Thứ Ba, 6 tháng 12, 2011

Các vấn đề về an ninh của máy in Laserjet của HP


HP Laserjet printer security problems
30 November 2011, 12:31
Bài được đưa lên Internet ngày: 30/11/2011
Lời người dịch: Bạn hãy cẩn thận với các máy in mạng vì thông qua đó các tin tặc có thể tấn công được vào mạng của bạn và thậm chí đốt cháy máy in đó được. Nhà sản xuất máy in HP “khuyến cáo đặt máy in của họ đằng sau tường lửa và vô hiệu hóa các tính năng cập nhật từ xa” để tránh khả năng bị tấn công như vậy.
Bộ phận máy in của HP đã khẳng định một chỗ bị tổn thương tiềm tàng trong các máy in cũ Laserjet cho phép những kẻ tấn công cài đặt các phần dẻo được làm giả đặc biệt trong các thiết bị. Vấn đề hiện tại là vì các bản cập nhật cho các mô hình được triển khai mà không có các chữ ký số, có nghĩa là các máy in sẽ chấp nhận và cài đặt bất kỳ phần dẻo nào. Trong những tình huống nhất định, các phần mềm cũng có thể được cập nhật từ xa, cho phép những kẻ tấn công giành được sự kiểm soát của một máy in bằng việc phóng (injecting) mã nguồn.
Theo các báo cáo trong các phương tiện truyền thông Mỹ, các nhà nghiên cứu tại Đại học Columbia đã sử dụng các phần mềm được làm giả đặc biệt để đun nóng cầu chì của máy in, mà có thể, tiềm tàng, thậm chí gây ra hỏa hoạn, dù các nhà nghiên cứu đã thừa nhận rằng một “kẻ phá hoại bằng nhiệt” sẽ làm tắt máy in đích của họ. HP chỉ ra rằng “những kẻ phá hoại bằng nhiệt” được thiết kế để ngăn chặn máy in bị đốt nóng và cháy, sẽ được đưa vào trong tất cả các máy in của hãng, và rằng chúng “không thể bị vượt qua bằng một sự thay đổi phần dẻo hoặc điều này tạo ra chỗ bị tổn thương”.
HP đã công bố các kế hoạch sửa chỗ bị tổn thương này nhưng cho tới sau đó, các khách hàng đã được khuyến cáo đặt máy in của họ đằng sau tường lửa và vô hiệu hóa các tính năng cập nhật từ xa. Tuy nhiên, các cuộc tấn công vào các máy in mạng từng là một rủi ro chung khi mà trước đó vấn đề này đã được mở ra, và, đặc biệt, những chỗ bị tổn thương của phần mềm chưa được vá đã đe dọa an ninh của các máy in đôi lúc. Vào tháng 1 năm nay tại Hội nghị ShmooCon, 2 máy kiểm thử đã trình bày có ấn tượng cách để giành được sự truy cập từ xa tới các máy in trong một mạng doanh nghiệp. Các sản phẩm của Canon, Toshiba và Xerox cũng liên tục bị ảnh hưởng với các vấn đề y hệt.
HP's printer division has confirmed a potential vulnerability in older Laserjet printers that allows attackers to install specially crafted firmware on devices. The issue exists because updates for older models are deployed without digital signatures, which means that the printers will accept and install any firmware. In certain circumstances, the software can also be updated remotely, allowing attackers to gain control of a printer by injecting code.
According to reports in the US media, researchers at Columbia University managed to use specially crafted software to overheat a printer's fuser, which could, potentially, even cause fires, though the researchers admitted that a "thermal breaker" shut down their target printer. HP points out that "thermal breakers" are designed to prevent printer overheating and fires, are included in all its printers, and that they "cannot be overcome by a firmware change or this proposed vulnerability".
HP has announced plans to fix the vulnerability but until then, customers are advised to place their printers behind firewalls and disable the remote update features. However, network printer attacks have been a general risk since before this problem was discovered, and, especially, unpatched software vulnerabilities have threatened printer security for quite some time. Back in January at the ShmooCon conference, two pen testers impressively demonstrated how to gain remote access to printers in a corporate network. Products by Canon, Toshiba and Xerox have also repeatedly been affected by similar problems.
(djwm)
Dịch tài liệu: Lê Trung Nghĩa

