Thứ Hai, 18 tháng 4, 2016

Dạy học cho các giáo viên đi dạy nguồn mở

Teaching teachers to teach open source
Posted 08 Apr 2016 by Bryan Behrenshausen
Bài được đưa lên Internet ngày: 08/04/2016


Việc dạy các sinh viên tham gia vào các cộng đồng nguồn mở có thể là khó khăn. Việc dạy các giáo viên để dạy cho các sinh viên tham gia vào các cộng đồng nguồn mở có thể thậm chí còn khó hơn.

Nhưng nhiều năm qua, các giáo sư Heidi Ellis (Đại học Western New England) và Greg Hislop (Đại học Drexel) đã và đang làm chính điều đó. Và với đối tác Gina Likins của Red Hat hôm thứ năm, 19/05, họ đã trình bày ở Hội nghị Nguồn Mở O'Reilly (OSCON) ở Austin, TX, để nói về các kinh nghiệm của họ. Phiên của họ, “Muốn các sinh viên sẵn sàng đóng góp ư? Hãy thảo luận những gì họ nên biết!” bắt đầu lúc 5h10 buổi chiều.

Khi họ đã chuẩn bị dạy cho khán thính phòng về việc dạy cho các giáo viên, Heidi và Greg đã chat với chúng tôi về công việc họ làm - và các thách thức họ đối mặt.

Hỏi và Đáp

Cuộc nói chuyện của bạn sẽ giải thích những gì các trường đại học nên dạy cho các sinh viên chuẩn bị cho họ tham gia vào các dự án nguồn mở. Điều gì là động lực cho cuộc nói chuyện?
Nhiều năm qua, chúng tôi đã và đang quan sát thấy các cộng đồng nguồn mở hồ hởi tuyển các thành viên mới, vâng nhiều sinh viên máy tính tốt nghiệp đại học thiếu các kỹ năng nghề nghiệp và kỹ thuật để đóng góp cho các dự án nguồn mở. Dường như có sự mất kết nối giữa cách mà các sinh viên điện toán được giáo dục và các nhu cầu của các cộng đồng nguồn mở.
Chúng tôi đã muốn nhấn mạnh vài yếu tố đóng góp cho sự mất kết nối này sao cho cả các cộng đồng nguồn mở và các nhà nghiên cứu hàn lâm có sự hiểu biết tốt hơn về những khó khăn các dự án nguồn mở đối mặt trong việc giành được những người đóng góp mới từ các chương trình cấp bằng đại học. Việc làm giảm các khó khăn đó có tiềm năng cải thiện đáng kể việc học tập của sinh viên thông qua sự tham gia nguồn mở.
Theo bạn, đâu là 3 kỹ năng quan trọng nhất mà bất kỳ sinh viên nào cũng muốn đóng góp cho các dự án nguồn mở nên có?
Điều này dường như là rõ ràng, nhưng khả năng học độc lập là rất quan trọng cho sự tham gia thành công của sinh viên trong các dự án HFOSS. Các sinh viên phải có khả năng học theo các cách thức khác nhau từ một dải các nguồn khác nhau, và họ cần có quyền sở hữu việc học tập của họ để phát triển trong cộng đồng nguồn mở.
Giao tiếp, làm việc nhóm và khả năng giải quyết vấn đề cũng là các kỹ năng sống còn. Trong khi việc hiểu các công nghệ như kiểm soát phiên bản được hầu hết các cộng đồng nguồn mở nhấn mạnh, thì các sinh viên mà không hiểu cách lái môi trường chuyên nghiệp bằng việc giao tiếp rõ ràng hoặc những ai không thể làm việc nhóm thậm chí sẽ không nắm bắt được cách sử dụng các công nghệ đó. Các kỹ năng xử lý đó đôi khi có thể là khó khăn hơn để dạy so với việc dạy một sinh viên biết Java.
Bạn luôn cố gắng cải thiện việc học tập bằng việc kết nối các sinh viên với các dự án và cộng đồng nguồn mở (thường các cộng đồng với lực đẩy nhân đạo). Đâu là các rào cản lớn nhất để làm cho điều này thành công?
Một rào cản lớn là việc nhận diện cộng đồng là đúng phù hợp cho sự can dự của sinh viên. Hầu hết các giáo sư sẽ muốn dự án có các đặc tính nhất định, như được viết trong ngôn ngữ lập trình đặc biệt hoặc dự án cần thiết kế giao diện người sử dụng.
Hơn nữa, chúng tôi tìm kiếm các dự án có cộng đồng tích cực và hỗ trợ cho việc học. Việc có các sinh viên can dự vào cộng đồng nơi mà họ có thể tiềm tàng được cháy hết mình có thể có ảnh hưởng tiêu cực thực sự lên việc học tập.
Có nhiều dự án HFOSS, và trong khi một vài có thể bị loại trừ bởi sự quan sát thoáng qua trên website/wiki, thì các đặc tính chi tiết hơn có thể là khó để khẳng định mà không có vài sự điều tra. Một khi chúng tôi đã nhận diện được một cộng đồng, thì bước tiếp sau là tìm mối liên hệ trong cộng đồng đó. Lý tưởng mà nói, chúng tôi muốn một người hướng dẫn (mentor), hoặc ít nhất ai đó có thiện chí chỉ cho chúng tôi theo đường hướng đúng. Điều này không cần mất nhiều thời gian, và chúng tôi thường không tìm kiếm ai đó cung cấp cho chúng tôi sự chỉ dẫn về bất kỳ khía cạnh nào của dự án. Nhưng là rất hữu ích để có ai đó trả lời các câu hỏi và cung cấp phản hồi về những đóng góp nào có thể là hữu dụng cho cộng đồng.
Rào cản lớn nhất là tất cả những điều nêu trên đều mất thời gian. Những gì chúng tôi thực sự nói tới ở đây là việc tạo ra mối quan hệ với cộng đồng, và mất thời gian thường qua và vượt qua tải công việc của người chỉ dẫn thông thường. Cũng có vấn đề hơi ít hơn về việc dẫn dắt các sinh viên hướng tới sự tham gia. Các sinh viên sẽ được dạy về văn hóa nguồn mở và cách tương tác với cộng đồng để cho họ có được các tương tác thành công.
Điều gì công việc của bạn với POSSE đã dạy bạn về mối quan hệ giữa nguồn mở và giáo dục?
Kinh nghiệm với việc dự 2 cuộc POSSE và tổ chức 6 sự kiện khác đã nhấn mạnh các khác biệt giữa các văn hóa nguồn mở và hàn lâm. Chúng thực sự là 2 văn hóa rất khác nhau.
Nguồn mở nhấn mạnh tới tính minh bạch, trong khi trong giới hàn lâm các sinh viên mà chia sẻ có thể bị tố cáo là gian lận. Nguồn mở nhấn mạnh “phát hành sớm, phát hành thường xuyên”, trong khi giới hàn lâm không khuyến khích xuất bản các ý nghĩ cho tới khi chúng hình thành đầy đủ và được đánh bóng. Nguồn mở là mềm dẻo và cơ hội (các công nghệ mới có thể được áp dụng trong vài tuần) và giới hàn lâm dịch chuyển với tốc độ băng giá (có thể mất cả năm hoặc hơn để phát triển một khóa học mới về một công nghệ mới).
Chỉ có ít sự khác biệt, nhưng bạn có thể thấy là có nhiều cách thức ở đó 2 văn hóa không phù hợp nhau và thậm chí kỳ dị.
Ở phía tích cực, sự cộng tác của giáo dục và nguồn mở thể hiện vài cơ hội học tập có tính hiện tượng đối với các sinh viên. Thay vì bị ràng buộc bởi tri thức được ra lệnh trong khóa học, các sinh viên là tự do học để thỏa mãn sự tò mò của riêng họ. Thay vì học về vấn đề bị ràng buộc trong sách giáo khoa, các sinh viên học về các vấn đề của thế giới thực với tất cả các phức tạp và lộn xộn của những người có mặt. Thay vì có người chỉ dẫn đang là nguồn chính của tri thức, trong nguồn mở các sinh viên có thể học từ toàn bộ cộng đồng chuyên nghiệp.
Từ triển vọng của nguồn mở, các sinh viên có thể mang năng lượng và sự nhiệt tình làm động lực cho cộng đồng. Heidi đã gửi tới một nhóm có 6 sinh viên tới Hội nghị thượng đỉnh GNOME 2014 nơi mà Karen Sandler đã trao cho họ sự chỉ dẫn dài 1 giờ đồng hồ về việc cấp phép. Heidi đã có cơ hội cảm ơn bà vì làm điều đó vào tuần trước và câu trả lời của bà là cảm ơn Heidi vì cung cấp cánh cổng cho những người nhiệt tình như vậy để vào được cộng đồng GNOME.
Một trong những điều chúng tôi đã bỏ ra làm trong 5 năm qua là nhận diện các cách thức để 2 văn hóa đó có thể làm việc được cùng với nhau vì chúng tôi nghĩ những lợi ích của làm việc cùng với nhau là khổng lồ.
Bạn đang làm gì để xúc tác cho các nhà giáo dục khắp đất nước và khắp thế giới, những người muốn kết hợp các kỹ năng và giá trị của nguồn mở vào các lớp học của họ?
Chúng tôi là một phần của đội của các giáo sư từ Đại học Western New England, Đại học Drexel, Cao đẳng Cộng đồng Nassau và Cao đẳng Muhlenberg, những người tập trung vào việc giáo dục những người chỉ dẫn mà muốn hỗ trợ cho sự tham gia của sinh viên trong các dự án HFOSS. Độ foss2serve đã nhận được 2 trợ cấp NSF khác nhau để cấp vốn cho nỗ lực này từ 2011. Chúng tôi đã cộng tác với Red Hat để đặt ra 5 hội thảo chuyên đề POSSE và đang lên kế hoạch cho 2 hội thảo nữa vào tháng 6 và 11 năm nay. Một chế tác quan trọng trong công việc của chúng tôi là wiki có các thông tin về cách mà các sinh viên tham gia trong nguồn mở và cũng có một tập hợp hơn 70 hoặc động học tập để giúp hỗ trợ cho việc học tập của sinh viên trong nguồn mở. Các tư liệu này được cấp phép Creative Commons và sẵn sàng cho bất kỳ ai để sử dụng.
OSCON 2016 sẽ được tổ chức ở Austin, Texas, 16-19/05. Hãy đọc bộ sưu tập của chúng tôi về các cuộc phỏng vấn, các bài báo, và các báo cáo về OSCON 2016. Tiết kiệm 30% khi bạn đăng ký với mã PCOS .


