Chủ Nhật, 25 tháng 12, 2011

Cuộc tấn công của vô số tin tặc vào Phòng Thương mại Mỹ


Massive hacker attack on US Chamber of Commerce
21 December 2011, 17:49
Bài được đưa lên Internet ngày: 21/12/2011
Lời người dịch: Vào năm 2010, Phòng Thương mại Mỹ đã bị tấn công dài ngày, có thể tới 1 năm, vào toàn bộ hệ thống máy tính với thông tin về 3 triệu công ty thành viên của Phòng. Cuộc tấn công phức tạp này có liên quan tới hơn 300 địa chỉ IP. Tới tháng 05/2010 thì cuộc tấn công ăn cắp dữ liệu này đã bị phát giác và bị làm cho ngừng. Hiện tại, “Phòng Thương mại đã gia tăng sự đáp trả an ninh như tột kết quả của cuộc tấn công này, và các nhân viên của nó bây giờ bị cấm không được mang theo các máy tính di động của họ khi du lịch tại các quốc gia nơi mà có một rủi ro gia tăng đối với cuộc tấn công. Thay vào đó, những nhân viên như vậy sẽ được phát những máy tính khác mà sẽ bị kiểm tra khi họ trở về”.
Theo báo cáo trên tạp chí Phố Uôn (WSJ), trong năm 2010 Phòng Thương mại Mỹ đã là nạn nhân của một cuộc tấn công khổng lồ từ Trung Quốc. Theo báo cáo, những kẻ thâm nhập trái phép đã giành được sự truy cập vào toàn bộ hệ thống, bao gồm cả các thông tin về 3 triệu công ty là thành viên của Phòng thương mại; tuy nhiên, còn chưa rõ chính xác những thông tin nào đã bị ăn cắp. Phòng Thương mại đại diện cho các lợi ích của các doanh nghiệp Mỹ tại Washington.
Một nguồn tin thân cận với cuộc điều tra nội bộ đã nói với WSJ rằng nhóm tin tặc có trách nhiệm về cuộc tấn công bị nghi ngờ có cộng tác với chính phủ Trung Quốc, dù các quan chức Trung Quốc đã từ chối mọi liên quan. Báo cáo nói rằng các tin tặc đã sử dụng spear-phishing – các thư điện tử có lời lẽ thận trọng mang những tệp đính kèm bị lây nhiễm – để giành được sự truy cập tới mạng. Đây từng là một hoạt động phức tạp có liên quan tới hơn 300 địa chỉ IP.
Các tin tặc được nói đã cài đặt ít nhất 6 cửa hậu thông qua đó họ có thể tự do truy cập được tới mạng. Những kẻ thâm nhập trái phép đã cài đặt các công cụ mà chúng sau đó đã sử dụng để sàng lọc các tài liệu của Phòng Thương mại, bằng cách tìm kiếm các từ khóa.
Sự thâm nhập này đã bị phát hiện vào tháng 05/2010 và ngay lập tức bị dừng lại. Vào lúc đó những kẻ tấn công có thể đã có sự truy cập tới các hệ thống tới 1 năm. Theo WSJ, cuộc tấn công đã bị phát hiện bởi FBI và Phòng Thương mại đã được cảnh báo. Sau việc giám sát các hoạt động của các tin tặc, sự kiểm tra an ninh kỹ lưỡng đã được tiến hành qua “một cuối tuần khi các tin tặc, những kẻ đã còn tiếp tục làm việc thường xuyên nhiều giờ, đã được dự kiến sẽ giảm việc thi hành công vụ”.
According to a report in the Wall Street Journal, in 2010 the US Chamber of Commerce was the victim of a massive hacker attack from China. According to the report, the intruders managed to gain access to the entire system, including information about the three million companies that are members of the Chamber; however, it is not clear exactly what information was stolen. The Chamber of Commerce represents the interests of US businesses in Washington.
A source familiar with the internal investigation told the WSJ that the hacker group responsible for the attack is suspected of cooperating with the Chinese government, although Chinese officials have denied any involvement. The report states that the hackers used spear-phishing – carefully worded emails carrying infected attachments – in order to gain access to the network. This was a complex operation involving more than 300 IP addresses.
The hackers are said to have installed at least six backdoors through which they could freely access the network. The intruders installed tools which they then used to sift through the documents of the Chamber of Commerce, searching for key words.
The break-in was discovered in May 2010 and immediately stopped. At that point the attackers may have had access to the systems for over a year. According to the WSJ, the attack was discovered by the FBI and the Chamber of Commerce was alerted. After observing the hackers' activities, the security overhaul which then followed took place over "one weekend when the hackers, who kept regular working hours, were expected to be off duty."
Theo các phát hiện của các nhà điều tra, 4 nhân viên làm việc với cảnh sát châu Á có lẽ từng là đích ngắm của hành động này: trong vòng 6 tuần các thư của họ đã bị đánh cắp.
Phòng Thương mại đã gia tăng sự đáp trả an ninh như tột kết quả của cuộc tấn công này, và các nhân viên của nó bây giờ bị cấm không được mang theo các máy tính di động của họ khi du lịch tại các quốc gia nơi mà có một rủi ro gia tăng đối với cuộc tấn công. Thay vào đó, những nhân viên như vậy sẽ được phát những máy tính khác mà sẽ bị kiểm tra khi họ trở về.
According to the investigators' findings, four employees who deal with Asian policy are likely to have been the target of the action: for six weeks their email correspondence was stolen.
The Chamber of Commerce has increased its security response as a result of this attack, and its employees are now prohibited from carrying their mobile computers when travelling in countries where there is an increased risk of attack. Instead, such employees will be issued with other computers which will be searched on their return.
(ehe)
Dịch tài liệu: Lê Trung Nghĩa

