Thứ Ba, 26 tháng 10, 2010

Microsoft hỗ trợ bộ đám mây nguồn mở của NASA

Microsoft backs NASA's open source cloud kit

OpenStack rides Redmond hypervisor

By Cade Metz in San Francisco • Get more from this author

Posted in Servers, 23rd October 2010 00:59 GMT

Theo: http://www.theregister.co.uk/2010/10/23/microsoft_vows_hyperv_support_for_openstack/

Bài được đưa lên Internet ngày: 23/10/2010

Lời người dịch: Microsoft đã ôm lấy dự án đám mây hạ tầng hoàn toàn nguồn mở OpenStack, một kết hợp của Rackspace và NASA. Microsoft không cung cấp mã nguồn cho dự án này, mà móc vào Windows Server 2008 R2 HyperV của hãng. “Các đám mây hạ tầng được hứa hẹn bởi OpenStack là rất khác với “đám mây nền tảng” được biết như là Windows Azura. Trong khi một đám mây hạ tầng đưa ra sức mạnh xử lý thô, lưu trữ, và kết nối mạng như cần thiết của nó, thì một đám mây nền tảng hoặc phát triển lại cung cấp các công cụ cho việc xây dựng, hosting, và mở rộng phạm vi các ứng dụng, trong khi dấu đi các tài nguyên thô”.

Microsoft đã ôm lấy dự án OpenStack - một nền tảng nguồn mở được quảng cáo rùm beng về việc xây dựng “các đám mây nền tảng” của riêng bạn - thề nguyện sẽ cung cấp mã nguồn của dự án mà cho phép những đám mây như EC2 của Amazon chạy trên đỉnh của HyperV hypervisor của hãng.

OpenStack áp dụng mô hình của Linux để dẫn dắt các đám mây hạ tầng - các dịch vụ trực tuyến mà cung cấp truy cập theo yêu cầu cho sức mạnh tính toán và khả năng lưu trữ được tăng giảm tùy ý. Microsoft Cũ có thể đã gọi nó là một khối ung thư lớn trên bầu trời. Nhưng Microsoft Mới gọi là một cách để làm cho khách hàng hạnh phúc.

Nói vậy, Redmond sẽ không thực sự đóng góp mã nguồn cho dự án này. Hãng có quan hệ đối tác với công ty mới khởi nghiệp Cloud.com trong nỗ lực này và với Cloud.com - đơn vị mà đưa ra một nền tảng cho việc chuyển một thiết lập của một trung tâm dữ liệu có sẵn sang một nền tảng đám mây - sẽ điều khiển hàng đống công việc. “Microsoft sẽ cung cấp chỉ dẫn kiến trúc và kỹ thuật cho Cloud.com”, tổng giám đốc nhóm các giải pháp mở của Microsoft Ted MacLean nói với The Register.

Cloud.com sẽ phát triển mã nguồn mà móc vào Windows Server 2008 R2 HyperV, và một khi mã nguồn được làm xong, nó sẽ được kiểm tra trong kho mã nguồn công cộng của OpenStack. Phiên bản đầu tiên được tung ra của OpenStack - tên mã là Austin - đã ra đời vào đầu tuần này. Nó làm việc được với Xen và trình ảo hóa nguồn mở KVM, trình ảo hóa XenServer của Citrix, và - ở một mức độ ít hơn - dạng 2 hoặc ảo hóa của Oracle.

Microsoft has embraced the OpenStack project – a much-ballyhooed open source platform for building your own "infrastructure clouds" – vowing to provide the project code that allows these Amazon EC2-like clouds to run atop its own Hyper-V hypervisor.

OpenStack applies to the Linux model to driving infrastructure clouds – online services that provide on-demand access to compute power and storage capable of scaling as needed. The Old Microsoft might have called it a great big cancer in the sky. The New Microsoft calls it a way to make customer happy.

That said, Redmond will not actually contribute code to the project. It has partnered with startup Cloud.com on this effort and Cloud.com – the outfit that offers a platform for transforming existing a data center setup into an infrastructure cloud – will handle the bulk of the work. "Microsoft will be providing architectural and technical guidance to Cloud.com," general manager for Microsoft’s open solutions group Ted MacLean tells The Register.

Cloud.com will develop code that hooks into Windows Server 2008 R2 Hyper-V, and once the code is finished, it will be checked into the OpenStack public code repository. The inaugural OpenStack release – codenamed Austin – arrived earlier this week. It works with the Xen and KVM open source hypervisor, the Citrix XenServer hypervisor, and – to a lesser extent – Oracle's type 2 or hosted hypervisor.

OpenStack đã được thành lập bởi Rackspace và NASA, sau khi cả 2 đã đấu tranh để mở rộng các đám mây nền tảng của riêng họ. OpenStack dựa trên Nova, một trình kiểm soát đám mây được thiết kế bởi NASA, và Cloud Files, một trình kiểm soát lưu trữ được xây dựng bởi Rackspace. Theo giám đốc công nghệ của NASA Chris Kemp, dự án này là một nỗ lực để tạo ra một hệ sinh thái giống như Linux cho các đám mây nền tảng.

Ban đầu, NASA đã xây dựng đám mây Nebula của mình có sử dụng Eucalyptus, một nền tảng nguồn mở khác. Nhưng Eucalyptus đã không mở rộng được tốt như NASA mong muốn, và nó cũng không thật mở như cơ quan này mong đợi.

Hãng mà đã trông nom dự án này, Eucalyptus System của Marten Mickos, đã áp dụng một mô hình “lõi mở”. Có một phiên bản nguồn mở của nền tảng này. Nhưng cũng có một phiên bản doanh nghiệp mà nó kết hợp các phần mềm sở hữu độc quyền. theo Kemp, NASA đã cố làm các bản vá cho dự án nguồn mở để cải thiện tính có thể mở rộng theo phạm vi, nhưng chúng đã bị từ chối vì chúng xung đột với sản phẩm doanh nghiệp.

Vì thế, OpenStack có nghĩa sẽ cung cấp một khung công việc hoàn toàn mở cho những người xây dựng đám mây. Và, vâng, Microsoft được lên tàu. “Chúng tôi tích cực tham gia trong các ứng dụng nguồn mở, hỗ trợ cho cộng đồng nguồn mở, và tất cả những thứ đó - nếu bạn nhìn vào sự hỗ trợ của chúng tôi cho PHP và kho phần mềm LAMP và SugarCRM”, giám đốc các giải pháp đám mây của Microsoft Hameed Mohammed đã nói cho chúng tôi. “Nên điều này là một sự tiến bộ tự nhiên đối với chúng tôi”.

theo Mohammed và MacLean, việc ôm lấy OpenStack của Microsoft được dẫn dắt ít nhất một phần bởi các khách hàng và các đối tác. “Họ muốn có khả năng đố với các công nghệ ảo hóa của chúng tôi như một phần của các môi trường đám mây của riêng họ”, MacLean nói. “Như dự án OpenStack đã tiến triển, chúng tôi đã nắm lấy cơ hội để làm việc cung cấp cho các khách hàng với sự lựa chọn này”.

Hãng này cẩn thận nói rằng dạng các đám mây hạ tầng được hứa hẹn bởi OpenStack là rất khác với “đám mây nền tảng” được biết như là Windows Azura. Trong khi một đám mây hạ tầng đưa ra sức mạnh xử lý thô, lưu trữ, và kết nối mạng như cần thiết của nó, thì một đám mây nền tảng hoặc phát triển lại cung cấp các công cụ cho việc xây dựng, hosting, và mở rộng phạm vi các ứng dụng, trong khi dấu đi các tài nguyên thô.

OpenStack was founded by Rackspace and NASA, after both outfits were struggling to scale their own infrastructure clouds. OpenStack is based on Nova, a cloud fabric controller deigned by NASA, and Cloud Files, a storage controller built by Rackspace. According to NASA chief technology officer Chris Kemp, the project is an effort to create a Linux-like ecosystem for infrastructure clouds.

Originally, NASA built its Nebula cloud using Eucalyptus, another open-source platform. But Eucalyptus didn't scale as well as NASA would have liked, and it wasn't as open as the agency expected.

The company that oversees the project, Marten Mickos' Eucalyptus System, has adopted an "open core" model. There's an open-source version of the platform. But there's also an enterprise version that incorporates proprietary software. According to Kemp, NASA tried to make patches to the open source project to improve scaling, but these were rejected because they conflicted with the enterprise product.

So, OpenStack is meant to provide an entirely open framework for cloud builders. And, yes, Microsoft is onboard. "We are actively involved in open-source applications, support for open soruce community, and all that – if you look at our support for PHP and the LAMP stack and SugarCRM," Microsoft director of cloud solutions Hameed Mohammed tells us. "So this was a natural progression for us."

According to Mohammed and MacLean, Microsoft's embrace of OpenStack was driven at least in part by customers and partners. "They want to be able to us our hypervisor technologies as part of their own cloud environments," MacLean says. "As the OpenStack project has moved along, we've taken the opportunity to work provide customers with this choice."