Teaching students to participate in open source communities can be difficult. Teaching teachers to teach students to participate in open source communities can be even more challenging.
But for years, Profs. Heidi Ellis (Western New England University) and Greg Hislop (Drexel University) have been doing just that. And with partner Gina Likins of Red Hat on Thursday, May 19, they'll take the stage at O'Reilly's Open Source Convention (OSCON) in Austin, TX, to talk about their experiences. Their session, "Want Students Ready to Contribute? Let’s Discuss What They Should Know!" begins at 5:10 p.m.
As they prepared to teach an audience about teaching teachers, Heidi and Greg kindly chatted with us about the work they do—and the challenges they face.
Q & A

Your talk will explain what schools should teach students to prepare them for participation in open source projects. What motivated the talk?

For years now, we have been observing open source communities that are eager to recruit new members, yet many computing graduates lack the professional and technical skills to contribute to open source projects. There appears to be a disconnect between how computing students are educated and the needs of open source communities.
We wanted to highlight some of the factors that contribute to this disconnect so that both open source communities and academics have a better understanding of the difficulties faced by open source projects in gaining new contributors from undergraduate degree programs. Reducing those difficulties has the potential to significantly enhance student learning though open source participation.

In your eyes, what are the three most important skills any student wishing to contribute to open source projects should have?

This seems obvious, but the ability to learn independently is very important to successful student participation in HFOSS projects. Students have to be able to learn in a variety of manners from a range of different sources, and they need to take ownership of their learning in order to flourish in an open source community.
Communication, teamwork and the ability to problem solve are also critical skills. While understanding technologies such as version control is emphasized by most open source communities, students who don't understand how to navigate a professional environment by communicating clearly or who can't work on a team won't even get to the point of using those technologies. These process skills can sometimes be more difficult to teach than teaching a student Java.

You're always attempting to enhance learning by connecting students to open source projects and communities (typically ones with a humanitarian impulse). What are the toughest barriers to doing this successfully?

One huge barrier is identifying a community that is appropriate for student involvement. Most professors will want a project that has certain characteristics, such as being written in a particular programming language or one that needs user interface design.
In addition, we look for projects that have a community that is active and supportive of learning. Having students involved in a community where they could potentially get flamed can have a real negative impact on learning.
There are many HFOSS projects, and while some can be eliminated by cursory observation of their web site/wiki, the more detailed characteristics can be difficult to ascertain without some investigation. Once we have identified a likely community, the next step is finding a contact within the community. Ideally, we'd like a mentor, or at least someone who is willing to point us in the right direction. This doesn't need to take a lot of time, and we're typically not looking for someone to provide us with a tutorial on any aspect of the project. But it is very helpful to have someone to answer questions and provide feedback on which contributions would be helpful for the community.
The largest barrier is that all of the above takes time. What we're really talking about here is creating a relationship with a community, and that takes time that is usually over and above the typical instructor's workload. There is also a somewhat lesser issue of leading students towards participation. Students have to be taught open source culture and how to interact with the community in order for them to have successful interactions.

What has your work with POSSE taught you about the relationship between open source and education?

Experience with attending two POSSEs and hosting another six have highlighted the differences between open source and academic cultures. These really are two very different cultures.
Open source emphasizes transparency, while in academia students who share can be accused of cheating. Open source emphasizes "release early, release often," while academia discourages the publication of thoughts until they're fully formed and polished. Open source is flexible and opportunistic (new technologies can be adopted within weeks) and academia moves at a glacial pace (it can take a year or more to develop a new course on a new technology).
These are just a few of the differences, but you can see that there are many ways in which the two cultures do not align and are even at odds.
On the positive side, the collaboration of education and open source presents some phenomenal learning opportunities for students. Rather than being bounded by the knowledge prescribed in a course, students are free to learn to satisfy their own curiosity. Rather than learn about a bounded problem from a text book, students learn about real-world problems with all of the attendant complexities and messiness. Rather than having the instructor being the main source of knowledge, in open source students can learn from the entire professional community.
From the open source perspective, students can bring an energy and enthusiasm that motivates the community. Heidi had sent a group of six students to the 2014 GNOME Summit where Karen Sandler had given them an hour-long tutorial in licensing. Heidi had the opportunity to thank her for doing that last week and her response was to thank Heidi for providing a gateway for such enthusiastic people to enter the GNOME community.
One of the things that we have spent the past five years doing is identifying ways that these two cultures can work together because we think that the benefits of working together are huge.

What are you doing to enable educators across the country and across the globe who want to incorporate open source skills and values into their classes?

