trong biện hộ về các vấn đề có liên quan như các thực hành dữ liệu của sinh viên, nợ của sinh viên và giáo dục kham được. Tuy nhiên, là quan trọng để tăng cường tầm quan trọng của OER như là ưu tiên tiềm năng cho các chương trình nghị sự của họ. Việc mở rộng trong các mối quan hệ đang có, tôi đang làm việc với Liên minh Quyền Nghiên cứu (Right to Research Coalition) và Nhóm Nghiên cứu Lợi ích Công cộng của Mỹ - U.S. PIRG (Public Interest Research Group) để tới tới được nhiều hơn các nhóm sinh viên quốc gia về OER.
Để phong trào OER thành công, chúng ta nên gia tăng và cộng tác với các phong trào khác. Tôi hướng tới việc thực hiện với vươn xa này như là Người bạn Giáo dục Mở (Open Education Fellow). Tôi hướng tới việc báo cáo ngược trở lại về những gì tôi đã học được qua quá trình đó.
For many of us, the primary stakeholders that come to mind for open education include students, faculty, librarians, bookstores and textbook publishers. It might even be easy to think of additional stakeholders at the campus level—distance learning, registrar’s office, etc. When my library is working on OER initiatives, these are the stakeholders we think of too.
However, we don’t often enough think about open education stakeholders beyond the academic community. There are actually many more potential stakeholders that work on public interest issues. For example, when I talk to friends in the nonprofit, community organizing, media and labor fields, they see open educational resources as relevant to their interests and concerns. However, they don’t always know that libraries, universities and information organizations like SPARC (as well as Wikimedia, Creative Commons, etc.) have been working on these initiatives for years. Nor do they know that open education is an international movement. There is much more we can do to engage these potential allies.
During my fellowship at SPARC, the focus of my work is to build and strengthen SPARC’s relationships with public interest and social justice organizations in order to expand the open education movement outside the primary academic stakeholders. A major goal of this project is to keep librarians at the forefront of these initiatives as conduits who are organized, knowledgeable and collaborative. My work will focus on engaging four main stakeholder groups:
Labor
In particular, labor shares many overlapping concerns with the open education movement, including affordable education and accessible training for the future workforce. This field is also interested in transparency and ethical information practices (e.g. data collection). Labor organizations also intersect with other key constituencies, most importantly faculty and adjuncts. As more states and campuses adopt policies concerning OER, it is important for labor groups representing academic professionals to be informed about how OER supports academic freedom.
Media
Clay Shirky an Internet sociologist at NYU said, “Media is increasingly less just a source of information, and it is increasingly more a site of coordination.” Grassroots media projects and other outlets share our interest in presenting accurate yet digestible information, critical looks at access, connecting the public to policy makers and preservation of the public record. The open education movement has a tendency to emphasize savings, but there is a lot of room to involve more people in conversations about open pedagogy, publisher data practices and other implications of student debt. Refreshing and reframing the way we talk about open education with new stakeholders can mean a richer discourse.
Community Groups
Organizations ranging from the National Advancement of Colored People (NAACP) to the American Institute of Mathematics (AIM) have issued statements endorsing OER. These kind of statements are important because they provide evidence that academic and public community groups support instructors who may otherwise feel isolated in their interest to adopt open resources on their campus. I plan to work with more community organizations to issue endorsements, increase public interest, and possibly establish criteria for best practices that can advance the OER community as it evolves.
Student Groups
Students are not just the beneficiaries of open education, but natural allies in advocating for it. Student groups are already actively engaged in advocacy on related issues such as student data practices, student debt and affordable education. However, it is important to reinforce the importance of OER as a potential priority for their agendas. Expanding on existing relationships, I am working with Right to Research Coalition and U.S. PIRG to reach out to more national student groups about OER.
For the OER movement to be successful, we should grow and collaborate with other movements. I look forward to doing this outreach as Open Education Fellow. I look forward to reporting back about what I learn through the process.
Dịch: Lê Trung Nghĩa