Thứ Hai, 5 tháng 12, 2011

Thua thiệt trong bụi rậm của bụi rậm các bằng sáng chế


Getting Lost in the Patent Thicket Thicket
Published 11:29, 29 November 11, By Glyn Moody
Bài được đưa lên Internet ngày: 29/11/2011
Lời người dịch: Những bụi rậm bằng sáng chế tù mù và chồng lấn lên nhau làm cho mọi sự đòi quyền lợi đều trở nên không rõ ràng, đặc biệt là trong phần mềm máy tính, làm cản trở đối với bất kỳ ai muốn bước vào thị trường, đặc biệt là các doanh nghiệp vừa và nhỏ, buộc họ phải thương lượng với những thứ tù mù trước đó để được bước vào. Điều đáng sợ là những bụi rậm bằng sáng chế ngày một dày đặc hơn.
Một trong nhiều dấu hiệu có hy vọng rằng đội của Hargreaves đã biết những gì học đang nói từng là sự thừa nhận rằng những bụi rậm về bằng sáng chế từng là một mối nguy hiểm ngày càng tăng trong nhiều lĩnh vực, đáng kể là công nghệ di động. Một trong những hành động tiếp sau từ báo cáo điều tra lĩnh vực này xa hơn, và bây giờ chính phủ Anh đã đưa báo cáo đó ra [.pdf]:
Nghiên cứu hiện hành đã được khởi xướng với 3 mục tiêu chính trong đầu:
  1. Để bắt đầu nắm lấy tranh luận về những bụi rậm về các bằng sáng chế từ tiếp cận tiếu lâm và nghiên cứu nhỏ, hướng tới một phương pháp luận được tổng quát hóa hơn bằng việc cung cấp một nguyên tắc phân loại cho việc thảo luận về các bụi rậm bằng sáng chế;
  2. Để tạo ra một phương pháp luận được tự động hóa cho việc dò tìm các bụi rậm bằng sáng chế trong các dữ liệu bằng sáng chế được được xuất bản; và
  3. Để đánh giá liệu có hay không các bụi rậm bằng sáng chế thể hiện một rào cản lối vào đối với các công ty, đặc biệt là các công ty vừa và nhỏ, tại nước Anh.
Cụm từ “bụi rậm bằng sáng chế” là một khái niệm mô tả nhấn mạnh tới vấn đề mà những người mới bước vào một thị trường có thể đối mặt khi có ý định đổi mới bên trong, hoặc vào bên trong, một không gian công nghệ có những quyền sở hữu trí tuệ hiện đang có sẵn. Định nghĩa được sử dụng thường xuyên nhất về một bụi rậm là định nghĩa do Shapiro đã đưa ra:
“Một web dày đặc các quyền trí tuệ chồng lấn nhau mà một công ty phải thọc qua theo cách của mình để thực sự thương mại hóa được công nghệ mới”
Trọng lượng tương ứng được đưa ra cho các lĩnh vực công nghệ bị phân mảnh (những lĩnh vực nơi mà số lượng lớn những tài sản bằng sáng chế nhỏ), hoặc những lĩnh vực nơi mà có những số lượng nhỏ các tay chơi lớn với những tài sản bằng sáng chế lớn, mỗi trong số các lĩnh vực tạo ra một bụi rậm mà bất kỳ người nào bước vào lĩnh vực đó cũng sẽ phải thương lượng để có khả năng hoạt động được.
One of the many hopeful signs that the Hargreaves team knew what they were talking about was the recognition that patent thickets were an increasing danger in many fields, notably that of mobile technology. One of the actions flowing from the report was to investigate this area further, and now the UK government has released its report [.pdf]:
the current study was initiated with three key aims in mind:
1. to begin to take the debate around patent thickets away from anecdotal and micro-study approach, toward a more generalised methodology by providing a general taxonomy for discussing patent thickets;
2. to generate an automated methodology for detecting patent thickets in published patent data; and
3. to assess whether or not patent thickets present a barrier to entry for companies, particularly SMEs, in the UK.
The phrase “patent thicket” is a descriptive term which highlights issues that new entrants to a market may face when attempting to innovate within, or enter into, a technology space having existing intellectual property rights. The most generally used definition of a thicket is that coined by Shapiro:
“a dense web of overlapping intellectual property rights that a company must hack its way through in order to actually commercialize new technology”
Equal weighting is given to fragmented technological areas (areas where there are large numbers of small patent holdings), or areas where there are small numbers of large players with large patent holdings, each of which creates a thicket that any entrants into the area will have to negotiate in order to be able to operate.
Nghiên cứu 70 trang tất cả những thứ này với sự tỉ mỉ đáng khen, và dọc theo con đường đó nhờ vào sự đóng gói dễ chịu về cách mà các bằng sáng chế được cho là làm việc:
Các bằng sáng chế bao gồm một loạt các tuyên bố rõ ràng và chính xác đưa ra phạm vi bảo vệ được bên nguyên yêu cầu. Những tuyên bố này được biết tới như là các yêu sách. Một định nghĩa của các yêu sách được trích dẫn mà Ngài Russell đã đưa ra:
“Chức năng của các yêu sách là để xác định một cách rõ ràng và với sự chính xác độc quyền được yêu sách, sao cho những người khác có thể biết biên giới chính xác của lĩnh vực mà trong đó họ sẽ là những kẻ xâm phạm. Mục đích ban đầu của họ là để hạn chế và không mở rộng sự độc quyền. Những gì không được yêu sách sẽ được chối bỏ”.
Giống nhiều với một kẻ thực dân trong bức tranh công nghệ, một bên nguyên về bằng sáng chế buộc các yêu sách của họ vào một khu đất thông qua việc tuyên bố về các yêu sách đó. Những yêu sách đó đưa ra bằng văn bản ở những biên giới “đất” của chúng nằm trong bức tranh công nghệ, sao cho những người khác có thể biết và bị ngáng trở khỏi sự xâm phạm. Nếu kẻ thực dân khác đã buộc quyền của họ vào cùng y hệt khu đó thì kẻ thực dân tới sau có thể không đặt ra được yêu sách đối với khu “đất” y hệt đó. Đổi lại cho việc trao một khu “đất” hoặc sự độc quyền đó, nhà nước đòi hỏi rằng bên nguyên mở ra cách mà công nghệ của họ làm việc sao cho những người khác trong cùng y hệt bức tranh công nghệ có thể học được từ mà phát triển những đổi mới sáng tạo khác có liên quan.
Tuy nhiên, để đảm bảo rằng những yêu sách là rõ ràng và chính xác, một phương pháp luận đặc biệt đã được phát triển, mà cùng với ngôn ngữ kỹ thuật, có thể gây ra trong sự lẫn lộn khi mà phạm vi thực của sự bảo vệ được bằng sáng chế đó đưa ra cho độc giả ngẫu nhiên. Yếu tố này cũng có thể dẫn tới những khó khăn trong việc đánh giá giá trị của một bằng sáng chế hoặc dãy các bằng sáng chế, và liệu có hay không hành động được đảm bảo nếu một đối thủ cạnh tranh “vi phạm” trong một khu vực được bảo vệ. Vì thế một sự hiểu biết về một bức tranh công nghệ về các bằng sáng chế là một quá trình phức tạp. Nếu thực tế là một cơ sở dữ liệu bằng sáng chế duy nhất bao gồm hơn 70 triệu bản ghi được bổ sung vào trong sự pha trộn, thì dễ nhận thấy vì sao sự đánh giá về một bức tranh công nghệ là phức tạp hơn cho các bên thứ 3, bao gồm cả những người mới bước vào trong một thị trường.
The 70-page study investigates all these with commendable thoroughness, and along the way has this rather nice encapsulation of how patents are supposed to work:
Patents contain a series of clear and precise statements setting out the scope of protection required by the applicant. These statements are known as the claims. An oft-quoted definition of the claims is that given by Lord Russell:
“The function of the claims is to define clearly and with precision the monopoly claimed, so that others may know the exact boundary of the area within which they will be trespassers. Their primary object is to limit and not to extend the monopoly. What is not claimed is disclaimed.”
Much like a settler in a technology landscape, a patent applicant stakes their claims to an area of land via the wording of the claims. The claims set out in writing where the boundaries of their “land” lie in the technology landscape, so that others may know and be prevented from trespass. If another settler has already staked their right to the same area then the subsequent settler may not lay claim to the same “land”. In exchange for this granting of an area of “land” or monopoly, the state requires that the applicants disclose how their technology works so that others in the same technology landscape may learn from and develop other related inventions.
However, in order to ensure that the claims are clear and precise, a specific terminology has been developed, which together with the technical language, can result in confusion as to the true scope of the protection provided by the patent to the casual reader. This element can also lead to difficulties in assessing the value of a patent or series of patents, and whether or not action is warranted if a competitor “trespasses” in a protected area. Thus an understanding of a technology landscape in terms of patents is a complex process. If the fact that a single patent database contains over 70 million records is added into the mix, it is easy to see why this assessment of a technology landscape is further complicated for third parties, including new entrants into a marketplace.
Phép ẩn dụ của một bức tranh công nghệ này, được sử dụng lặp đi lặp lại thông qua báo cáo, phơi bày ra một trong những vấn đề lớn với các bằng sáng chế phần mềm: chúng chỉ không có những đường biên giới được xác định tốt về dạng mà hệ thống bằng sáng chế đó giả định trước. Như Bessen và Meurer giải thích trong cuốn sách tuyệt vời của họ, Sự thất bại của Bằng sáng chế: Tòa Phúc thẩm Liên bang cho các vi mạch đã cho phép nhiều sự trừu tượng hóa hơn trong các bằng sáng chế phần mềm so với dường như được đảm bảo bởi các học thuyết của các bằng sáng chế đó. Quả thực, được nổi tiếng giữa các nhà khoa học máy tính rằng các công nghệ phần mềm (các thuật toán, các cấu trúc hệ thống) có thể được trình bày theo nhiều cách thức khác nhau, và có thể khó để biết khi nào những đại diện có thể lựa chọn đó là tương đương nhau. Điều này có nghĩa là coogn nghệ được yêu sách trong một bằng sáng chế có thể khó mà phân biệt được với những lựa chọn thay thế khác; có thể khó biết liệu một bằng sáng chế nào đó yêu sách một phát minh thì có khác với những phát minh trước đó hay không, hay liệu một chương trình được cho là vi phạm có là khác với công nghệ được yêu sách hay không. Nếu các nhà khoa học máy tính không thể rõ ràng thực hiện được những khác biệt đó, thì sẽ có ít hy vọng rằng quan tòa và ban bồi thẩm có thể làm được tốt hơn.
This metaphor of a technology landscape, used repeatedly throughout the report, exposes one of the big problems with software patents: they just don't have well-defined boundaries of the kind that the patent system presupposes. As Bessen and Meurer explain in their excellent book, Patent Failure:
the Court of Appeals for the Federal Circuit has tolerated more abstractions in software patents than seems warranted by these patent doctrines. Indeed, it is well known among computer scientists that software technologies (algorithms, system structures) can be represented in many different ways, and it might be difficult to know when alternative representations are equivalent. This means that the technology claimed in a patent can be difficult to distinguish from alternatives; it might be hard to know whether a given patent claims an invention that is different from previous inventions, or whether an allegedly infringing program is different from the claimed technology. If computer scientists cannot unambiguously make these distinctions, there is little hope that judges and juries can do better.
Trong thực tế, điều đó giải thích vì sao bất kỳ ý định nào tránh khỏi các bụi rậm bằng sáng chế trong phần mềm đều có kết cục bi đát: sẽ luôn bị chồng lấn vì sự trừu tượng khó hiểu, và vì thế hay thay đổi - thiếu kiên định, bản chất tự nhiên của phần mềm có nghĩa là nó có thể được áp dụng trong những tình huống không bao giờ thấy trước được khi bằng sáng chế đã được trao, nhưng nó có thể bị chộp lấy bằng sự mô tả mập mờ của nó.
Đây không phải là thứ gì đó mà bụi rậm bằng sáng chế hiện hành đề cập tới, hoặc có thể thậm chí được đánh giá. Và triệu chứng của toàn bộ sự thiếu hụt bất kỳ logic nội bộ lành mạnh nào đối với hệ thống bằng sáng chế mà báo cáo đó bị ép phải kết luận:
Báo cáo này đã làm nảy sinh nhiều câu hỏi hơn so với những câu trả lời được đưa ra. Nó có thể được xem là không có sự đồng thuận rõ ràng về những điều khoản được sử dụng để mô tả những bụi rậm bằng sáng chế và những thực thể có liên quan với chúng. Bằng việc áp dụng những điều khoản đó một cách nhất quán được hy vọng rằng sự tranh luận xa hơn về bất kỳ vấn đề nào có thể được tiến hành trong một sân chơi bình đẳng.
Những chỉ số đó xuất hiện để chỉ ra rằng có một khả năng các dạng khác nhau của bụi rậm xảy ra nơi có những dạng công nghệ khác nhau có liên kết tới mức độ chín muồi nào đó của không gian công nghệ đó. Các dạng tiềm tàng đó có thể được chia nhỏ hơn thành những lĩnh vực nơi mà có những số lượng lớn những tài sản bằng sáng chế nhỏ, hoặc những khu vực nơi mà có những số lượng nhỏ của những tay chơi lớn, mỗi trong số chúng tạo ra một bụi rậm mà bất kỳ kẻ mới vào nào cũng phải thương thảo để có khả năng vận hành. Nghiên cứu bổ sung trong nhiều lĩnh vực công nghệ hơn sẽ phục vụ để làm sáng tỏ liên kết có khả năng này.
That, in essence, is why any attempt to avoid patent thickets in software is doomed: there will always be overlaps because the abstract, and therefore protean, nature of software means that it can be applied in situations never envisaged when the patent was granted, but which may well be caught by its vague description.
This is not something that the current patent thicket addresses, or maybe even appreciates. And it's symptomatic of the overall lack of any rigorous internal logic to the patent system that the report is forced to conclude:
This report has raised more questions than provided answers. It can be seen that there is no clear consensus on terms used to describe patent thickets and the entities involved with them. By applying these terms consistently it is hoped that further debate on any issues can be conducted on a level playing field.
The indicators appear to show that there is a possibility of different forms of thicket occurringwhere there are different types of technology linked to the degree of maturity of that technology space. These potential types can be subdivided into areas where there are large numbers of small patent holdings, or areas where there are small numbers of big players, each of which creates a thicket that any new entrant will have to negotiate in order to be able to operate. Additional research into more technology areas will serve to elucidate this possible link.
Có bao nhiêu rào cản lối vào, đặc biệt đối với các doanh nghiệp vừa và nhỏ? Một lần nữa, công việc phân tích không phải là công việc xa hơn và cuối cùng được yêu cầu, như được thảo luận trong các phần sau đó. Tuy nhiên, từ việc nhìn nhận lại vô số các tài liệu và việc tính tới những quan sát được thực hiện trong quá trình phân tích cũng rõ là có vài vấn đề khác cần phải được cân nhắc.
Tôi nghĩ điều đó có nghĩa là họ không biết. Thực tế là thậm chí một mẩu công việc nghiêm trọng giống như báo cáo hiện tại cũng không thể trích ra bất kỳ điều gì hữu dụng từ những sự kiện và con số của thế giới bằng sáng chế là một chỉ số xa hơn về việc toàn bộ lĩnh vực tự do với các bằng chứng này vẫn còn giữ nguyên. Thay vào đó, việc ra chính sách tiếp tục sẽ được dựa vào đức tin mơ hồ tốt nhất, và những sự đòi quyền lợi võ đoán tệ nhất. Không nghi ngờ gì hệ thống bằng sáng chế là trong một sự hỗn độn đó.
Is there are barrier to entry, in particular for SMEs? Again, the analysis work is not conclusive and further work is required, as discussed in the sections below. However, from reviewing the vast literature and taking into consideration observations made during the analysis it is also clear that there are several other issues which need to be considered.
I think that means they don't know. The fact that even a serious piece of work like the present report can't tease out anything useful from the facts and figures of the patent world is a further indication of how evidence-free this whole area remains. Instead, policy making continues to be based on vague beliefs at best, and dogmatic assertions at worst. No wonder the patent system is in such a mess.
Dịch tài liệu: Lê Trung Nghĩa