Thứ Năm, 22 tháng 12, 2011

Đức - Triển khai SAGA 5 là bắt buộc đối với các thực thể của Chính phủ liên bang


DE – Implementation of SAGA 5 made mandatory for Federal Government Entities
Submitted by Joinup SEMIC EDITOR on December 16, 2011
Bài được đưa lên Internet ngày: 16/12/2011
Lời người dịch: Chúng ta đều biết, muốn xây dựng thành công các ứng dụng và dịch vụ Chính phủ Điện tử thì Chính phủ phải có cây gậy để kiểm soát. Cây gậy đó đối với nước Đức chính là bộ các tài liệu: “Chuẩn và Kiến trúc cho các ứng dụng Chính phủ Điện tử” (Standards and Architecture for eGovernment Applications). Ngày 03/11/2011, Ủy ban CNTT của Chính phủ Liên bang Đức đã quyết định tiến hành triển khai phiên bản 5 của Chuẩn và Kiến trúc cho các Ứng dụng Chính phủ Điện tử - SAGA 5 là BẮT BUỘC đối với các thực thể của Chính phủ liên bang Đức PHẢI TRIỂN KHAI BẤT KỲ KHI NÀO XÂY DỰNG CÁC HỆ THỐNG PHẦN MỀM trong các cơ quan chính phủ liên bang. Bạn có thể tải về các bản dịch sang tiếng Việt của SAGA v2.0 và SAGA v3.0 ở đây và ở đây. Chính phủ điện tử ở Việt Nam rất cần được xây dựng theo chuẩn và kiến trúc một cách cơ bản như của SAGA!!!
Ngày 03/11/2011, Ủy ban CNTT của Chính phủ Liên bang Đức đã quyết định tiến hành triển khai phiên bản 5 của Chuẩn và Kiến trúc cho các Ứng dụng Chính phủ Điện tử (SAGA) bắt buộc đối với các thực thể của Chính phủ liên bang.
Trong khi các bộ có thể ban đầu quyết định hoặc có hoặc không triển khai SAGA phiên bản trước, thì quyết định của Ủy ban CNTT bây giờ ép buộc các cơ quan liên bang phải triển khai phiên bản 5 của SAGA cho tất cả các hệ thống phần mềm khi chọn CNTT. Thông qua quyết định này, mục đích của Ủy ban CNTT là để thống nhất các yêu cầu chất lượng và thiết lập các tiêu chí minh bạch trong lựa chọn công nghệ trong tất cả các dự án CNTT.
SAGA là một tài liệu biên soạn các tham chiếu cho các đặc tả và các phương pháp lựa chọn các hệ thống phần mềm của hành chính nhà nước. SAGA 5 tập trung vào các giao diện truyền thông, các định dạng trao đổi dữ liệu, và an ninh CNTT.
Bằng việc triển khai bắt buộc SAGA 5 cho các thực thể của Chính phủ Liên bang, Ủy ban CNTT cũng nhằm tới việc lan truyền rộng việc sử dụng nó. Điều này sẽ giúp cho Đức tăng cường được tính tương hợp, tính khả thi về kinh tế và an ninh của bức tranh CNTT liên bang.
On 3 November 2011, the IT Council of the Federal Government in Germany decided to make the implementation of the fifth version of 'Standards and Architectures for eGovernment Applications' (SAGA) mandatory for Federal Government entities.
While ministries could initially decide whether or not to implement the SAGA's previous version, the decision of the IT Council now imposes the federal authorities to implement the version 5 of SAGA to all software systems when choosing Information Technology. Through this decision, the objective of the IT Council is to uniform quality requirements and set up transparent criteria in the choice of technology in all IT projects.
SAGA is a compilation of references to specifications and methods for the selection of the software systems of public administration. SAGA 5 focuses on communication interfaces, data exchange formats, and IT security.
By making the implementation of SAGA 5 mandatory for Federal Government Entities, the IT Council also aims at spreading its use. This should help Germany to strengthen interoperability, economic feasibility and security of the federal IT landscape.
Về SAGA 5
SAGA 5 là một catalog công nghệ bắt buộc cho tất cả các hệ thống phần mềm của hành chính liên bang Đức. Các công nghệ phải được chọn theo các đặc tả trong SAGA trong tất cả các dự án phần mềm. SAGA có mục tiêu làm giảm các rủi ro và gia tăng các phát triển an toàn về đầu tư, lanh lẹ, an ninh, tính tương hợp, tính có thể sử dụng lại và tính có thể mở rộng được theo phạm vi của các hệ thống phần mềm. Nhà xuất bản SAGA là Ủy ban về CNTT của Chính phủ Liên bang.
Về Ủy ban CNTT
Ủy ban CNTT là cơ quan trung ương về kiểm soát liên bộ ở mức liên bang. Ngoài việc thiết lập Văn phòng Ủy viên hội đồng Chính phủ Liên bang về CNTT (Ủy viên hội đồng), tất cả các bộ của chính phủ đã thiết lập một vị trí về Giám đốc Công nghệ (CIO). Các CIO của tất cả các bộ trong chính phủ hình thành lên Ủy ban CNTT, nó quyết định về tất cả các vấn đề chiến lược, bao gồm cả chiến lược và an ninh CNTT của Chính phủ Điện tử Đức.
About SAGA 5
SAGA 5 is a mandatory technology catalogue for all software systems of the German federal administration. Technologies must be choosen according to the classifications in SAGA in all software projects. SAGA aims at reducing risks and increasing investment-safe developments, agility, security, interoperability, reusability and scalability of software systems. Publisher of SAGA is the Federal Government Commissioner for Information Technology.
About the IT Council
The IT Council is the central body for inter-departmental control at the federal level. Apart from establishing the Office of the Federal Government Commissioner for Information Technology (Commissioner), all government departments have set up a position of a Chief Information Officer (CIO). CIOs of all government departments form the IT Council, which decides on all strategic issues, including Germany’s eGovernment strategy and IT security.
Dịch tài liệu: Lê Trung Nghĩa