Thứ Năm, 2 tháng 8, 2018

KHÔNG CHỈ CÓ MỘT LOẠI QUYỀN TÁC GIẢ


(Bài được đăng trên tạp chí Tia Sáng số 14 ra ngày 20/07/2018, các trang 26-29. Phiên bản điện tử của Tia Sáng trên trực tuyến ra ngày 02/08/2018 tại địa chỉ: http://tiasang.com.vn/-khoa-hoc-cong-nghe/Khong-chi-co-mot-loai-quyen-tac-gia-12644)


Có thể với rất nhiều hoặc hầu hết mọi người, chỉ có duy nhất một chế độ quyền tác giả, và với chế độ đó, tất cả các quyền bản quyền (bao gồm tất cả các quyền nhân thân và các quyền tài sản của tác giả) được giữ lại với tác giả của tác phẩm hoặc được chuyển toàn bộ quyền tài sản sang nhà xuất bản thông qua việc tác giả ký thỏa thuận chuyển giao bản quyền - CTA (Copyright Transfer Agreement) cho nhà xuất bản để đổi lại việc đăng tác phẩm đó trên tạp chí tác giả lựa chọn và nhận tiền nhuận bút trong một lần duy nhất từ nhà xuất bản đó. Ngày nay, nhận thức về chỉ có một chế độ quyền tác giả duy nhất đó không còn đúng nữa!
A. CÁC CHẾ ĐỘ QUYỀN TÁC GIẢ
Tài liệu ‘Giới thiệu truy cập mở1’ của UNESCO xuất bản năm 2015 đưa ra 3 chế độ quyền tác giả (Author Rights Regimes2) khác nhau với những giải thích như sau:
Hình 1. Các chế độ quyền tác giả


Có 2 lựa chọn thay thế cho chế độ bản quyền - Copyright để bảo vệ các quyền của tác giả cũng như quyền tự do của những người sử dụng để sử dụng, sử dụng lại, chia sẻ, phân phối và sửa đổi tác phẩm gốc ban đầu. Copyleft và các giấy phép Creative Commons đã trở nên rất hữu dụng cho các cộng đồng tri thức có ý định đảm bảo quyền tự do của bạn để chia sẻ, sử dụng, sử dụng lại, và thay đổi.”
Copyleft
Copyleft là phương pháp chung làm cho tác phẩm sáng tạo sẵn sàng tự do để sửa đổi được, và yêu cầu tất cả các phiên bản được sửa đổi và được mở rộng của tác phẩm sáng tạo đó cũng sẽ phải là tự do. Những người tin tưởng vào phong trào Copyleft đấu tranh để xây dựng lựa chọn thay thế cho chế độ hà khắc hiện hành về kiểm soát sở hữu trí tuệ.
Phong trào này giữ khẩu hiệu châm biếm của mình “Giữ lại tất cả những sai trái - All wrongs reserved” (ngụ ý những điều tốt lành thì trao cho những người sử dụng). Giấy phép Công cộng Chung GNU – GPL (GNU General Public License) của dự án GNU, được Quỹ Phần mềm Tự do – FSF (Free Software Foundation) hỗ trợ, tuân theo các nguyên tắc của Copyleft. Copyleft là đặc tính của nhiều giấy phép của phần mềm nguồn mở - OSS (Open Source Software).”
Creative Commons - Những cái chung có tính sáng tạo
Trong khi các giấy phép Copyleft, GNU-GPL và OPL3 chủ yếu cung cấp cho các mục đích của phần mềm máy tính và các tài liệu kỹ thuật, thì các giấy phép Creative Commons (CC) được ưu tiên trong truyền thông hàn lâm cũng như trong truyền thông nghe - nhìn có tính sáng tạo. Creative Commons, được khởi xướng vào năm 2001 như một tổ chức phi lợi nhuận, là kết quả của các phong trào cộng đồng lớn hơn, đang ôm lấy các khái niệm về quyền tự do của việc chia sẻ, sử dụng lại và sửa đổi các nội dung hàn lâm và nghệ thuật để tái tạo lại tri thức và tối ưu hóa sử dụng. Creative Commons trong môi trường truyền thông hàn lâm trở thành những cái chung của khoa học (Science Commons) đảm bảo truy cập mở tới tư liệu và dữ liệu nghiên cứu. Giấy phép tự do nhất là CC BY, nơi mà những người sử dụng có thể sao chép, phân phối, hiển thị, thực thi và pha trộn tác phẩm của tác giả nếu họ thừa nhận ghi công cho tác giả như được tác giả yêu cầu. Giấy phép hạn chế nhất là CC BY-NC-ND, nơi mà những người sử dụng có thể sao chép, phân phối, hiển thị, và thực thi các bản sao y hệt tác phẩm của tác giả nhưng chỉ không cho các mục đích thương mại.”