EU: Tiêu chuẩn là mở khi được triển khai trong nguồn mở


EU: 'A standard is open when implemented in open source'
by Gijs Hillenius — published on Nov 29, 2011
Bài được đưa lên Internet ngày: 29/11/2011
Lời người dịch: Một khuyến cáo cho các cơ quan hành chính nhà nước khi chọn một tiêu chuẩn nào đó, thì tiêu chuẩn đó phải có ít nhất trong một triển khai của phần mềm tự do nguồn mở để tránh bị khóa trói vào nhà cung cấp và dữ liệu có khả năng sẽ không còn mở được nữa. “Vài năm trước ông đã kiểm thử chiến lược tài liệu điện tử của tất cả 290 thành phố của quốc gia này, thấy rằng một phần chủ chốt các tài liệu không còn có khả năng truy cập được nữa”. Còn nghiên cứu của các chuyên gia Thụy Điển đối với hệ sinh tháo của cái gọi là tiêu chuẩn OOXML có trong Microsoft Office là: “Hệ sinh thái của OOXML có sức khỏe bằng 0”, nghĩa là nó tương đương với một cộng đồng mà ... không làm gì cả.
Một tổ chức của khu vực nhà nước chỉ nên tham chiếu tới một phần mềm hoặc tiêu chuẩn định dạng tệp nếu tiêu chuẩn đó đã được triển khai trong một triển khai cài đặt phần mềm nguồn mở bền vững. Không có triển khai như vậy sẽ có rủi ro đáng kể cho tổ chức, Bjorn Lundell khuyến cáo sau một rà soát lại các chính sách của các cơ quan hành chính công. Lundell là một nhà nghiên cứu tại Đại học Skovde tại Thụy Điển.
Triển khai một tiêu chuẩn trong nguồn mở là một dấu hiệu tốt về tính mở, Lundell nói, người đã trình bày các kết quả gần đây nhất nghiên cứu của anh ta trong sự trường tồn của các tài liệu điện tử tại ngày hội ODF Plugfest hôm 18/11 tại thành phố Gouda của Hà Lan.
Plugfest là một hội thảo được tổ chức cứ 6 tháng một lần, nơi mà các nhà sản xuất phần mềm các bộ phần mềm văn phòng làm việc trong sự hỗ trợ của họ cho Định dạng Tài liệu Mở ODF. Đây là một tiêu chuẩn cho các tài liệu điện tử được Tổ chức vì sự tiến bộ các tiêu chuẩn thông tin có cấu trúc OASIS phát triển và đã được Tổ chức Quốc tế về tiêu chuẩn hóa ISO phê chuẩn.
Lundell đặc biệt quan tâm tới sự trường tồn của các tài liệu điện tử được các cơ quan hành chính nhà nước Thụy Điển tạo ra. Vài năm trước ông đã kiểm thử chiến lược tài liệu điện tử của tất cả 290 thành phố của quốc gia này, thấy rằng một phần chủ chốt các tài liệu không còn có khả năng truy cập được nữa. Các ứng dụng mà đã tạo ra các tài liệu không còn được sử dụng nữa, không có sẵn sàng hoặc được cập nhật mà không có việc đảm bảo tính tương thích ngược nữa.
Cùng với các nhà nghiên cứu khác tại Skovde, năm nay ông đã xem xét sát hơn vào 2 tiêu chuẩn tài liệu mở cạnh tranh, ODF và OOXML của Microsoft, cũng đã được ISO phê chuẩn.
A public sector organisation should only refer to a software or file format standard if the standard has been implemented in a sustainable open source software implementation. Without such implementation there is significant risk for the organisation, recommends Björn Lundell after a review of public administration's policies. Lundell is a researcher at the University of Skövde in Sweden.
The implementation of a standard in open source is a good sign of openness, says Lundell, who presented the most recent results of his research into the longevity of electronic documents at the ODF Plugfest on 18 November in the Dutch city of Gouda.
The Plugfest is a workshop organised once every six months, where software makers of office suites work on their support for the Open Document Format (ODF). This is a standard for electronic documents developed by the Organization for the Advancement of Structured Information Standards (OASIS) and approved by the International Organization for Standardization (ISO).
Lundell in particular is interested in the longevity of electronic documents created by public administrations in Sweden. The past few years he tested the electronic document strategy of all 290 municipalities in that country, finding that a major part of these documents is no longer accessible. The applications that created the documents are no longer in use, no longer available or upgraded without ensuring backwards compatibility.
Together with other researchers at Skövde, this year he took a closer look at two competing open document standards, ODF and Microsoft's alternative OOXML, also approved by ISO.
'Zero health'
'Sức khỏe bằng 0'
2 nhà nghiên cứu đã so sánh số lượng các đóng góp mã nguồn trong vòng 4 năm qua đối với 2 dự án nguồn mở, các trình soạn thảo OpenOffice và LibreOffice, hỗ trợ ODF, và Docx4all, hỗ trợ OOXML. “Dự án LibreOffice có 664 người đề xuất, Docx4all chỉ có 2. Trung bình LibreOffice có 2851 đề xuất mỗi tháng, và Docx4all có 29”.
Lundell thừa nhận rằng Docx4all là một dự án nhỏ hơn nhiều. Tuy nhiên, ông kết luận rằng đối với OOXML hầu như không có bất kỳ sự hỗ trợ nào trong các ứng dụng nguồn mở. “Hệ sinh thái của OOXML có sức khỏe bằng 0”.
Các kết quả của nghiên cứu này, một tài liệu ông đã viết với Jonas Gamalielsson, có đầu đề 'Các cộng đồng nguồn mở vì sự duy trì dài hạn các tài sản số: cái gì được chào cho ODF và OOXML', sẽ được xuất bản sớm trong một báo cáo trong một cuộc hội thảo, từ Đại học Công nghệ Tampere.
The two researchers compared the number of source code contributions during the past four years for two open source projects, the Open Office and Libre Office editors, supporting ODF, and Docx4all, supporting OOXML. "The Libre Office project has 664 committers, the Docx4all has only two. On average, Libre Office has 2851 commits per month, and Docx4all gets 29."
Lundell acknowledges that Docx4all is a much smaller project. However, he concludes that for OOXML there is hardly any support in open source applications. "OOXML's ecosystem has zero health."
The results of this study, a paper he wrote with Jonas Gamalielsson, titled 'Open Source communities for long-term maintenance of digital assets: what is offered for ODF & OOXML', will be published soon in a report on a workshop, by the Tampere University of Technology.
Dịch tài liệu: Lê Trung Nghĩa