The company is careful to say that the sort of infrastructure clouds promised by OpenStack are very different from the "platform cloud" known as Windows Azure. Whereas an infrastructure cloud offers up raw processing power, storage, and networking as its needed, a platform or development cloud offers tools for building, hosting, and scaling applications, while hiding the raw resources. ®

Dịch tài liệu: Lê Trung Nghĩa

letrungnghia.foss@gmail.com

Thứ Hai, 25 tháng 10, 2010

Cửa cuối cho FOSS vào cơ quan nhà nước đã mở

Ngày 24/12/2007, Bộ Thông tin Truyền thông đã ban hành Quyết định số 08/2007/QĐ-BTTTT, Ban hành danh mục các sản phẩm phần mềm mã nguồn mở đáp ứng được yêu cầu sử dụng trong các cơ quan, tổ chức nhà nước. Theo quyết định này, các sản phẩm là phần mềm nguồn mở được khuyến cáo sử dụng bao gồm: bộ phần mềm văn phòng OpenOffice, phần mềm thư điện tử máy trạm Mozilla Thunderbird, phần mềm trình duyệt web Mozilla Firefox và bộ gõ tiếng Việt Unikey. Tất cả những phần mềm tự do nguồn mở này đều chạy được trong môi trường hệ điều hành Microsoft Windows trên các máy tính trạm, như là bước đầu tiên trong tiến trình 2 bước thường thấy dành cho sự chuyển đổi hoàn toàn sang các PMTDNM ở phía các máy trạm.

Khi đó, trên diễn đàn của nhóm người sử dụng Linux tại Hà Nội, HanoiLUG, đã có một thành viên cũng là một giám đốc của một công ty chuyên cung cấp các dịch vụ có liên quan tới phần mềm tự do nguồn mở (PMTDNM), đã vui mừng khôn tả mà viết rằng sự kiện này sẽ tạo ra một sự chuyển đổi sang PMTDNM như vũ bão, một trạng thái lạc quan chắc không chỉ của riêng thành viên đó, mà còn là của nhiều thành viên khác không chỉ của HanoiLUG, SaigonLUG, mà có lẽ còn là của nhiều anh em trong các công ty có liên quan tới PMTDNM.

Tuy nhiên, một thành viên khác của HanoiLUG, người có kinh nghiệm nhiều năm làm việc trong các dự án khu vực nhà nước, đã trả lời cho bài viết đó, khẳng định rằng điều đó sẽ không xảy ra, cho dù có giả thiết là mọi cơ quan, đơn vị trong khu vực nhà nước có sẵn sàng để chuyển đổi đi chăng nữa, vì còn thiếu một miếng ghép nhỏ nhưng lại là siêu quan trọng trong những việc như thế này, đó là một văn bản qui định các định mức cụ thể cho từng công việc chuyển đổi có liên quan tới PMTDNM được nêu trong quyết định ở trên.

Và điều đó đã trở thành sự thực được chứng minh bằng thực tế. Sự chuyển đổi “như vũ bão”, thậm chí có là “như rùa bò” sang các PMTDNM theo quyết định 08/2007/QĐ-BTTTT cũng đã không xảy ra trong suốt những năm 2008, 2009 và có lẽ là cho tới tận bây giờ, tháng 10/2010, cho dù trong thời gian đó, cũng đã có những chỉ thị, thông tư, quyết định có liên quan tới PMTDNM cả ở cấp bộ lẫn cấp chính phủ đã được ban hành, như:

  1. Chỉ thị số 07/2008/CT-BTTTT ngày 30/12/2008 của Bộ Thông tin Truyền thông về Đẩy mạnh sử dụng phần mềm mã nguồn mở trong hoạt động của cơ quan, tổ chức nhà nước, mà nội dung của chỉ thị đã nêu: Triển khai cài đặt và tổ chức tập huấn, hướng dẫn sử dụng các phần mềm (như phần mềm văn phòng OpenOffice, phần mềm thư điện tử trên máy trạm Mozilla ThunderBird, trình duyệt web Mozilla FireFox và phần mềm bộ gõ tiếng Việt Unikey) cho cán bộ, nhân viên trong cơ quan, đơn vị:

    1. Chậm nhất đến ngày 30/6/2009, đảm bảo 100% máy trạm của đơn vị chuyên trách về CNTT và Sở TT&TT được cài đặt, 100% cán bộ, nhân viên được tập huấn, hướng dẫn sử dụng, trong đó tối thiểu 50% cán bộ, nhân viên có thể sử dụng thành thạo trong công việc và có khả năng hướng dẫn trợ giúp các cơ quan, đơn vị khác thuộc Bộ, ngành, tỉnh, thành phố.

    2. Chậm nhất đến ngày 31/12/2009, đảm bảo 70% máy trạm trong các cơ quan, đơn vị thuộc Bộ, ngành, tỉnh, thành phố được cài đặt, 70% cán bộ, nhân viên được tập huân, hướng dẫn sử dụng, trong đó tối thiểu 40% cán bộ, nhân viên sử dụng các phần mềm nêu trên trong công việc.

    3. Có kế hoạch để từng bước nâng dần số văn bản, tài liệu, thông tin trao đổi trong các cơ quan, đơn vị thuộc Bộ, ngành, tỉnh, thành phố được soạn thảo, xử lý bằng các phần mềm nêu trên; đảm bảo đến ngày 31/12/2010 hầu hết cán bộ, nhân viên trong các cơ quan, đơn vị thuộc Bộ, ngành, tỉnh, thành phố sử dụng các phần mềm nêu trên trong công việc.

  2. Quyết định của Thủ tướng chính phủ số 50/2009/QĐ-TTg ngày 03/04/2009 Ban hành “Quy chế quản lý Chương trình phát triển công nghiệp phần mềm và Chương trình phát triển công nghiệp nội dung số Việt Nam” với một số nội dung về Thúc đẩy phát triển phần mềm mã nguồn mở.

  3. Thông tư số 41/2009/TT-BTTTT ngày 30/12/2009 của Bộ Thông tin Truyền Thông ban hành danh mục các sản phẩm phần mềm mã nguồn mở đáp ứng được yêu cầu sử dụng trong các cơ quan, tổ chức nhà nước. Theo đó, ngoài các sản phẩm PMTDNM như trong Quyết định số 08/2007/QĐ-BTTTT được nêu ở trên, có sự bổ sung thêm một số PMTDNM ở phía máy chủ và hệ điều hành tự do nguồn mở GNU/Linux Ubuntu cho các máy tính trạm.

Được biết, cũng trong quãng thời gian đó, một số cơ quan nhà nước tại một số các tỉnh, thành phố có mong muốn chuyển đổi sang sử dụng các PMTDNM theo tinh thần của những văn bản chỉ đạo nêu ở trên nhưng cũng đã không thể thực hiện được, cũng vì lý do thiếu văn bản hướng dẫn chi tiết định mức cụ thể cho các công việc trong việc chuyển đổi, cho dù đã có một số đơn vị mạnh dạn tiến hành một số phần công việc bằng tiền ứng trước của mình với mong đợi khi thông tư hướng dẫn ra đời thì sẽ có nguồn kinh phí bù vào phần chi trước đó, cuối cùng cũng đành phải bỏ dở.

Kinh nghiệm chuyển đổi sang các PMTDNM của nhiều nước trên thế giới cũng đã chỉ ra rằng, việc chuyển đổi khó có thể thành công nếu không có đủ quyết tâm chính trị và sự tham gia trực tiếp từ những lãnh đạo cao nhất của đơn vị trong quá trình chuyển đổi cũng như sự đầu tư về mọi mặt, trong đó có vấn đề kinh phí, thậm chí vào giai đoạn ban đầu của quá trình chuyển đổi có thể số kinh phí bỏ ra còn lớn hơn cả kinh phí để nâng cấp lên các phiên bản tiếp theo của các phần mềm sở hữu độc quyền. Nhưng sự khác biệt ở đây là nếu sự chuyển đổi thành công, thì nó thường chỉ xảy ra một lần duy nhất và sẽ có chi phí tổng sở hữu (tính tới cả kinh phí để thoát ra khỏi hệ thống sở hữu độc quyền hiện hành) luôn nhỏ hơn so với việc nâng cấp lên các phiên bản tiếp sau đối với các phần mềm sở hữu độc quyền nếu tính trong một giai đoạn thời gian đủ dài, ví dụ như từ 5-10 năm, mà đổi lại thì những cái được sau khi chuyển đổi sang các hệ thống PMTDNM sẽ là nhiều hơn nhiều về các khía cạnh khác.

Có câu thành ngữ: “Chậm còn hơn là không bao giờ”. Sự ra đời của Thông tư liên tịch số 142/2010/TTLT-BTC-BTTTT ngày 22/09/2010 Hướng dẫn việc quản lý và sử dụng kinh phí chi phát triển công nghiệp công nghệ thông tin, trong đó có những hướng dẫn chi tiết bằng những định mức cụ thể cho các hoạt động có liên quan tới PMTDNM thực sự là ứng với câu thành ngữ đó. Chắc chắn, nó sẽ giúp đắc lực cho việc chuyển đổi, đặc biệt là ở phía các máy trạm sang các PMTDNM của các cơ quan trong khu vực nhà nước trong thời gian tới. Hy vọng là trong thời gian còn lại của năm 2010 nó sẽ giúp thực hiện được một phần nào đó trong những mục tiêu được đề ra theo tinh thần của Chỉ thị 07/2008/CT-BTTTT mà thời hạn chót để chuyển đổi theo nội dung chỉ thị, là vào ngày 31/12/2010.