B. VÍ DỤ ÁP DỤNG CÁC CHẾ ĐỘ BẢN QUYỀN COPYLEFT VÀ CREATIVE COMMONS
B1. Các phần mềm với họ các giấy phép Copyleft
Theo bảng tổng hợp trên trang Giấy phép Công cộng Chung GNU - GPL (GNU General Public License4) - giấy phép điển hình nhất của chế độ bản quyền Copyleft, dựa vào số liệu thống kê của BlackDuck5, hãng chuyên nghiên cứu và phát triển nguồn mở, tới tháng 2/2017, trong số hơn 2 triệu dự án phần mềm nguồn mở (PMNM) từ hơn 9.000 kho trên toàn thế giới, họ các giấy phép copyleft (bao gồm các giấy phép như GPLv2, GPLv3, LGPL 2.1, LGPL 3.0) chiếm tới 33%, nghĩa là khoảng 700.000 dự án.
Hình 2. Sử dụng các giấy phép họ GPL trong các dự án PMNM


Thông thường, mỗi dự án PMNM phát triển một PMNM cụ thể. Một PMNM mang bất kỳ giấy phép nào trong họ các giấy phép copyleft cũng đều trao cho người sử dụng PMNM đó các quyền tự do cơ bản sau đây:
  1. Tự do sử dụng vì bất kỳ mục đích gì.
  2. Tự do phân phối cho bất kỳ ai.
  3. Tự do sửa đổi để phục vụ cho mục đích cá nhân của bạn (để làm được điều này, bạn cần có mã nguồn, hay nói cách khác, mã nguồn cần phải được mở trên Internet để bất kỳ ai cũng có thể tải nó về được).
  4. Tự do phân phối phần mềm sau khi bạn đã sửa đổi (chương trình phái sinh dựa vào chương trình gốc ban đầu) cho bất kỳ ai, vì bất kỳ mục đích gì.
B2. Các tài nguyên được cấp phép mở và văn hóa tự do với các giấy phép Creative Commons (CC)
Hệ thống giấy phép mở Creative Commons ra đời vào năm 20016 và cho tới hết năm 2016 đã có hơn 1 tỷ 200 triệu tài nguyên được cấp phép mở Creative Commons7 trên thế giới. Hơn thế nữa, trong số hơn 1 tỷ 200 triệu tài nguyên đó, có 65% được cấp phép theo văn hóa tự do (gồm 2% các tài nguyên trong phạm vi công cộng, 6% được cấp phép CC0, 20% được cấp phép CC BY và 37% được cấp phép CC BY-SA), nghĩa là khoảng 780 triệu tài nguyên từng người trong số hơn 90 triệu người dân Việt Nam có khả năng để sử dụng, sử dụng lại, phân phối, phân phối lại hoặc tùy biến sửa đổi chúng mà không vi phạm bản quyền của bất kỳ ai trên thế giới, thậm chí còn được tự do sử dụng chúng cho các mục đích thương mại, miễn là: (1) thừa nhận ghi công (các) tác giả đúng như họ yêu cầu và/hoặc (2) chia sẻ tương tự (các tác phẩm sau khi tùy biến sửa đổi phải mang giấy phép y hệt như các tác phẩm gốc ban đầu).


Cần phải nhấn mạnh ở đây rằng đối với một tài nguyên MỞ, điều quan trọng bậc nhất là người sử dụng PHẢI có quyền để tùy biến sửa đổi tài nguyên đó, chứ không chỉ đơn giản là không mất tiền để có nó!