Chủ Nhật, 4 tháng 12, 2011

Ý: Sicily cân nhắc luật thúc đẩy sử dụng nguồn mở


IT: Sicily to consider law promoting the use of open source
by Gijs Hillenius — published on Nov 29, 2011
Bài được đưa lên Internet ngày: 29/11/2011
Lời người dịch: Chính quyền vùng của đảo Sicily của Ý sẽ cân nhắc một luật thúc đẩy các cơ quan hành chính nhà nước để sử dụng các phần mềm tự do nguồn mở. Đề xuất này tương tự với một luật được phê chuẩn hầu như chính xác một năm trước tại vùng Puglia của Ý, mà làm cho sử dụng phần mềm nguồn mở và các chuẩn mở là bắt buộc đối với các cơ quan hành chính nhà nước. Hiện Ý đang có nợ công lên tới 1.9 ngàn tỷ euro và chính phủ đã phải đóng cửa các trường học có dưới 600 học sinh.
Chính quyền vùng của đảo Sicily của Ý sẽ cân nhắc một luật thúc đẩy các cơ quan hành chính nhà nước để sử dụng các phần mềm tự do nguồn mở. Đề xuất của Massimo Ferrara, một thành viên của Đảng Dân chủ, cũng có thể giúp ngăn chặn sự ra đi của một trường học trên đảo, Instituto Majorana, có liên quan trong việc sản xuất các video chỉ dẫn về dạng phần mềm này.
Ferrara đã trình bày dự luật của ong “luật về phần mềm tự do tại Sicily” đầu tháng vừa rồi.
Theo một bài báo trên một site tin địa phương về sáng kiến này, dự luật nhằm vào để 'giải quyết sự phân cách số và thúc đẩy sử dụng nguồn mở trong các cơ quan nhà nước'. Site thông tin này trích từ giải thích của Đảng Dân chủ cách mà luật này nhằm tới để chống lại những độc quyền và giúp giảm chi cho các nền hành chính nhà nước. Nó cùng nhằm tới việc gia tăng sự truy cập của các công dân tới các dữ liệu của chính phủ.
Đề xuất này tương tự với một luật được phê chuẩn hầu như chính xác một năm trước tại vùng Puglia của Ý, mà làm cho sử dụng phần mềm nguồn mở và các chuẩn mở là bắt buộc đối với các cơ quan hành chính nhà nước.
The regional administration of the Italian island of Sicily is to consider a law nudging public administrations to use of free and open source software. The proposal, by Massimo Ferrara, a member of the Democratic Party, might also help prevent the break-up of a school on the island, the Instituto Majorana, involved in producing instruction videos on this type of software.
Ferrara presented his bill "the law on free software in Sicily" early last month.
According to an article on a local news site on the initiative, the bill aims to 'close the digital divide and promote the use of open source in public administration'. The news site quotes the Democrat explaining how the law aims to counter monopolies and help reduce the costs for public administrations. It also aims to increase citizen's access to government data.
The proposal is similar to a law adopted almost exactly a year ago in the Italian region of Puglia, that makes the use of open source software and open standards mandatory for its public administrations.
Public debt
Nợ công
Một trường học tại thành phố Gela, phía nam bờ biển của Sicily, Instituto Majorana, hy vọng rằng dự luật này sẽ giúp ngăn chặn được sự ra đi. Trường này, với 633 học sinh, đang bị chia làm 2, với phần chính các học sinh tới trường với 433 học sinh trong cùng khu vực.
Ý gần đây đã quyết định đóng tất cả các trường học có ít hơn 600 học sinh. Biện pháp này là một phần của các biện pháp nghiêm khắc của Chính phủ nhằm tới việc giảm nợ công 1.9 ngàn tỷ euro của đất nước này.
Các giáo viên của trường Majorana 2 tuần trước đã bắt đầu một chiến dịch giải cứu trường của họ. Họ hy vọng, trong số những việc khác, sẽ có khả năng tiếp tục thúc đẩy sử dụng phần mềm tự do nguồn mở trong giáo dục. “Majorana đang làm việc nhiều để lan truyền phần mềm tự do nguồn mở”, một trong số các giáo viên, Antonio Cantaro giải thích trên site của trường, trong khi đồ rằng liệu điều đó cách gì đó có liên quan tới quyết định đóng trường hay không.
Theo một thông điệp được đưa lên ngày hôm qua, trường này là tích cực, sau một cuộc họp giữa một đoàn đại biểu của trường và các nhà hành chính giáo dục của tỉnh.
A school in the city of Gela, on the south coast of Sicily, the Instituto Majorana, hopes that the bill will help to prevent its break-up. The school, with 633 pupils, is to be split in two, with a major part of the students to go a school with 433 students in the same area.
Italy recently decided to close all schools with fewer than 600 students. The measure is part of the government's austerity measures aimed to lower the country's 1.9-trillion-euro public debt.
The Majorana school teachers two weeks ago started a campaign to save their school. They hope, among other things, to be able to continue to promote the use of free and open source software in education. "The Majorana is doing a lot of work to spread free and open source software", explains one of the teachers, Antonio Cantaro on the school site, while wondering if that is somehow connected to the decision to close the school.
According to a message posted yesterday, the school is optimistic, following a meeting between a school delegation and provincial and education administrators.
Dịch tài liệu: Lê Trung Nghĩa

Ý: Giao tiếp là sống còn cho việc chuyển sang nguồn mở


IT: Communication vital for move to open source
by Gijs Hillenius — published on Nov 29, 2011
Bài được đưa lên Internet ngày: 29/11/2011
Lời người dịch: Để chuyển đổi thành công sang phần mềm tự do nguồn mở, vấn đề truyền thông là rất quan trọng. “Truyền thông cho mỗi người, từ những người sử dụng cho tới quản lý. Việc giải thích đâu là nơi những người sử dụng có thể tìm kiếm sự trợ giúp sẽ quan trọng hơn so với việc thực sự cung cấp nó”.
Các nền hành chính nhà nước muốn chuyển sang các ứng dụng nguồn mở không phụ thuộc vào các nhà cung cấp cần phải đặt nhiều nỗ lực vào sự truyền thông, Massimo Carnevali, quản lý CNTT cho tới gần đây của thủ phủ Bologna tại Ý, khuyến cáo. “Truyền thông cho mỗi người, từ những người sử dụng cho tới quản lý. Việc giải thích đâu là nơi những người sử dụng có thể tìm kiếm sự trợ giúp sẽ quan trọng hơn so với việc thực sự cung cấp nó”.
“Hãy giải thích rằng sự chuyển đổi này sẽ cải thiện hệ thống CNTT cũng như giảm chi phí”, Carnevali nhấn mạnh. Ông đã trình bày về sự chuyển đổi sang các ứng dụng nguồn mở độc lập với nhà cung cấp tại Hội nghị Phần mềm Tự do ở Nam Tyrol hôm 18/11 tại thành phố Bolzano. “100 ngày trơn tru đầu tiên là sống còn”.
Thành phố Bologna đã bắt đầu sự chuyển đổi sang các phần mềm nguồn mở trong năm 2004. Thành phố, ví dụ, còn chưa hoàn tất việc chuyển sang OpenOffice, một bộ các ứng dụng văn phòng nguồn mở, trên một nửa trong số 3.600 PC, trải qua 65 văn phòng trong thành phố. Trên 900 PC khác bộ văn phòng của nhà cung cấp sở hữu độc quyền vẫn còn hiện diện, nhưng không còn là mặc định nữa. Trên 900 máy còn lại OpenOffice được cài đặt cùng với bộ phần mềm văn phòng sở hữu độc quyền.
“Những gì bây giờ cần loại bỏ những phụ thuộc cuối cùng vào bộ phần mềm văn phòng sở hữu độc quyền, và sau đó có thể hoàn tất sự chuyển đổi. Sau đó, chúng tôi sẽ chuyên sang định dạng tài liệu mở như là mặc định của chúng tôi”.
Những lý do cho chính quyền Bologna chuyển sang nguồn mở bao gồm sự tiết kiệm cả trong trung hạn và dài hạn, tăng cường cho các nhà cung cấp dịch vụ CNTT địa phương, tính sống còn của dữ liệu và sự độc lập với nhà cung cấp CNTT, Carnevali tóm tắt bài trình bày của mình.
Sợ thay đổi
Những cản trở lớn nhất, mặt khác, là những ứng dụng phụ thuộc vào bộ văn phòng sở hữu độc quyền. “Người sử dụng đã phát triển các macro phức tạp khó mà chuyển đổi, và có những vấn đề với việc định dạng các bảng và bộ lọc”.
Ông cũng cảnh báo rằng nhiều người sử dụng sợ thay đổi đối với môi trường điện toán của họ. “Trở ngại lớn nhất là người sử dụng muốn tiếp tục làm những thứ y hệt như trước, phần nhiều theo cách y hệt”.
Public administrations that want to move to vendor independent open source applications need to put a lot of effort in communication, recommends Massimo Carnevali, until recently the IT manager of the municipality of Bologna in Italy. "Communicate to everybody, from users to management. Explaining where users can find help could be more important than actually providing it."
"Explain that this move will improve the IT system as well as reduce costs" stresses Carnevali. He presented on the move to vendor independent open source applications at the South Tyrol Free Software Conference on 18 November in the city of Bolzano. "A smooth first hundred days are vital."
The city of Bologna started its move to open source software in 2004. It has for example no completed the move to OpenOffice, an open source suite of office applications, on half of its 3600 PCs, spread over 65 offices in the city. On 900 others PCs a proprietary vendor's office suite is still present, but no longer the default. On the remaining 900 open office is installed alongside the proprietary office.
"What now need to remove the final dependencies on the proprietary office suite, and then can complete the migration. After that, we will move to the open document format as our default."
The reasons for the administration of Bologna to move to open source include medium and long term savings, strengthening local IT service providers, viability of data and IT vendor independence, Carnevali sums up in his presentation.
Fear of change
The biggest obstacles, on the other hand, are applications that depend on the proprietary office suite. "Users have developed complex macro's that are hard to convert, and there are problems with the formatting of tables and filters."
He also warns that many users fear changes to their computing environment. "The biggest obstacle is the user that wants to continue to do the same things as before, in much the same way."
Dịch tài liệu: Lê Trung Nghĩa

