Research
Methods Handbook
Research
Method Insights from the Global OER Graduate Network
Cho đến
nay, chúng ta đã thảo luận về các phương pháp nghiên
cứu một cách khá tổng quát. Trong phần này, bạn có thể
tìm thấy mô tả ngắn gọn về các phương pháp nghiên
cứu cụ thể cùng với những lời khuyên hữu ích từ
các nhà nghiên cứu GO-GN đã sử dụng chúng trong luận án
tiến sĩ của mình. Bạn có thể sử dụng những điều
này như một điểm khởi đầu để suy nghĩ về cách tiếp
cận nghiên cứu của riêng mình.
Nghiên
cứu hành động và Nghiên cứu hành động có sự tham gia
Nghiên cứu
hành động là một hình thức tự phản tỉnh được thực
hiện bởi những người tham gia trong các tình huống xã
hội để cải thiện tính hợp lý và sự biện minh cho
các hoạt động của họ, sự hiểu biết của họ về
các hoạt động này và các điều kiện mà trong đó các
hoạt động được thực hiện. Trong bối cảnh nghiên cứu
giáo dục, điều này có thể liên quan đến các nhà giáo
dục đang thực hành vào quá trình tiến hành nghiên cứu
hành động dựa trên lớp học (Mertler, 2014).
Đây là
một cách tiếp cận trong đó nhà nghiên cứu hành động
và người tham gia hợp tác trong việc xác định vấn đề
và cùng thiết kế giải pháp dựa trên chẩn đoán. Đặc
trưng của nghiên cứu hành động là sự hợp tác giữa
các nhà nghiên cứu và các bên liên quan để giải quyết
các vấn đề của tổ chức (Whyte et al., 1991).
Trong nghiên
cứu hành động, các nhà nghiên cứu cùng học hỏi với
một nhóm các bên liên quan. Trong nghiên cứu hành động
có sự tham gia, họ đóng vai trò tích cực hơn với tư
cách là thành viên của cộng đồng. Nghiên cứu hành động
có sự tham gia đôi khi được sử dụng khi một tổ chức
cần giải quyết một vấn đề nhưng không có hướng
nghiên cứu rõ ràng nào được chỉ ra. Bên cạnh tính
linh hoạt này, một lợi thế khác của các phương pháp
này là nghiên cứu có thể được điều chỉnh cho phù
hợp với bối cảnh cụ thể trong khi vẫn tập trung vào
các bên liên quan, cho phép các giải pháp không lường
trước được xuất hiện. Điều này có thể được thực
hiện để cá nhân hóa trải nghiệm học tập hoặc thúc
đẩy hòa nhập xã hội (Warschauer, 2003; Lewis &
Sanderson, 2011; Kemmis et al. 2013). Ngược lại, phương pháp
này có thể được coi là bất lợi vì nó có thể hạn
chế khả năng đưa ra các tuyên bố tổng quát hoặc áp
dụng những gì đã được tìm thấy trong các bối cảnh
mới.
Nghiên
cứu hành động: Hiểu biết từ GO-GN
Ada
Czerwonogora đã sử dụng Nghiên cứu hành động như một
phần của nghiên cứu trường hợp phức tạp về thực
hành phản tư và sự chuyển đổi của việc giảng dạy
thông qua tích hợp công nghệ nhân danh dự án PRAXIS:
“Phương
pháp tiếp cận dự án dựa trên Khoa học Mở và Thực
hành Giáo dục Mở như những khuôn khổ nền tảng để
đối mặt với những thách thức của Nghiên cứu Hành
động Giáo dục mang tính phê phán... Tôi coi phương pháp
tiếp cận đa phương pháp là một lợi thế, giúp hiểu
sâu sắc hơn về trường hợp phức tạp. Tuy nhiên, điều
này có thể dẫn đến phương pháp luận khó khăn hơn...
Tôi nghĩ rằng ưu điểm vượt trội hơn nhiều so với
nhược điểm.”
Jenni Hayman
đã sử dụng phương pháp nghiên cứu hành động trong các
hội thảo trực tiếp và trên các khóa học trực tuyến
mở đại chúng - MOOC (Massive Online Open Course) để xác
định tính hữu ích của một chiến lược nâng cao nhận
thức và hỗ trợ được thiết kế nhằm tăng cường
việc sử dụng Tài nguyên Giáo dục Mở (OER) trong giới
giáo dục sau đại học:
“Phương
pháp nghiên cứu của tôi là nghiên cứu hành động phương
pháp hỗn hợp - MMAR (Mixed Method Aciton Research) và nó được
định nghĩa là một yêu cầu trường của tôi bắt
buộc... Tôi đã tham gia vào ba chu kỳ nghiên cứu (một
thực tiễn phổ biến trong nghiên cứu hành động), mỗi
chu kỳ dẫn đến các thực hành được tinh chỉnh hơn và
sự tham gia lớn hơn. Mặc dù xu hướng cá nhân của tôi
là các phương pháp định tính, tôi thấy yêu cầu về
phương pháp hỗn hợp cho nghiên cứu của mình cực kỳ
có lợi với tư cách là người mới bắt đầu. Tôi được
yêu cầu học và thực hành các kỹ năng của cả hai
phương pháp và học cách các loại dữ liệu khác nhau
tương tác và kết hợp để khuếch đại hiểu biết. Khi
dữ liệu định tính và định lượng đồng nhất, điều
này tạo ra sự tự tin cho tôi rằng tôi đang đi đúng
hướng. Khi những dữ liệu này không đồng nhất, tôi đã
quay lại tài liệu và mô tả phương pháp để phát triển
các giải thích và tinh chỉnh thêm bối cảnh của tôi và
bối cảnh của những người tham gia. Nghiên cứu hành
động (tương tự như nghiên cứu dựa trên thiết kế)
được đặt nền tảng trong thực tiễn và thiết kế
trải nghiệm. Nó mang tính cá nhân và theo ngữ cảnh và
do đó không thể mô tả là khách quan hay có thể lặp
lại. Nó thường được các nhà giáo dục sử dụng để
kiểm tra và cải thiện một số yếu tố trong thực hành
giảng dạy hay hệ thống mà họ đang làm việc.”
Francisco
Iniesto đã sử dụng nghiên cứu hành động trong khuôn khổ
Lập kế hoạch lấy người học làm trung tâm - PCP
(Person-Centred Planning), được thiết kế để trao quyền
cho người học khuyết tật đưa ra lựa chọn và quyết
định của riêng họ bằng cách đặt cá nhân vào trung
tâm của quá trình lập kế hoạch nhằm cải thiện khả
năng tiếp cận trong các khóa học trực tuyến mở đại
chúng (MOOC):
“Người
học là một nguồn dữ liệu hữu ích để khám phá các
rào cản về khả năng tiếp cận và các giải pháp của
họ khi sử dụng công nghệ và các thiết kế học tập
mà họ gặp phải khi tương tác với MOOC. Dữ liệu từ
các cuộc phỏng vấn đã giúp hiểu được động cơ của
họ, các rào cản về khả năng tiếp cận hiện tại họ
gặp phải, cách họ phản ứng với chúng và các đề
xuất về các giải pháp họ mong muốn”.
Các tài
liệu tham khảo hữu ích cho Nghiên cứu Hành động:
Caruth (2018); Danermark et al. (2002); Freire (1994); Heron &
Reason (1997); Ivankova (2015); Kemmis, McTaggart & Nixon (2013);
Lewis & Sanderson (2011); Mertler (2014); Smith (1999).
Warschauer (2003); Whyte, Greenwood & Lazes (1991)
Nghiên
cứu trường hợp
Nghiên
cứu trường hợp là một phương pháp nghiên cứu liên
quan đến việc xem xét chi tiết và mô tả chuyên sâu một
trường hợp thực nghiệm cụ thể. Điều này có thể
được thực hiện theo nhiều cách khác nhau, và đơn vị
phân tích có thể khác nhau (một cá nhân, một tổ chức,
một quốc gia, v.v.). Nghiên cứu trường hợp có thể bao
gồm cả bằng chứng định lượng và định tính (Stake,
1995) và thường dựa vào việc tập hợp nhiều tài liệu
bằng chứng khác nhau từ nhiều nguồn để làm sáng tỏ
toàn bộ trường hợp.
Nghiên cứu
trường hợp có lợi thế khi có một khung lý thuyết được
phát triển trước khi bắt đầu thu thập dữ liệu (Yin,
2003). Đồng thời, phương pháp nghiên cứu trường hợp
cho phép tính linh hoạt và có thể được sử dụng trong
các bối cảnh khám phá. Điều này có thể hấp dẫn đối
với nhà nghiên cứu vì nó cho phép bắt đầu thu thập dữ
liệu ngay lập tức (mặc dù vẫn cần phải áp đặt một
cấu trúc lý thuyết trong giai đoạn phân tích). Do đó,
nghiên cứu trường hợp có thể được tiến hành ở các
mức độ chính thức và khả năng tái tạo khác nhau
(Hetherington, 2013).
Thiết kế
nghiên cứu trường hợp có thể được sử dụng để
kiểm tra xem các lý thuyết và mô hình có hoạt động
trong các bối cảnh ứng dụng thực tế hay không
(Shuttleworth, 2008) và ngược lại, để tạo ra các giả
thuyết và lý thuyết.
Nghiên
cứu trường hợp: Hiểu biết từ GO-GN
Sarah
Hutton đã sử dụng một nghiên cứu trường hợp theo
phương pháp diễn giải hiện tượng học để làm sáng
tỏ mối liên hệ trực tiếp giữa sự tham gia của sinh
viên đại học vào các khóa học với việc biên soạn
OER có sự tham gia hoặc xuất bản truy cập mở các chế
tác của sinh viên, với việc phát triển các mục tiêu
nội tại và sự gắn kết sâu sắc hơn:
“Việc
phát triển OER có sự tham gia và mô hình sư phạm mở
mang lại tiềm năng cho sinh viên có quyền tự chủ trong
việc phát triển nội dung khóa học, thúc đẩy động lực
nội tại lớn hơn, và do đó mang lại kết quả học tập
thành công và có thể chuyển giao tốt hơn. Phân tích kết
quả tạo ra một luận điểm thuyết phục cho việc áp
dụng tài liệu OER vượt ra ngoài lập luận về khả năng
chi trả, tiếp tục ủng hộ sự tham gia của sinh viên vào
học thuật mở ở cấp độ đại học.”
Viviane
Vladimirschi đã nghiên cứu các hướng dẫn dựa trên bằng
chứng trong bối cảnh Phát triển Chuyên môn Giáo viên -
TPD (Teacher Professional Development) dành cho giáo viên tiểu
học công lập ở Brazil bằng cách thực hiện một can
thiệp tại một trường học. Mục tiêu chính của Chương
trình Phát triển Tài nguyên Giáo dục Mở (OER) là nâng
cao nhận thức và xây dựng kiến thức cho giáo viên về
việc áp dụng và sử dụng OER:
“Phương
pháp nghiên cứu trường hợp được sử dụng trong nghiên
cứu này là một cách tiếp cận rất phổ biến trong
Nghiên cứu Giáo dục. Đây cũng là một phương pháp khá
dễ sử dụng và việc phân tích nhiều nguồn dữ liệu
có tiềm năng không chỉ tạo ra những hiểu biết mới
trong suốt nghiên cứu trường hợp mà còn tạo ra lý
thuyết mới. Việc xây dựng lý thuyết rất phù hợp với
các lĩnh vực nghiên cứu mới, như trường hợp của
nghiên cứu này. Tuy nhiên, có một số nhược điểm khi
sử dụng phương pháp này. Thứ nhất, không thể khái
quát hóa các phát hiện từ một nghiên cứu trường hợp
duy nhất. Thứ hai, việc đạt được sự cân bằng giữa
việc tạo ra một lý thuyết quá phức tạp hoặc một lý
thuyết hẹp, mang tính cá nhân là khá khó khăn. Lý thuyết
được tạo ra từ các nghiên cứu trường hợp phải có
thể kiểm chứng, có thể tái tạo và mạch lạc. Các
hướng dẫn TPD được tạo ra từ nghiên cứu này có thể
kiểm chứng, có thể tái tạo và khá đơn giản nên tôi
tự tin rằng mình đã đạt được sự cân bằng này. Tôi
đặc biệt khuyến nghị phương pháp Tư duy Thiết kế
dành cho Nhà giáo dục - Design Thinking for Educators (xin lưu
ý rằng đây không phải là một phương pháp) mà tôi đã
sử dụng trong nghiên cứu này cho các hội thảo trực
tiếp cho bất kỳ nhà nghiên cứu nào muốn thực hiện
một can thiệp, đặc biệt là trong lĩnh vực giáo dục
K-12. Cách tiếp cận này không chỉ cho phép các nhà nghiên
cứu hiểu sâu hơn về các giải pháp tiềm năng để giới
thiệu các thực hành chuyên môn mới, mà còn mang lại cho
giáo viên nhiều cơ hội tham gia vào quá trình xác định
cách thức triển khai đổi mới tốt nhất. Nhược điểm
tiềm tàng duy nhất là nó đòi hỏi một khoảng thời
gian ứng dụng dài hơn trong mỗi giai đoạn riêng biệt để
nhận được sự đồng thuận từ dưới lên đối với
một sự đổi mới.”
Tài liệu
tham khảo hữu ích cho Nghiên cứu trường hợp:
Hetherington (2013); Shuttleworth (2008); Stake (1995); Yin (2003)
Phân
tích nội dung và Phân tích chủ đề
Phân tích
nội dung là một phương pháp nghiên cứu để nghiên cứu
các tài liệu - được hiểu theo nghĩa rộng - và bao gồm
các định dạng như văn bản, ghi chép phỏng vấn, hình
ảnh, âm thanh hoặc video (Bryman, 2011). Trong bối cảnh giáo
dục, Phân tích nội dung có thể được sử dụng để
kiểm tra một cách có hệ thống các mô hình trong giao
tiếp và diễn ngôn. Điều này được thực hiện thông
qua việc đọc hoặc phân tích có hệ thống các "văn
bản" được gán mã để chỉ ra sự hiện diện và
tỷ lệ của nội dung có ý nghĩa (Kimberly & Neuendorf,
2016).

Phân tích
nội dung sử dụng cách tiếp cận mô tả trong cả việc
mã hóa dữ liệu và việc diễn giải số lượng định
lượng của các mã. Phân tích chủ đề thường được
áp dụng cho một tập hợp các văn bản, trong đó nhà
nghiên cứu xem xét kỹ lưỡng dữ liệu để xác định
các chủ đề, ý tưởng và mô hình ý nghĩa chung xuất
hiện lặp đi lặp lại (Clarke, Braun & Hayfield, 2015).
Phân tích chủ đề cung cấp một bản tường thuật hoàn
toàn định tính, chi tiết và tinh tế về dữ liệu
(Vaismoradi, Turunen, & Bondas, 2013).