We are part of a team of professors from Western New England University, Drexel University, Nassau Community College and Muhlenberg College who are focused on educating instructors who want to support student participation in HFOSS projects. The foss2serve team has received two different NSF grants to fund this effort since 2011. We have collaborated with Red Hat to put on five POSSE workshops and are planning two more this year in June and November. One important artifact of our work is a wiki that contains information about how to get students involved in open source and also includes a set of more than 70 learning activities to help support student learning within open source. These materials are Creative Commons licensed and available for anyone to use.
OSCON 2016 will be held in Austin, Texas, May 16-19. Read our collection of interviews, articles, and reports on OSCON 2016. Save 30% when you register with code PCOS.
Dịch: Lê Trung Nghĩa

Chủ Nhật, 17 tháng 4, 2016

Có tiêu chuẩn mới trong giáo dục đại học: Hội nghị Thượng đỉnh Mở khởi xướng

There's a new standard in higher ed: Open Summit launches
Posted 05 Apr 2016 by Leslie Hawthorn
Bài được đưa lên Internet ngày: 05/04/2016


Cuộc hội thoại về “mở” trong giáo dục đại học đã và đang diễn ra đôi lúc - nhưng khi mà nguồn mở đã trở thành dòng chính thống trong nền công nghiệp phần mềm thì cuộc hội thoại trong môi trường giáo dục đã bùng nổ. Từ các trường đại học chào các chương trình cấp bằng về phần mềm nguồn mở (PMNM), cho tới các khóa học trực tuyến mở đại chúng - MOOC (Massive Open Online Course) từ các trường cao đẳng hàng đầu cung cấp các khóa học tuyển sinh mở, cho tới các trường đại học khắp thế giới tạo ra các dự án PMNM của riêng họ, thì mở đang nhanh chóng trở thành tiêu chuẩn trong giáo dục đại học.
Với tất cả các cuộc hội thoại đó xảy ra giữa nhiều nhóm các bên tham gia đóng góp khác nhau, Sáng kiến Nguồn Mở - OSI (Open Source Initiative) và Quỹ Apereo đều đã thấy cơ hội phá đi các ống khép kín và mang mọi người lại cùng nhau để cộng tác, chia sẻ các bài học học được, và hình thành ra các liên hệ ràng buộc để thúc đẩy mở trong giáo dục. Bước đầu tiên là Hội nghị thượng đỉnh Mở (Open Summit) lần đầu tiên sắp tới ở Thành phố New York, sự kiện 1 ngày sẽ diễn ra vào ngày 23/05 ở trường Đại học New York.
Trong nhiều chủ đề xuất sắc được đưa ra cho những người tham gia, chúng tôi tự hào đón chào Chủ tịch và CEO Jim Whitehurst của Red Hat như là diễn giả bài đinh của chúng tôi. Ông sẽ thảo luận nhiều nguyên tắc cho sự cộng tác mà ông đã đưa ra trong cuốn sách gần đây của ông, Tổ chức Mở (The Open Organization), và chỉ ra cách các nguyên tắc đó có thể được áp dụng thành công nhất trong ngữ cảnh của giới hàn lâm, từ phòng học cho tới phòng CNTT.
Để biết được nhiều hơn về sự kiện, lịch sử của nó, và cách mà những người hâm mộ nguồn mở trong giới hàn lâm (và hơn thế) sẽ can dự vào, chúng tôi đã nói với những nhà tổ chức hàng đầu của nó, Ian Dolphin, Giám đốc Điều hành của Quỹ Apereo, và Patrick Masson, Tổng Giám đốc của OSI. Đây là những gì họ phải nói.
Hỏi và Đáp
Hội nghị thượng đỉnh Mở là về cái gì? Hãy nói cho chúng tôi nhiều hơn về lịch sử sự kiện.
Ian Dolphin (ID): Từng là rõ ràng đối với một số người đã tham gia trong các sáng kiến mở trong giáo dục đại học, rằng chúng ta chưa hẳn đã truyền đạt cũng tốt thế. Có 2 kết quả chính của sự không làm này, theo tôi. Đầu tiên, chúng ta chưa hẳn đã truyền đạt tốt “các bài học học được”. Thứ 2, chúng ta chưa hẳn đã gắn kết tốt những khe hở nhỏ của các sáng kiến. Hãy lấy vài ví dụ: các hệ thống quản lý học tập nguồn mở có thể dễ dàng hơn nhiều tạo ra và xuất khẩu các tài nguyên giáo dục mở. Chúng cũng có thể kết nối tốt hơn tới các kho khác nhau. Khi chúng ta bắt đầu thảo luận về các cơ hội thoát ra khỏi những gì có xu hướng sẽ là một bức tranh khép kín trong giáo dục đại học, thì ý tưởng về một sự kiện đưa ra các sáng kiến cùng nhau cho các cuộc thảo luận mở rộng - xung quanh tính mở, xung quanh thực hành tốt, và xung quanh các ưu tiên chia sẻ - đã bắt đầu định hình.
Patrick Masson (PM): Tập trung vào những gì Ian đã nêu về “những bài học học được”. Tôi đã nhấn mạnh nhu cầu thực tế trong giáo dục đại học để đánh giá “tính xác thực” của các sáng kiến mở. Đó là: Liệu sáng kiến mở có đưa ra được mức đánh giá và tham gia mà cơ sở kỳ vọng để trở thành đối tác thực sự trong tất cả các khía cạnh của dự án hay không? Giáo dục đại học đã thực sự ôm lấy rồi tính mở - phần mềm nguồn mở, các sách giáo khoa mở, nội dung mở, các khóa học mở, nghiên cứu mở, dữ liệu mở, ... Điều này đã tạo ra một thị trường cho các ý tưởng, các dự án, các cộng đồng, và các công ty. Thách thức tôi đã lưu ý với quá nhiều dự án đang nổi lên là: Làm thế nào các cơ sở cam kết trung thực và trực tiếp để tiếp tục các mục tiêu của riêng họ trong khi đóng góp cho các cơ sở khác, và làm thế nào chính các cơ sở đó đánh giá được các nguyên tắc và thực hành của các dự án và các cộng đồng họ đang cân nhắc ra nhập để chắc chắn họ đi cùng với các giá trị và các đường hướng của riêng họ được? Hội nghị thượng đỉnh Mở sẽ cung cấp diễn đàn cho tất cả những ai tham gia trong các sáng kiến mở phát hiện và thảo luận làm thế nào các tổ chức khác nhau có thể cam kết “một cách xác thực”.
Cả 2 ông có các nền tảng trong môi trường giáo dục. Vì sao từng người trong các ông lại quan tâm tới chủ đề này?
ID: Nền tảng của tôi như là một nhà giáo dục có can dự vào sự tạo ra phần mềm, PMNM, và các cộng đồng khác nhau duy trì PMNM. Đối với tôi, các cộng đồng khác nhau, mở, như các cộng đồng được Apereo đại diện, giúp tạo thuận lợi cho sự đổi mới. Chúng tôi đang ở điểm khởi đầu của con đường xung quanh công nghệ và làm thế nào nó có thể tạo thuận lợi cho việc học, dạy, và nghiên cứu. Việc duy trì năng lực cho đổi mới và tính mở trong giáo dục phù hợp tốt không chỉ với các tập quán và các giá trị của giáo dục, mà còn với nhu cầu thực hành để duy trì sự đổi mới sát với thực hành giáo dục khi nó tiến hóa.
PM: Tôi đoán tôi đi tới điều này từ quan điểm khác, với các vai trò trải từ nhà phân tích - nhà lập trình ở UCLA cho tới CTO và CIO ở UMass và Đại học Bang New York, một cách tương ứng. Tôi từng luôn được/bị thách thức với làm thế nào để giới thiệu và triển khai các dự án mở để hỗ trợ cho sứ mệnh hàn lâm và/hoặc hành chính. Có được hầu hết, và cung cấp sự hỗ trợ tốt nhất cho, các sáng kiến mở đòi hỏi các tổi chức phải thay đổi cách mà họ vận hành. Khi các tài nguyên là không trực tiếp dưới sự kiểm soát của cơ sở, khi việc ra quyết định là phân tán khắp một cộng đồng rộng lớn, thì các cơ sở phải dịch chuyển từ các mô hình quản lý từ trên xuống theo truyền thống. Các sáng kiến mở đòi hỏi tính mở khắp tổ chức. Tôi rất quan tâm về cách mà các cơ sở có thể tạo ra các tổ chức mở để cam kết tốt nhất được với các cộng đồng thực hành mở.
Các ông hy vọng gì những người tham gia sẽ có được khi tham gia sự kiện?
ID: Tôi hy vọng họ sẽ giành được tri thức các lĩnh vực liền kề trong bức tranh mở - và quả thực một tầm nhìn tốt hơn của bức tranh tổng thể đó. Tôi tin tưởng sự kiện cũng đưa ra cơ hội để hiểu tốt hơn về tính mở khắp một số tuyên ngôn, và cơ hội lớn để học hỏi từ thực hành của những người khác.
PM: Đồng ý. Tôi đang hy vọng mọi người sẽ nhận ra rằng bất chấp những kết quả đầu ra của các dự án của riêng họ, có các nguyên tắc và thực hành chung trải khắp tất cả các sáng kiến mở làm cho cả các dự án và những người tham gia thành công.
Jim Whitehurst sẽ là diễn giả chính ở Hội nghị thượng đỉnh Mở. Các ông có thể cho chúng tôi ý tưởng về những gì ông ta đề cập tới trong bài nói chuyện của mình không? Các ông nhìn các nguyên tắc mà ông ta thảo luận như thế nào trong cuốn sách gần đây của ông ta, Tổ chức Mở, việc ăn khớp với các chủ đề chính của Hội nghị thượng đỉnh Mở?
ID: Giáo dục, đặc biệt giáo dục đại học, đã thấy những thay đổi đáng kể trong 5 thập kỷ gần đây, nhưng cách mà các cơ sở của chúng ta được tổ chức và vận hành có lẽ vẫn ít được thay đổi hơn so với được kỳ vọng. Tôi tin tưởng rằng cơ hội để nghe cách các nguyên tắc và các tiếp cận mở có thể được áp dụng và có quan hệ với tổ chức và các cấu trúc tổ chức sẽ cực kỳ có giá trị. Chúng ta thường được nói rằng giáo dục đại học cần học từ doanh nghiệp - vâng đây là cơ hội để nghe từ một doanh nghiệp không theo cách truyền thống và thành công. Thậm chí nếu bạn không tới từ lĩnh vực phần mềm - hoặc có lẽ đặc biệt hơn nếu bạn không tới từ lĩnh vực phần mềm - thì đây là cuộc hội thoại phải diễn ra.
PM: Đối với nhiều người là các đồng nghiệp cũ của tôi (và các khu trường của họ nữa), thì Linux, và đặc biệt là Red Hat, có thể từng là kinh nghiệm đầu tiên của họ với PMNM. Như tôi đã nêu ở trước, tôi tin tưởng các cơ sở và các lãnh đạo của họ cần ôm lấy các đặc tính mở để hưởng lợi nhất từ các sáng kiến mở. Jim có vị thế độc nhất vô nhị, như là lãnh đạo và người đổi mới, để đưa ra sự tinh thông trong việc tạo ra và quản lý các tổ chức mở như vậy cũng như các nguyên tắc và thực hành thúc đẩy tính mở. Nếu khu trường của bạn đang định cam kết với nguồn mở - không chỉ như một người tiêu dùng, mà như một người đóng góp - thì vì sao không học từ ai đó đã làm nó rồi, và đã làm nó rất tốt rồi chứ?
Bất kỳ điều gì bạn muốn nói cho chúng tôi mà chúng tôi còn chưa động tới?
PM: Vâng, tất nhiên bổ sung thêm cho Jim, tôi muốn đề cập tới các diễn giả khác từ khắp các cộng đồng giáo dục mở:
  • Nicole Allen: Giám đốc của Giáo dục Mở, SPARC (Scholarly Publishing and Academic Resources Coalition)
  • Joel Barciauskas, Giám đốc Kỹ thuật, Open edX
  • Martin Dougiamas, Người sáng lập và CEO của Moodle
  • Beth Harris, Nhà sử học về Nghệ thuật và đồng sáng lập của Smarthistory, từng là Trưởng khoa, Nghệ thuật và Lịch sử, Viện Khan và Giám đốc Học tập Số, MoMA
  • Nina Huntemann, Giám đốc Hàn lâm và Nghiên cứu, edX
  • Ben Kallos, Lập trình viên Tự do và Nguồn Mở và Thành viên Hội đồng Thành phố New York phục vụ Quận 5 và là Chủ tịch của Ủy ban các Công việc Chính phủ
  • Deb Nicholson, Giám đốc Tiếp cận Cộng đồng, Mạng Đổi mới Mở (Open Invention Network), Giám đốc Cộng đồng, GNU MediaGoblin
  • Steven Zucker, Đồng sáng lập của Smarthistory, Nhà sử học về Nghệ thuật ở Viện Khan
Hơn nữa, để học nhiều hơn về hội nghị (bao gồm cả cách đăng ký), và nhận các bản cập nhật về các diễn giả và các phiên làm việc của chúng tôi, xem trên website của hội nghị. Đăng ký tham dự Hội nghị thượng đỉnh Mở đang diễn ra hiện nay.
The conversation around "open" in higher education has been happening for some time—but as open source has become mainstream in the software industry the conversation in the educational space has exploded. From universities offering degree programs in open source software, to MOOCs from top tier colleges providing open enrollment courses, to universities around the world creating their own open source software projects, open is rapidly becoming a standard in higher ed.
With all these conversations happening amongst many disparate groups of stakeholders, the Open Source Initiative and the Apereo Foundation both saw an opportunity to break down silos and bring everyone together to collaborate, share lessons learned, and form stronger bonds to advance open in education. The first step is the upcoming Open Summit in New York City, a one-day event taking place May 23 at New York University.
Amongst the many excellent topics on offer to attendees, we are proud to welcome Red Hat President and CEO Jim Whitehurst as our keynote speaker. He'll discuss many of the principles for collaboration he's laid out in his recent book, The Open Organization, and show how these principles can be most successfully applied in the context of academia, from the classroom to the IT department.
To learn more about the event, its history, and how open source aficionados in academia (and beyond) should be involved, we spoke with its lead organizers, Ian Dolphin, Executive Director of the Apereo Foundation, and Patrick Masson, General Manager of the Open Source Initiative. Here's what they had to say.
Q & A