Thứ Năm, 1 tháng 12, 2011

Vì sao Barnes & Noble là một Siêu sao của phần mềm nguồn mở


Why Barnes & Noble is an Open Source Superstar
Published 12:23, 14 November 11, By Glyn Moody
Bài được đưa lên Internet ngày: 14/11/2011
Lời người dịch: Trên blog này đã có vài bài nói về vụ Microsoft kiện Barnes & Noble sử dụng hệ điều hành tự do nguồn mở Android trong sản phẩm của mình, vi phạm các bằng sáng chế phần mềm của Microsoft. Sự thực có phải là như vậy không? Hay cái đích thật của Quỷ lùn bằng sáng chế Microsoft là đánh vào các lập trình viên nguồn mở để buộc họ phải từ bỏ thị trường hệ điều hành di động để Microsoft độc chiếm lấy thị trường đó bất chấp năng lực đổi mới sáng tạo èo uột của Microsoft. Bạn hãy đọc kỹ bài viết này để thấy được đâu là sự thực. Còn đây là mấy câu cảm thán từ sau mỗi lần giải thích cụ thể về từng bằng sáng chế phần mềm được cho là tầm thường của Microsoft: (1) Các công nghệ cho kỷ nguyên quay số ư? Ô hô, hoàn toàn phù hợp với Android...: (2) Một bằng sáng chế cho “một sự cảm nhận chung” ư? Văn phòng Bằng sáng chế và Thương hiệu Mỹ (USPTO) lại có thể đi thấp thế sao?; (3) Lại một bằng sáng chế tầm thường xấu xí nữa có thể rõ ràng đối với mọi độc giả của blog này, con cái của họ, bố mẹ của họ và có thể cả những con vật nuôi của họ nữa: (4) Nhưng thậm chí nếu chúng có là có hiệu lực, thì chúng là thảm hại tột cùng. Việc Microsoft đang sử dụng những vũ khí hời hợt nông cạn như vậy chống lại Barnes & Noble phô bày cách mà toàn bộ tiếp cận này là một sự giả mạo. Xem thêm: [01], [02], [03], [04].
Như tôi đã lưu ý nhiều lần, một trong những mối đe dọa lớn nhất treo trên đầu của nguồn mở là các bằng sáng chế, vì cái cách thức mà các kỹ thuật phần mềm tầm thường nhưng không thể bỏ qua đã được trao bằng sáng chế trong một số quyền tài phán (hầu hết là tại Mỹ). Những thứ được làm cho tồi tệ hơn bằng thực tế rằng những mối đe dọa mơ hồ mập mờ có thể được thực hiện trong lĩnh vực này, ví dụ như việc đòi quyền lợi nổi tiếng này trong năm 2007:
Cố vấn trưởng Brad Smith và sếp về cấp phép Horacio Gutierrez của Microsoft đã ngồi xuống thử vận may gần đây để đưa ra chiến lược của họ cho việc bắt những người sử dụng phần mềm tự do nguồn mở (FOSS) phải trả phí bản quyền. Việc hé lộ chính xác con số lần đầu tiên, họ nói rằng FOSS vi phạm không ít hơn 235 bằng sáng chế của Microsoft.
Điều nổi bật là Microsoft không bao giờ nói chính xác các bằng sáng chế nào hãng nghĩ FOSS vi phạm, dù không ngạc nhiên. Nếu hãng nói, có khả năng thấy không rõ có bất kỳ vi phạm có thể nào và, nguy hại hơn cho Microsoft, phải nhìn cái nghệ thuật cao siêu hoặc những nền tảng khác đối với những bằng sáng chế sẽ bị rút bỏ. Bằng việc giữ cho mọi thứ như những sự kết tội mập mờ, Microsoft có được tốt nhất cả 2 thế giới: có khả năng là FOSS nằm trong mối lo ngại lớn, còn hãng thì không bị rủi ro bị chứng minh là con hổ giấy.
Đó là những gì làm cho quan điểm có nguyên tắc của Barnes & Noble chống lại kẻ lưu manh hay bắt nạt về bằng sáng chế của Microsoft trở nên rất quan trọng. Như PJ viết trên Groklaw:
Barnes & Noble đã làm một điều có lợi khổng lồ cho thế giới, bằng việc vén sang một bên bức màn che và hé lộ những chiến thuật trong chiến dịch về bằng sáng chế của Microsoft chống lại Android một cách chi tiết ghê gớm.
Nó vén lên sự đòi quyền lợi của các bằng sáng chế “tầm thường” và “vô hiệu” chống lại Barnes & Noble và một số chi tiết gây sốc về một thỏa thuận về giấy phép “đàn áp” mà có thể đã kiểm soát các tính năng thiết kể cả phần cứng và phần mềm mà Microsoft đã bày ra, vì thế hạn chế ở mức độ nào đó cho những gì Barnes & Noble có thể đưa ra những nâng cấp và những tính năng được cải thiện cho các khách hàng của hãng nếu hãng đã ký nó, các tính năng mà hãng nói không có bất kỳ bằng sáng chế nào của Microsoft đề cập tới cả. Microsoft đã làm thật cật lực để giữ tất cả điều đó bí mật, và tôi nghĩ bạn sẽ thấy vì sao. Thật xấu xí đằng sau bức màn che.
As I've noted many times, one of the biggest threats hanging over open source is patents, because of the way trivial but indispensable software techniques have been patented in some jurisdictions (mostly the US). Things are made worse by the fact that vague threats can be made in this area, for example this famous assertion in 2007:
Microsoft General Counsel Brad Smith and licensing chief Horacio Gutierrez sat down with Fortune recently to map out their strategy for getting FOSS users to pay royalties. Revealing the precise figure for the first time, they state that FOSS infringes on no fewer than 235 Microsoft patents.
It's striking that Microsoft has never said exactly which patents it thinks free software infringes upon, although not surprising. If it did, it would be possible to see whether there were any likely infringement and, more damagingly for Microsoft, to look for prior art or other grounds for those patents to be revoked. By keeping everything as vague accusations, Microsoft gets the best of both worlds: it is able to imply that free software is in big trouble, but without running the risk of being proved a paper tiger.
That's what makes Barnes & Noble's principled stand against Microsoft's patent bullying so important. As PJ writes on Groklaw:
Barnes & Noble has done the world a tremendous favor, by pulling aside the curtain and revealing Microsoft's patent campaign tactics against Android in lurid detail.
It reveals the assertion of "trivial" and "invalid" patents against Barnes & Noble and some shocking details about an "oppressive" license agreement that would have controlled hardware and software design features that Microsoft presented, thus limiting to what degree Barnes & Noble could offer upgrades and improved features to its customers if it had signed it, features it says none of Microsoft's patents cover. Microsoft worked so hard to keep it all secret, and I think you'll see why. It's ugly behind that curtain.
Quả thực là xấu xí, khi đi theo các tài liệu từ Barnes & Noble cũng trên bài viết trên Growklaw làm sáng tỏ. Đừng có bỏ qua câu chuyện về cách mà Microsof đã cố gắng buộc Barnes & Noble phải ký một thỏa thuận không tiết lộ để giữ tất cả những thứ lộn xộn này khỏi sự soi mói của công chúng - và đã thất bại. Nhưng sự tiết lộ thực sự là Bằng chứng D, mà nói ra các bằng sáng chế mà Microsoft đang đòi quyền lợi chống lại Barnes & Noble. Chúng là đây trong tất cả sự vinh quan không thể tin nổi của chúng:
I. Bằng sáng chế số '372 (Tải ảnh nền của trình duyệt web)
Bằng sáng chế số '372 đã được đệ trình ngày 18/04/1996. Rất chung chung, bằng sáng chế này liên quan tới một hệ thống đã lỗi thời cho việc tìm và lôi ra sử dụng một tài liệu điện tử như một trang web mà bao gồm một ảnh nền được nhúng, có thể mang trong các trình duyệt web rất cũ có kết nối tới Internet thông qua các kết nối quay số, chậm, mà có ít ứng dụng trong ngữ cảnh này đối với các kết nối Internet hiện đại được cải thiện...
Các công nghệ cho kỷ nguyên quay số ư? Ô hô, hoàn toàn phù hợp với Android...
II. Bằng sáng chế số '522 (Các chuyển trang Tabs mà hệ điều hành đưa ra)
Bằng sáng chế số '522 đã được đệ trình vào ngày 13/12/1994. Bằng sáng chế này có liên quan tới một công cụ duy nhất, đơn giản do một hệ điều hành cung cấp (như Windows) mà cho phép các ứng dụng chạy trong hệ điều hành đó có một sự cảm nhận (look and feel) chung. Vì các hệ điều hành đưa ra nhiều công cụ như vậy, nên bằng sáng chế này thực chất không gì hơn là một lựa chọn thiết kế tầm thường.
Một bằng sáng chế cho “một sự cảm nhận chung” ư? Văn phòng Bằng sáng chế và Thương hiệu Mỹ (USPTO) lại có thể đi thấp thế sao?
Ugly indeed, as the accompanying documents from Barnes & Noble also on that Growklaw post make clear. Don't miss the tale of how Microsoft tried to get Barnes & Noble to sign a broad non-disclosure agreement to keep all this embarrassing stuff from the public gaze - and failed. But the real revelation is Exhibit D, which spells out the patents that Microsoft is asserting against Barnes & Noble. Here they are in all their unbelievable glory:
I. '372 Patent (Web Browser Background Image Loading)
The '372 patent was filed April 18, 1996. Very generally, the patent relates to an outmoded system for retrieving an electronic document like a webpage that includes an embedded background image, which may have a bearing on very old web browsers connected to the Internet via slow, dial-up connections, but has little application in the context of improved, modern Internet connections....