Phân tích
nội dung cho phép phân tích các hiện tượng xã hội một
cách không xâm phạm. Có thể phân tích các mô hình nội
dung bằng cả phương pháp định lượng và định tính,
dán nhãn nội dung một cách có hệ thống (Finfgeld-Connett,
2014). Phân tích chủ đề cũng cung cấp một cách tiếp
cận có hệ thống và chặt chẽ để phát triển chủ đề
với các giai đoạn được xác định rõ ràng (Braun &
Clarke, 2006).
Phân
tích nội dung: Hiểu biết từ GO-GN
Johanna
Funk đã sử dụng Phân tích nội dung và một chu trình
“lọc” tài nguyên nghiêm ngặt với ba bộ tiêu chí
(quan điểm chung của các bên liên quan; nguyên tắc phi
thực dân hóa; tiêu chí khung đánh giá):
“Tôi
đặt câu hỏi về tính mở (Openness) đối với các nền
văn hóa và khuôn khổ mà phương tiện truyền thông mở
và kỹ thuật số có thể tạo điều kiện; các tổ chức
giáo dục có thể làm gì để hoạt động hiệu quả hơn,
có trách nhiệm về văn hóa và đáp ứng tốt hơn cho các
nhóm dân cư bị thiệt thòi và các hệ thống tri thức
như cộng đồng người bản địa Aboriginal và Torres
Strait Islander. Dựa trên các chu kỳ đánh giá, tôi đã tìm
ra các nguyên tắc thực hành tốt nhất theo ba bộ tiêu
chí mà tôi đã sử dụng”.
Tài liệu
tham khảo hữu ích cho Phân tích Nội dung/Chủ đề:
Clarke, Braun & Hayfield (2015); Braun & Clarke (2006);
Bryman (2011); Heath, Hindmarsh & Luff, (2010); Kimberly &
Neuendorf, 2016; Finfgeld-Connett (2014); Saldaña (2016);
Vaismoradi, Turunen, & Bondas, 2013).
Nghiên
cứu và Can thiệp Dựa trên Thiết kế
Nghiên cứu
Dựa trên Thiết kế - DBR (Design-Based Research) là một
phương pháp nghiên cứu được các nhà nghiên cứu trong
lĩnh vực khoa học giáo dục sử dụng. DBR là một phương
pháp nghiên cứu giáo dục tập trung, hợp tác và có sự
tham gia. Quá trình cơ bản của DBR bao gồm việc phát
triển các giải pháp hoặc can thiệp cho các vấn đề
(Anderson & Shattuck, 2012). “Can thiệp” là bất kỳ sự
can thiệp nào nhằm sửa đổi một quá trình hoặc tình
huống. Do đó, các can thiệp là các chiến lược thay đổi
được thực hiện một cách có chủ ý (Sundell &
Olsson, 2017). Phân tích dữ liệu được thực hiện dưới
dạng so sánh lặp đi lặp lại. Mục đích của quan điểm
nghiên cứu này là tạo ra các lý thuyết và khung lý
thuyết mới để khái niệm hóa việc học tập và giảng
dạy.
Một khía
cạnh tích cực của DBR là nó có thể được sử dụng
để tập hợp các nhà nghiên cứu và người thực hành
lại với nhau để thiết kế các giải pháp dựa trên bối
cảnh cho các vấn đề giáo dục, điều này có ý nghĩa
sâu sắc đối với người thực hành về mối quan hệ
giữa lý thuyết và thực tiễn giáo dục. DBR giả định
một khung thời gian cho phép nhiều vòng xem xét và lặp
lại. Nó có thể được coi là một phương pháp nghiên
cứu giáo dục dài hạn và chuyên sâu, không thực sự phù
hợp với luận án tiến sĩ, nhưng ngày càng có nhiều ví
dụ về việc sử dụng phương pháp này (Goff & Getenet,
2017).
Nghiên cứu
dựa trên thiết kế (DBR) cung cấp một phương pháp luận
quan trọng để hiểu và giải quyết các vấn đề thực
tiễn, đặc biệt là trong bối cảnh giáo dục, nơi mà
một lời chỉ trích lâu nay đối với nghiên cứu giáo
dục là nó thường tách rời khỏi thực tế đời sống
hàng ngày (Design-Based Research Collective, 2003). DBR là về
việc cân bằng giữa thực tiễn và lý thuyết, có nghĩa
là nhà nghiên cứu phải đóng vai trò vừa là người thực
hành vừa là nhà nghiên cứu. DBR cho phép thu thập dữ
liệu theo nhiều cách và khuyến khích phát triển các mối
quan hệ có ý nghĩa với dữ liệu và người tham gia. DBR
cũng có thể được sử dụng như một cách thực tiễn
để giải quyết các vấn đề thực tế trong giáo dục.
DBR &
Các can thiệp: Hiểu biết từ GO-GN
Roberts
(2019) đã sử dụng phương pháp nghiên cứu dựa trên
thiết kế (DBR) để xem xét cách học sinh trung học mở
rộng việc học của họ từ môi trường học tập chính
quy sang môi trường học tập phi chính quy bằng cách sử
dụng khuôn khổ can thiệp thiết kế học tập mở - OLDI
(Open Learning Design Intervention) để hỗ trợ phát triển
các thực hành giáo dục mở - OEP (Open Educational Practice).
“Trong
chương trình Tiến sĩ Giáo dục (EdD), tôi đã học một
số lớp về phương pháp và nghiên cứu. Tôi học môn
Nghiên cứu dựa trên thiết kế - DBR (Design-Based Research)
và thấy nó khó hiểu và quá tải. Vì vậy, tôi quyết
định học thêm một khóa học về nghiên cứu trường
hợp vì nó có vẻ phù hợp với tôi nhất. Trong đầu tôi
nghĩ rằng mình có thể so sánh và đối chiếu nhiều giáo
viên trung học đang tích hợp các phương pháp giáo dục
mở. Qua quá trình tìm hiểu ban đầu, tôi phát hiện ra
rằng trong khu vực trường học của tôi (hơn 30.000 học
sinh), có rất nhiều giáo viên sử dụng Thực hành Giáo
dục Mở - OEP (Open Education Practice), nhưng họ không muốn
làm việc “cùng” tôi, họ muốn tôi quan sát họ dạy -
rồi viết về điều đó. Tôi bắt đầu hiểu rằng không
chỉ muốn tập trung nghiên cứu vào một phương pháp sư
phạm mới nổi (OEP) mà tôi còn nhận ra rằng mình muốn
xem xét các phương pháp tham gia mới hơn. Tôi đã không
nghĩ đến DBR trong bối cảnh này khi tham gia khóa học ban
đầu.”
“Tôi
biết mình muốn làm việc với một giáo viên và thực
hiện một số can thiệp để hỗ trợ họ suy nghĩ và
thực sự tích hợp OEP. Nghiên cứu dựa trên thiết kế
(DBR) đã được đề xuất với tôi nhiều lần, nhưng tôi
cứ trì hoãn. Đồng thời, nhiều thành viên trong hội
đồng giám sát và đồng nghiệp của tôi thậm chí không
nghĩ rằng tôi nên xem xét DBR. Tôi phát hiện ra rằng
nhiều nhà nghiên cứu không biết về nó và sợ hãi nó.
Như tôi đã học được, khi bạn chọn DBR, nó giống như
việc trở thành một người học mở ở chỗ bạn tin vào
triết lý đằng sau quy trình DBR. Bạn chỉ đơn giản là
một nhà nghiên cứu và nhà giáo dục DBR.
“Tôi
đã mất nhiều giờ suy ngẫm, đọc về các ví dụ khác
nhau về DBR, tham dự các hội thảo và hội nghị trực
tuyến về DBR để thực sự thấy được những lợi ích
có thể có của DBR (hợp tác, lặp đi lặp lại, phản
hồi, linh hoạt, cân bằng giữa lý thuyết/thực hành và
dựa trên mối quan hệ) để tôi dám dấn thân…”
(Verena Roberts)
Tài liệu
tham khảo hữu ích cho Nghiên cứu dựa trên thiết kế:
Anderson & Shattuck (2012); Design-Based Research Collective
(2003); Goff & Getenet (2017); Sundell & Olsson (2017)
Phân
tích diễn ngôn
Phân tích
diễn ngôn là một phương pháp phân tích định tính để
nghiên cứu ngôn ngữ trong bối cảnh xã hội của nó. Mục
tiêu là hiểu cách ngôn ngữ được sử dụng trong các
tình huống thực tế. Phân tích diễn ngôn nghiên cứu mục
đích và tác dụng của các loại ngôn ngữ khác nhau, các
quy tắc và quy ước văn hóa trong giao tiếp, cách thức
các giá trị, niềm tin và giả định được truyền đạt
và cách sử dụng ngôn ngữ liên quan đến bối cảnh xã
hội, chính trị và lịch sử của nó (Gee, 2014). Phân tích
diễn ngôn thường được liên kết với các phương pháp
và quan điểm điều tra phê phán vì việc phân tích những
gì mọi người nói có thể tiết lộ các mối quan hệ
quyền lực không bình đẳng và sự bất bình đẳng.
Phân
tích diễn ngôn: Hiểu biết từ GO-GN
Sarah
Lambert đã phân tích 24 ấn phẩm quan trọng về giáo dục
mở để hiểu khoảng cách giữa lời nói và thực tế
trong kết quả giáo dục liên quan đến lời hứa của Tài
nguyên Giáo dục Mở - OER (Open Educational Resources) về việc
thay đổi các mô hình tiếp cận giáo dục (dân chủ hóa
kiến thức, v.v.). Kết quả của phân tích là việc tạo
ra một định nghĩa mới về giáo dục mở.
“Xuất
phát từ mong muốn hiểu và lý giải sự thất bại của
các khóa học trực tuyến mở đại chúng - MOOCs (Massive
Online Open Courses) trong việc mở rộng sự tham gia vào giáo
dục, bất chấp những hứa hẹn ban đầu về việc giải
quyết bất bình đẳng giáo dục toàn cầu, luận văn này
nghiên cứu các mô hình thay thế về thiết kế và cung
cấp chương trình giáo dục trực tuyến mở gần đây,
vốn thành công hơn trong việc hỗ trợ người học có
hoàn cảnh kinh tế xã hội khó khăn. Công bằng xã hội
cải thiện những khái niệm hiện tại chưa được định
nghĩa rõ ràng về “tính mở” như là động lực cho các
hình thức giáo dục công bằng hơn. Thứ hai, công bằng
về sự công nhận là cần thiết để sửa chữa các định
kiến và phân biệt đối xử về giới tính và chủng tộc
thông qua việc công nhận sự khác biệt là có giá trị.
Thứ ba, công bằng về sự đại diện mở rộng quyền
được công nhận thành quyền được lên tiếng để tự
đại diện cho mình trong các cuộc tranh luận công khai và
chính trị, và do đó có thể tác động đến các quyết
định ảnh hưởng đến cuộc sống của mình.”
Tài liệu
tham khảo hữu ích cho Phân tích Diễn ngôn: Gee (2011);
Gee (2014); Gee, Michaels & O’Connor (2017); Johnstone (2018);
Lambert (2020); Rau, Elliker & Coetzee (2018)
Nhân
chủng học (Ethnography)
Nhân chủng
học là một phương pháp giải thích kinh nghiệm sống
trong một hệ thống xã hội dựa trên những quan sát chi
tiết về những gì mọi người làm và thể hiện (Marcus,
1995). Nhân chủng học nhằm mục đích nghiên cứu các
khía cạnh xã hội và văn hóa của một xã hội và nhà
nghiên cứu tập trung vào việc thu thập thông tin cho mục
đích đó. Nó tập trung vào hành vi của con người liên
quan đến cấu trúc xã hội mà họ đang sống. Cách tiếp
cận này mang tính nhập vai cao và cung cấp cho người
nghiên cứu một cái nhìn minh bạch và độc đáo về
thông tin, cho phép văn hóa tự nói lên tiếng nói của
mình (Khan, 2018). Hành vi của những người tham gia trong
mỗi tình huống xã hội được xem xét cùng với cách
giải thích của các thành viên trong nhóm về hành vi đó
(Wolff, 2015). Nhân chủng học sử dụng cả phương pháp
nghiên cứu định tính và định lượng khi nghiên cứu
các nhóm cụ thể tạo thành một phần của một xã hội
phức tạp lớn hơn (Falzon, 2005).
Nhân
chủng học: Hiểu biết từ GO-GN
Chtena
(2019) đã phát triển một thiết kế nhân chủng học đa
địa điểm (Multi-Sited Ethnographic Design) bao gồm phỏng
vấn, quan sát và phương pháp phân tích hệ thống để
theo dõi sự phát triển và triển khai sách giáo khoa mở
trong giáo dục đại học ở California. Điều làm cho
phương pháp nhân chủng học đa địa điểm trở nên hấp
dẫn là triển vọng liên kết có hệ thống các quan sát
từ các bối cảnh dường như có sự xa cách nhau về địa
lý, thể chế, tổ chức, văn hóa, công nghệ và nhận
thức. Trong trường hợp này, nhân chủng học đa địa
điểm không bắt đầu từ một địa điểm cụ thể, mà
từ việc xây dựng các thực tiễn và hiện tượng xã
hội cụ thể trong một mạng lưới quan hệ kết nối
nhiều địa điểm (ví dụ: thể chế, con người, đối
tượng, dự án và diễn ngôn).