Thị trưởng Munich: Máy tính xách tay của EU nên có LibreOffice hoặc OpenOffice


Mayor of Munich: "EU laptops should have LibreOffice or OpenOffice"
Submitted by Gijs HILLENIUS on December 20, 2011
Bài được đưa lên Internet ngày: 20/12/2011
Tất cả các máy tính xách tay được các quan chức châu Âu sử dụng nên cài đặt hoặc LibreOffice hoặc OpenOffice, 2 bộ phần mềm văn phòng nguồn mở. Điều này do thị trường thành phố Munich, Christian Ude gợi ý cho Neelie Kroes, Phó Chủ tịch của Ủy ban châu Âu (EC) và Ủy viên Chương trình nghị sự Số của châu Âu, trong một bức thư được công khai của chính quyền thành phố này hôm 02/12.
All laptops used by European officials should have either LibreOffice or OpenOffice installed, two open source suites of office applications. This suggest the mayor of the German city of Munich, Christian Ude, to Neelie Kroes, Vice President of the European Commission and European Digital Agenda Commissioner, in a letter made public by the city administration on 2 December.
Lời người dịch: Thị trưởng thành phố Munich của Đức, Ude đã gửi thư cho Neelie Kroes, Phó Chủ tịch EC và Ủy viên hội đồng Chương trình nghị sự Số của EU, thúc giục Kroes bắt buộc sử dụng các tiêu chuẩn mở cho tất cả các cơ quan nhà nước tại Liên minh châu Âu. Sử dụng tuyệt đối các tiêu chuẩn mở canh gác cho các dữ liệu còn có khả năng truy cập được, bất chấp phần mềm được sử dụng để tạo ra các tài liệu đó, ông viết. “Một cam kết liên châu Âu cho việc sử dụng các tiêu chuẩn mở có thể làm cho sự cạnh tranh giữa các cơ quan hành chính tại châu Âu dễ dàng hơn, giảm thiểu tải công việc và giúp tiết kiệm chi phí... Việc sử dụng PMTDNM cho phép bạn cài đặt một hạ tầng CNTT an ninh và đổi mới sáng tạo, đưa ra một sự truy cập bền vững cho tất cả hoặc nhiều ứng dụng CNTT”.
Thị trưởng Ude muốn Kroes và Joaquin Almunia, Phó Chủ tịch và Ủy viên hội đồng có trách nhiệm về cạnh tranh, chắc chắn rằng các nền hành chính nhà nước sử dụng phần mềm tự do nguồn mở (PMTDNM) “sao cho tri thức nhà nước còn giữ có khả năng truy cập được trong tương lai”.
Như là người đứng đầu hội các thành phố Đức, thị trưởng Munich đã viết cho Ủy viên hội đồng Kroes yêu cầu bà “giữ cảm kết sử dụng các tiêu chuẩn mở cho các tài liệu điện tử và sử dụng các PMTDNM”.
Thị trưởng thúc giục Kroes bắt buộc sử dụng các tiêu chuẩn mở cho tất cả các cơ quan nhà nước tại Liên minh châu Âu. Sử dụng tuyệt đối các tiêu chuẩn mở canh gác cho các dữ liệu còn có khả năng truy cập được, bất chấp phần mềm được sử dụng để tạo ra các tài liệu đó, ông viết. “Một cam kết liên châu Âu cho việc sử dụng các tiêu chuẩn mở có thể làm cho sự cạnh tranh giữa các cơ quan hành chính tại châu Âu dễ dàng hơn, giảm thiểu tải công việc và giúp tiết kiệm chi phí”.
Với lý lẽ của ông, Ude tính tới một khuyến cáo được xuất bản trong tháng 06 của Ủy ban Liên Cơ quan về CNTT, rằng các cơ quan của EU tiếp tục sử dụng một định dạng tài liệu văn phòng sở hữu độc quyền. Điều này, ông viết, gây trở ngại cho sự cộng tác trơn tru giữa các cơ quan hành chính nhà nước.
Thị trưởng ude mời Hội đồng châu Âu EC lấy Munich làm một ví dụ. Thành phố này đang chuyển toàn bộ hạ tầng CNTT của mình, các ứng dụng và giao tiếp văn phòng sang các tiêu chuẩn mở và các PMTDNM. “Việc sử dụng PMTDNM cho phép bạn cài đặt một hạ tầng CNTT an ninh và đổi mới sáng tạo, đưa ra một sự truy cập bền vững cho tất cả hoặc nhiều ứng dụng CNTT”.
Mayor Ude wants Kroes and Joaquin Almunia, Vice President and Commissioner responsible for competition, to make sure that public administrations use free and open source software "so that public knowledge remains accessible in the future."
As head of the German association of municipalities, Munich's mayor wrote to Commissioner Kroes to ask her to "remain committed to the use of open standards for electronic documents and to the use of free and open source software."
The mayor urges Kroes to make compulsory the use of open document standards for all of the EU's public institutions. The exclusive use of open standards safeguards that data remains accessible, regardless of the software used to created the documents, he writes. "A pan-European commitment to the use of these standards would make the cooperation between authorities in Europe easier, reduce the workload and help to save costs."
With his plea Ude counters a recommendation published in June by the Inter-Institutional Committee for Informatics, that EU institutions continue to use a proprietary office document format. This, he writes, hinders the smooth cooperation between public authorities.
Mayor Ude invites the European Commission to take Munich as an example. The city is moving its entire IT infrastructure, applications and office communication over to open standards and free and open source software. "Using free and open source software allows you to install an innovative and secure IT infrastructure, offering a sustainable access to all or many IT applications."
Dịch tài liệu: Lê Trung Nghĩa