Hình 3. Hơn 1 tỷ 200 triệu tài nguyên được cấp phép mở CC tới năm 2016
Hình 4. 65% trong số 1 tỷ 200 triệu tài nguyên có các giấy phép của "Văn hóa tự do"


Cũng theo tổ chức Creative Commons, tới hết năm 2017, con số các tài nguyên được cấp phép mở trên thế giới đã là hơn 1 tỷ 471 triệu8.
Hình 5. Mức độ tự do của các giấy phép CC9


Các tài nguyên được cấp phép mở theo văn hóa tự do - các tài nguyên nằm trong phạm vi công cộng - PD (Public Domain) hoặc được cấp các giấy phép CC0, CC BY hoặc CC BY-SA là các tài nguyên có khả năng được sử dụng cho các mục đích thương mại (Commercial) - các tài nguyên có các giấy phép nằm ở ô trên cùng của Hình 5. Đây cũng chính là vùng (các) tài nguyên dữ liệu được cấp phép mở để trở thành dữ liệu mở!
C. TÁC PHẨM NGUỒN MỞ LÀ KHÔNG CÓ BẢN QUYỀN VÀ CÁC QUYỀN TÁC GIẢ?
Bạn có thể đã từng tham dự các cuộc hội nghị hay hội thảo về sở hữu trí tuệ và có thể đã từng nghe các ‘chuyên gia về sở hữu trí tuệ’ giải thích khi có ai đó nêu về các tác phẩm sáng tạo của thế giới NGUỒN MỞ, rằng các tác phẩm sáng tạo của thế giới nguồn mở là không có bản quyền, và vì thế họ không quan tâm tới các tác phẩm mà các tác giả từ bỏ đi tất cả các quyền bản quyền. Liệu điều đó có phải như vậy không, dưới đây là một vài ví dụ để làm sáng tỏ điều này.
C1. Với các sản phẩm PMNM mang giấy phép copyleft
Trang các câu hỏi thường gặp về các giấy phép GNU10 có cặp câu hỏi và trả lời như sau:
Tôi muốn có sự thừa nhận đối với tác phẩm của tôi. Tôi muốn mọi người biết tôi đã viết những gì. Liệu tôi có thể vẫn có sự thừa nhận nếu tôi sử dụng giấy phép GPL hay không?
Bạn chắc chắn có sự thừa nhận đối với tác phẩm. Một phần của việc phát hành chương trình mang giấy phép GPL là viết lưu ý bản quyền theo tên của riêng bạn (giả thiết bạn là người nắm giữ bản quyền). Giấy phép GPL đòi hỏi tất cả các bản sao mang theo lưu ý bản quyền thích hợp.
Điều này ngụ ý rằng, khi bạn viết mã nguồn cho một chương trình mang giấy phép dạng copyleft như GPL của dự án GNU, bạn hoàn toàn có khả năng để những người sử dụng phải thừa nhận ghi công cho bạn là tác giả đoạn mã nguồn bạn đóng góp bằng việc bạn - với tư cách lập trình viên - tác giả đoạn mã nguồn đó, viết lưu ý bản quyền thích hợp cho các dòng mã lệnh bạn đóng góp vào chương trình đó, cho dù khi bạn tham gia viết mã nguồn cho chương trình này, bạn hiểu rõ bạn trao đủ 4 quyền tự do của một giấy phép copyleft cho những người sử dụng chương trình như được nêu ở phần trên.
C2. Với các sản phẩm PMNM mang giấy phép dễ dãi
Trong thế giới nguồn mở có một họ giấy phép phổ biến khác - họ các giấy phép dễ dãi (permissive) với tên gọi là ‘Phát tán phần mềm Berkeley’ – BSD (Berkeley Software Distribution).
Bạn cũng có thể thấy các giấy phép họ BSD cũng có các lưu ý giấy phép11 giống như của các giấy phép copyleft như ở trên, khi nó luôn có các trường như:
để thể hiện bản quyền của lập trình viên, dù đây là họ các giấy phép dễ dãi, ngụ ý (các) lập trình viên có thể tùy biến thích nghi chương trình được cấp phép BSD rồi sau đó biến nó thành chương trình đóng hoặc mở là tùy theo ý muốn của chính (các) lập trình viên đó.
C3. Với các tài nguyên mở mang một trong các giấy phép Creative Commons
Tất cả 6 giấy phép tiêu chuẩn của hệ thống Creative Commons đều có yếu tố ghi công (Attribution, viết tắt bằng chữ BY và có hình người trong vòng tròn như trên Hình 5), có nghĩa là, khi bạn sử dụng bất kỳ tài nguyên nào được cấp 1 trong 6 giấy phép đó, bạn có bổn phận PHẢI thừa nhận ghi công cho (các) tác giả như (các) tác giả đó mong muốn. Tác giả khi xuất bản tác phẩm của mình, thường hướng dẫn cho những người sử dụng cách để ghi công cho chính tác giả theo nguyên tắc tối thiểu được viết bằng 4 ký tự đầu bằng tiếng Anh là TASL12, có nghĩa là:
T – Title: Tiêu đề hay tên của tác phẩm
A – Author(s): (Các) tác giả
S - Source: Nguồn, thường là đường liên kết tới tác phẩm ở dạng số mà người sử dụng có thể tải về được; và
L - License: Giấy phép, thường đi cùng với đường liên kết tới giấy phép CC trên Internet.
Trường hợp tài nguyên mang giấy phép CC0 là trường hợp đặc biệt13, tương đương với việc không giữ lại quyền gì, khi tác giả từ bỏ tất cả các quyền đối với tác phẩm của mình và đặt tác phẩm vào phạm vi công cộng, sao cho những người khác có thể được tự do để sử dụng, sử dụng lại, tùy biến thích nghi, xây dựng dựa vào tác phẩm đó vì bất kỳ mục đích gì và không có bất kỳ hạn chế nào theo luật bản quyền. Người sử dụng thậm chí không cần phải thừa nhận ghi công cho tác giả khi sử dụng tác phẩm mang giấy phép CC0.