How did Open Summit come about? Tell us more about the history of the event.

Ian Dolphin (ID): It's been apparent for a while, to a number of people engaged in open initiatives in higher education, that we don't necessarily communicate too well. There are two main results of this failure, to my mind. First, we don't necessarily transfer "lessons learned" well. Second, we don't necessarily join up well at the interstices of initiatives. Let's take a couple of examples: open source learning management systems could much more easily author and export open educational resources. They could also better better connect to a variety of repositories. As we began to discuss the opportunities to escape what tends to be a siloed landscape in higher ed, the idea of an event that drew together initiatives for extended conversations—around openness, around good practice, and around sharing priorities—began to take shape.
Patrick Masson (PM): Focusing in on what Ian mentioned about "lessons learned," I'd highlight the real need within higher education to assess the "authenticity" of open initiatives. That is: Does the open initiative provide the level of access and participation the institution expects in order to be a genuine partner in all aspects of the project? Higher education has really embraced openness— open source software, open textbooks, open content, open courses, open research, open data, etc. This has created quite a marketplace for ideas, projects, communities, and companies. The challenge I've noticed with so many emerging projects is: How do institutions engage honestly and directly in order to further their own goals while contributing to others, and how do these same institutions assess the principles and practices of the projects and communities they're considering joining to be sure they align with their own values and direction? Open Summit will provide a forum for all those participating in open initiatives to discover and discuss just how diverse organizations can engage "authentically."