Thứ Tư, 21 tháng 12, 2011

Những phân cách số mới


The New Digital Divides
Việc khắc phục sự không bình đẳng về hạ tầng không còn là đủ để giải quyết “sự phân cách số” nữa rồi. Chúng ta cũng còn phải giải quyết những bất bình đẳng về xã hội và kỹ năng - ở mọi mức độ.
Overcoming infrastructure inequalities is no longer enough to solve the "digital divide". We have to address skill and social inequalities as well - at all levels.
Published 23:43, 14 December 11, by Simon Phipps
Bài được đưa lên Internet ngày: 14/12/2011
Lời người dịch: “Phân cách số”, cụm từ chỉ sự phân biệt giữ có và không, giữa giàu và nghèo trong tiếp cận với Internet, điều trước kia hay được giải quyết bằng kết nối băng thông rộng. Nay thì khác, kể cả có băng thông rộng, cũng không làm gì được với phân cách số mới, nơi mà có sự khác biệt ngày một lớn về một loạt vấn đề như “thiếu nhận thức và sự khuyến khích, nạn mù chữ số, thiếu động lực, những người canh giữ các cổng thông tin, các yếu tố con người và kinh tế”. Tác giả đưa ra một vài ví dụ thú vị như: (1) dạy trẻ em cách sử dụng các phần mềm sở hữu độc quyền đặc thù thay vì dạy chúng các khái niệm có khả năng chuyển giao được và các kỹ năng sử dụng một loạt các phần mềm nguồn mở; (2) các nhà chính trị mà họ, thiếu hầu hết mọi kỹ năng và nhận thức thấu đáo cần thiết để làm luật về xã hội công nghệ, tin tưởng điều đó chỉ thuần túy là thương mại và xem xét chỉ đầu vào của những người vận động hành lang xung quanh họ. Và còn nhiều thứ khác nữa. Chúng phải được thay đổi.
EU đã lo ngại rằng quá nhiều người không có sự truy cập tới Internet, và đó là một mối lo ngại có căn cứ mà quả thực cần chú ý. Nhưng nó chưa đi đủ xa. Tôi đặc biệt bị sốc với một bài trên blog của Danica Radovanovic trên tờ Scientific American hôm nay.
Trong đó, bà đã xem xét cụm từ “phân cách số” và thách thức chúng ta phải xem xét lại. Nếu bạn nghe phát ngôn này trước đó, có thể trong ngữ cảnh của một sự phân cách trực tiếp có/không có giữa giàu và nghèo, có thể trong thế giới đang phát triển.
Nhưng Danica giải thích rằng hôm nay, trong khi sự kết nối cơ bản vẫn còn là một vấn đề quan trọng, thì có một sự phân cách số mới nổi lên; một khoảng trống về các kỹ năng số. Chúng ta có thể có một số lượng lớn các hộ gia đình có kết nối tuyệt vời, nhưng họ sử dụng nó “không để làm việc” - lướt, tải về và kết nối các mạng xã hội - thay vì như một phần chủ chốt của cuộc sống và tư cách công dân tri thức của họ. Bà kết luận:
Tôi nghĩ bà nói về thứ gì đó thực sự quan trọng ở đây. Chỉ chắc chắn mỗi người đều có băng thông rộng không có ý nghĩa nhiều với chúng ta nếu chúng ta không có sự tự do để sử dụng nó với tiềm năng đầy đủ của nó. Mỗi căn nhà tại đất nước này có thể có được sự truy cập tới Internet bằng cáp quang, nhưng điều đó sẽ không giúp gì nếu xã hội vẫn còn trong sự kìm kẹp của một phân cách các kỹ năng số.
The EU is worried that too many people have no internet access, and that's a valid concern that does indeed need attention. But it doesn't go far enough.  I was particularly struck by a blog by Danica Radovanovic over at Scientific American today.
In it, she considers the phrase "digital divide" and challenges us to reconsider it. If you've heard the expression before, it's probably in the context of a direct have/have-not separation between rich and poor, probably in the developing world.
But Danica explains that today, while basic connectivity remains an important issue, there's a new digital divide emerging; a digital skills gap. We may have a large number of households that have great connectitivity, but they use it for "notworking" - surfing, downloading and social-network-idling - instead of as a key part of their intellectual life and citizenship. She concludes:
"What is important to emphasize is that these digital divides, that go far beyond the pure infrastructure issues, need to become a key focus of engagement for-profit and nonprofit organizations as they continue their missions to develop programs for social and digital inclusion."
I think she's on to something really important here. Just making sure everyone has broadband doesn't buy us much if we don't have the freedom to use it to its full potential. Every home in country could get fibre access to the Internet, but that won't help if society is still in the grip of a digital skills divide.
Danica gives some categories that apply: "lack of awareness and promotion, digital illiteracy, lack of motivation, information gate keepers, human and economic factors". To make that more concrete, some examples that spring to my mind include:
Danica đưa ra một số chúng loại áp dụng: “thiếu nhận thức và sự khuyến khích, nạn mù chữ số, thiếu động lực, những người canh giữ các cổng thông tin, các yếu tố con người và kinh tế”. Để làm cho điều đó cụ thể hơn, một số ví dụ nảy ra trong đầu tôi bao gồm:
  • dạy trẻ em cách sử dụng các phần mềm sở hữu độc quyền đặc thù thay vì dạy chúng các khái niệm có khả năng chuyển giao được và các kỹ năng sử dụng một loạt các phần mềm nguồn mở;
  • những người lớn mà nghĩ bất kỳ thứ gì một máy tính làm trung gian được là “quá là khó” và yêu cầu những người khác tiến hành việc dạy, đọc, mua hàng, tài chính và hơn nữa cho họ;
  • đặt lên các khối internet (như các nhà mạng di động của chúng ta tiếp tục làm) nhân danh việc bảo vệ trẻ em hoặc bắt bọn khủng bố mà thực sự chẳng làm được gì trong khi làm cho mỗi việc tìm kiếm thông tin đáng làm trở nên khó khăn hơn;
  • khăng khăng rằng dữ liệu công cần phải trả tiền vì một số công ty có thể hưởng lợi từ đó, với kết quả là chỉ các công ty mà có thể hưởng lợi được từ nó có thể sử dụng được nó;
  • các kiểm soát sự riêng tư giả đò rằng “sự riêng tư” là một từ đồng nghĩa với “giữ các bí mật”, hơn là “khả năng để khẳng định sự kiểm soát đối với một tình trạng xã hội” như một nhà nghiên cứu khảo sát một cách sâu sắc;
  • các nhà chính trị mà họ, thiếu hầu hết mọi kỹ năng và nhận thức thấu đáo cần thiết để làm luật về xã hội công nghệ, tin tưởng điều đó chỉ thuần túy là thương mại và xem xét chỉ đầu vào của những người vận động hành lang xung quanh họ.
Những “phân cách số” mới này là quan trọng khổng lồ, và chúng ta có sự tập trung tầm quốc gia rất ít trong việc giải quyết chúng. Điều đó phải thay đổi.
  • teaching children how to use specific proprietary software instead of teaching them transferrable concepts and skills using a variety of open source software;
  • adults who think anything mediated by a computer is "just too geeky" and ask others to do the searching, reading, shopping, finances and more for them;
  • putting up internet blocks (like our mobile carriers keep doing) in the name of protecting children or catching terrorist which actually do neither while making every worthwhile search for information difficult;
  • insisting that public data needs to be paid for because some companies might profit from it, with the result that only companies who can profit from it can use it;
  • privacy controls which pretend that "privacy" is a synonym for "keeping secrets", rather than "the ability to assert control over a social situation" as one researcher insightfully observes;
  • politicians who, lacking most of the skills and insights necessary to legislate for the technology society, believe it's purely commercial and consider only the input of the lobbyists surrounding them.
These new "digital divides" are hugely important, and we have very little national focus on addressing them. That has to change.
Dịch tài liệu: Lê Trung Nghĩa

Nghị viện châu Âu chống quảng cáo tự do cho phần mềm sở hữu độc quyền...