KẾT LUẬN
Không chỉ có một chế độ quyền tác giả ĐÓNG duy nhất, mà còn có các chế độ quyền tác giả MỞ như Copyleft và Creative Commons!
(Các) tác phẩm được cấp phép mở là có (các) tác giả, và vì thế có bản quyền và các quyền tác giả. Điều quan trọng là với các tác phẩm được cấp phép mở, (các) tác giả thường chỉ giữ lại một số quyền (Some Rights Reserved) cho bản thân mình và từ bỏ một số quyền bản quyền (chứ không từ bỏ tất cả, ngoại trừ khi tác giả sử dụng giấy phép đặc biệt CC0) để trao chúng cho những người sử dụng, điều khác biệt cơ bản với một tác phẩm của thế giới ĐÓNG khi thường đi với việc (các) tác giả giữ lại tất cả các quyền (All Rights Reserved).
Sẽ là không công bằng nếu luật sở hữu trí tuệ chỉ bảo vệ bản quyền và các quyền tác giả cho những ai đi theo con đường ĐÓNG với việc giữ lại tất cả các quyền ở lại với tác giả, nhưng lại không bảo vệ cho những ai đi theo con đường MỞ khi chính tác giả có mong muốn chia sẻ và/hoặc từ bỏ một số quyền của mình cho những người sử dụng.
Đối với những tác giả lựa chọn đi theo con đường MỞ, quyền được tự do chia sẻ quyền để từ bỏ một số quyền đối với các tác phẩm họ nắm giữ bản quyền cần phải được tôn trọng và cần phải được nêu rõ ràng rành mạch trong luật sở hữu trí tuệ và tất cả các văn bản pháp quy có liên quan tới luật đó.
------------------------------------------


3. Xem https://www.dropbox.com/s/pieghb3m5r7hm5i/231920E-Vi-06082017.pdf?dl=0, trang 55-56 để biết chi tiết về Giấy phép Xuất bản Mở - OPL (Open Publication License)


Giấy phép nội dung bài viết: Creative Commons 4.0 Quốc tế
Lê Trung Nghĩa

Thứ Tư, 1 tháng 8, 2018

Cải cách luật bản quyền ở Đức - “UrhWissG” là gì, thực sự thế sao?