Both of your have backgrounds in the educational space. Why is this topic of personal interest to each of you?

ID: My background is as an educator who got involved in software creation, open source software, and the diverse communities that sustain open source software. For me, diverse, open communities, such as those represented by Apereo, help facilitate innovation. We're at the beginning of a journey around technology and how it might facilitate learning, teaching, and research. Keeping a capacity for innovation and openness in education aligns well not only with the general ethos and values of education, but with the practical need to keep innovation close to educational practice as it evolves.
PM: I guess I come to this from another perspective, with roles ranging from Programmer Analyst at UCLA to CTO and CIO at UMass and the State University of New York, respectively. I've always been challenged with how to introduce and implement open projects in support of either the academic and/or administrative mission. Getting the most of, and providing the best support for, open initiatives requires organizations to change how they operate. When resources are not directly under the control of the institution, when decision-making is distributed across a large community, institutions have to shift from traditional top-down management models. Open initiatives require openness across the organization. I am very interested in how institutions can create open organizations to best engage with open communities of practice.

What do you hope attendees will gain by participating in the event?

ID: I hope they'll gain knowledge of adjacent areas in the open landscape—and indeed a better vision of the landscape as a whole. I believe the event also offers the opportunity to better understand openness across a number of manifestations, and a great opportunity to learn from the practice of others.
PM: Agreed. I'm hoping folks will walk out realizing that despite the outputs of their own projects, there are common principles and practices that span all open initiatives that make both the projects and participants successful.

Jim Whitehurst will be keynoting Open Summit. Can you give us an idea of what he'll cover in his talk? How do you see the principles he discusses in his recent book, The Open Organization, dovetailing with the key themes of Open Summit?

ID: Education, particularly higher education, has seen significant changes in the last five decades, but the way our institutions are organized and run remains perhaps less changed than one might expect. I believe that the opportunity to hear how open principles and approaches can be applied and relate to organization and organizational structures will be extremely valuable. We're often told that higher education needs to learn from business—well here's an opportunity to hear from an unconventional and successful business. Even if you're not from the software side of the house—or perhaps more specifically especially if you're not from the software side of the house—this is a dialog that has to take place.
PM: For many of my former colleagues (and their campuses as well), Linux, and particularly Red Hat, may have been their first experience with open source software. As I mentioned above, I believe institutions and their leaders need to embrace an open ethos in order to benefit most from open initiatives. Jim is uniquely positioned, as a leader and innovator, to offer expertise on the creation and management of such open organizations as well as the principles and practices that foster openness. If your campus is going to engage with open source—not just as a consumer, but as a contributor—why not learn from someone who's done it, and done it very well?

Anything you'd like to tell us that we haven't touched on yet?

PM: Well, of course in addition to Jim, I'd like to tout our other speakers from across the open education community:
  • Nicole Allen: Director of Open Education, SPARC (Scholarly Publishing and Academic Resources Coalition)
  • Joel Barciauskas, Engineering Manager, Open edX
  • Martin Dougiamas, Founder and CEO of Moodle
  • Beth Harris, Art historian & co-founder of Smarthistory, previously Dean, Art and History, Khan Academy and Director of Digital Learning, MoMA
  • Nina Huntemann, Director of Academics and Research, edX
  • Ben Kallos, Free and Open Source Developer and New York City Council Member serving District 5 and Chair of the Committee on Governmental Operations
  • Deb Nicholson, Community Outreach Director, Open Invention Network, Community Manager, GNU MediaGoblin
  • Steven Zucker, Co-founder of Smarthistory, Art Historian at Khan Academy
Also, to learn more about the conference (including how to register), and to receive updates regarding our speakers and sessions, see the conference website. Registration for Open Summit is open now.
Dịch: Lê Trung Nghĩa

Thứ Năm, 14 tháng 4, 2016

Sổ tay Tài nguyên Giáo dục Mở (OER) cho các nhà giáo dục - Bản dịch sang tiếng Việt




Là tài liệu do nhiều người cùng tạo ra, mang giấy phép Creative Commons Ghi công - Chia sẻ Tương tự (CC BY-SA) phiên bản 3.0. Cuốn số tay này được thiết kế để giúp cho các nhà giáo dục tìm kiếm, sử dụng, phát triển và chia sẻ OER để cải thiện tính hiệu quả của họ trên trực tuyến và trong lớp học.

Bạn có thể xem và tải về bản dịch sang tiếng Việt của tài liệu có 8 trang này tại địa chỉ:

Blogger: Lê Trung Nghĩa

Thứ Tư, 13 tháng 4, 2016

Bản vá ngày thứ ba - tháng 4/2016


Microsoft Patch Tuesday - April 2016

Tuesday, April 12, 2016
Bài được đưa lên Internet ngày: 12/04/2016
Các lỗi sống còn trong các phần mềm của Microsoft năm thứ 2 sau ngày 08/04/2014
Bản vá ngày thứ Ba tháng 4/2016 đã tới với việc Microsoft phát hành tập các bản tin an toàn tháng mới nhất để giải quyết các chỗ bị tổn thương về an toàn trong các sản phẩm của họ. Phát hành tháng này có 13 bản tin có liên quan tới 31 chỗ bị tổn thương. 6 bản tin giải quyết các chỗ bị tổn thương được xếp hạng sống còn trong Edge, Graphic Components, Internet Explorer, XML Core Service, Microsoft Office và Adobe Flash Player. 7 bản tin còn lại giải quyết các chỗ bị tổn thương quan trọng trong Hyper-V, Microsoft Office và các thành phần khác của Windows.
Các bản tin được xếp hạng sống còn
Các bản tin từ MS16-037 tới MS16-040 và các bản tin MS16-042, MS16-050 được xếp hạng sống còn trong phát hành tháng này.
MS16-037 có liên quan tới 6 chỗ bị tổn thương trong Internet Explorer. Các chỗ bị tổn thương nghiêm trọng nhất cho phép kẻ tấn công lừa website thực thi mã tùy ý trên thiết bị của nạn nhân vì chỗ bị tổn thương hỏng bộ nhớ trong trình duyệt. Kẻ tấn công có thể hạn chế mã thực thi với các quyền quản trị y hệt như người sử dụng hiện hành, nhưng với nhiều người sử dụng có các quyền quản trị đầy đủ, một kẻ tấn công có thể sử dụng điều này để kiểm soát hoàn toàn thiết bị. Để khai thác chỗ bị tổn thương, kẻ tấn công phải làm cho nạn nhân xem nội dung được kẻ tấn công kiểm soát. Trước đó, điều này đã không chứng minh được là giới hạn chính đối với kẻ tấn công. Những kẻ tấn công đã chứng minh là thông thạo trong việc gửi các thông điệp spam, làm tổn thương các website hợp pháp và lạm dụng các mạng quảng cáo web để tái định tuyến những người sử dụng tới các website độc hại.
MS16-038 giải quyết 5 chỗ bị tổn thương thực thi mã từ xa bổ sung thêm trong trình duyệt Edge của Microsoft, và một chỗ bị tổn thương phổ biến đối với IE và Edge, nó cũng được mô tả trong MS16-037. Nghiêm trọng nhất trong số các chỗ bị tổn thương đó cũng cho phép kẻ tấn công thực thi mã tùy ý trên thiết bị của nạn nhân vì các chỗ bị tổn thương bộ nhớ hỏng. Những kẻ tấn công lừa website độc hại để khai thác các chỗ bị tổn thương trên các thiết bị của nạn nhân như được mô tả trước đó.
MS16-039 giải quyết 3 chỗ bị tổn thương quan trọng leo thang quyền ưu tiên trong trình điều khiển chế độ nhân Windows, và 1 chỗ bị tổn thương sống còn, CVE-2016-0145 trong thư viện phông Windows mà cho phép thực thi mã ở xa. Các chỗ bị tổn thương trong các phông được nhúng trước đó đã được tìm thấy và được vá, lưu ý tới chỗ bị tổn thương mã từ xa của tháng 7/2015 được mở ra trong bản cập nhật MS15-078, và chỗ bị tổn thương về phông chữ được giải quyết trong MS13-053 và MS13-054 từ tháng 07/2013. Các khai thác trong các phông nhúng là vật trung gian đặc biệt hữu dụng cho những kẻ tấn công vì chúng có thể được đưa vào trong cả các website độc hại lẫn vào các tài liệu của Microsoft Office.
Hơn nữa, các chỗ bị tổn thương thực thi mã từ xa được giải quyết với MS16-040 và MS16-042. XML Core Services bị tổn thương với mã XML bị làm giả đặc biệt đang được sử dụng để thực thi mã tùy ý, như được đề cập tới trong MS16-040. Microsoft Office bị tổn thương với 4 chỗ bị tổn thương thực thi mã từ xa tách biệt trong MS16-042. Điều duy nhất trong số đó được xếp hạng như là sống còn thay vì quan trọng là CVE-2016-0127, nó bị khai thác thông qua Preview Pane.
MS16-050 là câu trả lời của Microsoft cho Bản tin An toàn APSB16-10 của Adobe, và giải quyết 10 chỗ bị tổn thương khác nhau trong Adobe Flash Player trong nhiều phiên bản của Windows 8.1, Windows Server 2012 và Windows 10. Một trong các chỗ bị tổn thương hiện đang bị khai thác bởi Bộ công cụ Magnitude Exploit Kit. Hữu ích, bản tin đó có các chỉ dẫn để vô hiệu hóa Flash Player bằng việc sửa đăng ký, và thông qua việc áp dụng Chính sách Nhóm (Group Policy). Các nhà quản trị có lẽ muốn cẩn thận xem xét các rủi ro và các lợi ích của việc sử dụng các kỹ thuật loại bỏ Flash Player khỏi các thiết bị mà đối với các thiết bị đó họ có trách nhiệm.
Các bản tin được xếp hạng quan trọng
Các bản tin của Microsoft MS16-041 và từ MS16-044 tới MS16-049 được xếp hạng quan trọng.
MS16-041 giải quyết CVE-2016-0148 trong .NET framework của Microsoft. Trong một vài hệ điều hành của Microsoft chỗ bị tổn thương này có thể được sử dụng để thực thi mã ở xa, nhưng chỉ nếu kẻ tấn công đã truy cập được rồi tới hệ thống cục bộ. Trong một vài môi trường, chỗ bị tổn thương đó có thể được sử dụng để tiến hành tấn công từ chối dịch vụ, các hệ điều hành khác của Microsoft không bị ảnh hưởng vì chỗ bị tổn thương này.
MS16-044 giải quyết CVE-2016-0153, chỗ bị tổn thương thực thi mã ở xa bên trong Microsoft OLE. Windows 10 không bị ảnh hưởng vì chỗ bị tổn thương này.
MS16-045 giải quyết 3 chỗ bị tổn thương trong Hyper-V. CVE-2016-0088 cho phép người sử dụng trong hệ điều hành máy trạm thực thi mã tùy ý trong máy chủ Hyper-V. 2 chỗ bị tổn thương khác cho phép những người sử dụng trên các hệ điều hành máy trạm đọc thông tin bộ nhớ từ hệ điều hành Hyper-V.
MS16-046 giải quyết một chỗ bị tổn thương trong Windows 10 mà cho phép người sử dụng có xác thực leo thang các quyền ưu tiên của họ và thực thi mã tùy ý như một người quản trị. MS16-048 giải quyết chỗ bị tổn thương leo thang quyền ưu tiên trong quản lý các thẻ token tiến trình trong bộ nhớ của Hệ thống phụ Thời gian chạy chế độ Máy trạm - Máy chủ (Client-Server Run-time Subsystem) mà nó cho phép người sử dụng có xác thực vượt qua được các tính năng an toàn và thực thi mã như một người quản trị.
MS16-047 giải quyết khai thác tiềm năng nơi mà kẻ tấn công có thể tung ra một cuộc tấn công người đứng giữa đường để vô hiệu hóa xác thực kênh RPC để giả danh người sử dụng có xác thực. Bằng việc khai thác chỗ bị tổn thương này trong các giao thức từ xa của Security Account Manager và Local Security Authority Domain Polic, kẻ tấn công sau đó có thể truy cập cơ sở dữ liệu Security Account Manager.
MS16-049 giải quyết cuộc tấn công từ chối dịch vụ trong kho giao thức HTTP 2.0 (HTTP.sys) của Windows 10. Một kẻ tấn công có thể tạo ra yêu cầu giả đặc biệt HTTP 2.0 mà có thể dẫn tới các hệ thống bị tổn thương trở nên không đáp trả được.
Bao trùm
Để trả lời cho các tiết lộ của các bản tin, Talos đang phát hành các quy tắc sau đây để giải quyết các chỗ bị tổn thương đó. Xin lưu ý rằng các quy tắc bổ sung có thể được tung ra trong tương lai và các quy tắc hiện hành tuân theo thông tin về chỗ bị tổn thương bổ sung đang chờ thay đổi. Đối với thông tin về quy tắc hiện hành nhất, xin tham chiếu tới Trung tâm Phòng vệ của bạn, FireSIGHT Management Center hoặc Snort.org.
Các quy tắc Snort
  • Các quy tắc liên quan tới Microsoft: 38458 - 38464, 38469 - 38470, 38473 - 38474, 38479 - 38484, 38489 - 38490, 38495 - 38496, 38503 - 38506
  • Có liên quan tới các bản tin của Adobe: 38401 - 38402, 38413 - 38416, 38425 - 38428


Patch Tuesday for April has arrived with Microsoft releasing their latest monthly set of security bulletins to address security vulnerabilities in their products. This month's release contains 13 bulletins relating to 31 vulnerabilities. Six bulletins address vulnerabilities rated as critical in Edge, Graphic Components, Internet Explorer, XML Core Service, Microsoft Office and Adobe Flash Player. The remaining seven bulletins address important vulnerabilities in Hyper-V, Microsoft Office and other Windows components.