European Parliament opposes free ads for proprietary software on EU web sites
Submitted by Gijs HILLENIUS on December 20, 2011
Nghị viện châu Âu muốn các cơ quan của châu Âu chấm dứt những quảng cáo tự do cho các phần mềm sở hữu độc quyền trên các website của họ, bằng việc gợi ý những người thăm viếng các site ứng dụng nào nên sử dụng để truy cập thông tin. Việc đặt sản phẩm này đang làm méo mó sự cạnh tranh, 5 nghị sỹ quốc hội viện lý.
European Parliamentarians want European institutions to end making free advertisements for proprietary software on their websites, by suggesting site visitors which application to use to access information. This product placement is distorting competition, argue five MEPs. "
Lời người dịch: 5 nghị sỹ Nghị viện châu Âu đã viết thư cho Ủy ban châu Âu EC vào ngày 02/12 yêu cầu EC chấm dứt việc đặt các quảng cáo về phần mềm sở hữu độc quyền trên tất cả các website của tất cả các quốc gia thành viên của Liên minh châu Âu. Họ cho đây là một việc làm phi cạnh tranh, có lợi cho một công ty phần mềm sở hữu độc quyền duy nhất.
Một loạt webiste của EU tham chiếu tới các phần mềm sở hữu độc quyền, như Acrobat Reader, như cách có khả năng duy nhất đọc được các tệp PDF, và đưa ra một đường kết nối tải về. Đây là một trường hợp quảng cáo trực tiếp của các cơ quan nhà nước, tạo ra một ưu thế cạnh tranh cho một công ty để bán các sản phẩm của mình, 5 nghị sỹ viết cho Ủy ban châu Âu EC vào ngày 02/12.
Các nghị sỹ đang yêu cầu EC ghé qua các website của mình để thấy tất cả những sự vụ đặt các sản phẩm sở hữu độc quyền. Họ cũng muốn biết liệu EC có giành được tài chính trong các quảng cáo hay không, hoặc nếu có một sự thiếu hụt các lựa chọn thay thế. “Liệu các cơ quan có các quảng cáo như vậy trên website của họ đã giải thích liệu họ đã cố các trình đọc PDF khác trước đó hay chưa? Phần mềm nào họ đã nhắc tới?”
Sáng kiến cho những câu hỏi bằng văn bản đã được lấy từ nghị sỹ của Đảng Xanh của Đức Jan Philipp Albrecht: “Nhiều tham chiếu tới một sản phẩm sở hữu độc quyền chỉ ra rằng EC đang không nhận thức được về vấn đề. Nếu EC có thể thay thế tất cả các quảng cáo đó bằng thứ gì đó chỉ ra rằng có những lựa chọn thay thế, thì điều đó có thể là một sự cải thiện”.
Numerous EU public websites refer to proprietary software, like Acrobat Reader, as the only possible way of reading PDF files, and provide a download link. This is a case of direct advertising by public institutions, which creates a competitive advantage for one company to sell its products", the five write to the European Commission on 2 December.
The MEPs are asking the EC to go over its websites to find all instances of proprietary product placement. They also want to know whether the Commission makes a financial gain on the ads, or if there is a lack of suitable alternatives. "Have the institutions that have such advertising on their website explained whether they have tried other PDF readers before? Which software did they mention?"
The initiative for the written questions was taken by German Green MEP Jan Philipp Albrecht: "The many references to a proprietary product show that the Commission is not aware of the problem. If the Commission would replace all of these ads by something that shows that there are alternatives, that would be an improvement."
Chiến dịch của trình đọc PDF
Nghị sỹ quốc hộ Albrecht đã nhận thức được về vấn đề này bằng một chiến dịch được Quỹ Phần mềm Tự do châu Âu FSFE tung ra vào năm 2009. Nhóm bảo vệ phần mềm tự do này đầu năm 2010 đã bắt đầu liên hệ với các cơ quan hành chính nhà nước tất cả khắp châu Âu để chỉ ra những chỗ để sản phẩm cho một trình đọc PDF sở hữu độc quyền, thấy các quảng cáo tự do cho một nhà cung cấp cụ thể trên các website của chính phủ trong tất cả các quốc gia thành viên của Liên minh châu Âu. Nhóm này đã nói gần đây rằng một phần tư tất cả các nền hành chính mà cơ quan này liên hệ, đã cải thiện các liên kết tải về.
PDF reader campaign
MEP Albrecht was made aware of the problem by a campaign launched by the Free Software Foundation Europe (FSFE) in 2009. The free software advocacy group in early 2010 began contacting public administrations all over Europe to point out product placements for a proprietary PDF reader, finding free ads to one specific vendor on government websites in all European Union Member States. The group reported recently that a quarter of all public administrations it had contacted, improved the download links.
Dịch tài liệu: Lê Trung Nghĩa