Copyright law reform in Germany – what is this “UrhWissG”, really?
Bài được đưa lên Internet ngày: 02/07/2018
Năm ngoái, Quốc hội Đức đã thông qua dự luật cải cách bản quyền gây tranh cãi được biết tới như là UrhWissG (Gesetz zum Urheberrecht für die Wissenschaft), nó sẽ có hiệu lực vào tháng 3/2018 và sẽ tuân theo sự rà soát lại sau giai đoạn 5 năm.
Sự rà soát lại đó đã trở nên cần thiết vì những lo ngại những thay đổi chính trong bức tranh hàn lâm do cuộc cách mạng số đã đem lại cho các luật đã lỗi thời trước đó.
Dự luật mới được sửa đổi bổ sung nhằm cung cấp các điều chỉnh rõ ràng để đảm bảo ít nhất ở mức cơ bản truy cập tới được các tác phẩm được bản quyền bảo vệ đối với các nghiên cứu và các mục đích dạy học không cần có sự cho phép trước của tác giả.
Trọng tâm của UrhWissG là 6 ngoại lệ được pháp luật bảo vệ như sau:
  1. Sử dụng tới 15% tác phẩm vì các mục đích dạy học ở các trường học và các cơ sở giáo dục đại học (§ 60a UrhG)
  2. Tạo thuận lợi để tạo ra các tư liệu dạy học (§ 60b UrhG)
  3. Sử dụng tới 15% tác phẩm được bản quyền bảo vệ cho nghiên cứu không vì mục đích thương mại; tới 75% cho nghiên cứu của riêng một người (§ 60c UrhG)
  4. Quy định về khai thác văn bản và dữ liệu (§ 60d UrhG)
  5. Cho phép các thư viện số hóa kho và các bản sao số truyền đi được của họ (§ 60e UrhG)
  6. Các ngoại lệ cho các bảo tàng và kho lưu trữ (§ 60f UrhG)
Các tác giả tiếp tục nhận được thù lao để sử dụng các tác phẩm có bản quyền của họ. Sự đền bù sẽ được trao bởi các xã hội thu thập như VG WORT.
Trong khi Johanna Wanka, Bộ trưởng Giáo dục và Nghiên cứu Liên bang ở thời điểm đó, coi luật mới đó như là “tài sản để nghiên cứu và dạy học”, thì các bên tham gia đóng góp khác đã nhanh chóng chỉ ra các lỗi như thời hạn bị hạn chế của hiệu lực pháp luật cũng như thiếu ngoại lệ theo luật định cho các bài báo trên các tạp chí.
UrhWissG chính xác ngụ ý gì đối với các nhà nghiên cứu?
Từ 01/03, quy định 15% cũng áp dụng cho sử dụng tăng cường các tác phẩm được bản quyền bảo vệ (26 trang hoặc hơn) vì các mục đích nghiên cứu trong khuôn khổ của các quan hệ đối tác nghiên cứu. Đối với nghiên cứu phi thương mại, cá nhân của riêng họ, các nhà nghiên cứu có thể sử dụng tới 75% tác phẩm có bản quyền tăng cường.
Một ngoại lệ theo luật định khác cho nghiên cứu à được làm cho việc xử lý và phân tích có sự trợ giúp của máy tính đối với lượng lớn các dữ liệu được gọi là khai thác văn bản và dữ liệu. Luật mới này làm rõ rằng các bản sao được tạo ra trong quá trình là hợp pháp và có thể được các đội nghiên cứu và những người rà soát lại ngang hàng sử dụng.
Về truy cập tới và sử dụng các cơ sở dữ liệu, UrhWissG nêu rằng các nhà nghiên cứu có thể truy cập chúng, thực hiện việc đọc hết các nội dung và tạo ra cơ sở dữ liệu/phần thân mới cho phân tích tiếp. Sự miễn trừ là có hạn chế đối với nghiên cứu phi thương mại và nêu rằng phần thân mới phải bị/được xóa khi kết thúc phân tích, nhưng có thể được truyền tới thư viện hoặc cơ sở bộ nhớ khác để lưu trữ.
UrhWissG chính xác ngụ ý gì đối với các thư viện?
Trong quá khứ, một lo ngại pháp lý đối với các thư viện từng là truyền các bản sao theo nhu cầu. Trong khi họ trước đó đã được phép chỉ gửi đi các tệp đồ họa không tìm kiếm được, thì hạn chế này bây giờ đã bị loại bỏ. Điều này ngụ ý rằng các thủ thư bây giờ gửi hợp pháp các bản sao tới những người sử dụng phi thương mại.
Luật mới này cũng giải quyết các tranh cãi lâu nay về việc liệu các thư viện có thể cho phép các tác phẩm được số hóa sẽ được lưu trong các đầu USB hoặc được in ra hay không. Các bản sao thứ cấp như vậy bây giờ là hợp pháp, tuy nhiên, chúng được hạn chế tới 10% đối với bất kỳ tác phẩm nào được bản quyền mở rộng bảo vệ.