“Nghiên
cứu này chứng minh rằng các khái niệm nhị phân về
tính mở (tức là “mở” so với “đóng”) dựa trên
các đặc điểm hình thức (ví dụ: cấp phép) không phản
ánh cách mọi người “thực hành” tính mở trong thực
tế, và rằng các nhu cầu, giá trị, ưu tiên và cách hiểu
khác nhau về “mở” tạo ra các chế tác khác nhau trong
các lĩnh vực và bối cảnh thể chế khác nhau. Hơn nữa,
nghiên cứu cho thấy những khó khăn trong việc sản xuất,
lưu thông và bảo trì sách giáo khoa mở đã bác bỏ ảo
tưởng về sách giáo khoa mở như một giao diện năng
động, lý tưởng cho việc thích ứng, sửa đổi và phối
lại. Điều làm cho phương pháp nhân chủng học đa địa
điểm trở nên hấp dẫn là triển vọng liên kết một
cách có hệ thống các quan sát từ các bối cảnh dường
như xa cách về địa lý, thể chế, tổ chức, văn hóa,
công nghệ và nhận thức. Lời hứa của phương pháp nhân
chủng học đa địa điểm, vượt xa việc chỉ đơn giản
là nhân rộng các địa điểm nghiên cứu, là một cách
mới để mô tả các mối quan hệ có hệ thống và sự
phụ thuộc lẫn nhau của nhiều ‘bộ phận và tiểu bộ
phận’ của cơ sở hạ tầng kỹ thuật xã hội mà công
nghệ, chẳng hạn như sách giáo khoa mở, được nhúng
vào. Mặt khác, một mối lo ngại với phương pháp đa địa
điểm là việc dàn trải các nhà nhân chủng học quá
mỏng trên không gian, điều này đe dọa cam kết của nhân
chủng học về chiều sâu và mô tả chi tiết. Đặc biệt,
nếu tổng thời gian thực địa vẫn giữ nguyên như trong
nghiên cứu đơn địa điểm, thì chỉ có thể đến thăm
và điều tra từng địa điểm trong thời gian tương đối
ngắn, và xây dựng các mối quan hệ tương đối hời hợt
với những người cung cấp thông tin chính. Do đó, một
trong những thế mạnh chính của nhân chủng học đang có
nguy cơ bị mất đi. Mặc dù đây là một sự điều chỉnh
quan trọng, tôi tin rằng, trong bối cảnh nghiên cứu này,
lợi ích của việc nghiên cứu đa địa điểm vượt trội
hơn những bất lợi tiềm tàng. Vì tôi đã theo dõi sự
phát triển của nội dung và ý tưởng thông qua hệ sinh
thái sách giáo khoa mở, nên một cách tiếp cận có hệ
thống, đa địa điểm, đa thực thể và đa nền tảng là
phù hợp.
“Lời
khuyên của tôi dành cho bất kỳ ai quan tâm đến nhân
chủng học đa địa điểm là hãy đảm bảo rằng họ
nắm vững các phương pháp nhân chủng học, cũng như lý
thuyết hệ thống. Nó khó hơn nhiều so với nhân chủng
học đơn địa điểm - khó lập kế hoạch hơn và khó
thực hiện hơn, vì vậy hãy có chiến lược và chuẩn bị
sẵn sàng bước ra khỏi vùng an toàn của mình.” Tôi
không khuyến khích phương pháp này cho bất kỳ ai đang cố
gắng hoàn thành dự án trong thời gian rất ngắn. Tôi
cũng tin rằng nó đòi hỏi một cái nhìn và đào tạo
liên ngành sâu rộng.
Walter
Butler đã sử dụng phương pháp Netnography (Nhân chủng học
trực tuyến) để hỗ trợ nghiên cứu về các cộng đồng
thực hành ảo và cung cấp một khuôn khổ để hướng
dẫn nghiên cứu qua các giai đoạn khác nhau. Phương pháp
này cũng hỗ trợ việc sử dụng thêm các phương pháp bổ
trợ khác (bao gồm phỏng vấn và phân tích nội dung)
trong suốt quá trình nghiên cứu.
“Việc
sử dụng phương pháp nghiên cứu nhân chủng học trực
tuyến (Netnography) mang lại một số lợi thế cụ thể
cho dự án nghiên cứu của tôi: nó hỗ trợ nghiên cứu
trực tuyến và cung cấp một khuôn khổ để hướng dẫn
nghiên cứu qua các giai đoạn khác nhau. Nó cũng hỗ trợ
việc sử dụng các phương pháp khác nhau trong suốt các
giai đoạn. Tuy nhiên, đây là một phương pháp luận mới
hơn, điều này có thể là bất lợi đối với một số
người. Tôi cũng đang áp dụng thiết kế tuần tự hai
giai đoạn. Tôi cảm thấy rằng cách tiếp cận này cho
phép tôi giải quyết các câu hỏi nghiên cứu một cách
chiến lược hơn, và nó cũng cung cấp cho tôi một cấu
trúc nhịp độ cho nghiên cứu (ví dụ: hãy tìm hiểu điều
này trước để tôi có thể bắt đầu suy nghĩ về phần
khác). Tuy nhiên, điều này có thể mất nhiều thời gian
hơn so với các quy trình khác, và nó cũng dẫn đến một
số sự mơ hồ; ví dụ: tôi không thể đưa ra dự đoán
chính xác về số lượng người tham gia cho giai đoạn thứ
hai của dự án nghiên cứu, vì nó phụ thuộc vào kết
quả từ giai đoạn đầu tiên. Điều này có thể gây khó
khăn cho một số người.”
Tài liệu
tham khảo hữu ích về Nhân chủng học: Angrosino
(2007); Falzon (2005); Khan (2018); Marcus (1995); Marcus (1999);
Williams và cộng sự (2014); Wolff (2015).
Nghiên
cứu đánh giá
Nghiên cứu
đánh giá có thể được định nghĩa là một loại nghiên
cứu sử dụng các phương pháp nghiên cứu xã hội tiêu
chuẩn cụ thể cho mục đích đánh giá, có thể để đánh
giá kết quả của một can thiệp. Liệu can thiệp có đạt
được mục tiêu của nó? Có bất kỳ hậu quả ngoài dự
kiến nào không? Một số phương pháp nghiên cứu được
thiết kế để sử dụng làm công cụ đánh giá và sử
dụng các kỹ thuật chuyên dụng cho mục đích này. Chúng
bao gồm đo lường đầu vào; đo lường hiệu suất; đánh
giá tác động; đánh giá chất lượng dịch vụ; đánh
giá quy trình; so sánh chuẩn; tiêu chuẩn; phương pháp định
lượng; phương pháp định tính và các phương pháp được
rút ra từ Tương tác Người-Máy tính (Powell, 2006).
Đánh
giá: Hiểu biết từ GO-GN
Johanna Funk
đã thực hiện đánh giá quá trình phát triển của 4 dự
án nghiên cứu tạo ra các nguồn tài liệu học tập. Tất
cả các nguồn tài liệu học tập này đều được "mở"
và có trên trực tuyến.
“Tôi
nghĩ nó mang tính phản xạ cao đến mức có thể được
hiểu là xoay vòng; vì vậy, một nhược điểm là các chu
kỳ và vòng đánh giá; mỗi lần tôi đều trả lời các
câu hỏi nghiên cứu bằng các bộ lọc tiêu chí; điều
này dẫn đến việc tôi viết RẤT NHIỀU về những gì
các nguồn lực đã làm theo ba bộ tiêu chí; trong ba chu kỳ
đánh giá và thẩm vấn. Từ "soi mói" là từ tôi
sẽ dùng. Tuy nhiên, nó cũng mang lại cảm giác sang trọng;
khi có thể thực sự tập trung vào các quy trình trong các
nguồn lực đến mức chi tiết, để xem xét nó từ nhiều
góc độ và cố gắng đi sâu vào các cơ chế giúp làm
cho các nguồn lực trở nên khác biệt và mang tính hợp
tác hơn. Việc 'tìm kiếm những thứ' này hơi vòng vo và
tôi phải tìm ra những thứ mà chúng ta cũng không hợp
tác; điều đó là về việc tìm kiếm thực hành tốt
nhất; bạn cũng phải so sánh nó với những gì 'không
tốt' trong nguồn lực nhưng cũng phải biết rằng có vấn
đề tương đối về ý nghĩa của từ 'tốt' và đối với
ai.Vì vậy, việc có cái nhìn tổng quan về các bên liên
quan là hữu ích; với tư cách là 'công cụ quản lý kiến
thức', các nguồn lực học tập có tiềm năng thúc đẩy
chương trình nghị sự mà chúng ta có thể không nhận
ra.”
Francisco
Iniesto đã thiết kế một bài kiểm tra khả năng tiếp
cận và sau đó sử dụng nó để đánh giá khả năng tiếp
cận hiện tại của các khóa học trực tuyến mở đại
chúng (MOOC) từ 4 nền tảng chính: FutureLearn, edX, Coursera
và Canvas. Bài đánh giá này bao gồm 4 thành phần: khả
năng tiếp cận kỹ thuật, trải nghiệm người dùng (UX),
chất lượng và thiết kế học tập; 10 chuyên gia đã
tham gia thiết kế và xác nhận bài đánh giá.
“Sự
kết hợp giữa các nghiên cứu định tính thông qua phỏng
vấn với các nhà cung cấp và người học MOOC cùng với
thông tin định lượng được dữ liệu khảo sát MOOC
cung cấp đã mang lại cái nhìn sâu sắc và đa chiều về
nhu cầu tiếp cận của người học MOOC. Việc kiểm tra
khả năng tiếp cận MOOC đã giúp xác định các rào cản
về khả năng tiếp cận và cung cấp một công cụ có thể
được sử dụng và phát triển liên tục để hỗ trợ
thiết kế và đánh giá khả năng tiếp cận của MOOC. Các
cuộc phỏng vấn đã được thực hiện với các nhà cung
cấp và nhà nghiên cứu MOOC. Mục đích là để khám phá
quan điểm của các nhà phát triển nền tảng và khóa học
về tầm quan trọng của khả năng tiếp cận môi trường
MOOC. Dữ liệu từ nghiên cứu này rất hữu ích để hiểu
cách tiếp cận các bước tiếp theo trong nghiên cứu này.
Việc phỏng vấn những người tham gia phát triển MOOC đã
giúp hiểu cách họ phục vụ người học khuyết tật và
các phương pháp họ sử dụng để thiết kế MOOC dễ
tiếp cận. Đánh giá bổ sung bao gồm những người học
khuyết tật đã tham gia học tập thông qua MOOC. Người
học là một nguồn dữ liệu hữu ích để khám phá các
rào cản về khả năng tiếp cận và giải pháp của họ
khi sử dụng công nghệ và các thiết kế học tập mà họ
gặp phải khi tương tác với MOOC. Dữ liệu từ các cuộc
phỏng vấn đã giúp hiểu được động cơ của họ, các
rào cản về khả năng tiếp cận hiện tại mà họ gặp
phải và cách họ phản ứng với chúng, và những đề
xuất của họ về các giải pháp mong muốn. Các phương
pháp định tính có thể giúp khám phá một lĩnh vực
nghiên cứu mới, việc sử dụng khảo sát trong trường
hợp của tôi đã giúp xác định những sinh viên cần
được phỏng vấn để hiểu được quan điểm của họ
về MOOCs.”
Tài liệu
tham khảo hữu ích cho Nghiên cứu Đánh giá: Chang &
Little (2018); Patton (2010); Powell (2006); Rutman (1977)
Nghiên
cứu Thực nghiệm và Bán thực nghiệm
Nghiên cứu
thực nghiệm và bán thực nghiệm là những phương pháp
trong đó một hoặc nhiều biến độc lập được thao tác
và áp dụng lên một hoặc nhiều biến phụ thuộc để
đo lường ảnh hưởng của chúng lên các biến phụ
thuộc. Tác động của các biến độc lập lên các biến
phụ thuộc thường được quan sát và ghi lại theo thời
gian. Nghiên cứu thực nghiệm dựa trên sự so sánh giữa
hai hoặc nhiều nhóm với logic đơn giản, tuy nhiên, việc
thực hiện có thể gặp nhiều thách thức (Ross &
Morrison, 2004).
Tài liệu
tham khảo hữu ích cho Nghiên cứu Thực nghiệm và Bán
thực nghiệm: Kazdin (2016); Ross & Morrison (2004);
Sheremeta (2018)
Lý
thuyết nền tảng (Grounded Theory)
Lý thuyết
nền tảng (ban đầu được phát triển như Phương pháp
So sánh Liên tục) là một cách tiếp cận linh hoạt và có
hệ thống để thu thập dữ liệu và phân tích dữ liệu.
Lý thuyết nền tảng là một phương pháp luận có hệ
thống liên quan đến việc xây dựng các 'khái niệm'
thông qua việc thu thập và phân tích dữ liệu thường
xuyên (Charmaz, 2006). Lý thuyết nền tảng tìm cách giải
thích ý nghĩa mà các chủ thể gán cho các hành động, sự
kiện và đối tượng, điều dẫn đến lý do cho hành vi
của họ.
Đặc điểm
chính của lý thuyết nền tảng là lập luận quy nạp
(Glaser & Strauss, 1967). Lý thuyết nền tảng bắt đầu
bằng việc thu thập dữ liệu định tính. Khi các nhà
nghiên cứu xem xét dữ liệu đã thu thập, các ý tưởng,
khái niệm hoặc yếu tố lặp lại sẽ trở nên rõ ràng
và được gắn thẻ bằng các mã đã được trích xuất
từ dữ liệu. Khi thu thập thêm dữ liệu và xem xét lại,
các mã có thể được nhóm thành các khái niệm, và sau
đó thành các danh mục. Những danh mục này có thể trở
thành cơ sở cho một lý thuyết mới (Glaser, 2002). Lý
thuyết nền tảng đặc biệt hữu ích cho việc tạo ra
các lý thuyết mới do quan điểm phê phán của nó. Nó đòi
hỏi một lượng dữ liệu đáng kể và có thể bị chỉ
trích do tính chủ quan, quan điểm mở và hướng đến quy
trình, dẫn đến mô tả tường thuật nhiều hơn là ước
tính bằng con số (Oliver, 2011).
Lý
thuyết nền tảng: Hiểu biết từ GO-GN
Virginia
Rodés đã sử dụng phương pháp định tính dựa trên Lý
thuyết nền tảng (cùng với Phương pháp tiểu sử
(Biographical Method) và Nhân chủng học kỹ thuật số) với
mười hai đối tượng, là giảng viên của ba trường đại
học công lập ở ba quốc gia Mỹ Latinh (Uruguay, Costa Rica
và Venezuela) để hiểu các khía cạnh áp dụng Tài nguyên
giáo dục mở (OER) và Kho lưu trữ OER (ROER) của các
trường đại học Mỹ Latinh.
“Lý
thuyết nền tảng tìm cách giải thích ý nghĩa mà các chủ
thể gán cho hành động, sự kiện và đối tượng, từ
đó dẫn đến lý do cho các hành động xã hội của họ.
Điều này được thực hiện thông qua các quy trình quy
nạp, quan sát xã hội từ bên trong, tham gia vào việc xây
dựng các phạm trù hiểu biết cả về lẽ thường, với
tư cách là thành viên của xã hội, và các phạm trù hiểu
biết lý thuyết, với tư cách là nhà nghiên cứu. Cái mà
chúng ta đưa vào như một đối tượng nghiên cứu và
quan sát có vấn đề chính là các kiểu phân loại cấp
độ đầu tiên của thế giới xã hội mà chúng ta đang
nghiên cứu. Điều này có nghĩa là các phạm trù mà các
chủ thể sử dụng trong hành động hiện tại của họ
trước tiên trở thành đối tượng nghiên cứu và sau đó,
một quan sát cấp độ thứ hai được thực hiện, phân
loại các phạm trù mà các chủ thể đã thực hiện ở
cấp độ đầu tiên. Phương pháp Lý thuyết nền tảng
đưa nghiên cứu và nhà nghiên cứu hướng tới sự phát
triển của lý thuyết (Charmaz và Mitchell, 2001). Ngược
lại, nhân chủng học dựa trên sự phát triển của một
mô tả đầy đủ về một xã hội hoặc một nhóm người
và do đó, cung cấp các chi tiết về cuộc sống hàng ngày
của họ. Là một phương pháp, nhân chủng học đề cập
đến các cách thức nghiên cứu; Tìm hiểu và thông tin về
thế giới. Theo Charmaz và Mitchell (2001), cả lý thuyết nền
tảng và Nhân chủng học đều có nguồn gốc chung từ xã
hội học của Trường phái Chicago với nền tảng triết
học thực dụng. Kể từ đó, Lý thuyết cơ sở và Nhân
chủng học đã phát triển theo những hướng khác nhau,
tuy nhiên những phương pháp này có thể bổ sung cho nhau.