Bulletins Rated Critical

Bulletins MS16-037 through MS16-040 and bulletins MS16-042, MS16-050 are rated as critical in this month's release.
MS16-037 is related to six vulnerabilities in Internet Explorer. The most severe vulnerabilities allow an attacker to craft a website that executes arbitrary code on the victim's device due to the memory corruption vulnerabilities in the browser. The attacker would be limited to executing code with same administrative rights as the current user, but with many users having full administrator rights, an attacker could use this to take full control of a device. To exploit the vulnerability the attacker must get the victim to view attacker controlled content. Previously, this has not proved a major limitation for attackers. Attackers have proved adept at sending spam messages, compromising legitimate websites and abusing web advertising networks to redirect users to malicious websites.
MS16-038 addresses five additional remote code execution vulnerabilities in Microsoft's Edge browser, and one vulnerability common to IE and Edge, which is also described in MS16-037. The most severe of these vulnerabilities also allow attacker to execute arbitrary code on a victim's device due to memory corruption vulnerabilities. Attackers could craft a malicious website to exploit the vulnerabilities on victim's devices as previously described.
MS16-039 addresses three important escalation of privilege vulnerabilities in the Windows Kernel mode driver, and the critical vulnerability, CVE-2016-0145 in the Windows font library which allows remote code execution. Vulnerabilities in embedded fonts have previously been found and patched, notably the remote code vulnerability of July 2015 disclosed in the out of band update MS15-078, and the font vulnerabilities addressed in MS13-053 and MS13-054 from July 2013. Exploits in embedded fonts are a particularly useful vector for attackers since they can be included in both malicious websites and Microsoft Office documents.
Further remote code execution vulnerabilities are addressed by MS16-040 and MS16-042. XML Core Services is vulnerable to specially crafted XML code being used to execute arbitrary code, as addressed in MS16-040. Microsoft Office is vulnerable to four separate remote code execution vulnerabilities addressed in MS16-042. The only of these rated as critical rather than important is CVE-2016-0127 which is exploitable via the Preview Pane.
MS16-050 is Microsoft's response to Adobe's Security Bulletin APSB16-10, and address ten different vulnerabilities in the Adobe Flash Player on multiple versions of Windows 8.1, Windows Server 2012 and Windows 10. One of these vulnerabilities is currently being exploited by the Magnitude Exploit Kit. Helpfully, the bulletin contains instructions for disabling Flash Player by modifying the registry, and through applying a Group Policy. Administrators may wish to carefully consider the risks and benefits of using these techniques to remove Flash Player from devices for which they are responsible.

Bulletins Rated Important

Microsoft bulletins MS16-041 and bulletins MS16-044 through to MS16-049 are rated as important.MS16-041 addresses CVE-2016-0148 within Microsoft's .NET framework. On some Microsoft operating systems this vulnerability can be used for remote code execution, but only if the attacker already has access to the local system. In some environments the vulnerability can be used to conduct a denial of service attack, other Microsoft operating systems are unaffected by this vulnerability.
MS16-044 addresses CVE-2016-0153, a remote code execution vulnerability within Microsoft OLE. Windows 10 is unaffected by this vulnerability.
MS16-045 addresses three vulnerabilities in Hyper-V. CVE-2016-0088 allows a user on a guest operating system to execute arbitrary code on the Hyper-V host. Two further vulnerabilities allow users on guest operating systems to read memory information from the Hyper-V operating system.MS16-046 addresses a vulnerability within Windows 10 that permits an authenticated user to escalate their privileges and execute arbitrary code as an administrator. MS16-048 addresses a further escalation of privilege vulnerability in the management of process tokens in memory of the Client-Server Run-time Subsystem which allows an authenticated user to bypass security features and execute code as an administrator.
MS16-047 addresses a potential exploit where an attacker could launch a man-in-the-middle attack to downgrade the authentication of the RPC channel in order to impersonate an authenticated user. By exploiting this vulnerability in the Security Account Manager and Local Security Authority Domain Policy remote protocols the attacker could then access the Security Account Manager database. MS16-049 addresses a denial of service attack in the HTTP 2.0 protocol stack (HTTP.sys) of Windows 10. An attacker could create a specially crafted HTTP 2.0 request that would lead vulnerable systems to become unresponsive.

Coverage

In response to these bulletin disclosures, Talos is releasing the following rules to address these vulnerabilities. Please note that additional rules may be released at a future date and current rules are subject to change pending additional vulnerability information. For the most current rule information, please refer to your Defense Center, FireSIGHT Management Center or Snort.org.

Snort Rules

  • Microsoft Related Ruled: 38458 - 38464, 38469 - 38470, 38473 - 38474, 38479 - 38484, 38489 - 38490, 38495 - 38496, 38503 - 38506
  • Adobe Bulletin Related: 38401 - 38402, 38413 - 38416, 38425 - 38428
Dịch: Lê Trung Nghĩa

Thứ Ba, 12 tháng 4, 2016

Ai đó rời tổ chức của bạn ư? Là lúc để kỷ niệm đấy


Someone left your organization? Time to celebrate
Posted 31 Mar 2016 by David Burkus
Bài được đưa lên Internet ngày: 31/03/2016