Technologies for the dialup age? Yup, totally relevant to Android...
II. '522 Patent (Operating System Provided Tabs)
The '522 patents was filed December 13, 1994. The patent relates to a single, simple tool provided by an operating system (such as Windows) that allows applications running on that operating system to have a common look and feel. Since operating systems provide many such tools, the patent amounts to nothing more than a trivial design choice.
A patent for "a common look and feel"? How low can the USPTO go?
III. Bằng sáng chế số '551 (Lựa chọn điện tử với “các tay quai”)
Về bề nổi, bằng sáng chế số '551 ngụ ý yêu sách ưu tiên trở ngược lại ngày đệ trình 10/11/2000. Nói chung, bằng sáng chế số '551 liên quan tới một tính năng đơn giản và tầm thường khác mà không chỉ được nhiều tham chiếu nghệ thuật trước đó đưa ra, mà còn chắc chắn không phải là trọng tâm đối với một hệ điều hành như Android - việc lựa chọn và làm nổi bật văn bản hoặc các hình đồ họa bên trong một tài liệu điện tử. Bằng sáng chế này đưa ra thứ mà một người sử dụng chonnj một từ hoặc một mệnh đề, ví dụ thế, bằng việc chạm lên một màn hình cảm ứng hoặc nháy vào bằng chuột. Một sự chọn như vậy có thể được chỉ ra bằng việc làm nổi bật từ hoặc mệnh đề được chọn. Người sử dụng được trình bày với “các tay quai chọn” trên một hoặc cả 2 đầu của vùng được chọn. Những “tay quai chọn” này có thể được người sử dụng loại bỏ để làm nổi bật ít nhiều văn bản hoặc các hình đồ họa...
Lại một bằng sáng chế tầm thường xấu xí nữa có thể rõ ràng đối với mọi độc giả của blog này, con cái của họ, bố mẹ của họ và có thể cả những con vật nuôi của họ nữa.
IV. Bằng sáng chế số '233 (Chú giải của các tài liệu điện tử)
Bằng sáng chế số '233 đã được đệ trình vào ngày 07/12/1999. Giống như những bằng sáng chế khác của Microsoft, bằng sáng chế số '233 chỉ liên quan tới một tính năng nhỏ đã từng hiện diện từ lâu trong nghệ thuật trước đó và không phải là trọng tâm đối với Android hoặc bất kỳ một hệ điều hành nào khác. Đặc biệt hơn, bằng sáng chế này thường liên quan tới một phương pháp bắt lấy các chú giải được thực hiện trong một tài liệu điện tử (giống như một cuốn sách điện tử), mà không có việc thay đổi bản thân tài liệu điện tử đó...
Ê, các chú giải, nguồn gốc sâu xa thật.
III. '551 Patent (Electronic Selection with "Handles")
On its face, the '551 patent purports to claim priority back to a November 10, 2000 filing date. Generally, the '551 patent relates to another simple and trivial feature that is not only disclosed by numerous prior art references, but is certainly not central to an operating system like Android -- selecting or highlighting text or graphics within an electronic document. The patent provides that a user selects a word or phrase, for example, by tapping on a touch screen display or clicking with a mouse. Such a selection may be shown by highlighting the selected word or phrase. The user is presented with "selection handles" on one or both ends of the selected areas. These "selection handles" can be moved by the user to highlight more or less text or graphics....
Another utterly trivial patent that would be obvious to every reader of this blog, their children, their parents and probably pets too.
IV. '233 Patent (Annotation of Electronic Documents)
The '233 patent was filed December 7, 1999. Like the other Microsoft patents, the '233 patent relates only to one small feature that has long been present in the prior art and is not central to Android or any other operating system. More specifically, the patent generally relates to a method for capturing annotations made in an electronic document (like an electronic book), without changing the electronic document itself....
Yeah, annotations, deeply original that.
V. Bằng sáng chế số '780 (Tải lên các biểu tượng về tình trạng của trình duyệt web)
Bằng sáng chế số '780 đã không được đệ trình cho tới ngày 06/05/1997, lâu sau khi trình duyệt web đầu tiên đã xuất hiện trên thị trường. Bổ sung thêm vào sự chậm trễ đối với cuộc chơi, bằng sáng chế này được nhằm thẳng vào một tính năng rất rõ ràng và đơn giản - một yếu tố đồ họa hoặc biểu tượng về tình trạng tạm thời được hiển thị để chỉ ra rằng một trình duyệt siêu văn bản (như một trình duyệt web) đang tải nội dung.
Tôi không đủ lời để tả hết được.
Tuy nhiên, đệ trình của Barnes & Noble đi xa hơn so với chỉ đơn giản liệt kê những bằng sáng chế này: nó cũng đưa ra thông tin chi tiết về nghệ thuật trước đó và những lý do khác vì sao chúng (những bằng sáng chế) tất cả là vô hiệu. Nhưng thậm chí nếu chúng có là có hiệu lực, thì chúng là thảm hại tột cùng. Việc Microsoft đang sử dụng những vũ khí hời hợt nông cạn như vậy chống lại Barnes & Noble phô bày cách mà toàn bộ tiếp cận này là một sự giả mạo.
V. '780 Patent (Web Browser Loading Status Icons)
The '780 patent was not filed until May 6, 1997, long after the first web browser came to market. In addition to being late to the game, the patent is directed to a very simple and obvious feature -- a temporary graphic element or status icon that is displayed to indicate that a hypermedia browser (such as a web browser) is loading content.
Words fail me.
However, the Barnes & Noble filing goes further than simply listing these patents: it also provides detailed information about prior art or other reasons why they are all invalid. But even if they were valid, they are pathetic in the extreme. That Microsoft is using such flimsy weapons against Barnes & Noble exposes how its whole approach is a sham.
Rõ ràng việc hy vọng rằng nỗ lực và chi phí lớn đấu tranh với họ trong một qui trình ở tòa án sẽ thuyết phục được các nhà sản xuất đơn giản sẽ lăn qua và cấp phép cho họ như là một lựa chọn dễ dàng hơn. Và quả thực, điều đó đã làm được việc với việc ký kết của các công ty như HTC và Samsung, cho sự hổ thẹn đời đời của họ.
Barnes & Noble, ngược lại, nổi lên với thanh danh đáng kể ở đây, khi hãng đã từ chối đối với cái khóa, và như một kết quả là có khả năng cung cấp cho chúng ta với cái nhìn thoáng qua thực sự đầu tiên trong chiến lược mới của Microsoft như một quỷ lùn bằng sáng chế đi theo và tiếp tục sự thất bại của Windows Mobile trong thị trường. Và điều đó là một yếu tố chủ chốt, khi Barnes & Noble chỉ ra trong đề nghị của hãng cho FTC (còn gọi là Groklaw), nơi mà hãng kêu gọi một cuộc điều tra đầy đủ chống độc quyền trong hành xử của Microsoft:
Rõ ràng từ những hành động và tuyên bố của Microsoft rằng vấn đề của hãng không phải là với Barnes & Noble, mà thay vào đó là với hệ điều hành Android do Google phát triển, đã đạt được trong một khoảng thời gian ngắn những gì Microsoft, với tất cả các tài nguyên của hãng, đã không làm được trong những năm qua. Ấy là, để phát triển một hệ điều hành di động có thể được cả các nhà sản xuất thiết bị thông minh di động cũng như công chúng cùng ôm lấy, và cho Microsoft để khử bỏ sự cạnh tranh. Thay vì việc đề cập trực tiếp vấn đề này với Google, Microsoft đã quyết định nhằm vào Barnes & Noble, người chỉ kết hợp hệ điều hành Android vào trong sản phẩm eReaders của mình.
It is obviously hoping that the sheer effort and expense of fighting them in a long-drawn out court process will persuade manufacturers simply to roll over and license them as the easier option. And indeed, that has worked with companies like HTC and Samsung signing up, to their eternal shame.
Barnes & Noble, by contrast, emerges with considerable honour here, since it refused to buckle, and as a result is able to provide us with the first real glimpse into Microsoft's new strategy as a patent troll following the continuing failure of Windows Mobile in the market. And that is a key factor, as Barnes & Noble points out in its submission to the FTC (also on Groklaw), where it calls for a full anti-trust investigation into Microsoft's behaviour:
It is clear from Microsoft's actions and statements that its issue is not with Barnes & Noble, but instead is with the Android operating system developed by Google, which has achieved in a short period what Microsoft, with all its resources, has failed to do over the past years. Namely, to develop a mobile operating system that would be embraced by both mobile smart device manufacturers and by the public, and for Microsoft to eliminate competition. Instead of directly addressing this issue with Google, Microsoft has decided to target Barnes & Noble, who merely incorporates the Android operating system into its eReaders.