“Phương
pháp Lý thuyết Nền tảng có thể đẩy nhanh tiến độ
nghiên cứu thực địa và đưa nghiên cứu nhân chủng học
hướng tới diễn giải lý thuyết, đồng thời việc sử
dụng các phương pháp nhân chủng học có thể ngăn chặn
các nghiên cứu dựa trên lý thuyết nền tảng biến thành
nghiên cứu định tính “nhanh chóng và sơ sài”. Phương
pháp tiểu sử thu thập kinh nghiệm của con người khi họ
xử lý và diễn giải nó. Sự tiết lộ các sự kiện và
diễn giải này, dù rõ ràng hay ngầm định, đều được
lọc qua niềm tin, thái độ và giá trị của nhân vật
chính. Thông qua tiểu sử, bạn có thể hiểu được ý
nghĩa và bối cảnh của ý nghĩa của cá nhân, như một
phần của xã hội, hoặc các cấu trúc và chuẩn mực xã
hội. Chủ thể không nói về điều riêng tư như cảm
giác của mình, mà nói về “cái tôi” xã hội của
mình. Cách tiếp cận phương pháp luận của chúng tôi
cũng tích hợp phương pháp nhân chủng học ảo (Hine,
2000), còn được gọi là phương pháp nhân chủng học kỹ
thuật số, sử dụng Internet và công nghệ kỹ thuật số
để thu thập và phân tích dữ liệu nghiên cứu. Nhân
chủng học kỹ thuật số cho phép chúng ta tận dụng tiềm
năng mà công nghệ mang lại để thể hiện kiến thức về
thực tại trong xã hội đương đại một cách sâu sắc
hơn, cả về định nghĩa đối tượng tri thức và thiết
kế phương pháp luận để tiếp cận nó. Chính theo nghĩa
này mà Các kỹ thuật nhân chủng học kỹ thuật số được
tích hợp vào thiết kế nghiên cứu của tôi. Trong khuôn
khổ các kịch bản có tính sẵn có cao của công nghệ,
các phương pháp thu thập dữ liệu điển hình của phương
pháp luận nhân chủng học có thể được mở rộng để
bao gồm hội nghị trực tuyến, trò chuyện, hội nghị
video, diễn đàn, và nhiều phương tiện khác. Từ việc
sử dụng các loại tài nguyên này, có thể thu được các
câu chuyện kỹ thuật số, những câu chuyện được kể
bởi các đối tượng được coi là người phát ngôn hoặc
đại diện xã hội của các nhóm và cộng đồng.”
Hélène
Pulker đã sử dụng phương pháp Lý thuyết Nền tảng Kiến
tạo (Constructivist Grounded Theory) để thu thập và phân
tích dữ liệu nhằm thực hiện một nghiên cứu định
tính quy nạp về tác động của việc tái sử dụng và
điều chỉnh Tài nguyên Giáo dục Mở (OER) đối với giáo
viên ngôn ngữ.
“Bất
kể phương pháp nào được chọn, không có quy tắc hay
công thức tuyệt đối nào để tiến hành phân tích dữ
liệu định tính hoặc bất kỳ cách nào để sao chép
hoàn hảo quá trình tư duy phân tích của nhà nghiên cứu.
Các hướng dẫn và đề xuất hiện có không phải là quy
tắc và do đó, mỗi nhà nghiên cứu định tính sẽ phải
tự tìm ra con đường riêng của mình thông qua dữ liệu.
Kết quả là, mỗi phân tích định tính là duy nhất và
do đó làm cho nghiên cứu của bạn trở nên độc đáo.
Tuy nhiên, nó phụ thuộc vào kỹ năng của nhà nghiên cứu,
người liên tục phải đưa ra phán đoán và thể hiện sự
sáng tạo trong khi áp dụng các hướng dẫn.
“Việc
phân tích phụ thuộc vào trí tuệ phân tích và năng khiếu
của nhà nghiên cứu và yếu tố con người là điểm mạnh
và điểm yếu cơ bản của nghiên cứu định tính. Ưu
điểm lớn là tính linh hoạt. Trong suốt quá trình thu
thập và phân tích dữ liệu, tôi liên tục phân tích và
đặt câu hỏi về dữ liệu thông qua việc mã hóa, mã
hóa lại, so sánh các mã và tìm các tiểu danh mục để
đi đến phân tích cuối cùng. Quá trình này cho phép tôi
tìm kiếm sự xuất hiện của các xu hướng bất ngờ và
tạo ra các mối liên hệ giữa các mã.” Khi quan sát và
phân tích dữ liệu, tôi nhận thấy rõ ràng rằng người
tham gia trải nghiệm việc tái sử dụng Tài nguyên Giáo
dục Mở (OER) theo những cách khác nhau. Tôi đã xác định
được một số điểm tương đồng giữa nhiều người
tham gia và phân loại được ba nhóm người dùng OER khác
nhau, mỗi nhóm có những đặc điểm riêng. Từ đó, tôi
có thể giải thích các danh mục này bằng cách so sánh dữ
liệu từ góc nhìn của từng nhóm người dùng và đưa ra
một phân tích toàn diện hơn về quá trình tái sử dụng
xuất phát từ nghiên cứu của mình. Tính vững chắc của
phân tích dữ liệu nằm ở việc so sánh chéo giữa các
danh mục và nhóm người dùng, như tôi đã giải thích
trong luận văn của mình.
“Tuy
nhiên, nhược điểm lớn là sự phức tạp trong việc tìm
hiểu dữ liệu vì không có mã định sẵn hoặc khung lý
thuyết nào để dựa vào. Các mã được phát triển trong
quá trình phân tích ban đầu phần lớn chỉ mang tính tạm
thời và rất thường xuyên thay đổi. Các nguyên tắc mã
hóa diễn giải không đơn giản như tôi tưởng tượng
ban đầu. Mã hóa ý nghĩa rất mơ hồ và đã đặt ra
nhiều thách thức. Quá trình hình thành dần các mã và
danh mục trong phân tích của tôi là một quá trình thử
nghiệm, trong đó tôi nhận thấy rằng việc ghép các
‘mảnh’ khác nhau lại với nhau sẽ tạo ra những ý
nghĩa khác nhau. Do đó, kinh nghiệm của tôi thường là
việc cứ đi vòng quanh dữ liệu. Một yếu tố góp phần
gây khó khăn trong việc quyết định nhãn cho một mã là
sự thiếu vắng một khung tổng thể để xem xét dữ
liệu. Nói cách khác, tôi không có cái nhìn tổng quát về
những khái niệm nào có thể được đưa vào sơ đồ.
Tôi khuyên các sinh viên muốn thực hiện lý thuyết nền
tảng nên suy nghĩ về sự khác biệt giữa phân tích quy
nạp và phân tích diễn dịch và phải chắc chắn rằng
họ không muốn dựa vào khung lý thuyết ngay từ đầu,
bởi vì phân tích lý thuyết nền tảng mất rất nhiều
thời gian, và khi nhà nghiên cứu có những hướng đi khả
thi để bắt đầu, việc xử lý tập dữ liệu sẽ dễ
dàng hơn. Tôi cũng khuyến nghị sử dụng phần mềm phân
tích dữ liệu, mặc dù các nhà lý thuyết nền tảng theo
trường phái Kiến tạo khuyên không nên làm vậy vì lý
do nhận thức luận.”
Tài
liệu tham khảo hữu ích về Lý thuyết nền tảng:
Charmaz (2006); Corbin & Strauss (2015); Glaser & Strauss
(1967); Glaser (2002); James (2013); Oliver (2011)
Phỏng
vấn & Nhóm trọng tâm
Phỏng vấn
là một phương pháp nghiên cứu định tính và thường có
hình thức là một cuộc trò chuyện, trong đó các câu hỏi
được đặt ra để thu thập thông tin. Người phỏng vấn
đặt câu hỏi cho người được phỏng vấn, theo một
chuỗi xen kẽ các câu hỏi và câu trả lời thường ngắn
gọn. Các câu hỏi có thể được cấu trúc chặt chẽ,
mở hoặc nằm ở giữa hai thái cực này.
Trong các
nghiên cứu hiện tượng học, nhân chủng học hoặc hiện
tượng luận, phỏng vấn được sử dụng để khám phá
ý nghĩa của các chủ đề trung tâm trong thế giới cuộc
sống của đối tượng từ quan điểm của chính họ
(Ayres, 2008). Một trường hợp cụ thể là các nhóm trọng
tâm, là những nhóm người được lựa chọn đặc biệt,
phản ứng của họ được nghiên cứu trong các cuộc thảo
luận có hướng dẫn hoặc mở để xác định các phản
hồi có thể được mong đợi từ một quần thể lớn
hơn (David, 1996).
Việc sử
dụng các nhóm trọng tâm nhằm mục đích thu thập dữ
liệu thông qua các cuộc thảo luận tương tác và do nhà
nghiên cứu định hướng. Đó là một hình thức nghiên
cứu định tính bao gồm một cuộc trò chuyện nhóm, trong
đó các gợi ý được đưa ra để thu thập dữ liệu
chia sẻ về nhận thức, ý kiến, niềm tin và thái độ
của họ. Các nhà nghiên cứu nên lựa chọn các thành
viên của nhóm trọng tâm một cách cẩn thận để có
được những phản hồi thuyết phục và có tính xác thực
(Bloor, 2001). Các câu hỏi được đặt ra trong một nhóm
tương tác, nơi người tham gia được tự do trò chuyện
với các thành viên khác trong nhóm. Trong quá trình này,
nhà nghiên cứu ghi chép hoặc ghi lại những điểm quan
trọng mà họ thu thập được từ nhóm.
Ưu điểm
của phỏng vấn bao gồm tính linh hoạt cho người phỏng
vấn; và khả năng thu thập dữ liệu về hành vi phi ngôn
ngữ và tính tự phát của người trả lời. Ưu điểm
của nhóm trọng tâm bao gồm sự đa dạng về tiếng nói
và ý kiến được đưa vào những phản hồi có tính
chuyên môn. Ngược lại, cũng như các phương pháp định
tính khác, có thể có vấn đề về khả năng tái lập.
Việc tiến hành các nghiên cứu phỏng vấn có thể tốn
thời gian và có thể làm giảm tính ẩn danh của người
tham gia. Cần phải cẩn thận để tránh sự thiên vị của
nhà nghiên cứu (Bailey, 1994). Việc kiểm tra thành viên
(đôi khi được gọi là xác thực người tham gia hoặc
người trả lời) là một kỹ thuật có thể cải thiện
độ tin cậy của kết quả - xem Birt et al. (2016).
Phỏng
vấn & Nhóm trọng tâm: Hiểu biết từ GO-GN
Penny
Bentley đã sử dụng các cuộc phỏng vấn bán cấu trúc
với 20 giáo viên tiểu học và trung học người Úc dạy
các môn STEM để tìm hiểu và mô tả trải nghiệm học
tập chuyên môn thông qua giáo dục mở (PLOE). Sau khi loại
bỏ các bản ghi được sử dụng cho giai đoạn thử
nghiệm và tinh chỉnh câu hỏi phỏng vấn, việc phân tích
dữ liệu và các phát hiện tiếp theo dựa trên các cuộc
phỏng vấn với 16 giáo viên.
“Tôi
chọn khám phá và mô tả những cách thức khác nhau mà
các giáo viên môn STEM ở Úc trải nghiệm việc học tập
chuyên môn thông qua giáo dục mở (PLOE), chứ không tập
trung vào bản thân PLOE. Khi làm vậy, tôi xem trải nghiệm
như một mối quan hệ giữa giáo viên và PLOE (bản thể
học phi nhị nguyên) và giả định mối quan hệ này là
nguồn gốc của kiến thức mới (quan điểm nhận thức
luận). Tôi muốn khám phá, hiểu và mô tả những cách
thức khác nhau mà giáo viên trải nghiệm PLOE, từ góc
nhìn của họ. Đây là một hoạt động diễn giải, đặt
nghiên cứu của tôi trong khuôn khổ diễn giải. Ngoài ra,
việc mô tả quan điểm của giáo viên về ý nghĩa của
PLOE đối với họ là một nghiên cứu định tính. Tuy
nhiên, có nhiều phương pháp luận khác nhau trong khuôn khổ
diễn giải, chẳng hạn như nhân chủng học, lý thuyết
nền tảng, hiện tượng học và hiện tượng luận.
“Để
biện minh cho lựa chọn nghiên cứu này, tôi cần xem xét
sự khác biệt giữa các phương pháp luận này. Tôi không
nghiên cứu văn hóa của một nhóm giáo viên sử dụng
mạng Internet mở để tìm hiểu về giáo dục STEM (nhân
chủng học), mặc dù văn hóa có thể là một khía cạnh
của cách thức trải nghiệm hiện tượng PLOE.” Tôi cũng
không xây dựng một lý thuyết để giải thích nguyên
nhân của các quá trình và tương tác xã hội khi giáo
viên tham gia vào PLOE (lý thuyết nền tảng), mặc dù tôi
quan tâm đến việc hiểu và mô tả những cách khác nhau
mà các quá trình và tương tác này được trải nghiệm.
Mặc dù kinh nghiệm của con người là trọng tâm của
hiện tượng học và hiện tượng luận, nhưng chính sự
tập trung vào sự đa dạng của kinh nghiệm trong nghiên
cứu hiện tượng học, chứ không phải sự tập trung vào
bản chất của kinh nghiệm do các nhà hiện tượng học
thực hiện, đã tạo nên sự khác biệt trong phương pháp
luận và các phương pháp mà tôi lựa chọn.”
Marjon
Baas đã tiến hành phỏng vấn trong cả nghiên cứu đầu
tiên và nghiên cứu thứ tư của mình. Trong nghiên cứu
đầu tiên, các cuộc phỏng vấn được sử dụng để
khám phá các thực tiễn hiện tại của giáo viên với
OER và nhu cầu hỗ trợ của họ. Các câu hỏi trong hướng
dẫn phỏng vấn dựa trên các tầng khác nhau của Kim tự
tháp Áp dụng OER. Baas đã sử dụng thêm các cuộc phỏng
vấn để hiểu rõ hơn về giá trị mà giáo viên cảm
nhận được về Cộng đồng Thực hành OER (OER Community
of Practice).