Miếng ghép cuối cùng của trò chơi đố chữ đã có sau gần 3 năm ròng chờ đợi!

Trần Lê

Bài được đăng trên tạp chí Tin học và Đời sống số tháng 10/2010, trang 12-13

Virus máy tính hay virus Windows?

Đã từ lâu, để nói về virus của Windows, nhiều người vẫn thích sự nhập nhằng khi sử dụng cụm từ virus máy tính để thay thế và né tránh, ngụ ý rằng virus không chỉ dành cho Windows, mà còn dành cho tất cả các nền tảng hệ điều hành và nền tảng khác.

Báo cáo về phần mềm độc hại của G Data, một hãng phần mềm chuyên về an ninh của Đức vừa được xuất bản trong tháng 09/2010 vừa qua đã chỉ ra rằng trong nửa đầu năm 2010, tổng số các chương trình phần mềm độc hại mới đã được tạo ra trên thế giới là 1.017.208, trong số đó có 1.011.285 chương trình, tương đương với 99,4%, là được viết cho nền tảng hệ điều hành Windows.


Con số 1.011.285 với 99.4% là tổng của 2 con số: (1) con số 1.001.902 được viết cho nền tảng Win32 của Windows, chiếm 98.5% tổng số chương trình phần mềm độc hại mới trong nửa đầu năm 2010 và (2) con số 9.383 được viết cho MSIL (MSIL là định dạng trung gian của các ứng dụng .NET, một khung các công cụ lập trình của Microsoft), chiếm 0.9% tổng số chương trình phần mềm độc hại mới trong nửa đầu năm 2010.

Số lượng các chương trình phần mềm độc hại mới trong nửa đầu năm 2010 được viết chung cho tất cả các nền tảng UNIX và GNU/Linux (*ix trong bảng) là 226, tương đương với 0.0%. Nếu cộng thêm cả nền tảng Java (Java là một nền tảng nguồn mở) thì sẽ cộng thêm con số 225 thì tổng số lượng các chương trình phần mềm độc hại được viết cho UNIX, GNU/Linux và các nền tảng nguồn mở khác là 451 thì cũng vẫn chiếm tỷ lệ là 0.0%. Nếu cộng thêm nốt cả nền tảng di động (Mobile) vào với giả thiết là mọi nền tảng di động đều dựa vào GNU/Linux và các nền tảng nguồn mở khác (mà điều này là không đúng, vì có cả Windows Mobile) thì tổng số lượng các chương trình phần mềm độc hại cho toàn bộ các nền tảng UNIX, GNU/Linux, Java và di động sẽ là 663, vẫn chiếm tỷ lệ là 0.0%. Nếu mở rộng để lấy thêm sai số cho 2 chữ số đằng sau dấu thập phân cùng với việc làm tròn số, chúng ta sẽ có được các con số tương ứng sau:


Nền tảng

Số lượng

Tỷ lệ %

Số lượng

*ix + Java

Tỷ lệ %
*ix + Java

Số lượng

*ix+Java+ Di động

Tỷ lệ %

*ix + Java + Di động

1

Win32

1.001.902

98.508





2

MSIL

9.383

0.921





3

WebScripts

3.942

0.386





4

Scripts

922

0.091





5

NSIS

260

0.256





6

*ix

226

0.022

226

0.022

226

0.022

7

Java

225

0.022

225

0.022

225

0.022

8

Di động

212

0.021



212

0.021

Tổng số:

1.017.072

100

451

0.044

663

0.065

Báo cáo của G Data cũng dự đoán xu thế trong 6 tháng cuối năm 2010 này, tổng số lượng các chương trình phần mềm độc hại được tạo ra sẽ vượt qua con số 2 triệu.


Với thực trạng này, một câu hỏi lớn cho các phần mềm diệt virus các loại sẽ là: Liệu trong thực tế, các phần mềm diệt virus trong Windows có còn có tác dụng hay không, hay chúng chỉ có nghĩa là cho dù người sử dụng có bỏ ra bao nhiêu tiền, có mua bao nhiêu chương trình diệt virus đi chăng nữa, thì cũng không thể bảo vệ được máy tính của mình khỏi nạn virus? Trừ phi người sử dụng phải chọn cho mình một nền tảng hệ điều hành khác, ví dụ như bất kỳ một phát tán GNU/Linux nào chẳng hạn.

Cùng với nó, với báo cáo này, dù trong thực tế, quả thực là virus không phải chỉ dành riêng cho nền tảng hệ điều hành Windows, mà còn cho cả cho những hệ điều hành và các nền tảng khác, thì nếu chúng ta đánh đồng khái niệm virus máy tính với khái niệm virus Windows thì cũng hoàn toàn không sai, với một sai số là 0.065% - nếu so với các nền tảng mở, hoặc cao nhất là 0.6% - nếu tính theo tổng tất cả các nền tảng, đều là những sai số mà trong khoa học chắc chắn là chấp nhận được.

VIRUS MÁY TÍNH = VIRUS WINDOWS!

Trần Lê

Nguồn: Báo cáo về phần mềm độc hại của G Data, báo cáo nửa năm tháng 01 - tháng 06 năm 2010.

Bài được đăng trên tạp chí Tin học và Đời sống số tháng 10/2010, trang 70-71.

Chủ Nhật, 24 tháng 10, 2010

Bảo vệ các tiêu chuẩn mở: FSFE bác lại lý luận sai của BSA gửi tới EC

Defending Open Standards: FSFE refutes BSA's false claims to European Commission

Author: Karsten Gerloff, Carlo Piana and Sam TukePublished: 2010-10-15

Theo: http://www.fsfe.org/projects/os/bsa-letter-analysis.html.en

Bài được đưa lên Internet ngày: 15/10/2010

Lời người dịch: Đây là những lý lẽ của Quỹ Phần mềm Tự do châu Âu - FSFE bẻ lại từng lý lẽ của BSA trong vụ BSA đang gây sức ép lên Ủy ban châu Âu EC về các tiêu chuẩn mở trong Khung Tương hợp châu Âu phiên bản 2 (EIFv2). Đây là những lý lẽ tuyệt vời để trang bị cho chúng ta đối đáp với BSA, IIPA và những kẻ tương tự, những kẻ luôn muốn đưa việc phải có chi phí bản quyền cho các bằng sáng chế phần mềm vào trong các tiêu chuẩn mở nhằm khóa trói người sử dụng và cản trở đổi mới sáng tạo trong phần mềm, những kẻ luôn mồm nói về sự công bằng trong đối xử nhưng lại luôn muốn vứt bỏ các giấy phép của thế giới phần mềm tự do, những giấy phép mà hàng trăm ngàn dự án phần mềm tự do đang mang theo, hàng chục triệu người sử dụng trên thế giới đang sử dụng. Vụ Báo cáo đặc biệt 301 hồi đầu năm 2010 có liên quan tới Việt Nam, thậm chí tới nước Mỹ còn không chấp nhận nổi những lý lẽ của BSA và IIPA, vậy mà họ vẫn cứ cố tọng chúng vào mồm những người khác, như bài viết này cũng nhắc tới: “Chúng tôi lưu ý rằng tại Mỹ, những lo lắng tương tự đã được đệ trình lên Đại diện Thương mại Mỹ trong sự chuẩn bị cho báo cáo Đặc biệt 301 năm 2010 của Mỹ về những cản trở thương mại. Đại diện Thương mại Mỹ chọn không đưa vào những lo lắng này vào báo cáo, rõ ràng thể hiện rằng chính phủ của Mỹ xem điều này là không phải một vấn đề”. Nếu bạn thực sự muốn tự do, muốn không bị cùm xích, để đổi mới sáng tạo thì rất nên học những lý lẽ như được trình bày trong bài viết này để chống lại những lý lẽ của BSA và những kẻ đồng lõa với họ.

Liên minh Phần mềm Doanh nghiệp (BSA) đang ép Ủy ban châu Âu (EC) loại bỏ những vết tích cuối cùng hỗ trợ cho các Tiêu chuẩn Mở (TCM) từ phiên bản mới nhất các khuyến cáo về tính tương hợp của Liên minh châu Âu (EU), Khung Tương hợp châu Âu (EIF).

Quỹ Phần mềm Tự do châu Âu (FSFE) đã có được một bản sao của bức thư được gửi cho EC của BSA tuần trước. Trong các đoạn sau chúng tôi phân tích những lý lẽ của BSA và giải thích vì sao những kêu ca của họ là không đúng, và vì sao các TCM là chìa khóa cho tính tương hợp và sự cạnh tranh tại thị trường phần mềm châu Âu. Chúng tôi đã chia sẻ phân tích này với EC [theo 8 điểm sau].

  1. Việc cấp phép bằng sáng chế tự do về chi phí bản quyền mở ra sự tham gia và khuyến khích sự đổi mới sáng tạo.

  2. Các tiêu chuẩn ví dụ của BSA là không phù hợp với lĩnh vực phần mềm.

  3. Việc cấp phép theo FRAND trong các tiêu chuẩn về phần mềm là không công bằng và phân biệt đối xử.

  4. BSA không đại diện cho thậm chí thành viên của riêng liên minh này, ít nhiều đối với toàn bộ nền công nghiệp phần mềm.