Việc đệ trình các hành động cũng bao gồm một thông cáo báo chí của Microsoft và các bài viết trên blog của Horacio Guitierrez, Phó Tổng Cố vấn của Microsoft, gợi ý rằng đây là một kết luận tất yếu mà Barnes & Noble và những người sử dụng khác đối với hệ điều hành Android phải lấy một giấy phép từ Microsoft và trả cho hãng các chi phí bản quyền do Barnes & Noble tranh chấp, hệt như các nhà sản xuất thiết bị cầm tay khác đã tranh chấp với sự đòi quyền lợi này. Không có cơ sở hợp pháp nào cho sự đòi quyền lợi của Microsoft về sự áp đảo đối với hệ điều hành tự do nguồn mở Android mà không được Micrsoft phát minh hoặc được phát minh tại Microsoft, mà thay vào đó đã được Google phát triển phần lớn.
Vụ kiện và những hành động của ITC do Microsoft đệ trình chống lại Barnes & Noble và các nhà cung cấp của hãng là giống sự tiến hành những gì đã trở thành nổi tiếng như một “Quỷ lùn Bằng sáng chế” hơn là những hành động của một công ty công nghệ cao dựa vào sự nghiên cứu & phát triển (R&D) đổi mới sáng tạo. Microsoft hình như đang tìm cách áp đảo thị trường hệ điều hành, không phục vụ lợi ích của công chúng, và thay vào đó sẽ phục vụ chỉ cho sự bóp nghẹt đổi mới sáng tạo và cạnh tranh.
The filing of the actions also included a press release by Microsoft and blog entries by Horacio Guitierrez, Microsoft's Deputy General Counsel, suggesting that it is a foregone conclusion that Barnes & Noble and other Android operating system users must take a license from Microsoft and pay it royalties is disputed by Barnes & Noble, just as other handheld device manufacturers have disputed this assertion. There is no legitimate basis for Microsoft's assertion of dominance over the Android free-source operating system which was not invented at or by Microsoft, but instead was developed in large part by Google.
The suit and ITC actions filed by Microsoft against Barnes & Noble and its suppliers is more akin to the conduct of what has come to be known as a "Patent Troll" than to the actions of an innovative R&D-based high-tech company. Microsoft in apparently seeking to dominate the operating system marketplace, serves no public interest, and will instead serve only to stifle innovation and competition.
Trong năm ngoái, Microsoft đã làm việc xông xáo để ép các công ty sản xuất các sản phẩm sử dụng hệ điều hành Android phải lấy một giấy phép đắt giá nhằm cấm đoán đối với các bằng sáng chế của Microsoft. Vì Microsoft đang trong thị truonwgf các điện thoại thông minh và các máy tính bảng, những giấy phép này làm gia tăng các chi phí của các đối thủ cạnh tranh và làm giảm khả năng của họ để cạnh tranh với các sản phẩm của Microsoft, khi những điện thoại thông minh có sử dụng hệ điều hành Windows Phone 7 của Microsoft. Barnes & Noble, một công ty nhỏ trong thị trường eReader, có thể không đồng ý đối với giấy phép cắt cổ của Microsoft (và cũng không tin tưởng những yêu sách vi phạm sẽ là có hiệu lực), và khi chúng tôi đã từ chối trả tiền, thì Microsoft đã đệ trình vụ kiện của hãng.
Một lần nữa, như Barnes & Noble lưu ý đúng, đây không chỉ là một cuộc tấn công vào Android và Google, mà vào bản thân nguồn mở:
Đơn giản là, Microsoft đang có ý định giữ độc quyền thị trường các hệ điều hành di động và chèn ép sự cạnh tranh của Android và các hệ điều hành nguồn mở khác, bằng, bao gồm, việc đòi hỏi những điều khoản cấp phép chèn ép nhằm hoàn toàn vào Android, đòi quyền lợi cho vị thế áp đảo này đối với Android trên cơ sở các bằng sáng chế đề cập chỉ tới những lựa chọn thiết kế tầm thường và đưa vào trong thỏa thuận bằng sáng chế tấn công hàng ngang với Nokia.
…
Thay vì tập trung vào đổi mới sáng tạo và phát triển các sản phẩm mới cho những người tiêu dùng, Microsoft đã quyết định đầu tư những nỗ lực của hãng vào việc dẫn dắt các lập trình viên nguồn mở ra khỏi thị trường các hệ điều hành di động. Thông qua sử dụng những thỏa thuận cấp phép tấn công và yêu cầu về những phí cấp phép không hợp lý, Microsoft đang cản trở sự sáng tạo trong thị trường các hệ điều hành di động.
...
Over the past year, Microsoft has aggressively worked to force companies manufacturing products that use the Android operating system to take a prohibitively expensive license to Microsoft's patents. As Microsoft is in the market for smartphones and tablets, these licenses raise competitors' costs and reduce their ability to compete with Microsoft's products, such as smartphones using Microsoft's Windows Phone 7 operating system. Barnes & Noble, a small player in the eReader market, could not agree to Microsoft's extortionate license (and also does not believe the infringement claims to be valid), and when we refused to pay, Microsoft filed its lawsuit.
Again, as Barnes & Noble rightly notes, this is not just an attack on Android and Google, but on open source itself:
Simply put, Microsoft is attempting to monopolize the mobile operating systems market and suppress competition by Android and other open source operating systems by, inter alia, demanding oppressive licensing terms directed to the entirety of Android, asserting this dominant position over Android on the basis of patents covering only trivial design choices and entering into a horizontal offensive patent agreement with Nokia.
…
Instead of focusing on innovation and the development of new products for consumers, Microsoft has decided to invest its efforts into driving open source developers from the mobile operating systems market. Through the use of offensive licensing agreements and the demand for unreasonable licensing fees, Microsoft is hindering creativity in the mobile operating systems market.
…
Thông qua sử dụng các điều khoản cấp phép ép buộc chẳng khác gì một sức mạnh phủ quyết đối với một loạt rộng lớn các tính năng đổi mới sáng tạo trong các thiết bị Android mọi dạng, cũng như các chi phí cấp phép đắt giá cố để ngăn cấm của mình, Microsoft đang có ý định đẩy các lập trình viên nguồn mở cùng ra khỏi thị trường đó. Điều đó giải thích vì sao quyết định của Barnes & Noble đứng lên chống lại những ý định của Microsoft bắt nạt hãng là rất quan trọng: vì lợi ích tương lai của nguồn mở trong thị trường di động và máy tính bảng. Như tôi đã từng viết ở đâu đó, Google phải nhận lấy một số khiển trách vì tình trạng nguy hiểm hiện hành, nơi mà Microsoft có thể yêu sách đối với hơn 50% các thiết bị Android khởi đầu để ngăn chặn họ ký với Microsoft chỉ để làm cho vấn đề biến mất. Không làm thế từng là một điều sai lầm khổng lồ, và gọi tới câu hỏi về khả năng chiến lược của Google (nó từng quá khó để đoán trước được rằng các công ty có thể bắt đầu kiện Android theo một số cách thức chăng?)
Bây giờ thì Barnes & Noble đã chỉ ra một số xương sống, Google phải làm mọi điều hãng có thể để hỗ trợ công ty đó và lời kêu gọi của hãng về một cuộc điều tra chống độc quyền trong hành vi của Microsoft ở đây; nếu Google không làm, thì hệ sinh thái Android, và với nó là nguồn mở, có thể bị yếu đi nghiêm trọng vì những dạng tấn công bằng các bằng sáng chế.
Through the use of oppressive licensing terms that amount to a veto power over a wide variety of innovative features in Android devices of all kinds, as well as its prohibitively expensive licensing fees, Microsoft is attempting to push open source software developers out of the market altogether.
That is why the decision of Barnes & Noble to stand up to Microsoft's attempts to cow it are so important: at stake is the future of open source in the mobile and tablet space. As I've written elsewhere, Google must take some of the blame for the present parlous situation, where Microsoft can claim over 50% of Android devices now carrying patent licensing fees. Google should have offered indemnities to manufacturers using Android from the start in order to prevent them signing up with Microsoft just to make the problem go away. Failing to do so was a huge blunder, and calls into question Google's strategic ability (was it so hard to predict that companies would start suing Android in some way?)
Now that Barnes & Noble has shown some backbone, Google must do everything it can to support the company and its call for an anti-trust investigation into Microsoft's behaviour here; if it doesn't, the Android ecosystem, and with it open source, may be seriously weakened by these kinds of patent attacks.
Dịch tài liệu: Lê Trung Nghĩa