“Chúng
tôi đã áp dụng phương pháp hỗn hợp, trong đó một
bảng câu hỏi được gửi đi để khảo sát hiện trạng
trong bối cảnh nghiên cứu của tôi. Sau đó, các cuộc
phỏng vấn được tiến hành để tìm hiểu về các thực
tiễn hiện tại của giáo viên đối với Tài nguyên Giáo
dục Mở (OER) và nhu cầu hỗ trợ của họ. Các công cụ
được thiết kế dựa trên các tầng khác nhau của Kim tự
tháp Áp dụng OER (Cox & Trotter, 2017). Chúng tôi đã sử
dụng thêm các cuộc phỏng vấn để hiểu rõ hơn về
thực tiễn của giáo viên vì nghiên cứu trước đây cho
thấy vẫn còn nhiều sự mơ hồ xung quanh thuật ngữ OER
và cái gọi là ‘tái sử dụng ẩn’ có thể phổ biến,
điều này không thể chỉ đo lường bằng các phép đo
định lượng.
“Nghiên
cứu thứ hai là một nghiên cứu định tính nhằm nâng
cao hiểu biết của chúng tôi về cách giáo viên đánh giá
OER và cách họ chuyển từ đánh giá ban đầu sang áp
dụng. Trong nghiên cứu định tính này, giáo viên được
yêu cầu cùng nhau đánh giá OER trong môn học của họ.
Mục tiêu của nghiên cứu là xác định các yếu tố mà
giáo viên xem xét khi đánh giá chất lượng OER chứ không
phải khái quát hóa những gì định nghĩa một OER chất
lượng. Chúng tôi cũng đã tìm hiểu bằng cách yêu cầu
giáo viên tạo ra một bản đồ liên kết trước và sau
ba tháng mà giáo viên có thể khám phá OER, xem nhận thức
của họ có thay đổi trong thời gian đó hay không.”
Chúng tôi lựa chọn thiết kế định tính này vì nó cung
cấp những hiểu biết sâu sắc về các yếu tố mà giáo
viên cân nhắc khi đánh giá Tài nguyên Giáo dục Mở
(OER), thay vì phương pháp đo lường định lượng trong đó
giáo viên được yêu cầu tự phản ánh về cách họ đánh
giá OER.
“Nghiên
cứu tiếp theo tập trung vào cộng đồng liên trường về
OER, ở đó chúng tôi sẽ sử dụng thiết kế phương pháp
hỗn hợp. Dữ liệu định tính sẽ được thu thập thông
qua các cuộc phỏng vấn với giáo viên dựa trên năm giai
đoạn của quá trình tái sử dụng OER do Clements và
Pawlowski (2012) định nghĩa. Dữ liệu này sẽ được sử
dụng để phân tích cách giáo viên sử dụng cộng đồng
liên trường.”
Viviane
Vladimirschi đã sử dụng các nhóm trọng tâm để đánh
giá hiệu quả tổng thể của can thiệp trong nghiên cứu
của mình. Các cuộc trò chuyện nhóm trọng tâm này bao
gồm các câu hỏi bán cấu trúc, mở.
“Nhóm
trọng tâm rất tuyệt vời để thu thập những hiểu biết
mới và đánh giá các biện pháp can thiệp. Theo tôi, thách
thức lớn nhất là biết đặt những câu hỏi nào để
thu được dữ liệu hữu ích. Tôi đã sử dụng Khung đánh
giá đa cấp của Guskey (2002) để hướng dẫn các câu hỏi
phỏng vấn bán cấu trúc, mở. Theo tôi, mô hình của
Guskey hiệu quả và đơn giản cho các biện pháp can thiệp
giáo dục.
“Mặc
dù việc sử dụng các phương pháp hỗn hợp có thể rất
tốt để thu thập và so sánh các nguồn dữ liệu khác
nhau, nâng cao chất lượng dữ liệu và thúc đẩy sự hội
tụ và xác nhận các phát hiện, nhưng nhà nghiên cứu
phải cảm thấy thoải mái và am hiểu cả việc thu thập
và phân tích dữ liệu định lượng và định tính. Tôi
cũng không khuyến nghị các phương pháp dữ liệu định
lượng cho các quần thể mẫu nhỏ.”
Tài
liệu tham khảo hữu ích cho Phỏng vấn & Nhóm trọng
tâm: Ayres (2008); Bailey (1994); Bloor (2001); Morgan (1996)
Rà
soát tài liệu, Tổng quan hệ thống và Phân tích tổng
hợp
Rà soát
tài liệu có thể là một cách tốt để thu hẹp phạm vi
lý thuyết; tinh chỉnh câu hỏi nghiên cứu; hiểu các cuộc
tranh luận đương đại; và định hướng một dự án
nghiên cứu cụ thể. Luận án tiến sĩ thường có một
phần rà soát tài liệu về một chủ đề cụ thể. Thông
thường, toàn bộ một chương sẽ được dành để báo
cáo kết quả của nhiệm vụ này, xác định những khoảng
trống trong tài liệu và định hình việc thu thập dữ
liệu bổ sung.
Rà soát có
hệ thống là một loại rà soát tài liệu sử dụng các
phương pháp có hệ thống để thu thập dữ liệu thứ
cấp, đánh giá phê bình các nghiên cứu và tổng hợp các
phát hiện. Việc rà soát có hệ thống được thiết kế
để cung cấp một bản tóm tắt toàn diện, đầy đủ về
các lý thuyết và/hoặc bằng chứng hiện tại và các
nghiên cứu đã được công bố (Siddaway, Wood & Hedges,
2019) và có thể là định tính hoặc định lượng. Các
nghiên cứu và tài liệu liên quan được xác định thông
qua một câu hỏi nghiên cứu, được tóm tắt và tổng
hợp thành một tập hợp các phát hiện riêng biệt hoặc
mô tả về hiện trạng của lĩnh vực nghiên cứu. Điều
này có thể dẫn đến một chương "rà soát tài liệu"
trong luận án tiến sĩ, nhưng cũng có thể là cơ sở của
toàn bộ một dự án nghiên cứu.
Phân tích
tổng hợp (meta-analysis) là một loại đánh giá hệ thống
chuyên biệt, mang tính định lượng và chặt chẽ, thường
so sánh dữ liệu và kết quả giữa nhiều nghiên cứu
tương tự. Đây là một phương pháp phổ biến trong
nghiên cứu y học, nơi nhiều bài báo có thể báo cáo kết
quả thử nghiệm của một phương pháp điều trị cụ
thể, chẳng hạn. Sau đó, phân tích tổng hợp sử dụng
các kỹ thuật thống kê để tổng hợp những kết quả
này thành một bản tóm tắt duy nhất. Phương pháp này có
thể có độ mạnh thống kê cao, nhưng cần phải cẩn
thận để tránh gây ra định kiến trong việc lựa chọn
và sàng lọc bằng chứng.
Bất kể
loại rà soát nào được sử dụng, quy trình đều tương
tự nhau theo trình tự tuyến tính. Bước đầu tiên là
đặt ra một câu hỏi có thể định hướng cho việc rà
soát. Câu hỏi này được sử dụng để xác định các
tài liệu liên quan, thường thông qua việc tìm kiếm trong
các cơ sở dữ liệu khoa học chuyên ngành. Từ những kết
quả này, những tài liệu liên quan nhất sẽ được xác
định. Việc lọc thông tin rất quan trọng ở đây vì sẽ
có những hạn chế về thời gian khiến nhà nghiên cứu
không thể xem xét mọi bằng chứng hoặc quan điểm lý
thuyết có thể có. Sau khi xác định được cơ sở bằng
chứng cụ thể, nhà nghiên cứu sẽ trích xuất dữ liệu
liên quan trước khi báo cáo các kết quả tổng hợp trong
một bài viết dài hơn.
Rà
soát tài liệu: Hiểu biết từ GO-GN
Sarah
Lambert đã sử dụng phương pháp rà soát tài liệu có hệ
thống với cả giai đoạn định tính và định lượng để
nghiên cứu câu hỏi “Làm thế nào các chương trình giáo
dục mở có thể được tái khái niệm hóa như những
hành động công bằng xã hội để cải thiện khả năng
tiếp cận, sự tham gia và thành công của những người
thường bị loại trừ khỏi kiến thức và kỹ năng giáo
dục đại học?”
“Nghiên
cứu tiến sĩ của tôi đã sử dụng các kỹ thuật rà
soát có hệ thống, tổng hợp định tính, nghiên cứu
trường hợp và phân tích diễn ngôn, mỗi kỹ thuật đều
được củng cố và làm cho mạch lạc bởi một phương
pháp luận điều tra phê phán nhất quán và một câu hỏi
nghiên cứu bao quát.”
“Việc
rà soát tài liệu có hệ thống ngày càng trở nên phổ
biến như một cách để thu thập bằng chứng về những
gì hiệu quả trong nhiều bối cảnh khác nhau và có thể
nói là giải quyết được một số điểm yếu của thiết
kế nghiên cứu trường hợp, vốn cung cấp chi tiết về
một bối cảnh cụ thể - nhưng thường không thể tái
lập trong các bối cảnh văn hóa xã hội khác (chẳng hạn
như các quốc gia hoặc tiểu bang khác). Việc công bố các
bản rà soát có hệ thống được thực hiện theo các
phương pháp được xác định rõ ràng rất có khả năng
được đăng trên các tạp chí xếp hạng cao - các giáo
sư hướng dẫn luận án tiến sĩ của tôi rất quan tâm
đến điều này ngay từ đầu và tôi đã được khuyến
khích theo đuổi con đường này.
Trước
đây, tôi đã tìm hiểu về các tác giả theo chủ nghĩa
hiện thực xã hội và cách tiếp cận hiện thực xã hội
đối với việc rà soát có hệ thống (Pawson về rà soát
hiện thực) nhưng họ chưa đủ bao quát các mối quan hệ
xã hội, các vấn đề về quyền lực, sự bao gồm/loại
trừ. Các giáo sư hướng dẫn của tôi đã thúc đẩy tôi
giải thích loại rà soát hiện thực nào tôi dự định
thực hiện, và tôi phát hiện ra có một nhánh của chủ
nghĩa hiện thực phê phán mà tôi đã quan tâm trong một
thời gian ngắn.” Bằng cách nghiên cứu sâu về lý
thuyết và thử nghiệm các cách kết hợp lý thuyết, tôi
cảm thấy mình đã phát triển sự hiểu biết sâu sắc
hơn về cách thức hoạt động của khái niệm và các
cách khác nhau mà lý thuyết có thể được sử dụng ở
tất cả các giai đoạn nghiên cứu, thậm chí cả cách
tạo ra các khung khái niệm mới.”
Tài
liệu tham khảo hữu ích cho Rà soát có hệ thống &
Phân tích tổng hợp: Finfgeld-Connett (2014); Lambert
(2020); Siddaway, Wood & Hedges (2019)
Phương
pháp hỗn hợp (Mixed Methods)
Phương
pháp hỗn hợp là một cách tiếp cận nghiên cứu trong đó
các nhà nghiên cứu thu thập và phân tích cả dữ liệu
định lượng và định tính trong cùng một nghiên cứu
(Shorten & Smith, 2017). Nghiên cứu phương pháp hỗn hợp
tận dụng những thế mạnh tiềm tàng của cả phương
pháp định tính và định lượng. Cách tiếp cận này cho
phép các nhà nghiên cứu khám phá nhiều quan điểm khác
nhau và phát hiện ra các mối quan hệ tồn tại giữa các
câu hỏi nghiên cứu (Creswell, 2009).

Trong cách
tiếp cận phương pháp hỗn hợp, các nhà nghiên cứu có
thể sử dụng nghiên cứu thăm dò để khám phá các lĩnh
vực nghiên cứu mới và liên ngành (Dominguez &
Hollstein, 2014). Thiết kế phương pháp hỗn hợp cho phép
một quan điểm thực dụng trong nghiên cứu (Morgan, 2014)
có thể được áp dụng cho nghiên cứu hành động liên
quan đến người tham gia trong quá trình nghiên cứu
(Ivankova, 2015). Cách tiếp cận phương pháp hỗn hợp hỗ
trợ việc kết hợp các kỹ thuật khác nhau để làm sâu
sắc thêm nghiên cứu về một số khía cạnh đồng thời
cho phép tam giác hóa dữ liệu. Sử dụng phương pháp hỗn
hợp cho phép nghiên cứu một hiện tượng nhất định
theo một góc nhìn rộng hơn và sâu sắc hơn, để thu được
dữ liệu phong phú và đa dạng hơn, có thể được rút
ra từ nhiều cách tiếp cận hoặc mô hình khác nhau. (Xem
thêm phần thảo luận ở trang 15 của sổ tay này.)
Phương
pháp hỗn hợp: Hiểu biết từ GO-GN
Aras Bozkurt
đã sử dụng phương pháp hỗn hợp và thiết kế tuần
tự giải thích với sự kết hợp các phương pháp thu
thập và phân tích, bao gồm phân tích mạng xã hội, phỏng
vấn, quan sát và phân tích tài liệu để xác định các
mô hình tương tác và vai trò của người dạy-người học
trong các MOOC theo lý thuyết kết nối.
“Mục
đích luận án tiến sĩ của tôi là xác định các mô
hình tương tác và vai trò của người dạy-người học
trong các khóa học trực tuyến mở đại chúng (MOOC) theo
lý thuyết kết nối. Để đạt được mục đích này,
phương pháp hỗn hợp và thiết kế tuần tự giải thích
đã được sử dụng. Để thu thập và phân tích dữ
liệu, phân tích mạng xã hội, phỏng vấn, quan sát và
phân tích tài liệu đã được sử dụng. Kết quả nghiên
cứu được diễn giải theo quan điểm của lý thuyết kết
nối, học tập theo mô hình rễ cây và lý thuyết mạng
xã hội.”
Jenni Hayman
đã áp dụng nghiên cứu hành động phương pháp hỗn hợp
để xác định tính hữu ích của một chiến lược nâng
cao nhận thức và hỗ trợ được thiết kế để tăng
cường việc sử dụng Tài nguyên Giáo dục Mở (OER) trong
số các nhà giáo dục sau trung học ở Ontario.