  5. FRAND không tương thích với hầu hết các giấy phép của phần mềm tự do (PMTD).

  6. Ưu tiên được khuyến cáo cho các TCM hoàn toàn không liên quan tới vị thế thương thảo của EU mặt đối mặt với Trung Quốc.

  7. Những đặc tả kỹ thuật tự do không hạn chế sẽ khuyến khích tiêu chuẩn hóa, cạnh tranh và tính tương hợp.

  8. Các khuyến cáo.

The Business Software Alliance (BSA) is pressuring the European Commission to remove the last vestiges of support for Open Standards from the latest version of the EU's interoperability recommendations, the European Interoperability Framework.

FSFE has obtained a copy of a letter sent to the Commission by the BSA last week. In the following paragraphs we analyse the BSA's arguments and explain why their claims are false, and why Open Standards are key to interoperability and competition in the European software market. We have shared this analysis with the European Commission.

  1. Royalty-free patent licensing opens up participation and promotes innovation

  2. The BSA's example standards are irrelevant to the software field

  3. (F)RAND licensing in software standards is unfair and discriminatory

  4. BSA not representative of even its own membership, much less of software industry as a whole

  5. (F)RAND incompatible with most Free Software licenses

  6. Recommended preference for Open Standards is entirely unrelated to EU's negotiating position vis-a-vis China

  7. Restriction-free specifications will promote standardisation, competition and interoperability

  8. Recommendations

Việc cấp phép bằng sáng chế tự do đối với chi phí bản quyền mở ra sự tham gia và khuyến khích đổi mới sáng tạo.

Trong bức thư của mình, BSA viện lý rằng “Nếu EU áp dụng một ưu tiên cho các đặc tả tự do về bằng sáng chế thì điều này làm xói mòn những sáng kiến mà các hãng phải đóng góp những đổi mới sáng tạo hiện đại cho việc tiêu chuẩn hóa - tạo ra những đặc tả ít đổi mới sáng tạo hơn tại châu Âu, và các sản phẩm ít cạnh tranh tại châu Âu”.

Thực sự thì điều này phản ánh một sự thiếu hiểu biết to lớn về các tiêu chuẩn, vai trò của chúng và công việc của chúng.

  1. Những điều kiện cấp phép với chi phí bản quyền bằng 0 không cản trở các công nghệ được cấp bằng sáng chế được đưa vào trong các tiêu chuẩn. Thay vì người đóng góp được yêu cầu phải tránh ép buộc quản lý các chi phí bản quyền trong các triển khai cài đặt.

  2. Nền tảng công nghệ thành công nhất trên trái đất duy nhất, Internet, được xây dựng trên các tiêu chuẩn mà từng hoàn toàn được làm cho sẵn sàng theo các điều kiện cấp phép chi phí bản quyền bằng 0. Quả thực W3C, cơ quan thiết lập tiêu chuẩn (SSO) mà chi phối các tiêu chuẩn web thông qua sự đồng thuận đã phê chuẩn một “chính sách IPR” chi phí bản quyền bằng 0, nơi mà các công nghệ có chứa chi phí bản quyền được cho phép đóng góp chỉ trong một cơ sở rất ngoại lệ. Thay vì bóp nghẹt hoạt động sáng tạo, như BSA nói, điều này đã biến Internet thành một cái lò cho đổi mới sáng tạo. Quả thực, đây chính là điều tự nhiên cơ bản của các tiêu chuẩn mà chúng làm ổn định cho một nền tảng mà trên đỉnh của nó các đối thủ cạnh tranh có thể tạo ra những giải pháp đổi mới sáng tạo và tương hợp với nhau được. [1]

  3. Đối nghịch với kêu ca của BSA, các chính sách cấp phép bằng sáng chế chi phí bản quyền bằng 0 mở ra sự tham gia trong việc thiết lập các tiêu chuẩn cho phần mềm đối với nhóm những người chơi và những người triển khai trong thị trường là rộng lớn nhất có thể được. Kết quả là, các tiêu chuẩn cho phần mềm vượt ra khỏi các tổ chức thiết lập tiêu chuẩn với các chính sách cấp phép bằng sáng chế chi phí bản quyền bằng 0 như W3C đã từng được chấp nhận rộng rãi, với tiêu chuẩn HTML chỉ là ví dụng nổi tiếng nhất mà thôi.

Từ một viễn cảnh chính sách rộng lớn hơn, cũng có thể hỏi rằng những nhà phát minh sáng chế, những người đã nhận được một sự khích lệ thông qua một bằng sáng chế, có cần phải được khích lệ xa hơn nữa hay không bằng việc để bằng sáng chế đó được đưa vào một tiêu chuẩn. Một bằng sáng chế không tương tương với một quyền cho một dòng doanh thu được đảm bảo.

Royalty-free patent licensing opens up participation and promotes innovation

In its letter, the BSA argues that "[I]f the EU adopts a preference for royalty/patent-free specifications, this undermines the incentives that firms have to contribute leading-edge innovations to standardization - resulting in less innovative European specifications, and less competitive European products."

Actually this reflects a gross misconception of standards, their role and their working.

  1. Zero-royalty licensing conditions do not prevent patented technologies to be included in standards. Rather the contributor is required to avoid imposing running royalties on implementations.

  2. The single most successful technology platform on Earth, the Internet, is built on standards that have been made fully available under zero-royalty licensing conditions. Indeed the W3C, the standard setting organization (SSO) that governs the web standards has through consensus adopted a zero-royalty "IPR policy", where royalty bearing technologies are allowed to be contributed only on a very exceptional base. Rather than stifling inventive activity, as the BSA claims, this has turned the Internet into a hotbed of innovation. Indeed, it is the very nature of standards that they stabilise a platform on top of which competitors can create innovative and interoperable solutions1.

  3. Contrary to the BSA's claim, zero-royalty patent licensing policies open up participation in software standard-setting to the widest possible group of market players and implementers. As a result, software standards coming out of standard-setting organisations with zero-royalty patent licensing policies such as the W3C have been widely adopted, with the HTML standard only being the most prominent example.

From a broader policy perspective, it is also questionable that innovators, who are already receiving an incentive through a patent, would need to be further incentivised by having that patent included in a standard. A patent does not equal a right to a guaranteed revenue stream.

Các tiêu chuẩn ví dụ của BSA là không phù hợp với lĩnh vực phần mềm.

BSA viện lý rằng “nhiều [bất kỳ] đặc tả mở được triển khai rộng rãi nhất ngày nay kết hợp các đổi mới sáng tạo được cấp bằng sáng chế mà đã được sáng tạo ra bởi các hãng thương mại... bao gồm WiFi, GSM và MPEG”.

Đây là một mưu toan để tạo ra một sự nước đôi sai lầm giữa việc sáng tạo ra công nghệ được cấp bằng sáng chế của các công ty “thương mại”, đối nghịch với những sáng tạo “không thương mại” mà không được cấp bằng sáng chế. Trong thực tế một lợi ích lớn của công nghệ hiện đại không được cấp bằng sáng chế xuất phát từ các công ty thương mại tạo nên các tiêu chuẩn được triển khai toàn cầu (như HTML5), trong khi tiếp tục cung cấp cho các nhà sáng chế của họ doanh thu. Không có sự phân chia như vậy, hoặc thương mại hoặc tư tưởng, giữa các công nghệ phần cứng và phần mềm mà chúng được cấp bằng sáng chế, và những thứ không được cấp bằng sáng chế. Vâng BSA ngụ ý một cách ly gián là có một sự khác biệt giữa các phương pháp kinh doanh truyền thống và được chấp nhận, mà chúng liên quan tới các bằng sáng chế, và những tổ chức phi thương mại phi kinh doanh, mà họ có liên quan tới công nghệ tự do không có bằng sáng chế. Đưa ra sự thịnh hành ngày một gia tăng của PMTD tại thị trường các dịch vụ IT châu Âu, như một lời kêu là hoàn toàn phi lý.

Các tiêu chuẩn mà BSA trích dẫn như là những ví dụ (với ngoại lệ của MPEG [2]) có liên quan tới các công nghệ dựa vào phần cứng. Kinh tế của thị trường phần cứng rất khác với thị trường phần mềm. Trong khi đầu vào của thị trường phần cứng đòi hỏi những đầu tư rất đáng kể, thì các công ty phần mềm có thể được bắt đầu với số vốn rất nhỏ. Việc đòi hỏi công ty khởi nghiệp về phần mềm như vậy phải trả tiền cho chi phí bản quyền cho việc triển khai các tiêu chuẩn phần mềm có thể làm dấy lên đáng kể các rào cản cho đầu vào của thị trường, làm giảm sự đổi mới sáng tạo và ngăn trở sự cạnh tranh, cũng như nâng giá thành đối với những người tiêu dùng (bao gồm cả các tổ chức của khu vực nhà nước).

Tuy nhiên, đối với phần mềm, rõ ràng là việc cho phép các bằng sáng chể được đưa vào trong các tiêu chuẩn phần mềm theo các điều khoản của FRAND sẽ làm gia tăng một cách quá đáng và không cần thiết những rào cản để vào trong thị trường phần mềm châu Âu, làm cho nền kinh tế ICT của châu Âu ít cạnh tranh hơn.