Khi nhiệm kỳ công việc cá nhân ở các công ty trở nên ngắn hơn, các nhà lãnh đạo chào tạm biệt thậm chí những người tốt nhất thường xuyên hơn. Họ làm điều này thế nào - liệu họ có kỷ niệm hoặc tránh xa những người ra đi - ảnh hưởng không chỉ tới những người ra đi mà cả những người ở lại, cũng như hiệu năng của cả các hãng cũ và mới.
Các công ty duy trì các mạng học sinh đại học ở vị thế tốt hơn để tận dụng nguyên tắc mà các nhà xã hội học gọi là “tính gắn kết” (embeddedness). Mỗi nền công nghiệp là một mạng các kết nối: các công ty, các khách hàng, các nhà bán hàng, các đối thủ cạnh tranh, các đối tác. Tính gắn kết tham chiếu tới vị thế của công ty trong một mạng lớn hơn. Và vị thế là quan trọng: nghiên cứu chỉ ra rằng sức mạnh của các mối quan hệ của công ty đối với các thực thể khác trong nền công nghiệp ảnh hưởng trực tiếp tới sức mạnh tài chính của công ty đó.
Hiệu ứng này từng được phát hiện lần đầu từ Brian Uzzi trong nghiên cứu ông đã tiến hành sớm trong sự nghiệp của mình. Trên thực tế, đó từng là luận văn tiến sỹ của ông. Uzzi đã quyết định nghiên cứu nền công nghiệp may mặc ở Thành phố New York, một mạng phức tạp mà ông từng quen thuộc một chút rồi với nó. “Khi gia đình tôi tới đây [nước Mỹ] từ Ý, họ vừa đi vào buôn bán chỉ. Ông tôi từng là thợ may; mẹ tôi tới trường dạy may vá”, ông nhớ lại. Uzzi đã biết rằng nền công nghiệp may mặc của thành phố New York từng là mạng chín muồi để nghiên cứu, và ông biết rằng các lãnh đạo công ty khác nhau đã tương tác khác nhau. Những gì ông muốn tìm ra là liệu các hành động của họ trong mạng đó có tạo ra sự khác biệt cho công ty của họ hay không.
Uzzi đã nghiên cứu 23 hãng thêu thùa ở thành phố New York và đã tiến hành các cuộc phỏng vấn với các CEO và các lãnh đạo chính khác của từng công ty. Ông cũng đã quan sát các tương tác của công ty với các nhân viên và các nhà phân phối, các khách hàng, các nhà cung cấp, và các đối thủ cạnh tranh. Hơn nữa, ông đã thu thập thông tin về các giao dịch của công ty thong qua Liên đoàn Công nhân May mặc của Phụ nữ Quốc tế - ILGWU (International Ladies' Garment Workers' Union), một liên đoàn thương mại với hơn 80% các hãng thêu thùa tốt hơn của New York thuộc về nó. Uzzi cũng đã mô hình hóa khả năng thất bại đối với từng hãng trong nền công nghiệp đó đối với nghiên cứu của ông về các công ty, dựa vào số hãng thất bại trong năm theo lịch nghiên cứu của ông. Khi ông phân tích tất cả nghiên cứu của mình và so sánh các tương tác mạng của một hãng với khả năng thất bại của nó, Uzzi đã thấy thứ gì đó gây ngạc nhiên.
Giống như ông nghi ngờ, các hãng khác nhau đã tương tác khác nhau trong nền công nghiệp đó, và những khác biệt là có vấn đề. “Các mạng gắn kế của các tổ chức đạt tới ưu điểm cạnh tranh nhất định đối với những dàn xếp của thị trường”, Uzzi đã viết trong bài báo của ông về nghiên cứu đó. Một vài hãng đã tiến hành kinh doanh với chỉ một ít các nhà bán hàng tin cậy (những gì Uzzi gắn nhãn là “các mối quan hệ gần gũi” (close-knit ties), trong khi các hãng khác chuyển việc kinh doanh của họ ra ngoài bằng việc đưua ra nhiều nhiệm vụ cho các hãng khác nhau (“các mối quan hệ tay dài”) (arm's-lenth ties). Ông đã thấy rằng việc có các mối quan hệ gần gũi đã làm gia tăng các cơ hội sống sót của hãng - nhưng chỉ ở thời điểm trước khi việc quá gần gũi với quá ít hãng đã bắt đầu có ảnh hưởng tiêu cực.
Các hãng với sự thành công nhất trong nền công nghiệp đã duy trì sự pha trộn cứng cáp các mối quan hệ gần gũi và cánh tay dài và theo đuổi có chọn lọc các mối quan hệ nào để sử dụng khi nào. “Có sự cân bằng này giữa việc có các mối quan hệ cánh tay dài mà không đi sâu vào mối quan hệ đó, nhưng cho phép bạn quét thị trường rộng lớn hơn”, Uzzi đã giải thích. “Cùng lúc, năng lượng được bỏ ra mà bạn có thể đặt vào mối quan hệ gần gũi có thể đã được phân chia trong số hoặc qua nhiều mối quan hệ tay dài. Điều đó cho phép bạn có được thông tin từ nhiều quan điểm khác nhau và sau đó tích hợp nó để tạo ra lợi ích rất tốt”.
Một hãng mà đứng quá xa khỏi các hãng khác trong nền công nghiệp thì không thể tận dụng được những lợi ích của lòng tin hoặc có được sự trợ giúp để giải quyết các thách thức họ có lẽ gặp phải. Cùng lúc, việc quá gần gũi chỉ với ít các hãng sẽ cản trở cá nhân công ty đó khỏi việc có được đủ thông tin thị trường mới và khó áp dụng những thay đổi trong nền công nghiệp đó.
Sự cân bằng giữa các mối quan hệ gần gũi và tay dài chính xác là những gì mạng các học sinh đại học mang tới cho tổ chức cha của nó. Các nhân viên và các khách hàng hiện hành trở thành các mối quan hệ gần gũi với những người mà công ty đó tương tác thường xuyên. Cùng lúc, các cựu nhân viên tản mạn khắp các nền công nghiệp và các lĩnh vực cung cấp các mối quan hệ tay dài mà có thể chuyển tiếp các thông tin quan trọng và phục vụ như là các kết nối quan trọng. “Nếu tôi từng quản lý công ty”, Uzzi phác thảo, “Tôi có lẽ muốn duy trì các mối quan hệ mạnh với vài hãng. Nhưng tôi cũng có lẽ muốn có nhiều mối liên hệ lỏng lẻo hơn mà có thể có từ mạng các học sinh đại học của tôi. Không nhất thiết mọi người mà tôi có lẽ muốn tiếp cận và cố gắng có được việc kinh doanh mới từ đó, nhưng để sử dụng ít nhiều như là nghiên cứu thị trường. Vì thế tôi có thể tìm ra những gì đang diễn ra trong công ty của họ, trong thị trường của họ - chỉ dạng các thông tin chung. Tôi có lẽ muốn pha trộn các nguồn cho thông tin thị trường”.
Các công ty mà cam kết hoặc xây dựng các mạng học sinh đại học vẫn còn là thiểu số, nhưng số lượng của chúng đang gia tăng. Vì bản chất tự nhiên của công việc và bản chất tự nhiên của thay đổi quản lý, thậm chí cách thức các cựu công nhân được quản lý đang thay đổi cùng với nó. Những lợi ích mà các công ty đã gặt hái được từ các mạng, cũng như nghiên cứu về tầm quan trọng của sự pha trộn đúng phù hợp các kết nối mạng, chắc chắn hỗ trợ cho khái niệm giữ mối liên hệ với các cựu nhân viên. Có giá trị thực trong việc kỷ niệm những sự ra đi và hãy chắc chắn rằng tiệc chia tay đơn giản trở thành “gặp bạn sau nhé”.
As individual job tenure in companies becomes shorter, leaders say goodbye to even their best people more frequently. How they do this—whether they celebrate or shun the departed—affects not just those leaving but those who stay, as well as the performance of both the old and new firms.
Companies that maintain alumni networks are in a better position to leverage a principle that sociologists call "embeddedness." Every industry is a network of connections: companies, clients, vendors, competitors, and partners. Embeddedness refers to a company's location in the larger network. And location matters: research shows that the strength of a company's relationships to other entities in the industry directly affects that company's financial strength.
This effect was first uncovered by Brian Uzzi in research he conducted early in his career. In fact, it was his doctoral dissertation. Uzzi decided to study the garment industry in New York City, a complex network that he was already a little familiar with. "When my family came over here [the United States] from Italy, they both went into the needle trade. My grandfather was a tailor; my mother went to sewing school," he recalled. Uzzi knew that the New York City garment industry was a network ripe for study, and he knew that different company leaders interacted differently. What he wanted to find out was whether their actions in the network made a difference for their company.
Uzzi studied twenty-three apparel firms in New York City and conducted interviews with each company's CEO and other key executives. He also observed interactions with company employees and distributors, customers, suppliers, and competitors. In addition, he gathered information on company transactions through the International Ladies' Garment Workers' Union (ILGWU), the trade union to which over 80 percent of New York's better apparel firms belonged. The union kept records on the volume of exchanges between different firms in the industry. Uzzi also modeled the likelihood of failure for each firm in the industry against his research on the companies, based on the number of firms that failed during the calendar year of his research. When he analyzed all of his research and compared a firm's network interactions with its likelihood of failure, Uzzi found something surprising.
As he suspected, different firms interacted in the industry differently, and the differences mattered. "Embedded networks of organizations achieve a certain competitive advantage over market arrangements," Uzzi wrote in his article on the research. Some firms did business with only a few trusted vendors (what Uzzi labeled "close-knit ties"), while others portioned out their business by giving many small assignments to various firms ("arm's-length ties"). He found that having strong close-knit ties did increase a firm's chances of survival—but only to a point before being too close with too few firms began to have a negative impact.
The firms with the most success in the industry maintained a solid mix of close-knit and arm's-length ties and selectively chose which ties to use when. "There's this balance between having arm's-length ties that don't go as deeply into the relationship, but allow you to scan the market more broadly," Uzzi explained. "At the same time, the energy spent that you might put into a close-knit tie could have been split up among or across many arm's-length ties. That allows you to get information from many different points of view and then integrate it to produce the very best benefit."
A firm that is too distant from other firms in the industry can't leverage the benefits of trust or get help to solve the challenges they might face. At the same time, being too close to only a few firms prevents the individual company from getting enough new market information and being adaptive to changes in the industry.
That balance between close-knit and arm's-length ties is exactly what an alumni network brings to its parent organization. Current employees and clients become the close-knit ties with whom the company interacts frequently. At the same time, former employees scattered across industries and sectors provide arm's-length ties that can relay important information and serve as important connections. "If I were running a company," Uzzi outlined, "I would want to maintain strong ties with some firms. But I would also like to have lots of looser ties that could be from my alumni network. Not necessarily people that I would want to approach and attempt to get new business from, but to use as more or less market research. So I could find out what's going on in their company, in their market—just kind of general information. I would want that mix of sources for market information."
Companies that engage or build alumni networks are still in the minority, but their numbers are on the rise. As the nature of work and the nature of management change, the way even former workers are managed is changing along with it. The benefits that companies have reaped from networks, as well as the research on the importance of a proper blend of network connections, definitely support the concept of keeping in touch with former employees. There is real value in celebrating departures and making sure that a farewell simply becomes a "see you later."
Dịch: Lê Trung Nghĩa