“Phương
pháp nghiên cứu của tôi là nghiên cứu hành động phương
pháp kết hợp - MMAR (Mixed Method Action Research) và đây là
yêu cầu bắt buộc do trường tôi đặt ra. Chương trình
của tôi là Tiến sĩ Giáo dục (Ed.D) tại Đại học Bang
Arizona và được coi là một chương trình chuyên nghiệp
hơn là chương trình Tiến sĩ (PhD). Sinh viên trong chương
trình được kỳ vọng sẽ có một công việc chuyên môn
toàn thời gian, có liên quan, bên cạnh việc học ở cấp
độ tiến sĩ. Thời gian từ khi bắt đầu chương trình
đến khi kết thúc, bao gồm cả bảo vệ luận án, là ba
năm. Tôi có một số lựa chọn về thứ tự của các
phương pháp kết hợp và đã chọn con đường thu thập
và phân tích dữ liệu từ định tính đến định lượng,
điều này mang lại cho tôi cơ hội tìm hiểu thêm về nhu
cầu của nhà giáo dục và chất lượng của các công cụ
và phương pháp của tôi từ các đồng nghiệp và chuyên
gia trước khi bắt đầu hành động nghiên cứu, các buổi
tập huấn phát triển chuyên môn cho các nhà giáo dục sau
trung học ở Ontario, và thu thập dữ liệu định lượng
và định tính. Tôi đã tham gia vào ba chu kỳ nghiên cứu
(một thực tiễn phổ biến trong nghiên cứu hành động),
mỗi chu kỳ dẫn đến các thực hành được tinh chỉnh
hơn và sự tham gia lớn hơn. Dựa trên một số khuyến
nghị phân tích định tính tuyệt vời và sáng tạo trong
Saldaña (2016), tôi đã sử dụng mã hóa cấu trúc để
phân tích dữ liệu tham gia trực tiếp.”
“Mặc
dù khuynh hướng cá nhân của tôi là phương pháp định
tính, nhưng với tư cách là người mới bắt đầu, tôi
thấy yêu cầu về phương pháp hỗn hợp trong nghiên cứu
của mình vô cùng hữu ích. Tôi được yêu cầu học và
thực hành các kỹ năng của cả hai phương pháp, cũng như
học cách các loại dữ liệu khác nhau tương tác và kết
hợp để làm nổi bật những hiểu biết sâu sắc. Khi dữ
liệu định tính và định lượng đồng thuận, điều
này tạo cho tôi sự tự tin rằng mình đang đi đúng
hướng. Khi những dữ liệu này không đồng thuận, tôi
quay lại với tài liệu tham khảo và mô tả phương pháp
để phát triển các giải thích và tinh chỉnh thêm bối
cảnh của mình cũng như bối cảnh của những người
tham gia.”
Virginia
Power đang nghiên cứu các yếu tố xã hội, văn hóa và kỹ
thuật làm trung gian cho mối quan hệ giữa khả năng sử
dụng mạng xã hội và việc sử dụng kho lưu trữ tài
nguyên giáo dục mở (ROER) bằng cách sử dụng “các
phương pháp thăm dò văn hóa” để thu thập dữ liệu từ
45 người tham gia.
Tôi
muốn tìm một phương pháp cung cấp bằng chứng về tâm
lý liên quan đến việc sử dụng các khả năng sử dụng
mạng xã hội (lượt thích, xếp hạng, đánh giá) và cảm
thấy rằng một phương pháp chủ yếu là định tính sẽ
hữu ích. Tôi đã muốn thực hiện một số thiết kế hệ
thống kỹ thuật xã hội nhưng điều này có thể sẽ
được thực hiện sau khi luận văn hoàn thành để kiểm
tra các phát hiện.
“Phương
pháp nghiên cứu chủ yếu là định tính đã được sử
dụng, với việc lựa chọn phương pháp thăm dò văn hóa
để thu thập dữ liệu. Thăm dò văn hóa (Gaver và cộng
sự, 1999) sử dụng các công cụ và nhiệm vụ cho phép
người tham gia suy ngẫm về môi trường làm việc của họ
(cả vật lý và ảo), tạo điều kiện cho việc hiểu sâu
hơn về động lực và cách sử dụng môi trường với sự
can thiệp hạn chế từ phía nhà nghiên cứu. Do đó, hai
yếu tố được chọn là có khả năng phù hợp để thu
thập dữ liệu – một tạp chí nghiên cứu để tự phản
ánh và ghi hình màn hình, điều có thể cho phép ghi lại
cả âm thanh và video từ mỗi người tham gia.”
“Nếu
được thiết kế đúng cách, thăm dò văn hóa thường
mang lại cho người dùng cơ hội ghi lại suy nghĩ và cảm
xúc của họ trong bối cảnh cụ thể của riêng họ.
Chúng cũng cung cấp cho người dùng sự độc lập và sự
can thiệp tối thiểu từ phía nhà nghiên cứu. Thường
thì thăm dò văn hóa có thể được sử dụng để đối
chiếu với các dữ liệu độc lập khác, chẳng hạn như
các nhóm trọng tâm hoặc nghiên cứu khả năng sử dụng
nhằm mục đích cải thiện độ tin cậy. Người dùng cần
được thông báo rõ ràng về mục đích của nghiên cứu
và chính xác những gì họ cần làm, và không nên đánh
giá thấp thời gian cần thiết để ghi lại dữ liệu.”
Paula
Cardoso đã đưa các cuộc phỏng vấn và khảo sát vào
nghiên cứu của mình nhằm hiểu rõ nhận thức và thực
tiễn của giảng viên tại các cơ sở giáo dục đại học
công lập ở Bồ Đào Nha đối với Tài nguyên Giáo dục
Mở (OER).
“Chúng
tôi hiểu rằng việc kết hợp các kỹ thuật định tính
và định lượng là có lợi, vì nó có thể làm sáng tỏ
hoặc đào sâu nghiên cứu một số khía cạnh của cùng
một thực tế. Trong nghiên cứu này, tiếp cận phương
pháp hỗn hợp, với tính chất tuần tự, rất hữu ích
theo hai khía cạnh: một mặt, nó cho phép chúng tôi kết
hợp các kỹ thuật khác nhau để đào sâu nghiên cứu một
số khía cạnh trong phân tích, và mặt khác, nó cũng mang
lại lợi thế về mặt tam giác hóa dữ liệu. Cuối cùng,
việc sử dụng các phương pháp hỗn hợp cho phép nghiên
cứu một hiện tượng nhất định theo một góc nhìn rộng
hơn và sâu sắc hơn, để thu được dữ liệu phong phú
và đa dạng hơn, có thể được khám phá tốt hơn, mang
lại sức mạnh và tính chặt chẽ cao hơn cho nghiên cứu.”
Tài liệu
tham khảo hữu ích về Phương pháp Hỗn hợp: Creswell
(2009); Dominguez & Hollstein (2014); Edwards (2010); Ivankova
(2015); Morgan (2014); Shorten & Smith (2017); Tashakkori &
Teddlie (2010)
Nghiên
cứu tường thuật (Narrative Research)
Nghiên cứu
tường thuật nhằm mục đích khám phá và khái niệm hóa
kinh nghiệm của con người như được thể hiện dưới
dạng văn bản. Nhằm mục đích khám phá sâu sắc ý nghĩa
mà mọi người gán cho kinh nghiệm của họ, các nhà
nghiên cứu tường thuật làm việc với lượng mẫu nhỏ
người tham gia để thu được diễn ngôn phong phú và tự
do.
Tài liệu
tham khảo hữu ích cho Nghiên cứu tường thuật:
Salkind (2002); Clandinin & Connelly (2004)
Quan sát
(Tự nhiên & Tương tự) (Observation (Naturalistic &
Analogue))
Nghiên cứu
quan sát là một công cụ thu thập dữ liệu nghiên cứu
xã hội liên quan đến việc quan sát trực tiếp các hiện
tượng trong bối cảnh tự nhiên của chúng. Quan sát tự
nhiên không có sự can thiệp của nhà nghiên cứu. Nó chỉ
đơn giản là nghiên cứu các hành vi xảy ra một cách tự
nhiên trong bối cảnh tự nhiên, khác với môi trường
nhân tạo của phòng thí nghiệm được kiểm soát. Nó cho
phép quan sát và ghi lại hành vi chân thực. Trong quan sát
tham gia, nhà nghiên cứu cũng can thiệp vào (và ảnh hưởng
đến) môi trường.
Tài liệu
tham khảo hữu ích về Quan sát: Angrosino (2007); Levine
et al. (1980); McLean & Connor (2018)
Hiện
tượng học (Phenomenography)
Hiện tượng
học là một phương pháp nghiên cứu định tính điều
tra những cách thức khác nhau về mặt định tính mà mọi
người trải nghiệm hoặc suy nghĩ về một điều gì đó
(Bowden et al., 1997; Ashworth & Lucas, 1998). Hiện tượng
học nhằm mục đích nghiên cứu sự khác biệt về cách
mọi người hiểu các hiện tượng trong thế giới. Nói
một cách đơn giản hơn, hiện tượng học khám phá sự
khác biệt trong cách mọi người hình dung về kinh nghiệm
học tập (Akerlind, 2005). Những người thiết kế và cung
cấp các chương trình bồi dưỡng chuyên môn có thể sử
dụng nghiên cứu thực nghiệm thay vì bằng chứng giai
thoại để định hướng việc phát triển và cung cấp
các trải nghiệm bồi dưỡng chuyên môn có ý nghĩa.
Hiện
tượng học: Hiểu biết từ GO-GN
Penny
Bentley đã sử dụng hiện tượng học để khám phá trải
nghiệm học tập chuyên môn thông qua giáo dục mở - PLOE
(Professional Learning through Open Education) từ góc nhìn của
giáo viên với tư cách là người học trưởng thành.
Nghiên cứu được thực hiện nhằm mục đích cung cấp
thông tin cho việc thiết kế và triển khai các chương
trình học tập chuyên môn có ý nghĩa cho các giáo viên
khác đang tìm hiểu về giáo dục STEM trên mạng Internet
mở.
“
Hiện tượng học không phải là một phương pháp luận
được sử dụng rộng rãi. Có sự khác biệt trong tài
liệu về hện tượng học xung quanh các khía cạnh lý
thuyết, phương pháp luận và phương pháp. Điều này
khiến tôi, với tư cách là một nhà nghiên cứu độc
lập, mới vào nghề, gặp khó khăn trong việc hiểu và
thảo luận với các thầy hướng dẫn của mình, những
người không phải là chuyên gia trong lĩnh vực này. Việc
phân tích dữ liệu hiện tượng học trên một lượng dữ
liệu khổng lồ rất tốn thời gian.
“Tôi
muốn khám phá, hiểu và mô tả những cách khác nhau mà
giáo viên trải nghiệm PLOE, từ góc nhìn của họ. Đây
là một hoạt động diễn giải, đặt nghiên cứu của
tôi trong khuôn khổ diễn giải. Ngoài ra, việc mô tả
quan điểm của giáo viên, về ý nghĩa của PLOE đối với
họ, là một nghiên cứu mang tính chất định tính. Tuy
nhiên, có một loạt các phương pháp luận trong khuôn khổ
diễn giải, chẳng hạn như nhân chủng học, lý thuyết
nền tảng, phương pháp nghiên cứu hiện tượng học/hiện
tượng luận và hiện tượng học.”
Để biện
minh cho sự lựa chọn phương pháp nghiên cứu này, tôi
cần xem xét sự khác biệt giữa các phương pháp luận
này. Tôi không nghiên cứu văn hóa của một nhóm giáo
viên sử dụng mạng Internet mở để tìm hiểu về giáo
dục STEM (nhân chủng học), mặc dù văn hóa có thể là
một khía cạnh của cách hiện tượng PLOE được trải
nghiệm. Tôi cũng không xây dựng một lý thuyết để giải
thích nguyên nhân của các quá trình và tương tác xã hội
khi giáo viên tham gia vào PLOE (lý thuyết nền tảng), mặc
dù tôi quan tâm đến việc hiểu và mô tả các cách khác
nhau mà các quá trình và tương tác này được trải
nghiệm. Mặc dù kinh nghiệm của con người là trọng tâm
của hiện tượng luận và hiện tượng học, nhưng chính
sự tập trung vào sự đa dạng của kinh nghiệm trong hiện
tượng học, chứ không phải sự tập trung vào bản chất
của kinh nghiệm do các nhà hiện tượng học thực hiện,
đã tạo ra sự khác biệt trong phương pháp luận và các
phương pháp tôi đã chọn.
“Hiện
tượng học cho phép tôi mô tả sự khác biệt trong trải
nghiệm thực tế về học tập chuyên môn thông qua giáo
dục mở (PLOE) từ góc nhìn của các giáo viên đang trải
nghiệm hiện tượng này. Điều này rất quan trọng vì
phần lớn tài liệu về học tập chuyên môn không bao gồm
các quan điểm khác nhau của giáo viên, mà tập trung vào
các khía cạnh học tập chuyên môn mà người khác cho là
quan trọng. Chính sự tập trung vào sự khác biệt về
trải nghiệm, đặc biệt là ý nghĩa của trải nghiệm,
mà tôi thấy có ứng dụng thực tiễn đối với việc
học tập chuyên môn của các giáo viên Úc dạy các môn
STEM.
“Nếu
bạn mới bắt đầu nghiên cứu và làm việc một mình,
tôi khuyên bạn không nên tiến hành nghiên cứu hiện
tượng học trừ khi bạn có những người quen thuộc với
phương pháp này hỗ trợ. Hãy dành cho mình nhiều thời
gian và giới hạn số lượng người tham gia theo khuyến
nghị trong tài liệu. Nếu bạn không biết bất kỳ nhà
nghiên cứu hiện tượng học nào trong cơ sở của mình,
hãy tìm kiếm các mạng lưới thực hành trên mạng xã
hội. Hãy đọc các tài liệu kinh điển về hiện tượng
học, rồi đọc lại một lần nữa.”
Một bộ
sưu tập dữ liệu hiện tượng học đã được
Chrissi Nerantzi thực hiện bằng cách sử dụng phương pháp
nghiên cứu trường hợp tập thể để hiểu rõ hơn về
trải nghiệm học tập mở hợp tác tập thể trong hai bối
cảnh phát triển học thuật liên trường đích thực với
các đặc điểm học tập hợp tác.
“Hai
mươi hai cuộc phỏng vấn hiện tượng học cá nhân với
đội ngũ giảng viên và các chuyên gia khác hỗ trợ việc
học tập trong giáo dục đại học đã được tiến hành
và mã hóa. Điều này tạo ra hơn 80.000 từ vựng dữ
liệu. Kết quả cho thấy học tập mở hợp tác được
trải nghiệm như hai mô hình năng động, nhập tâm và có
chọn lọc. Việc vượt qua ranh giới, được thể hiện
trong các hạng mục mô tả và các biến thể khác nhau về
chất lượng của chúng, đã định hình trải nghiệm đó
và liên quan đến các phương thức tham gia; thời gian, địa
điểm và không gian; văn hóa và ngôn ngữ cũng như các
bối cảnh chuyên môn đa dạng.