The BSA's example standards are irrelevant to the software field

The BSA argues that "[m]any of today's most widely-deployed open specifications incorporate patented innovations that were invented by commercial firms...including WiFi, GSM , and MPEG."

This is an attempt to create a false dichotomy between "commercial" companies inventing patented technology, in contrast to "non-commercial" inventions which are not patented. In reality a great wealth of unpatented modern technology originating in commercial companies constitute globally implemented standards (such as HTML5), whilst continuing to provide their creators with revenue. There is no such divide, either economical or ideological, between hardware and software technologies which are patented, and those which are not. Yet the BSA divisively implies there is a difference between conventional and accepted business methods, which they associate with patents, and un-businesslike non-commercial organisations, which they associate with patent-free technology. Given the increasing prevalence of Free Software in Europe's IT service market, such a claim is plainly false.

The standards which the BSA cites as examples (with the exception of MPEG2) relate to hardware based technologies. The economics of the hardware market are very different from the software market. While entry into the hardware market requires very substantial investments, software companies can be started with very small amounts of capital. Requiring such software start-up to pay royalties for implementing software standards would significantly raise the barriers to market entry, reduce innovation and hinder competition, as well as raising prices for consumers (including public sector organisations).

For software, however, it is clear that allowing patents to be included in software standards on (F)RAND terms will unduly and unnecessarily increase the barriers to entry into the European software market, making Europe's ICT economy less competitive.

Việc cấp phép theo FRAND trong các tiêu chuẩn phần mềm là không công bằng và phân biệt đối xử.

BSA viện lý rằng “Những đòi hỏi rằng một đặc tả mở là “có thể triển khai được một cách tự do” và có khả năng được chia sẻ và sử dụng lại được là không rõ ràng, và gợi ý rằng tiêu chuẩn phải là tự do về các quyền sở hữu trí tuệ (IPR)”.

BSA xa hơn viện lý rằng [FRAND đảm bảo rằng] những người triển khai một tiêu chuẩn có thể sử d ụng những đổi mới sáng tạo đó trong các điều khoản công bằng. Nó cho phép các nhà sáng tạo lấy một phí chấp nhận được khi các công nghệ của họ được kết hợp vào trong các đặc tả kỹ thuật. “Trong các tiêu chuẩn của phần mềm, các điều khoản của FRAND trên thực tế phân biệt đối xử chống lại PMTD và bất kỳ mô hinh kinh doanh nào dựa trên nó. Hầu hết các giấy phép của PMTD được sử dụng một cách rộng rãi không cho phép ép buộc những điều kiện bổ sung lên những người nhận ở xuôi dòng bên dưới. FRAND có thể còn yêu cầu những điều kiện như vậy phải được áp đặt, thường ở dạng của chi phí bản quyền đang chạy, làm cho các chính sách cấp phép của FRAND không tương thích với PMTD. Ở những nơi có quan tâm tới các tiêu chuẩn phần mềm, thì điều đó làm cho tiếp cận của FRAND vừa không hợp lý vừa phân biệt đối xử”.

Ngược lại, “chi phí bản quyền bằng 0” không loại trừ những triển khai cài đặt phần mềm sở hữu độc quyền (và thậm chí được cấp bằng sáng chế nặng). Quả thực “chi phí bản quyền bằng 0” ngụ ý rằng nếu các công nghệ nhất định nào đó là bắt buộc bởi một tiêu chuẩn,, thì chúng phải là sẵn sàng cho tất cả mọi người mà không có yêu cầu các chi phí bản quyền đang chạy. Trong khi đó những triển khai cài đặt có thể được hân phối theo bất kỳ giấy phép được đưa ra nào và bao gồm bất kỳ công nghệ nào, miễn là tiêu chuẩn đó được tôn trọng.

Tiêu chuẩn HTML tự do về phí bản quyền, ví dụ, đã và đang được triển khai trong hàng đống các trình duyệt, cả PMTD và sở hữu độc quyền. Điều này rõ ràng thể hiện rằng một tiêu chuẩn phần mềm tự do về chi phí bản quyền có thể cho phép áp dụng rộng rãi, và dẫn dắt đổi mới sáng tạo qua sự cạnh tranh.

(F)RAND licensing in software standards is unfair and discriminatory

The BSA argues that "[R]equirements that an open specification be "freely implement[able]" and capable of being shared and re-used are ambiguous, and suggest that the standard must be free of intellectual property rights (IPR)".

The BSA further argues that "[FRAND ensures that] implementers of a standard can utilize those innovations on fair terms. It allows inventors to charge a reasonable fee when their technologies are incorporated into specifications[.]" In software standards, (F)RAND terms in fact discriminate against Free Software and any business model based on it. Most widely used Free Software licenses do not allow for imposing additional conditions upon downstream recipients. Yet (F)RAND would require such conditions to be imposed, usually in the form of running royalties, rendering (F)RAND licensing policies incompatible with Free Software. Where software standards are concerned, this renders the (F)RAND approach neither reasonable nor non-discriminatory.

Conversely, "zero-royalty" does not exclude proprietary (and even heavily patented) implementations. Indeed "Zero-royalty" means that if certain technologies are mandated by a standard, they must be available to everybody without requiring running royalties. Meanwhile the implementations can be distributed under any given license and include any technology, provided that the standard is respected.

The royalty-free HTML standard for example has been implemented in a plethora of browsers, both Free Software and proprietary. This clearly demonstrates that a royalty-free software standard can enable widespread adoption, and drive innovation through competition.

BSA không đại diện cho thậm chí thành viên của riêng liên minh này, ít nhiều đối với toàn bộ nền công nghiệp phần mềm.

BSA lý luận rằng “EIF có thể được đọc để có nghĩa là hầu hết các công ty nước ngoài và châu Âu đổi mới sáng tạo sẽ không chào mừng để tham gia trong các quá trình tiêu chuẩn nếu họ sở hữu các bằng sáng chế trong các công nghệ phù hợp và tìm kiếm sự đền bù cho những đổi mới sáng tạo của họ nếu những bằng sáng chế này được làm thành một phần của tiêu chuẩn”. BSA tiếp đó nói rằng “Những người giữ tiền cược nhận thức được mối liên kết quan trọng giữa IPR và sự tiêu chuẩn hóa - và cũng nhận thức được rằng các tiêu chuẩn dựa trên FRAND là mềm dẻo cao và có thể được triển khai trong một dải rộng các giải pháp, nguồn mở và sở hữu độc quyền”.

Đối nghịch với kêu ca của BSA để trình bày một quan điểm thống nhất của nền công nghiệp phần mềm, chúng tôi lưu ý rằng ECIS, mà được hình thành bởi những người giữ tiền cược quan trọng của giới công nghiệp (một số trong đó cũng là những thành viên của BSA) thì nói ngược lại [3]. Bất chấp có một hồ sơ bằng sáng chế lớn, các thành viên của ECIS muốn các tiêu chuẩn vì tính tương hợp của phần mềm để giữ không bị cản trở đối với những yêu cầu chi phí bản quyền bằng sáng chế đang chạy [4]. Gọi ra đây chỉ một ví dụ, Google đã đóng góp mạnh vào các tiêu chuẩn chi phí bản quyền bằng 0 bằng việc đưa ra một lựa chọn thay thế cho MPEG được giới công nghiệp hỗ trợ.

BSA not representative of even its own membership, much less of software industry as a whole

The BSA argues that "[EIF] could be read to mean that the most innovative European and foreign companies are not welcome to participate in standards processes if they own patents in the relevant technologies and seek compensation for their inventions if those patents are made part of the standard."

The BSA further claims that "[S]takeholders [recognize] the important link between IPR and standardization - and also [recognize] that FRAND-based standards are highly flexible and can be implemented in a broad range of solutions, open source and proprietary".

Contrary to the BSA's claim to represent a unified position of the software industry, we note that ECIS, which is formed by important industry stakeholders (some of which are also members of BSA) say the opposite3. Despite having a large patent portfolio, ECIS' members want standards for software interoperability to remain unencumbered of running patent royalty requirements []. To name just one example, Google has heavily contributed to zero-royalties standards by offering an industry-backed alternative to MPEG.

FRAND không tương thích với hầu hết các giấy phép của PMTD

BSA nói rằng “hầu hết các giấy phép phần mềm nguồn mở hoàn toàn là tương thích với việc cấp phép dựa vào FRAND”.

Bằng bất kỳ đo đếm hợp lý nào (hoặc dựa vào chất lượng mã nguồn có sẵn hoặc tầm quan trọng của nó, hoặc cả 2) hầu hết các giấy phép của phần mềm tự do nguồn mở là:

  1. GNU GPL và LGPL

  2. Mozilla Public License

  3. Apache Public License

  4. BSD/MIT và các giấy phép siêu cho phép khác

  5. EUPL

Tất cả chúng, với chỉ đáng tranh cãi như ngoại lệ không chắc chắn của chủng loại siêu cho phép, rõ ràng là không tương thích với một chế độ mang chi phí bản quyền bằng sáng chế. Theo những con số thống kê được đưa ra bởi Black Duck Software, hơn 85% các dự án PMTD được phân phối theo các giấy phép mà là không tương thích với các chế độ có chi phí bản quyền về bằng sáng chế. Giấy phép GPL được chứng minh là giấy phép PMTD được sử dụng rộng rãi nhất cho tới nay, được tính cho hầu như một nửa số các dự án. Việc đưa vào các công nghệ được cấp bằng sáng chế trong các sản phẩm PMTD, nơi mà nó là có khả năng, đòi hỏi những người triển khai phải trộn các phần sở hữu độc quyền với PMTD theo các cách thức lúng túng vụng về. Trong những trường hợp như vậy mã nguồn kết quả nhất thiết là phần mềm sở hữu độc quyền [5].