Vẫn còn được xem xét ảnh hưởng gì, nếu có, các quy định mới đó sẽ có lên mức quốc gia trong đề xuất cải cách bản quyền của EU đang được tranh luận nóng mà đã được biểu quyết tại Ủy ban các Công việc Pháp lý vào tháng 6 và phải được chuyển qua Quốc hội châu Âu vào tháng 7.
Toàn văn của luật có thể thấy ở đây.
Bài viết trên Blog của Jessica Rex, German NOAD.
Last year, German Parliament passed a controversial copyright reform bill known as UrhWissG (Gesetz zum Urheberrecht für die Wissenschaft) which came into effect in March 2018 and will be subject to review after a 5-year period.
The review had become necessary over concerns that major changes in the academic landscape due to the digital revolution had rendered previous laws outdated.
The freshly amended bill aims to provide clear regulations to ensure at least basic access to copyright-protected works for research and teaching purposes without the author’s prior permission.
At the heart of UrhWissG are six statutory exceptions:
  1. Usage of up to 15% of a work for teaching purposes at schools and higher education facilities (§ 60a UrhG)
  2. Facilitating the creation of teaching materials (§ 60b UrhG)
  3. Usage of up to 15% of a copyright-protected work for non-commercial research; up to 75% for one’s own research (§ 60c UrhG)
  4. Regulation of text and data mining (§ 60d UrhG)
  5. Permission for libraries to digitize their inventory and transmit digital copies (§ 60e UrhG)
  6. Exceptions for museums and archives (§ 60f UrhG)
Authors continue to receive remuneration for the use of their copyrighted works. Compensation will be handled by collecting societies such as VG WORT.
Whereas Johanna Wanka, Federal Minister of Education and Research at that time, considers the new law an “asset to research and teaching”, other stakeholders were quick to point out flaws such as the limited term of legal force as well as the lack of a statutory exception for newspaper articles.
What exactly does UrhWissG mean for researchers?
From March 1st, the 15% rule also applies to the use of extensive (26 pages or more) copyright-protected works for research purposes within the framework of research partnerships. For their own personal, non-commercial research, researchers may use up to 75% of an extensive copyrighted work.
Another statutory exemption for research is made for the computer-aided processing and analysis of large amounts of data called text and data mining. The new law clarifies that the copies created in the process are legal and may be used by research teams and reviewers.
With regards to the access to and use of data bases, UrhWissG states that researches may access them, perform a read-out of the contents and create a new corpus /data base for further analysis. The exemption is limited to non-commercial research and stipulates that the corpus has to be deleted upon finishing analysis, but may be transmitted to a library or other memory institution for archiving.
What exactly does UrhWissG mean for libraries?
In the past, one legal concern for libraries has been the transmission of copies on demand. Where they were previously allowed only to send non-searchable graphics files, this limitation has now been eliminated. This means that libraries can now legally send copies to non-commercial users.
The new law also solves a long-standing dispute about whether libraries may allow digitized works to be saved on a USB stick or printed out. Such secondary copies are now legal, however, they are restricted to 10% of any extensive copyright-protected work.
It remains to be seen what influence, if any, these new regulations on the national level will have on the hotly debated EU copyright reform proposal that were voted on by the Legal Affairs Committee in June and have to pass the European parliament in July.
The full wording of the law can be found here.
Blog post written by Jessica Rex, German NOAD.
Dịch: Lê Trung Nghĩa