Sự hỗ trợ của người hướng dẫn và tính linh hoạt
của thiết kế khóa học cũng đã tác động tích cực
đến trải nghiệm này. Khía cạnh cộng đồng đã ảnh
hưởng đến trải nghiệm của người tham gia nghiên cứu
ở cấp độ cá nhân và khóa học, đồng thời làm sáng
tỏ những cơ hội mới cho thực tiễn phát triển học
thuật dựa trên các phương pháp tiếp cận xuyên ranh giới
do cộng đồng dẫn dắt. Các phát hiện được tổng hợp
trong không gian kết quả hiện tượng học, mô tả các
mối quan hệ logic của mười một danh mục mô tả trong
nghiên cứu này, được tổ chức theo các yếu tố cấu
trúc, minh họa cách chúng đóng góp và định hình trải
nghiệm sống, cùng với một cuộc thảo luận phê bình về
những điều này với tài liệu tham khảo, đã hỗ trợ
việc tạo ra khung học tập mở hợp tác xuyên ranh giới
được cấp phép mở cho phát triển học thuật liên
trường, sản phẩm cuối cùng của nghiên cứu này.”
“
Việc
tự mình thực hiện tiếp cận hiện tượng học có thể
gặp nhiều khó khăn. Bạn nên cân nhắc việc tiến hành
phân tích cùng với một đồng nghiệp và thảo luận về
những suy nghĩ, ý tưởng và khó khăn. Ngay cả khi bạn
đang thực hiện luận án tiến sĩ, hãy tìm kiếm sự giúp
đỡ vì những cuộc thảo luận với một nhà hiện tượng
học khác sẽ vô cùng quý giá. Cũng rất quan trọng đối
với mục đích khoanh vùng, nghĩa là chỉ có tiếng nói
của những người tham gia nghiên cứu mới được tính
đến, chứ không phải của bạn. Điều này cũng quan
trọng để đảm bảo các câu hỏi của bạn được đặt
ra một cách cởi mở và bạn đang tạo điều kiện cho sự
suy ngẫm sâu sắc mà không cố gắng gây ảnh hưởng hoặc
định hướng người tham gia nghiên cứu theo bất kỳ cách
nào. Lượng dữ liệu lớn được tạo ra là một thách
thức trong nghiên cứu này vì mọi thứ đều được tính
đến trong hiện tượng học và được sử dụng cũng như
cần được phân loại – điều này mang tính bao quát
nhưng có thể tốn thời gian và quá trình phân tích phức
tạp. Sử dụng một công cụ như NVivo chẳng hạn có thể
giúp ích trong giai đoạn phân tích. Tôi đề xuất bạn
nên thử nghiệm trước với các tập dữ liệu nhỏ hơn
để làm quen với công cụ.
Tài liệu
tham khảo hữu ích về Hiện tượng học: Åkerlind
(2005); Ashworth & Lucas (1998); Bowden. & Green (2005);
Bowden & Walsh (2000); Marton (1981); Marton (1986); Marton &
Booth (1997); Tight (2016)
Hiện
tượng luận/Phương pháp nghiên cứu hiện tượng học
(Phenomenology)
Hiện tượng
luận là môn nghiên cứu về các hiện tượng. Nguồn gốc
của nó nằm ở phong trào triết học do Husserl khởi xướng
(Beyer, 2011), phong trào này đã đình chỉ các phương pháp
triết học truyền thống cố gắng hiểu bản chất cơ
bản của thực tại, thay vào đó tập trung vào phân tích
các hiện tượng như chúng được trải nghiệm. Cách tiếp
cận này cho phép đánh giá khách quan các hiện tượng
được coi là chủ quan.
Hiện
tượng luận đã được ứng dụng rộng rãi trong nhiều
lĩnh vực khác nhau (Friesen và cộng sự, 2012). Trong khoa
học giáo dục, các mô tả hiện tượng luận được sử
dụng để làm rõ sở thích, mục tiêu, phương pháp, văn
hóa, tương tác, cấu trúc và suy ngẫm của các nhà giáo
dục và/hoặc người học trong một bối cảnh cụ thể.
Hiện
tượng luận: Hiểu biết từ GO-GN
Sarah
Hutton đã tiến hành các cuộc phỏng vấn chuyên sâu với
sinh viên và phân tích nội dung để kết nối các mục
tiêu nội tại chung được sự tham gia vào mô hình xuất
bản mở hỗ trợ, nơi sinh viên được cung cấp cơ hội
tự xuất bản công khai trực tuyến hoặc đóng góp vào
tài liệu OER cho khóa học.
“Một
nghiên cứu trường hợp hiện tượng luận cung cấp cơ
hội để tạo ra một câu chuyện phong phú xoay quanh một
trải nghiệm chung. Phương pháp này có thể giúp các nhà
nghiên cứu thiết lập sự hiểu biết tốt hơn về ý
nghĩa cá nhân và cách các đối tượng hiểu thế giới
xung quanh họ một cách độc đáo. Hiện tượng luận và
lý thuyết nền tảng kết hợp tốt với nhau để thu thập
và phân tích dữ liệu, cho phép sự xuất hiện tự nhiên
hơn của các ý tưởng mới và các yếu tố chủ đề
xuyên suốt một trải nghiệm chung.”
“Một
nhược điểm của phương pháp này là khối lượng dữ
liệu khổng lồ cần phải thu thập và phân loại để
tạo nên câu chuyện đó. Mặc dù các khuyến nghị về số
lượng người tham gia nghiên cứu có thể khác nhau giữa
các nhà nghiên cứu, nhưng càng thu thập nhiều dữ liệu
trong một khoảng thời gian dài, thì càng có thể chỉ ra
được một mô hình rõ ràng hơn khi phân tích các cuộc
phỏng vấn. Các cuộc phỏng vấn chuyên sâu tạo ra một
lượng lớn dữ liệu để phân tích, và đối với một
nghiên cứu trường hợp khóa học, cần hoàn thành 3 cuộc
phỏng vấn (đầu, giữa, cuối) để hoàn thiện một
chuỗi theo dõi dài hạn về trải nghiệm và sự phát
triển của sinh viên trong suốt khóa học. Một nhược
điểm khác là, tương tự như các phương pháp dữ liệu
định tính khác, phương pháp hiện tượng luận có thể
bị các nhà hoạch định chính sách ít coi trọng hơn so
với các nghiên cứu định lượng quy mô lớn khác.”
Michael
Paskevicius đã sử dụng phương pháp hiện tượng luận
với những người tự nhận mình là người thực hành
giáo dục mở. Nghiên cứu này khám phá cách thực hành
giáo dục mở - OEP (Open Educational Practice) đang được
hiện thực hóa trong giáo dục đại học chính quy và tác
động đến thiết kế học tập, đồng thời mô tả cách
các nhà giáo dục đưa các yếu tố của tính mở vào
thực tiễn giảng dạy và học tập hàng ngày của họ
thông qua các công nghệ giáo dục.
“Trong
luận án tiến sĩ, tôi đã sử dụng phương pháp hiện
tượng luận thực nghiệm để nghiên cứu cấu trúc xã
hội cá nhân và trải nghiệm ‘thế giới cuộc sống’
của những cá nhân tham gia với OEP (Giorgi, 1997; Gray,
2013). Cốt lõi của nghiên cứu hiện tượng luận là theo
đuổi việc hiểu biết về sự định hướng tinh thần
hay ý thức bằng cách điều tra những giải thích của cá
nhân dựa trên kinh nghiệm chủ quan của họ (Aspers, 2009).
Nghiên cứu hiện tượng luận thực nghiệm tìm cách mô
tả bản chất của trải nghiệm ý thức của người
khác, về cơ bản là cách họ nhận thức thế giới, khám
phá ý nghĩa của những trải nghiệm đó đối với họ,
và cung cấp một mô tả toàn diện đồng thời nhận ra
tầm quan trọng của cấu trúc và bối cảnh xã hội
(Moustakas, 1994). Cấu trúc xã hội được thể hiện thông
qua sự diễn giải và xây dựng ý nghĩa của cá nhân
trong thế giới, và việc xây dựng ý nghĩa xã hội này
có thể được nhà nghiên cứu nghiên cứu một cách thực
nghiệm (Aspers, 2009). Phương pháp hiện tượng luận nhằm
mục đích hiểu các cấu trúc thiết yếu chung hoặc điển
hình của trải nghiệm cá nhân, dựa trên mô tả về
những trải nghiệm đó. Khi làm như vậy, tôi tìm cách
hiểu không phải cái gì ‘tồn tại’ trong thế giới mà
là hiểu tại sao ý thức lại tồn tại. Các cá nhân nói
rằng một điều gì đó "là" (Giorgi, 1997).
“Việc
thử nghiệm các câu hỏi nghiên cứu có thể củng cố
một nghiên cứu hiện tượng luận vì nó cho phép người
ta tham gia và làm quen với không gian nghiên cứu, tìm hiểu
về bối cảnh mà các cá nhân quan tâm đang làm việc, và
thu thập phản hồi từ những người tham gia tiềm năng
hoặc những người đang hoạt động trong các tình huống
tương tự (Aspers, 2009). Các câu hỏi phỏng vấn, được
thực hiện bằng dịch vụ họp trực tuyến Zoom, đã được
thử nghiệm lần đầu tiên với người hướng dẫn của
tôi, người sử dụng các thực hành giáo dục mở trong
việc giảng dạy bậc đại học và sau đại học. Người
hướng dẫn của tôi đã có thể cung cấp một số phản
hồi về các câu hỏi từ góc nhìn của bà ấy với tư
cách là một giảng viên. Kết quả của quá trình này,
chúng tôi đã điều chỉnh một số ngôn ngữ và trình tự
của các câu hỏi.”
Jessica
O'Reilly đưa phương pháp phân tích hiện tượng luận diễn
giải – IPA (Interpretivist Phenomenological Analysis) vào nghiên
cứu của bà về phương pháp sư phạm được Tài nguyên
Giáo dục Mở (OER) xúc tác (OER Enabled Pedagogy).
“Trọng
tâm cách tiếp cận của IPA rất phù hợp với câu hỏi
nghiên cứu của tôi, vốn mang tính diễn giải, phát triển
và tập trung vào kinh nghiệm cá nhân trong bối cảnh cụ
thể và quá trình tạo lập ý nghĩa. Một lợi thế rõ
ràng mà tôi nhận thấy là sự kết hợp giữa các “góc
nhìn” tâm lý, diễn giải và cá nhân hóa trong cách tiếp
cận này. Tôi nghĩ IPA rất phù hợp với các câu hỏi
liên quan đến kinh nghiệm của một mẫu người tham gia
khá tập trung và đồng nhất. Một nhược điểm tiềm
tàng của nghiên cứu IPA của tôi sẽ là sự phụ thuộc
vào dữ liệu phỏng vấn và khối lượng công việc khổng
lồ liên quan đến việc sao chép và phân tích.”
Tài liệu
tham khảo hữu ích cho Hiện tượng luận: Clandinin &
Connelly (2004); Friesen, Henriksson & Saevi (2012); Giorgi
(1997); Gray (2014); Manen (2018); Maxwell (2013); Smith, Flowers &
Larkin (2009)
Phân
tích mạng xã hội
Phân tích
mạng xã hội là quá trình thu thập và phân tích dữ liệu
từ các mạng xã hội. (Scott, 2000). Lý thuyết mạng xã
hội là nghiên cứu về cách thức mọi người hoặc các
nhóm tương tác với nhau trong mạng lưới của họ. Ba
loại mạng xã hội là mạng lấy cá nhân làm trung tâm,
mạng lấy xã hội làm trung tâm và mạng hệ thống mở
(Borgatti, & Lopez-Kidwell, 2011).
Mục tiêu
của phân tích mạng xã hội (SNA) là hiểu được sự
tương tác giữa các thành viên trong mạng lưới. Những
kết nối này, được gọi là mối quan hệ hoặc liên
kết, là trọng tâm của những gì phân tích này tìm cách
nghiên cứu và hiểu. Lý do tại sao các cá nhân tương tác
và cách họ tương tác cũng như mức độ thân thiết của
họ (Borgatti và cộng sự, 2009). SNA cung cấp cả dữ liệu
định tính và định lượng về cộng đồng học tập
trực tuyến.
Phân
tích mạng xã hội: Hiểu biết từ GO-GN
Aras Bozkurt
đã sử dụng Phân tích mạng xã hội – SNA (Social Network
Analysis) để theo dõi dấu vết kỹ thuật số của những
người tham gia trực tuyến, lập bản đồ và trực quan
hóa cộng đồng học tập trực tuyến.
“Để
thu thập và phân tích dữ liệu, chúng tôi đã sử dụng
phân tích mạng xã hội, phỏng vấn, quan sát và phân tích
tài liệu. Kết quả nghiên cứu được diễn giải theo
quan điểm của thuyết kết nối, học tập từ gốc rễ
(Rhizomatic Learning) và lý thuyết mạng xã hội.
“Theo
kết quả nhân khẩu học của nghiên cứu, người học
trong các mạng trực tuyến mở đại chúng theo thuyết kết
nối được phân bố toàn cầu về thời gian và địa
điểm, nhiều người tham gia đến từ các quốc gia nói
tiếng Anh, và 89% người học đến từ các nền văn hóa
ngữ cảnh thấp trong khi 11% đến từ các nền văn hóa
ngữ cảnh cao. Những người tham gia là những cá nhân có
liên quan đến lĩnh vực giáo dục; hoặc là sinh viên hay
giảng viên trong giáo dục đại học. Khi xem xét về các
mô hình tương tác, mô hình cộng đồng đám đông thống
nhất, gắn kết chặt chẽ đã được quan sát thấy trong
các mạng lưới khóa học trực tuyến mở đại chúng
theo mô hình kết nối. Các nút trong loại mạng này có
mối liên hệ mạnh mẽ với nhau và các mối liên hệ
quan trọng bắc cầu giữa các nhóm nhỏ. Người học
trong loại mạng này có xu hướng giao tiếp thường xuyên
với nhau và chia sẻ sở thích chung. Các mạng này bao gồm
một vài nhóm dày đặc và/hoặc được kết nối chặt
chẽ, nơi các cuộc trao đổi trò chuyện thường xoay
quanh và tăng dần mật độ về phía trung tâm, liên quan
đến nhiều người khác nhau vào những thời điểm khác
nhau.
“Kết
quả nghiên cứu cũng chứng minh rằng môi trường học
tập theo mô hình kết nối chỉ cần tương đối ít bước
trung gian để giao tiếp và tương tác với cộng đồng
học tập, và xác nhận các luận điểm được đề xuất
trong Hiện tượng Thế giới Nhỏ và Làng Toàn cầu
(Small World Phenomenon and the Global Village). Phân tích Mạng
Xã hội (SNA) cung cấp cả dữ liệu định tính và định
lượng về cộng đồng học tập trực tuyến. Tuy nhiên,
nó không cung cấp dữ liệu định tính mang tính hiện
tượng luận.”