Thứ Ba, 20 tháng 12, 2011

Tổng chi phí sở hữu của Nguồn Mở, phiên bản 2.0

Open Source Total Cost of Ownership 2.0
Published 11:35, 07 December 11, by Glyn Moody
Bài được đưa lên Internet ngày: 07/12/2011
Lời người dịch: Từ trước tới nay, mỗi khi đề cập tới sự cân nhắc chuyển đổi từ nguồn đóng sang nguồn mở, là người ta nói tới tổng chi phí sở hữu TCO. Từ trước tới nay, các nghiên cứu về TCO hầu như đều do Microsoft trả tiền để làm, và chúng đều có lợi cho Microsoft. Tài liệu mới về TCO của phần mềm nguồn mở lần này được chuẩn bị cho Văn phòng Nội các Chính phủ Anh có nhiều điểm khác biệt. TCO theo tài liệu tính tới 14 động lực và 5 giai đoạn trong toàn bộ vòng đời của phần mềm, bao gồm: (1) Lựa chọn; (2) Mua sắm; (3) Tích hợp; (4) Sử dụng và (5) Từ bỏ. Bạn hãy lưu ý: “Các chi phí chuyển đổi/thoát ra hầu hết không bao giờ được tính tới – chắc chắn không trong các nghiên cứu TCO trước đó do Micrsoft đẩy ra – mà đây lại là một khía cạnh thực sự quan trọng mà các công ty cần nhớ trong đầu”. Xem thêm: “Bộ công cụ mua sắm nguồn mở của Văn phòng Nội các Chính phủ Anh”. Bạn có thể tải về bản dịch sang tiếng Việt của tài liệu “Tổng chi phí sở hữu của phần mềm nguồn mở” ở đây.
Ngược về năm 2006, tôi đã viết một mẩu cho LXer có đầu đề: “Lịch sử tóm tắt của Microsoft FUD” (FUD – Sợ hãi, Không chắc chắn, Nghi ngờ). Điều đó đã đi qua những nỗ lực thành công của Microsoft để gạt bỏ GNU/Linux theo một loạt cách thức. Một trong những nghiên cứu được biết tới nhiều từng là một loạt bài về các nghiên cứu “Tổng chi phí sở hữu” (TCO). Bằng một sự trùng khớp thú vị, tất cả những thứ đó đã chỉ ra rằng Microsoft Windows là rẻ hơn so với GNU/Linux được cho là rẻ.
May thay, mọi người sớm hiểu ra một thực tế rằng các nghiên cứu đó, do Microsoft trả tiền, đã khá là vô dụng (ở đây, ví dụ, là một sự lật tẩy lớn cái dạng FUD mà đã được đưa ra vào năm 2005). Tuy nhiên, một trong những hậu quả ập tới của câu chuyện đó là việc các nghiên cứu TCO thường nằm ngoài sự ích lợi.
Vì thế điều thú vị để thấy báo cáo mới này được chuẩn bị cho Văn phòng Nội các với đầu đề “Tổng chi phí sở hữu của Phần mềm nguồn mở”, mà đã được tung ra theo Giấy phép Chính phủ Mở tự do cho thông tin của khu vực nhà nước. Đây là nền tảng:
Báo cáo này có mong đợi cung cấp một đánh giá cân bằng về tiềm năng của phần mềm nguồn mở trong khu vực nhà nước dựa vào những bằng chứng thu thập được từ những người đã đi theo con đường này và từ những thành viên của cộng đồng các công ty đưa ra các dịch vụ hỗ trợ cho các cơ quan nhà nước như vậy. Khán thính phòng chúng tôi đề cập tới bao gồm cả các chính trị gia và những người ra quyết định cấp cao ở khắp chính phủ trung ương và địa phương, các lãnh đạo cao cấp về CNTT và các cộng đồng các nhà cung cấp.
Và đây là cách mà thông tin đã được thu thập:
Nghiên cứu này đã được cấu trúc thành 2 pha. Pha 1 đã dựa vào công cụ thu thập dữ liệu theo mẫu đã được hoàn tất và được 32 người đưa trở lại (xem Phụ lục C). Theo mẫu biểu đã được thiết lập cho sự truy cập như một tài liệu điện tử in ra được (sẵn sàng ở các định dạng odt, pdf và doc) và một phiên bản trực tuyến trong SurveyMonkey. Theo mẫu biểu đã có trên trực tuyến trong khoảng thời gian 2 tháng. Chúng tôi đã nhận được 25 câu trả lời trực tuyến cộng với 7 câu trả lời bằng thư điện tử. Pha 2 đã có liên quan tới những cuộc phỏng vấn sâu sắc với 20 người tại 14 tổ chức. Trong cả 2 pha một sự pha trộn các tổ chức của cả khu vực tư nhân và nhà nước đã được bao gồm, với những nghiên cứu sâu (pha 2) có liên quan tói một ưu thế trội hơn các cơ quan nhà nước.
Back in 2006, I wrote a piece for LXer called "A Brief History of Microsoft FUD". This ran through successive attempts by Microsoft to dismiss GNU/Linux in various ways. One of the better-known was a series of "Total Cost of Ownership" (TCO) studies. By an amazing coincidence, these all showed that Microsoft Windows was cheaper than that supposedly cheap GNU/Linux.
Fortunately, people soon cottoned on to the fact that these studies, paid for by Microsoft, were pretty worthless (here, for example, is a great debunking of the kind of FUD that was being put out in 2005.) However, one knock-on consequence of that episode is that TCO studies rather fell from favour.
So it's interesting to see this new report prepared for the Cabinet Office with the title "Total Cost of Ownership of Open Source Software", which has been released under the liberal Open Government Licence for public sector information. Here's the background:
This report is intended to provide a balanced assessment of the potential of open source software within the public sector based on evidence collected from those who have taken this path and from members of the community of firms offering support services to such public bodies. The audience we are addressing includes politicians and senior decision makers across central and local government, senior IT managers and the supplier communities.
And here's how the information was gathered:
This study was structured in two phases. Phase 1 was based around a pro-forma data collection instrument that was completed and returned by 32 people (see Appendix C). The pro-forma was set up for access as an electronic and printable document (available in odt, pdf and doc formats) and an online version in SurveyMonkey. The pro-forma was online for a period of two months. We received twenty-five responses online plus seven returned by email. Phase 2 was concerned with in-depth interviews with 20 people in 14 organisations. In both phases a mix of public sector and private sector organisations were included, with the in-depth studies (phase 2) involving a preponderance of public bodies.
Rõ ràng, một vấn đề sống còn là cái gì có nghĩa là “TCO” trong ngữ cảnh này:
Định nghĩa được chúng tôi phát triển là thế này, “TCO phản ánh không chỉ chất lượng trực tiếp của một sản phẩm phần mềm (giá, chức năng, trách nhiệm), mà còn cả mối quan hệ của phần mềm đối với tập hợp rộng lớn hơn của tổ chức về các nền tảng công nghệ, các hệ thống được cài đặt, các kỹ năng và các mục tiêu chiến lược, cũng như thị trường và cộng đồng sẵn sàng dựa trên các dịch vụ”.
Trong mục tiêu đó, báo cáo đưa ra điểm quan trọng sau:
Trong nhiều khía cạnh có liên quan, phần mềm nguồn mở (PMNM) là khác so với phần mềm sở hữu độc quyền) các bên có thể đồng ý về điều đó). Nó đặt ra những yêu cầu khác nhau, và đưa ra những lợi ích khác nhau cho tổ chức chủ và nó được nhúng vào trong các hệ sinh thái phần mềm khác nhau một chút và được các chuỗi cung ứng khác nhau phục vụ. Câu hỏi về TCO vì thế trở nên ít được tập trung vào những gì các chi phí phần mềm cho việc mua sắm hoặc qua vòng đời của nó. TCO phải cân nhắc tới các câu hỏi về cách mà phần mềm phù hợp trong tổ chức và có liên quan tới các tài nguyên khác bao gồm các hệ thống đã có trước đó, các nền tảng công nghệ và các hạ tầng, tập hợp các kỹ năng và kiểu quản lý, cũng như chiến lược nghiệp vụ.
Điều này chỉ ra nhiều sắc thái hơn khái nhiệm TCO đã trở nên kể từ các nghiên cứu của Microsoft, mà có ý định chỉ tập trung vào các vấn đề rõ ràng hơn.
Một trong những thứ nổi lên từ báo cáo này là một đánh giá giữa những người sử dụng phần mềm tự do (PMTD) hưởng lợi vượt ra khỏi những tiết kiệm đơng giản:
những người áp dụng sớm các ứng dụng nguồn mở trong khu vực nhà nước trích ra những lợi ích như giảm sự khóa trói vào nhà cung cấp như một trong những lý do chính của họ cùng với chi phí thấp hơn.
Obviously, a critical issue is what is meant by "TCO" in this context:
Our developed definition is thus, “TCO reflects a measure of all the costs of identifying and acquiring software, away from the software. TCO reflects not just the direct qualities of a software product (price, functionality, reliability) but also the relationship of the software to the organization‟s broader set of technology platforms, installed systems, skills and strategic goals, as well as available market and community based services.”
On that subject, the report makes the following important point:
In many relevant respects open source software is different to proprietary software (both parties would probably agree on that). It places different demands on, and offers different benefits to, the host organisation and it is embedded in somewhat different software ecosystems and is served by different supply chains . The question of TCO thus becomes less focused on what software costs per se to purchase or over its lifetime. TCO has to consider questions of how software fits into the organisation and relates to the other resources including legacy systems, technology platforms and infrastructures, skill sets and management style, as well as business strategy.
This shows how much more nuanced the concept of TCO has become since those Microsoft studies, which tended to focus on more obvious issues.
One of the things that emerges from the report is an appreciation amongst users of free software that the benefits go well beyond simple savings:
early adopters of open source applications in the public sector quote benefits such as reduced vendor lock-in as one of their key arguments alongside lower costs.
Đó là thứ gì đó mà tôi đã luôn nhắc khi mọi người đã yêu cầu tôi nói về lợi ích chủ yếu của việc sử dụng nguồn mở – sự tự do khỏi bị khóa trói và khả năng kiểm soát số phận điện toán của bạn. Thật tốt để thấy rằng được đưa ra ở đây.
Tôi cũng vui mừng thấy điều sau đây được chỉ ra:
Nhiều người được phỏng vấn đã giải thích rằng những tiết kiệm chi phí của nguồn mở được vật chất hóa trong trung và dài hạn hơn là trong ngắn hạn. Vì thế, họ báo cáo, điều quan trọng phải quản lý những mong đợi để đảm bảo rằng một dự án chọn PMNM không được xem là thất bại một cách hấp tấp vội vã nếu nó không đưa ra được dịch vụ tuyệt hảo ở chi phí thấp hơn đáng kể vào ngày đầu.
Điều đó là quan trọng sống còn nếu chúng ta muốn tránh những câu truyện cổ tích về chuyển đổi “thất bại” của nguồn mở: các dự án phải được đưa ra đủ thời gian để tự bản thân chúng chứng minh được.
Đây là một thứ khác:
Khi chuyển đổi giữa các sản phẩm nguồn mở cần phải hiểu rằng chi phí có thể thấp hơn vì sự gắn kết tới các tiêu chuẩn mở cho phép tính tương hợp lớn hơn. Các tổ chức đóng góp cho nghiên cứu này đã có quan điểm dài hạn hơn về áp dụng phần mềm nguồn mở đã đưa ra các bình luận cho tác động hơn là các chi phí chuyển đổi (các chi phí thoát ra) là có lợi hơn cho nguồn mở và vì thế điều này đã trở thành một trong những yếu tố quyết định có lợi cho PMNM.
Các chi phí chuyển đổi/thoát ra hầu hết không bao giờ được tính tới – chắc chắn không trong các nghiên cứu TCO trước đó do Micrsoft đẩy ra – mà đây lại là một khía cạnh thực sự quan trọng mà các công ty cần nhớ trong đầu.
That's something that I've always mentioned when people have asked me for the key benefit of using open source - the freedom from lock in and the ability to take control of your computing destiny. It's good to see that coming out here.
I was also pleased to see the following point raised:
Many interviewees explained that open source cost savings materialize mid to long term rather than in the short-term. Thus, they report, it is important to manage expectations to ensure that a project that chooses open source software is not considered a failure prematurely if it does not deliver excellent service at substantially lower cost on day one.
That's crucially important if we are to avoid tales of open source migration "failures": the projects must be given enough time to prove themselves.
Here's another:
When migrating between open source products it is understood that costs may be lower because adherence to open standards allows greater interoperability. The organizations contributing to this study who had a more long term view of their open source software adoption gave comments to the effect that the migration costs (exit costs) were more favourable for open source and so this had for them become one of the deciding factors in favour of OSS.
Those migration/exit costs are almost never considered - certainly not in the early TCO studies pushed by Microsoft - but it's a really important aspect that companies need to bear in mind.
Nhưng theo nhiều cách thức thì kết quả thú vị và hứng thú nhất nổi lên từ nghiên cứu mới này là:
Khía cạnh được thấy như là có lợi những không được mong đợi là cách mà một văn hóa đổi mới sáng tạo và hành vi nắm lấy rủi ro hơn có thể được khuyến khihcs khi nguồn mở được sử dụng. Sự áp dụng nguồn mở đã, ví dụ, ép các cơ quan hành chính địa phương phải trở nên chấp nhận hơn những “sai sót” mà có thể được xác định và chứng minh nhanh chóng bằng sự truy cập cầm tay chỉ việc tới mã nguồn và cấu hình. Kinh nghiệm của tính lanh lẹ và quyền năng như vậy có thể thúc đẩy sự thay đổi có lợi của nguồn mở.
Tôi đã lưu ý trước cách mà việc dập tắt nỗi sợ hãi thất bại này đã có trong điện toán của khu vực kinh doanh và nhà nước, và vì sao, kết quả là, sự áp dụng nguồn mở vẫn là chậm tại quốc gia này. Thứ thú vị là nghiên cứu mới này gợi ý là một khi nỗi sợ hãi thất bại đó được vượt qua đủ để cho phép sử dụng phần mềm tự do, thì hành động triển khai nó sẽ giúp sinh ra được một văn hóa chấp nhận những sai lầm và những vấn đề như là một cách tự nhiên.
Đáng tiếc, những gì làm mọi người dừng đi tới được tình trạng hạnh phúc này của công việc là một vòng lặp các ý kiến phản hồ tiêu cực giữ cho họ bị khóa trói cả vào các phần mềm sở hữu độc quyền và một nỗi lo sợ thất bại được cường điệu hóa. Tất cả nhiều lý do hơn cho chính phủ Anh để giúp thúc đẩy nguồn mở trong các văn phòng của mình để phá vỡ được vòng xấu xa đó. Hãy hy vọng báo cáo mới đáng giá này sẽ khuyến khích được họ làm thế.
But in many ways the most interesting and exciting result to emerge from this new study is the following:
A facet that is seen as beneficial but rather unexpected is how a culture of innovation and more risk taking behaviour can be promoted as open source is used. Open source adoption has, for example, forced local authorities to become more accepting of "mistakes" that can be identified and rectified quickly by hands-on access to code and configurations. Experience of such agility and empowerment can spur the change in favour of open source.
I've noted before how deadening this fear of failure has been in business and public sector computing, and why uptake of open source has been so slow in this country as a result. The fascinating thing this new study suggests is that once that fear of failure is overcome enough to permit the use of free software, the very act of deploying it helps engender a culture that accepts mistakes and problems as natural.
Unfortunately, what stops people arriving at this happy state of affairs is a negative feedback loop that keeps them locked into both proprietary software and an exaggerated fear of failure. All the more reason for the UK government to help push open source into its offices to break that vicious circle. Let's hope this valuable new report encourages them to do that.
Dịch tài liệu: Lê Trung Nghĩa