Scandal Luật về bằng sáng chế được thực hiện sau những cánh cửa đóng


Patent Scandal of Laws Made Behind Closed Doors
Published 11:36, 28 November 11, By Glyn Moody
Bài được đưa lên Internet ngày: 28/11/2011
Lời người dịch: Hiệp định chống hàng giả ACTA có vẻ như đang được phê chuẩn sau những cánh cửa đóng tại châu Âu mà không có bất kỳ sự tham vấn công khai dân chủ nào như nó đáng ra phải thế, cho dù nó có thể còn phải đi qua Nghị viện châu Âu để được phê chuẩn chính thức. Một tổ chức quốc tế không vì lợi ích của người châu Âu, Văn phòng Bằng sáng chế châu Âu, có lẽ có mong muốn nhất trong việc thông qua này, đặc biệt khi vụ việc có liên quan tới các bằng sáng chế phần mềm cho toàn khối EU, vì lợi ích duy nhất của tổ chức này là cho ra càng nhiều các bằng sáng chế phần mềm, và cả các lĩnh vực khác, càng nhiều càng tốt. Xem thêm: [01], [02], [03].
Cuộc thập tự chinh của ACTA đã và đang ám ảnh vài năm nay, được phân biệt bằng một sự thiếu minh bạch có chủ tâm mà rõ ràng là một dấu hiệu rằng bạn và tôi đang được khâu lại một cách xa hoa lộng lẫy. Nếu, giống như tôi, bạn từng hồ nghi chúng ta đang ở đâu ở nước Anh với trò đố chữ này, Nhóm các Quyền Mở (Open Rights Group) đã cùng đặt ra một tóm tắt hữu dụng:
  1. Sự soi xét tại nước Anh tới ở dạng của ACTA còn đi trước cả 2 Ủy ban của Liên minh châu Âu - một tại Hạ viện, và một tại Thượng viện.
  2. ACTA đã vượt qua sự soi xét của Ủy ban EU Chung (Commons EU Committee) hôm 14/07 năm nay. Báo cáo soi xét này phân loại nó như là 'tài liệu không làm nảy sinh các câu hỏi pháp lý hoặc chính trị đòi hỏi một báo cáo cho Hạ viện'.
  3. ACTA đi qua sự soi xét của báo cáo của Ủy ban Thượng viện EU hôm 14/10. Báo cáo này tham chiếu tới 'Những nghi ngờ của Chính phủ về cơ sở pháp lý' (pdf). Tôi đã hỏi ủy ban Thương viện về những nghi ngờ đó. Họ đã trả lời bằng các bức thư sẽ được sao chép bên dưới. Tôi nhắm đến một ngày nào đó hiểu chính xác những gì chúng có nghĩa. Đánh giá cao sự giúp đỡ.
  4. Chính phủ đã nói chính phủ bây giờ 'đang xem xét quan điểm của mình'.
....
Bây giờ là lúc để EU và các quốc gia hợp thành của nó chơi trò đuổi bắt dân chủ và đưa ra cho các công dân của mình một cơ hội để có tiếng nói của họ - có ý nghĩa - về hiệp định quan trọng và đạt được tới nay này. Chúng ta sẽ đuổi theo Chính phủ về những gì nó có nghĩa để nói rằng họ đang 'xem xét quan điểm của họ' - site IPEX nói rằng ACTA đã làm rõ sự soi xét tại Anh. Liệu còn có những cơ hội cho mọi người tại Anh có được tiếng nói của họ hay không? Chúng tôi đã yêu cầu một cuộc gặp với Baroness Wilcox, Bộ trưởng về Sở hữu trí tuệ, nơi chúng tôi sẽ cố gắng để có được sự rõ ràng hơn và đưa ra những quan ngại của chúng tôi.
The ACTA saga has been grinding on for years now, distinguished by a wilful lack of transparency that is a clear sign that you and I are being right royally stitched up. If, like me, you were wondering where we are in the UK with this charade, the Open Rights Group has put together a useful summary:
1. Scrutiny in the UK comes in the form of ACTA going before two EU Committees - one in the House of Commons, and one in the Lords.
2. ACTA passed scrutiny of the Commons EU Committee on 14th July this year. The scrutiny report classifies it as 'document not raising legal or political questions requiring a report to the House'.
3. ACTA passes scrutiny of the Lords EU Committee report on 14th October. The report references 'Government doubts about the legal basis' (pdf). I asked the Lords committee about these doubts.
They replied with the letters that are copied below. I aim to one day understand exactly what they mean. Help with that is appreciated.
4. The Government said it is now 'considering its position'.
….
Now is the time for the EU and its constituent nations to play democracy catch up and offer its citizens a chance to have their say - meaningfully - on this important and far reaching treaty. We will be chasing the Government on what it means to say that they are 'considering their position' - the IPEX site says that ACTA has already cleared scrutiny in the UK. Are there still opportunities for people in the UK to have their say? We have asked for a meeting with Baroness Wilcox, Minister for Intellectual Property, where we shall try to get some more clarity and set out our concerns.
Tôi sợ rằng điều này là một hy vọng khá tuyệt vọng mong chờ thứ gì đó sẽ xảy ra ở mức quốc gia; sau tất cả, thứ duy nhất ngăn cản nước Anh gật đầu về ACTA là chính phủ Anh 'đang xem xét quan điểm của mình', nó không truyền cảm hứng cho lòng tin. Tuy nhiên, vẫn còn một vài chỗ cho Nghị viện châu Âu đưa ra một cơ hội cho công chúng để được phép đưa ra những quan điểm khiêm tốn của mình về hiệp định này, và tôi mong đợi sự tập trung sẽ dịch chuyển ở đó.
Trong khi chờ đợi, chúng ta có lẽ có thể học được từ kinh nghiệm này rằng chúng ta phải nhất quán về sự minh bạch như một vấn đề của qui trình. Vì thế bây giờ có lẽ là thời điểm tốt để thực sự làm phiền về điều đó:
Vào ngày 22/11/2011, Ủy ban các Công việc Pháp lý của Nghị viện châu Âu đã bỏ phiếu cho một chỉ thị, cho phép người làm báo cáo về đề xuất về một bằng sáng chế nguyên khối để bám theo những thương thảo với Ủy ban và Hội đồng đằng sau những cách cửa đóng, mà không có bất kỳ sự tham gia nào từ phần còn lại của các thành viên Nghị viện hoặc bất kỳ việc báo cáo nào cho các công dân.
April đã lên án sự thiếu sự kiểm soát dân chủ của hệ thống được đề xuất và những lạm dụng có khả năng của nó. Thậm chí dù ý tưởng của tiêu đề bằng sáng chế mới cho toàn khối bên trong EU bản thân nó không có vấn đề gì, thì những chi tiết thực tiễn của hệ thống đề xuất là nguyên nhân cho sự lo ngại: quản lý hệ thống đó có thể được giao cho Văn phòng Bằng sáng chế châu Âu, một tổ chức quốc tế không có bất kỳ sự kiểm soát dân chủ nào, mà đã định hợp pháp hóa các bằng sáng chế về phần mềm.
Chính những điểm cuối cùng đó là đáng lo ngại. Văn phòng Bằng sáng chế châu Âu không có gì phải làm với Liên minh châu Âu, và về cơ bản là một cơ quan độc lập hoàn toàn. Tệ hơn, toàn bộ mục đích của nó là cấp các bằng sáng chế, và vì thế đó là bản chất tự nhiên duy nhất rằng nó sẽ muốn đưa ra nhiều hơn nữa các bằng sáng chế, và trong nhiều hơn các lĩnh vực. Những phán quyết của nó đã đẩy các bằng sáng chế phần mềm gần hơn tới sự phê chuẩn, và có thể có ít nghi ngờ rằng bằng sáng chế cho cả khối sẽ làm cho các bằng sáng chế phần mềm trở thành chuẩn mực khắp châu Âu.
Đây là một thảm họa đang chờ xảy ra, và chúng ta đã đang thấy cỗ máy chính trị rung lắc trong hành động để chắc chắn rằng điều đó sẽ xảy ra. Một sự thay đổi quan trọng như vậy trong hệ thống bằng sáng chế của châu Âu sẽ được quyết định bởi một ít người đằng sau các cánh cửa đóng là một sự xúc phạm hoàn toàn và triệu chứng của tiếp cận rối loạn chức năng sâu sắc đó được áp dụng đầu đặn.
Cách duy nhất chúng ta có thể hy vọng thay đổi văn hóa này là bằng việc phản đối về nó bất kỳ khi nào chúng ta gặp nó cho tới khi các nhà chính trị nhận thức được rằng thậm chí nếu chúng ta không thể thấy những gì họ đang làm trong bí mật, thì chúng ta sẽ ít nhất biết họ có gì đó phải dấu.
I fear that it's a pretty forlorn hope expecting anything to happen at the national level; after all, the only thing preventing the UK giving its nod on ACTA is the UK government 'considering its position', which does not inspire confidence. However, there is still some room for the European Parliament to provide an opportunity for the public to be allowed to give its humble views on this treaty, and I expect the focus to shift there.
Meanwhile, we can perhaps learn from this experience that we have to insist on transparency as a matter of course. So now might be a good time to get really annoyed about this:
On November 22nd, 2011, the Legal Affairs Committee of the European Parliament voted for a mandate, allowing the rapporteurs on the proposal for a unitary patent to pursue negotiations with the Commission and the Council behind closed doors, without any involvement from the rest of the Members of Parliament or any reporting to citizens.
April had already denounced the lack of democratic control of the proposed system and its possible abuses. Even though the idea of a new unitary patent title within the EU is not problematic in itself, the practical details of the proposed system are a cause for concern : the management of the system would be entrusted to the European Patent Office, an international organisation without any democratic control, that has already attempted to legalise software patents.
It's those last points that are particularly worrying. The European Patent Office has nothing to do with the European Union, and is essentially a completely independent body. Worse, it's entire raison d'être is to issue patents, and so it is only natural that it will want to issue more of them, and in more fields. Its rulings have already pushed software patents closer to acceptance, and there can be little doubt that the unitary patent will make software patents the norm throughout Europe.
This is a disaster waiting to happen, and already we are seeing the political machine swing into action to make sure that it does happen. That such an important change in the European patent system should be decided by a few people behind closed doors is an utter outrage, and symptomatic of the deeply dysfunctional approach that is routinely adopted.
The only way we can hope to change this culture is by protesting about it whenever we encounter it until the politicians realise that even if we can't see what they are doing in secret, we do at least know they have something to hide.
Dịch tài liệu: Lê Trung Nghĩa