(F)RAND incompatible with most Free Software licenses

The BSA claims that "most OSS license are entirely compatible with FRAND-based licensing."

By any reasonable metric (whether based upon the quantity of code available or the importance of it, or both) the most relevant Free (open source) Software licenses are:

  1. GNU GPL and LGPL

  2. Mozilla Public License

  3. Apache Public License

  4. BSD/MIT and other ultrapermissive licenses

  5. EUPL

All of which, with the only arguable but uncertain exception of the ultrapermissive category, are clearly incompatible with a patent royalty bearing regime. According to the statistics released by Black Duck Software, more than 85% of Free Software projects are distributed under licenses that are incompatible with patent royalty-bearing regimes. The GNU General Public License (GPL) is demonstrated to be the most widely used Free Software license by far, accounting for almost half of all projects. Including patented technologies in Free Software products, where it is possible, requires implementers to mix proprietary parts with Free Software in awkward ways. In such cases the resulting code is necessarily proprietary software5.

Ưu tiên được khuyến cáo cho các tiêu chuẩn mở là hoàn toàn không có liên quan gì tới quan điểm thương thảo của EU mặt đối mặt với Trung Quốc

BSA nói rằng “Sự tối nghĩa không rõ ràng của ưu tiên được đề xuất của EIF sẽ không ngạc nhiên thỏa hiệp khả năng của EC để duy trì sự bảo vệ mạnh mẽ của những người nắm quyền IPR của châu Âu [chống lại các mối đe dọa của Trung Quốc]”. Kêu rằng một khuyến cáo thể hiện sự ưu tiên cho những đặc tả mở về sử dụng các đặc tả phần mềm mở trong khu vực nhà nước không mang theo bất kỳ điều gì vào quan điểm của EC. Hơn nữa, nó mang theo sự lặp đi lặp lại rằng các tiêu chuẩn “chi phí bản quyền bằng 0” không xung đột với bất kỳ “sự bảo vệ mạnh mẽ nào” của các bằng sáng chế, bản quyền và thương hiệu.

Chúng tôi lưu ý rằng tại Mỹ, những lo lắng tương tự đã được đệ trình lên Đại diện Thương mại Mỹ trong sự chuẩn bị cho báo cáo Đặc biệt 301 năm 2010 của Mỹ về những cản trở thương mại. Đại diện Thương mại Mỹ chọn không đưa vào những lo lắng này vào báo cáo, rõ ràng thể hiện rằng chính phủ của Mỹ xem điều này là không phải một vấn đề. Trong khi những kêu ca như vậy có thể được làm trong thời gian mà những nỗ lực để gây ảnh hưởng tới chính sách nhà nước, thì có một sự thiếu vắng được ghi dấu về những mưu toan để có được những ưu tiên như vậy được loại bỏ bởi các biện pháp về pháp lý - có thể đoán chừng vì những kẻ tiến hành những kêu ca này hiểu rõ rằng họ không có hậu thuẫn trong thực tế.

Recommended preference for Open Standards is entirely unrelated to EU's negotiating position vis-a-vis China

The BSA claims that "[t]he ambiguity of the EIF's proposed preference will no doubt compromise the Commission's ability to maintain its robust defence of Europe's IPR holders [against Chinese threats]."

Claims that a recommendation to express preference for open specifications will weaken the EU's negotiating position vis-a-vis China are plainly false. Recommendations regarding the use of open software specifications in the public sector have no bearing whatsoever on the Commission's stance. Moreover, it bears repeating that "zero royalty" standards do not contradict any "robust defence" of patents, copyright and trademarks.

We note that in the United States, similar concerns were submitted to the US Trade Representative in the preparation for the 2010 US Special 301 report on obstacles to trade. The US Trade Representative chose not to include those concerns in the report, clearly demonstrating that the government of the United States considers this a non-issue. While such claims may be made during efforts to influence public policy, there is a marked absence of attempts to get such preferences removed by legal means - presumably because those making these claims know full well that they have no backing in fact.

Những đặc tả kỹ thuật tự do không hạn chế sẽ khuyến khích tiêu chuẩn hóa, cạnh tranh và tính tương hợp.

BSA nói rằng “Ưu tiên được đề xuất của EIF cho những đặc tả tự do đối với sở hữu trí tuệ sẽ làm xói mòn … sự tiêu chuẩn hóa, tính cạnh tranh và tính tương hợp về lâu dài”.

Chúng đang sẽ không có khả năng để xác định những gì BSA ngụ ý với những đặc tả “tự do đối với sở hữu trí tuệ”, mặc dù chúng ta tin tưởng rằng những ngôn từ như vậy gợi ý một sự hiểu biết không đủ về qui trình thiết lập tiêu chuẩn về phần của BSA.

Kêu ca rằng ngôn từ hiện hành của EIF có thể làm xói mòn tính tương hợp đơn giản là không thể chấp nhận được. Nó tuôn ra từ những giả thiết không được chứng minh rằng chúng tôi đã chỉ ra sẽ là sai lầm trong thảo luận ở trên. Hiện hành, những hiệu ứng khóa trói gây ra từ việc sử dụng các chương trình và các định dạng tệp sở hữu độc quyền thường ngăn trở các cơ quan hành chính nhà nước khỏi việc tự do chọn các giải pháp công nghệ thông tin của họ. Thay vào đó, họ giữa nguyên sự trói buộc tới một nhà cung cấp. Những khó khăn của Hội đồng thành phố Brighton và thị trấn Solothurn của Thụy Sỹ (chỉ nêu tên 2 ví dụ từ những tháng gần đây) cùng với vô số các cơ quan nhà nước khác trong việc chuyển đổi từ một giải pháp công nghệ thông tin này sang giải pháp khác minh họa cách mà sự khóa trói vào nhà cung cấp đã gây ra bởi các tiêu chuẩn phần mềm được gây cản trở bằng các bằng sáng chế đã trói người sử dụng vào những giải pháp kém cỏi dưới xú, với giá thành ngất trời đối với những người trả thuế.

Ngược lại, các tiêu chuẩn phần mềm mà có thể được triển khai mà không có những hạn chế sẽ cho phép nhiều triển khai cài đặt cạnh tranh tương hợp được với nhau. Theo thiết lập này, những lợi nhuận của độc quyền đối với một thiểu số rất ít những tay chơi lớn sẽ được thay thế bằng một thị trường mạnh mẽ, đổi mới sáng tạo được dẫn dắt bởi sự cạnh tranh khốc liệt. Điều này tạo ra trong những giải pháp và dịch vụ tốt hơn với giá thành thấp hơn.

Restriction-free specifications will promote standardisation, competition and interoperability

The BSA claims that "the EIF's proposed preference for IP-free specifications will undermine...standardization, competitiveness and interoperability over the longer term."

We are unable to determine what the BSA means by "IP-free" specifications, although we do believe that such wording suggests an insufficient understanding of the standard-setting process on the BSA's part.

The claim that the current wording of EIF could undermine interoperability is simply unacceptable. It flows from unproven assumptions that we have shown to be false in the above discussion. Currently, lock-in effects resulting from the use of proprietary programs and file formats often prevent public administrations from freely choosing their IT solutions. Instead, they remain tied to a particular vendor. The difficulties of Brighton City Council and the Swiss canton of Solothurn (to name only two examples from recent months) along with numerous other public bodies in migrating from one IT solution to another illustrate how vendor lock-in caused by patent-encumbered software standards ties users to suboptimal solutions, at great cost to taxpayers.

Conversely, software standards which can be implemented without restrictions allow many competing implementations to interoperate with one another. In this setting, monopoly profits for a very limited number of big players are replaced with a vibrant, innovative market driven by fierce competition. This results in better solutions and services at lower prices.

Các khuyến cáo

Dưới ánh sáng của những xem xét ở trên, chúng tôi thúc giục EC khuyến khích tính tương hợp và sự cạnh tranh trong thị trường phần mềm châu Âu, hơn là trao cho các công ty thống trị đè ở trên một cánh tay đòn bổ sung thêm để duy trì sự kiểm soát của họ đối với thị trường. Để kết thúc, chúng tôi yêu cầu EC không bổ sung một sự phê chuẩn của các chính sách cấp phép của FRAND cho các tiêu chuẩn phần mềm. Thay vào đó, chúng tôi thúc giục EC duy trì khuyến cáo mà những đặc tả có thể được xem xét chỉ là mở nếu chúng có thể được triển khai và được chia sẻ theo các mô hình cấp phép phần mềm khác nhau, bao gồm cả các PMTD [6] được cấp phép theo GNU GPL.