Thành viên hội đồng: Sử dụng OpenOffice của Helsinki sẽ giúp giảm chi phí


Council member: Helsinki's OpenOffice use should help reduce costs
Submitted by Gijs HILLENIUS on December 15, 2011
Bài được đưa lên Internet ngày: 15/12/2011
Chính sách mới về CNTT đang được thành phố Helsinki phát triển sẽ tập trung vào sự độc lập với nhà cung cấp và sử dụng phần mềm nguồn mở (PMNM), các chuyên gia Johanna Sumuvuori, một thành viên hội đồng thành phố của Đảng Xanh, nói. “Chiến lược mới sẽ sớm được thảo luận trong hội đồng. Tôi muốn phòng CNTT giữ cái đầu mở và không mặc định tái lựa chọn các ứng dụng sở hữu độc quyền hiện đang được sử dụng. Mỗi năm thành phố Helsinki bỏ ra nhiều tiền vào các giấy phép sở hữu độc quyền và chúng tôi nên giảm các chi phí đó”.
Các bình luận của Sumuvuori tiếp sau một cuộc cãi lộn giữa những người bảo vệ PMTDNM và một site thông tin CNTT được một nhà sản xuất phần mềm sở hữu độc quyền đỡ đầu, qua một sự kiểm thử đang diễn ra với OpenOffice, một bộ các công cụ văn phòng nguồn mở.
Kết quả của dự án thí điểm này là quan trọng, Sumuvuori nói, người từng thúc đẩy phòng CNTT của thành phố này xem xét sử dụng các phần mềm độc lập với nhà cung cấp kể từ đầu năm 2010.
Được hội đồng thúc giục, phòng CNTT đã bắt đầu nghiên cứu các khả năng và đầu năm nay đã bắt đầu kiểm thử OpenOffice. Nó đã cài đặt OpenOffice lên tất cả 22.500 máy trạm của thành phố, cùng với một bộ văn phòng sở hữu độc quyền. Nó cũng đã yêu cầu khoảng 600 trong tổng số 38.000 nhân viên thành phố, trong 1 năm, chỉ sử dụng OpenOffice cho việc tạo và quản lý các tài liệu.
Các thông điệp được đưa lên mạng xã hội Twitter của các công chức tham gai trong dự án thí điểm OpenOffice này, đã đưa ra 2 báo cáo trái ngược nhau.
Quỹ Phần mềm Tự do châu Âu hôm thứ 3 này đã đưa lên một bài báo giải thích rằng 75% những người tham gia trong dự án thí điểm thỏa mãn với bộ các công cụ sản xuất văn phòng nguồn mở này.
Kết luận ngược lại đã được báo cáo trong một bài báo của MS Areena, hôm 09/12. Nó đã viết rằng dự án thí điểm OpenOffice đã thất bại, một kết luận nó đã dựa vào một giải thích của một trong những thư ký hành chính của thành phố rằng 150 trong số 600 người sử dụng đã yêu cầu quay về sử dụng phần mềm sở hữu độc quyền.
The new IT policy being developed by city of Helsinki's will focus on vendor independence and the use of open source software, expects Johanna Sumuvuori, a Green city council member. "The new strategy will soon be discussed in the council. I want the IT department to keep an open mind and not by default reselect the proprietary applications currently used. Every year the city of Helsinki spends a lot of money on proprietary licences and we should be reducing these costs."
The comments by Sumuvuori follow a rumpus between advocates of free and open source software and an IT news site sponsored by a proprietary software maker, over an ongoing test with OpenOffice, a suite of open source office tools.
The outcome of this pilot is important, says Sumuvuori, who has been pushing the city's IT department to consider using vendor independent software since early 2010.
Prodded by the council, the IT department started studying the possibilities and early this year began testing OpenOffice. It installed OpenOffice on all of the city's 22,500 workstations, alongside a proprietary office suite. It also asked some six hundred of the in total 38,000 city employees to, for one year, use only OpenOffice for creating and managing documents.
Messages posted on social network Twitter by civil servants participating in this OpenOffice pilot, resulted in two contrasting reports.
The Free Software Foundation Europe this Tuesday posted an article explaining that 75 percent of the participants in the pilot are 'satisfied' with this suite of open source office productivity tools.
The opposite conclusion was reported in an article by MS Areena, on 9 December. It wrote that the OpenOffice pilot was failing, a conclusion it based on an explanation by one of the city's administrative secretary's that 150 of the 600 users had requested to return to using the proprietary software.
Không khảo sát
Thành phố Helsinki đã không yêu cầu chính thức mọi người có liên quan trong dự án thí điểm về các kinh nghiệm của họ với bộ văn phòng độc lập với nhà cung cấp. Giám đốc từ bộ phận CNTT tại Trung tâm Kế hoạch và Kinh tế của thành phố, Markku Raitio nói: “Chúng tôi đã không thực hiện bất kỳ khảo sát nào dạng như vậy. Tôi không thể khẳng định các báo cáo này. Thành phố Helsinki sẽ truyền đạt về các kết quả của dự án thí điểm bộ văn phòng mở của mình khi chúng tôi sẵn sàng”.
Một số đã viết trên Tweeter rằng dẫn tới sự cãi lộn ầm ĩ, đã được đăng bởi Mirva Haltia - Holmberg, một thành viên lãnh đạo về Giao thông của Thành phố Helsinki và là một người tham gia trong dự án thí điểm OpenOffice.
“Thành phố Helsinki thúc đẩy một cách hăng hái sử dụng các chương trình nguồn mở trong các cơ quan hành chính của thành phố”, Haltia- Holmberg đã bình luận bằng thư điện tử.
Bà giải thích rằng gần đây phòng CNTT đã gửi đi một yêu cầu cho tất cả 600 người sử dụng OpenOffice. “150 đã cảm thấy họ cần bộ văn phòng sở hữu độc quyền được cài đặt để có khả năng thực hiện các nhiệm vụ văn phòng của họ một cách phù hợp. Phần còn lại tiếp tục với OpenOffice”.
Theo Haltia-Holmberg hầu hết các vấn đề đã gây ra bằng việc mở các tài liệu trong các định dạng sở hữu độc quyền. “Việc mở những thứ đó là không trơn tru, và các công cụ đó được các công chức sử dụng từ tất cả các năm và các mức kỹ năng”.
No survey
The city of Helsinki has not officially asked those involved in the pilot about their experiences with the vendor independent office suite. The director from the IT division at the city's Economic and Planning Centre, Markku Raitio: "We haven't performed any survey of such kind. I cannot confirm these reports. The city of Helsinki will communicate about the outcomes of its open office pilot when we are ready."
Some of the tweets that led to the brawl, were posted by Mirva Haltia-Holmberg, a Helsinki City Transport board member and a participant in the OpenOffice pilot.
"The city of Helsinki enthusiastically promoting the use of open source programs in the city administration", Haltia-Holmberg commented by email.
She explains that recently the IT department sent an inquiry to all six hundred OpenOffice users. "A 150 felt they needed the proprietary office installed to be able to do their office tasks properly. The rest continues with OpenOffice."
According to Haltia-Holmberg most of the problems were caused by opening documents in proprietary formats. "Opening those is not smooth, and these tools are used by civil servants from all ages and skill levels."
Dịch tài liệu: Lê Trung Nghĩa