Chúng tôi cũng thúc giục EC đưa vào trong EIF một khuyến cáo mạnh mẽ cho các cơ quan hành chính nhà nước vì lợi ích của chính họ về những ưu thế của phần mềm dựa trên các tiêu chuẩn mở về sự lựa chọn, sự cạnh tranh, sự tự do khỏi bị khóa trói và sự truy cập về lâu dài tới các dữ liệu.

Recommendations

In the light of the above considerations, we urge the Commission to encourage interoperability and competition in the European software market, rather than giving incumbent dominant companies an additional lever to maintain their control of the market. To this end, we ask the Commission not to add an endorsement of (F)RAND licensing policies for software standards. Instead, we urge the Commission to maintain the recommendation that specifications can be considered only open if they can be implemented and shared under different software licensing models, including Free Software6 licensed under the Gnu GPL.

We also urge the Commission to include in the revised European Interoperability Framework a robust recommendation for public bodies to avail themselves of the advantages of software based on Open Standards7 in terms of choice, competition, freedom from lock-in and long-term access to data.

Các ghi chú:

[1] Xem Rishab Aiyer Ghosh, Philipp Schmidt (2006): Vắn tắt về Chính sách của Đại học Liên hiệp Quốc, Số 1/2006: “Chuẩn mở, được xác định phù hợp, có thể có hiệu ứng kinh tế độc nhất vô nhị đối với việc cho phép các nhà độc quyền “bản chất tự nhiên” hình thành trong một công nghệ được đưa ra, trong khi đảm bảo sự cạnh tranh trong những nhà cung cấp công nghệ đó”

[2] MPEG được thiết kế đặc biệt để bắt buộc các công nghệ được cấp bằng sáng chế thậm chí ở những nơi mà chúng có thể được thay thế một cách rộng lớn (gây tranh cãi) bởi các lựa chọn thay thế bị cản trở được cấp bằng sáng chế. Điều này là có thể hình dung được vì nhu cầu trích ra càng nhiều lợi nhuận càng tốt từ việc sử dụng triển khai cài đặt đặc biệt của chúng đối với các nguyên lý toán học nhất định nào đó so với nhu cầu tạo ra một nền tảng chung và được tiêu chuẩn hóa cho các mục đích về tính tương hợp.

Hơn nữa, hầu hết các tiêu chuẩn MPEG đã được thiết lập trong một thời gian khi mà các mã codecs đã được làm ra trong phần cứng cả vì băng thông sẵn sàng bị hạn chế, lẫn phần cứng chung đã không đủ sức mạnh và

[3] Xem phản ứng của ECIS từ bức thư của BSA vào ngày 13/10/2010

[4] Vì một tranh luận về các giải pháp hỗn hợp trong các giao thức mạng, xem câu trả lời của FSFE và Đội Samba cho Điều 18.

[5] Xem định nghĩa của PMTD của FSFE.

[6] Như được xác định trong các định nghĩa của FSFE về một tiêu chuẩn mở.

Footnotes

  1. See e.g. Rishab Aiyer Ghosh, Philipp Schmidt (2006): United Nations University Policy Brief, Number 1, 2006: "Open standards, properly defined, can have the unique economic effect of allowing "natural" monopolies to form in a given technology, while ensuring full competition among suppliers of that technology." [emphasis added]

  2. MPEG is specifically designed to expressly mandate patented technologies even where they are largely replaceable by (arguably) non patented encumbered alternatives. This is conceivably due to the need to extract as much profits as possible from the use of their peculiar implementation of certain mathematical principles than to the need to create a common and standardized platform for interoperability purposes.

Moreover, most of the MPEG standards were established in a time when codecs were made in hardware both because the available bandwidth was limited, the generic hardware was not sufficiently powerful and

  1. See ECIS' reaction from October 13, 2010 to the BSA's letter

  2. For a discussion on hybrid solutions in network protocols see FSFE and Samba Team's response to Article 18.

  3. See FSFE's definition of Free Software

  4. As defined in FSFE's definitions of an open standard

Dịch tài liệu: Lê Trung Nghĩa

letrungnghia.foss@gmail.com

EIFv2: FSFE đưa ra những sự việc chống lại những hoang tưởng của BSA

EIFv2: FSFE puts facts against BSA's fictions

Theo: http://www.fsfe.org/news/2010/news-20101016-01.en.html

Bài được đưa lên Internet ngày: 16/10/2010

Lời người dịch: Lại là Liên minh Phần mềm Doanh nghiệp (BSA), liên minh từng tham gia vào vụ can thiệp sai trái chống lại các chính sách của chính phủ Việt Nam trong vụ Báo cáo đặc biệt 301 đầu năm 2010 vừa qua cùng với cấp trên của nó, IIPA, nay họ đang vận động hành lang để trói người châu Âu trong cái xiềng xích của các tiêu chuẩn sở hữu độc quyền. Quỹ Phần mềm Tự do châu Âu FSFE hiện đang đấu tranh để chống lại sự khóa trói đó.

Hôm qua (15/10/2010) Quỹ Phần mềm Tự do châu Âu FSFE (Free Software Foundation Europe) đã gửi một bức thư tới Ủy ban châu Âu để hỗ trợ các Tiêu chuẩn Mở và tính tương hợp. Trong một cuộc chiến được bày ra để giữ lại ít nhất một khuyến cáo yếu cho các Tiêu chuẩn Mở trong Khung Tương hợp châu Âu mới được rà soát lại, FSFE đã đối đáp lại một bức thư rò rỉ của nhóm vận động hành lang sở hữu độc quyền Liên minh Phần mềm Doanh nghiệp bằng sự phân tích hoàn hảo của riêng mình về quan hệ giữa các tiêu chuẩn và các bằng sáng chế.

Liên minh Phần mềm Doanh nghiệp (BSA) đang ép Ủy ban châu Âu loại bỏ những vết tích cuối cùng của sự hỗ trợ cho các tiêu chuẩn mở từ phiên bản mới nhất các khuyến cáo về tính tương hợp của Liên minh châu Âu, Khung Tương hợp châu Âu.

FSFE hôm thứ năm đã có được một bản sao của một bức thư được gửi cho Ủy ban này từ BSA tuần trước. Trên một trang chuyên, chúng tôi phân tích các lý lẽ của BSA và giải thích vì sao những kêu ca của họ là sai, và vì sao các tiêu chuẩn mở là chìa khóa cho tính tương hợp và sự cạnh tranh tại thị trường phần mềm của châu Âu.

FSFE yesterday sent a letter to the European Commission to support Open Standards and interoperability. In the drawn-out battle to retain at least a weak recommendation for Open Standards in the revised European Interoperability Framework, FSFE has countered a leaked letter by proprietary lobby group Business Software Alliance with its own thorough analysis of the relation between standards and patents.

The Business Software Alliance (BSA) is pressuring the European Commission to remove the last vestiges of support for Open Standards from the latest version of the EU's interoperability recommendations, the European Interoperability Framework.

FSFE on Thursday obtained a copy of a letter sent to the Commission by the BSA last week. On a dedicated page, we analyse the BSA's arguments and explain why their claims are false, and why Open Standards are key to interoperability and competition in the European software market.

Dịch tài liệu: Lê Trung Nghĩa

letrungnghia.foss@gmail.com

Các tranh luận về chuẩn mở lóe lên lần nữa ở mức EU

Open standards dispute flares up again at the EU level

19 October 2010, 11:16

Theo: http://www.h-online.com/open/news/item/Open-standards-dispute-flares-up-again-at-the-EU-level-1109793.html

Bài được đưa lên Internet ngày: 19/10/2010

Lời người dịch: Có thể còn có nhiều người ngây thơ mà nghĩ rằng, các công ty sở hữu độc quyền đa quốc gia sẽ cạnh tranh lành mạnh với công nghệ mở (chuẩn mở và phần mềm tự do nguồn mở). Hy vọng là những gì mà Liên minh Phần mềm Doanh nghiệp (BSA) thay mặt các công ty này chiến đấu với công nghệ mở như tại châu Âu sẽ giúp họ “tỉnh ngủ”. Một ví dụ nhỏ về về Quỹ Phần mềm Tự do châu Âu (FSFE) đang đấu tranh để chống lại quan điểm của BSA đề xuất với châu Âu: “FSFE lý luận rằng FRAND nói chung phân biệt đối xử chống lại tất cả các mô hình kinh doanh dựa trên phần mềm mở và nó không tương thích với hầu hết các giấy phép mở, như GNU GPL, Mozillla Public License và Apache Public License”. Trong thế giới công nghệ thông tin, nhiều người thích nói tới sự bình đẳng, không phân biệt đối xử. Nhưng liệu có điều đó không, khi mà người ta lại muốn chỉ bảo vệ những cái gọi là SỞ HỮU TRÍ TUỆ của thế giới nguồn đóng và vứt đi những thứ SỞ HỮU TRÍ TUỆ của thế giới các công nghệ mở???

Quỹ Phần mềm Tự do châu Âu (FSFE) đã tố cáo Liên minh Phần mềm Doanh nghiệp (BSA) về việc làm hại cho đổi mới sáng tạo với lời kêu gọi của mình cho những đổi mới sáng tạo được trao bằng sáng chế được đưa vào trong các tiêu chuẩn mở. Như FSFE viết trong một thư ngỏ gửi cho Ủy ban châu Âu, BSA, các thành viên của nó bao gồm Apple, HP, IBM, Microsoft, SAP và Siemens, dự vào vị thế của mình về một “sự hiểu biết không đủ” về vai trò và chức năng của các tiêu chuẩn. Đặc biệt, FSFE nói rằng việc áp đặt một điều kiện cấp phép với chi phí bản quyền bằng 0 trong việc đưa vào các công nghệ được cấp bằng sáng chế thực sự không ngăn cản được sự thâm nhập của chúng vào trong các tiêu chuẩn mở. Thà là một người đóng góp các công nghệ như vậy đơn giản được yêu cầu để đặt ra từ trước việc áp đặt các chi phí bản quyền đang có trong các triển khai còn hơn. FSFE cũng chỉ ra rằng hầu hết nền tảng công nghệ quan trọng của thế giới, như Internet, nói ngược lại với sự kêu ca của BSA rằng những đặc tả kỹ thuật tự do làm hại cho sự đổi mới sáng tạo.

Cuộc tranh luận một lần nữa có liên quan tới một bản rà soát lại của Khung Tương hợp châu Âu (EIF), một khung của Liên minh châu Âu để đảm bảo cho tính tương hợp trong các dịch vụ chính phủ điện tử. Tranh luận này đã đã đang diễn ra cả một năm nay và đã được cho là sẽ được thiết lập xong vào tháng này. Câu chữ trong một số đề xuất ban đầu mà các nhóm không quả quyết hỗ trợ nguồn mở, những người kêu rằng phiên bản rà soát lại có thể sẽ đặt các giải pháp được cấp bằng sáng chế và sở hữu độc quyền vào cùng một lớp với tính mở. Kết quả là, họ đã thay đổi, các quan chức nhà nước có thể gần như không có khả năng sử dụng các phần mềm mở một cách tự do.

Đối lại, BSA nói đề xuất trong tranh luận không đi đủ xa. Trong một bức thư gửi cho Ủy an được xuất bản bởi FSFE vào đầu tháng 10, BSA chỉ cốt kêu gọi đối với các kỹ thuật về các chuẩn mở được cấp phép theo những điều khoản của “FRAND” (công bằng, chấp nhận được, và không phân biệt đối xử) sẽ được đưa vào trong EIF. Những người sử dụng thường phải trả tiền để sử dụng tiêu chuẩn hoặc nếu không cung cấp các dịch vụ, hoặc chúng không tương thích với các nguyên tắc của nguồn mở. BSA chỉ ra rằng các đặc tả như Wi-Fi, GSM và MPEG đã đươc cấp phép thành công theo một cách như vậy và viện lý rằng tiếp cận theo với sự bảo vệ của EU về các quyền sở hữu trí tuệ. BSA kết luận rằng bất kỳ tiếp cận nào khác có thể thiết lập ra một ví dụ xấu cho các quốc gia như Trung Quốc vì Ủy ban châu Âu có thể làm xói mòn khả năng của mình để bảo vệ sở hữu trí tuệ tại các quốc gia như vậy.

The Free Software Foundation Europe (FSFE) has accused the Business Software Alliance (BSA) of hampering innovation with its call for patented innovations to be included in open standards. As the FSFE writes in an open letter to the European Commission, the BSA, whose members include Apple, HP, IBM, Microsoft, SAP and Siemens, bases its position on an "insufficient understanding" of the role and function of standards. Specifically, the FSFE says that imposing a zero­ royalty licensing condition on the inclusion of patented technologies does not actually prevent their inclusion in open standards. Rather a contributor of such technologies is simply required to forego imposing running royalties on implementations. The FSFE also points out that the world's most important technology platform, the internet, belies the BSA's claim that free specifications hamper innovation.

The dispute once again concerns a revision of the European Interoperability Framework (EIF), an EU framework to ensure interoperability in e-government services. The debate has already been going on for a year and was supposed to be settled this month. The wording in some of the early proposals unsettled groups supporting open source, who complained that the revised version would put patented and proprietary solutions at the same tier of openness. As a result, they charged, public officials would not nearly be able to use open software as freely.

In return, the BSA says the proposal in dispute does not go far enough. In a letter to the Commission published by the FSFE at the beginning of October, the BSA expressly calls for techniques for open standards licensed under "FRAND" (fair, reasonable, and non-discriminatory) terms to be included in the EIF. Users then usually have to pay money to use a standard or otherwise provide services, neither of which is compatible with the principles of open software. The BSA points out that specifications like Wi-Fi, GSM and MPEG have already been successfully licensed in such a manner and argues that the approach is in line with the EU's protection of intellectual property rights. The BSA concludes that any other approach would set a bad example for countries like China because the European Commission would undermine its ability to defend intellectual property in such countries.

FSFE phản đối rằng những ví dụ được BSA chọn là “không phù hợp” (với ngoại lệ của MPEG cho phần mềm) và định tạo ra một sự phân biệt sai giữa những phát triển được bảo vệ “một cách thương mại” và các phần mềm không được bảo vệ được làm bởi những lập trình viên theo sở thích. FSFE nhắc nhở mọi người rằng nhiều công nghệ không được cấp bằng sáng chế được phát triển bởi các hãng được sử dụng trong các tiêu chuẩn được triển khai toàn cầu, như HTML5, và tiếp tục kiếm được tiền cho những tạo ra chúng. FSFE lý luận rằng FRAND nói chung phân biệt đối xử chống lại tất cả các mô hình kinh doanh dựa trên phần mềm mở và nó không tương thích với hầu hết các giấy phép mở, như GNU GPL, Mozillla Public License và Apache Public License.

FSFE nói rằng BSA thậm chí không nói nhân danh của tất cả các thành viên của nó trong trường hợp này và chỉ ra rằng không có mối liên quan nào giữa một sự ưu tiên cho các chuẩn mở và những thảo luận với Trung Quốc. Thay vào đó, Quỹ này viện lý rằng những đặc tả không được bảo vệ bởi các bằng sáng chế lại khuyến khích các tiêu chuẩn và tính tương hợp. Quả thực, những khó khăn mà các quan chức nhà nước đã gặp phải trong việc chuyển sang phần mềm tự do, như là thành phố Solothurn của Thụy Sỹ, “minh họa cách mà sự khóa trói đã gây ra bởi các tiêu chuẩn phần mềm được gây trở ngại bởi các bằng sáng chế đang trói những người sử dụng vào các giải pháp dưới điểm cực thuận, ở chi phí khổng lồ đối với những người đóng thuế”.

Một tài liệu có những rà soát lại được đề xuất cho chiến lược nguồn mở của Brussel đã được xuất bản trên Wikileaks và gần đây được thảo luận trong một số diễn đàn; nội dung chỉ ra các vận động hành lang đã gây sức ép lớn thế nào đang ráng sức chống lại nguồn mở ở mức EU. Hội vì Công nghệ Cạnh tranh (ACT), đứng đầu của nó là Jonathan Zuck từng kêu gọi vì các bằng sáng chế phần mềm nhiều năm tại châu Âu, và CompTIA hình như đã và đang làm việc để làm suy yếu đáng kể các kế hoạch của châu Âu với các đề xuất câu từ cụ thể. Ví dụ, một đoạn có thể nói rằng sự gia tăng của phần mềm nguồn mở phải không được khuyến khích đặc biệt. Hơn nữa, các nhà vận động hành lang đã muốn tập trung vào “những giải pháp pha trộn mã nguồn mở và sở hữu độc quyền” và để các giấy phép FRAND được công bố là tương thích với phần mềm mở.

The FSFE counters that the examples chosen by the BSA are "irrelevant" (with the exception of MPEG for software) and attempt to make a false distinction between "commercially" protected developments and unprotected software made by hobby programmers. The FSFE reminds everyone that a lot of unpatented technologies developed by firms are used in globally implemented standards, such as HTML5, and continue to earn money for their makers. The FSFE argues that FRAND generally discriminates against all business models based on open software and is incompatible with most open source licenses, such as GNU GPL, the Mozilla Public License and the Apache Public License.

The FSFE says that the BSA is not even speaking on behalf of all of its members in this case and points out that there is no connection between a preference for open standards and negotiations with China. Instead, the Foundation argues that specifications not protected by patents promote standards and interoperability. Indeed, the difficulties that public officials have had in switching to free software, such as in the Swiss town of Solothurn, "illustrate how vendor lock-in caused by patent-encumbered software standards ties users to suboptimal solutions, at great cost to taxpayers."

A document containing proposed revisions for Brussels' open source strategy was published at Wikileaks and recently discussed in a number of forums; the content shows how much pressure lobbies are exerting against open source at the EU level. The Association for Competitive Technology (ACT), whose head Jonathan Zuck has been calling for software patents for years in Europe, and CompTIA have apparently been working to considerably weaken the EU's plans with proposals for specific wordings. For instance, one passage would stipulate that the growth of open source software should not be especially fostered. Furthermore, lobbyists have attempted to put the focus on "mixed solutions with open and proprietary code" and have FRAND licenses declared compatible with open software.

(Stefan Krempl)

(crve)

Dịch tài liệu: Lê Trung Nghĩa

letrungnghia.foss@gmail.com