Một
số nhà nghiên cứu thu thập dữ liệu hiện tượng học
này một cách riêng biệt. Ví dụ, ngoài việc phân tích
cấu trúc mạng, Katy Jordan đã tiến hành các cuộc phỏng
vấn đồng diễn giải với 18 người tham gia để hiểu ý
nghĩa và cấu trúc của mạng xã hội học thuật của họ.
“Nghiên
cứu tiến sĩ của tôi giải quyết câu hỏi về cách các
học giả sử dụng mạng xã hội chuyên dụng thông qua
phân tích mạng xã hội bằng phương pháp hỗn hợp. Đầu
tiên, một cuộc khảo sát trực tuyến đã được tiến
hành để thu thập dữ liệu theo ngữ cảnh và tuyển chọn
người tham gia (n = 528). Thứ hai, mạng lưới cá nhân
(ego-network) được xây dựng cho một mẫu phụ gồm 55 học
giả (phản ánh nhiều vị trí công việc và lĩnh vực
khác nhau). Mạng lưới cá nhân được lấy mẫu từ mạng
xã hội học thuật và Twitter cho mỗi người tham gia. Thứ
ba, các cuộc phỏng vấn đồng diễn giải đã được
thực hiện với 18 người tham gia để hiểu ý nghĩa của
các cấu trúc và cách thức xây dựng mạng lưới.”
“Phương
pháp nghiên cứu của tôi đã thay đổi (một cách tinh tế)
hai lần trong suốt quá trình làm luận án tiến sĩ. Trọng
tâm luôn là cấu trúc của các mạng xã hội trực tuyến
trong giới học thuật, nhưng cấp độ mà tôi nghiên cứu
các mạng lưới này đã thay đổi. Ban đầu, tôi dự định
nghiên cứu các mạng lưới ở quy mô lớn hơn - chẳng
hạn như toàn bộ lĩnh vực giáo dục đại học của
Vương quốc Anh trên Academia.edu. Tôi đã chuyển hướng
sang tập trung vào các mạng lưới cá nhân (cá nhân, cái
tôi) của các học giả vì hai lý do. Thứ nhất, về mặt
đạo đức, việc thu thập dữ liệu từ mạng lưới cá
nhân sẽ hợp lý hơn nhiều - ở cấp độ này, bạn có
thể nhận được sự đồng ý của người tham gia. Thứ
hai, để có thể hiểu được các cấu trúc liên quan. Ví
dụ, tôi có thể thấy các đặc điểm cấu trúc thú vị
trong các mạng lưới của Đại học Mở (OU), nhưng các
chỉ số mạng chỉ có thể cho bạn biết một phần nào
đó. Bằng cách lấy mẫu các mạng lưới cá nhân, các
cấu trúc có thể được thảo luận một cách có ý nghĩa
với chính những người tham gia, để hiểu được ý
nghĩa và đặc điểm của các tính năng mạng khác nhau từ
góc nhìn của họ. Việc kết hợp dữ liệu kỹ thuật số
(được thu thập) với các cuộc phỏng vấn đồng diễn
giải mang lại cái nhìn sâu sắc hơn nhiều về các thực
tiễn kỹ thuật số, mở đằng sau cấu trúc mạng đó.
Tài liệu
tham khảo hữu ích cho Phân tích Mạng Xã hội: Borgatti
& Lopez-Kidwell (2011); Borgatti et al. (2009); Dominguez &
Hollstein (2014); Edwards, G. (2010); Hansen, Shneiderman &
Smith, (2010); Jordan (2018); Kozinets (2015); Newman (2018); Scott
(2000); Wenger, Trayner & de Laat (2011)
Khảo
sát & Bảng câu hỏi
Khảo sát
bao gồm việc đặt một loạt câu hỏi cho người tham
gia. Chúng có thể được thực hiện trực tuyến, trực
tiếp hoặc từ xa (ví dụ: qua bưu điện/thư). Dữ liệu
thu thập được có thể được phân tích định lượng
hoặc định tính (hoặc cả hai). Các nhà nghiên cứu có
thể thực hiện các khảo sát thống kê để đưa ra các
suy luận thống kê về quần thể đang được nghiên cứu.
Những suy luận như vậy phụ thuộc rất nhiều vào các
câu hỏi khảo sát được sử dụng (Solomon, 2001), có
nghĩa là việc lựa chọn từ ngữ chính xác là rất quan
trọng. Vì lý do này, nhiều người thử nghiệm khảo sát
trong các nghiên cứu thí điểm với quần thể nhỏ hơn
và sử dụng kết quả để tinh chỉnh công cụ khảo sát
của họ.
Việc lấy
mẫu cho các cuộc khảo sát có thể bao gồm từ việc tự
chọn (ví dụ: chia sẻ liên kết với các thành viên của
một nhóm đối tượng mục tiêu với hy vọng họ và
những người khác sẽ đóng góp dữ liệu và chia sẻ
khảo sát) cho đến việc sử dụng các kỹ thuật thống
kê chuyên biệt (“lấy mẫu xác suất”) để phân tích
kết quả từ một mẫu được lựa chọn cẩn thận nhằm
đưa ra kết luận thống kê về toàn bộ dân số. Do đó,
các phương pháp khảo sát bao gồm nhiều yếu tố cần
xem xét, bao gồm việc lấy mẫu, thiết kế công cụ
nghiên cứu, cải thiện tỷ lệ phản hồi, đảm bảo
chất lượng dữ liệu và các phương pháp phân tích
(Groves và cộng sự, 2011).
Một định
dạng câu hỏi phổ biến là thu thập dữ liệu định
lượng cùng với các câu hỏi định tính. Điều này cho
phép cung cấp mô tả hoặc lý giải chi tiết hơn cho câu
trả lời được đưa ra. Việc thu thập dữ liệu thứ tự
(ví dụ: xếp hạng sở thích thông qua thang đo Likert) có
thể là một cách để làm cho dữ liệu định tính dễ
dàng phân tích định lượng hơn. Nhưng không có phương
pháp nào là tối ưu hơn: điều quan trọng là các câu hỏi
khảo sát và cách diễn đạt của chúng phải phù hợp
chính xác với câu hỏi nghiên cứu.
Khảo sát
được sử dụng rộng rãi trong khoa học giáo dục và
khoa học xã hội nói chung. So với các phương pháp khác,
khảo sát rất hiệu quả (cả về thời gian và tiền bạc)
và có thể được thực hiện từ xa. Chúng có thể cung
cấp một loạt các điểm dữ liệu về một chủ đề,
có thể được so sánh giữa các nhóm mẫu. Điều này
mang lại sự linh hoạt đáng kể khi phân tích dữ liệu
vì nhiều biến số có thể được kiểm tra cùng một
lúc. Khảo sát cũng hoạt động tốt khi được sử dụng
cùng với các phương pháp khác, chẳng hạn như để cung
cấp dữ liệu cơ sở (như nhân khẩu học) cho bước đầu
tiên trong một nghiên cứu. Chúng cũng thường được sử
dụng trong đánh giá việc dạy và học (tức là sau một
can thiệp để đánh giá tác động).
Tuy nhiên,
việc sử dụng khảo sát cũng có một số nhược điểm
đáng chú ý. Người trả lời có thể không cảm thấy
được khuyến khích cung cấp câu trả lời chính xác,
hoặc có thể không cảm thấy thoải mái khi cung cấp câu
trả lời theo cách không thuận lợi (đặc biệt nếu khảo
sát không ẩn danh). Các câu hỏi "đóng" có thể
có tỷ lệ hợp lệ thấp hơn các loại câu hỏi dạng
khác vì chúng có thể được hiểu khác nhau. Có thể tồn
tại lỗi dữ liệu do không trả lời câu hỏi, tạo ra sự
thiên lệch. Các phương án trả lời khảo sát cần được
lựa chọn cẩn thận vì người trả lời có thể hiểu
chúng theo nhiều cách khác nhau (Vehovar & Katja Lozar,
2008).
Khảo
sát & Bảng câu hỏi: Hiểu biết từ GO-GN
Marjon Baas
đã thu thập dữ liệu định lượng thông qua bảng câu
hỏi dành cho các giáo viên trong Cộng đồng Thực hành
Tài nguyên Giáo dục Mở (OER) để khám phá tác động của
các hoạt động khuyến khích sử dụng cộng đồng đối
với hành vi của giáo viên liên quan đến OER.
“Tôi
đã sử dụng một số mô hình lý thuyết (Clements và
Pawlowski, 2012; Cox và Trotter, 2017; Armellini và Nie, 2013) để
khái niệm hóa các khía cạnh khác nhau (liên quan đến)
việc áp dụng OER. Điều này cho phép tôi, với tư cách
là một nhà nghiên cứu, thiết kế các công cụ nghiên
cứu cụ thể của mình.”
Judith Pete
đã lựa chọn có chủ đích mười hai trường đại học
ở khu vực cận Sahara thuộc Kenya, Ghana và Nam Phi với
sinh viên và giảng viên được lấy mẫu ngẫu nhiên để
phát triển một quan điểm đại diện về OER. Các bảng
câu hỏi riêng biệt đã được sử dụng cho sinh viên
(n=2249) và giảng viên (n=106).
“Chúng
tôi đã sử dụng các cuộc khảo sát để thu thập dữ
liệu trên ba châu lục. Các công cụ khảo sát trực tuyến
rất hữu ích trong việc thu thập dữ liệu trực tuyến
và, trong trường hợp không thể, các điều phối viên
địa phương đã sử dụng các bản sao khảo sát giấy và
sau đó nhập thông tin vào cơ sở dữ liệu. Cách tiếp
cận này tiết kiệm chi phí, linh hoạt, nhanh chóng và dễ
thực hiện. Chúng tôi đã có thể tiếp cận một lượng
lớn người trả lời trong thời gian ngắn. Tuy nhiên, đôi
khi chúng tôi tự hỏi liệu tất cả những người trả
lời có đủ thời gian để xử lý và hiểu đầy đủ
các câu hỏi mà họ được hỏi hay không. Chúng tôi đã
phải dành lượng thời gian đáng kể để sắp xếp lại
dữ liệu sau đó.”
Samia
Almousa đã áp dụng bảng câu hỏi khảo sát Lý thuyết
Thống nhất về Chấp nhận và Sử dụng Công nghệ -
UTAUT (Unified Theory of Acceptance and Use of Technology), cùng với
các cấu trúc bổ sung (liên quan đến chất lượng và văn
hóa thông tin) làm lăng kính để phân tích dữ liệu
nghiên cứu của mình.
“Trong
nghiên cứu của mình, tôi đã sử dụng Thiết kế Phương
pháp Hỗn hợp Giải thích Tuần tự (bảng câu hỏi trực
tuyến và phỏng vấn bán cấu trúc) để khảo sát nhận
thức của các học giả về việc tích hợp Tài nguyên
Giáo dục Mở (OER) vào thực tiễn giảng dạy của họ,
cũng như để khám phá những động lực khuyến khích họ
sử dụng và tái sử dụng OER, và chia sẻ tài liệu giảng
dạy của họ trong phạm vi công cộng. Bảng câu hỏi trực
tuyến là một cách hiệu quả và nhanh chóng để tiếp
cận một số lượng lớn học giả. Tôi đã sử dụng
nền tảng khảo sát trực tuyến, nó không yêu cầu nhập
dữ liệu hoặc mã hóa vì dữ liệu do người tham gia nhập
và câu trả lời được lưu tự động (Sills & Song,
2002).
Việc
sử dụng bảng hỏi làm công cụ thu thập dữ liệu có
một số hạn chế. Trong nghiên cứu của tôi, bảng hỏi
mà tôi phát triển khá dài, khiến một số người tham
gia chọn câu trả lời một cách ngẫu nhiên. Ngoài ra, tôi
đã nhận được nhiều phản hồi từ các học giả ở
các trường đại học khác mặc dù bảng hỏi được gửi
đến trường đại học mẫu. Vì tôi đã lường trước
điều này, tôi yêu cầu người tham gia ghi tên trường
đại học của họ vào phần thông tin cá nhân của bảng
hỏi, sau đó loại trừ các phản hồi từ bên ngoài mẫu
nghiên cứu. Lời khuyên của tôi dành cho bất kỳ nhà
nghiên cứu nào cố gắng sử dụng bảng hỏi làm công cụ
thu thập dữ liệu là hãy đảm bảo bảng hỏi của họ
càng ngắn gọn và rõ ràng càng tốt để giúp nhà nghiên
cứu phân tích kết quả và người tham gia trả lời chính
xác tất cả các câu hỏi. Thêm vào đó, các câu hỏi cá
nhân nên càng ít càng tốt để bảo vệ danh tính và
quyền riêng tư của người tham gia, và để nhanh chóng
nhận được sự chấp thuận về mặt đạo đức.”
Olawale
Kazeeem Iyikolakan đã áp dụng một cuộc khảo sát mô tả
thuộc loại tương quan. Thiết kế nghiên cứu xem xét mối
quan hệ giữa các biến nghiên cứu chính (tự tin về công
nghệ, nhận thức và việc sử dụng tài nguyên giáo dục
mở) và xác định các yếu tố quan trọng nhất ảnh
hưởng đến kết quả học tập của sinh viên đại học
ngành Khoa học Thông tin Thư viện mà không có mối liên
hệ nhân quả.
“Thiết
kế nghiên cứu mô tả được sử dụng để thu thập
thông tin về các điều kiện hoặc tình huống hiện hành
nhằm mục đích mô tả và diễn giải (Aggarwal, 2008).
Thiết kế nghiên cứu của tôi xem xét mối quan hệ giữa
các biến nghiên cứu chính (tự tin về công nghệ, nhận
thức và việc sử dụng tài nguyên giáo dục mở) để
xác định các yếu tố quan trọng nhất ảnh hưởng đến
kết quả học tập của sinh viên đại học ngành Khoa học
Thư viện & Thông tin mà không có mối liên hệ nhân
quả. Ponto (2015) mô tả rằng nghiên cứu khảo sát mô tả
là một phương pháp nghiên cứu hữu ích và hợp pháp,
mang lại những lợi ích rõ ràng trong việc giúp mô tả
và khám phá các biến và cấu trúc quan tâm bằng cách sử
dụng các chiến lược nghiên cứu định lượng (ví dụ:
sử dụng khảo sát với các mục được đánh giá bằng
số).
Lý
do lựa chọn nghiên cứu khảo sát mô tả thay vì thiết
kế bán thực nghiệm hồi cứu là vì loại thiết kế
nghiên cứu này được sử dụng để nắm bắt nhận
thức, quan điểm, cách sử dụng của mọi người về một
vấn đề hiện tại, tình trạng hiện tại hoặc các
phong trào như nhận thức và việc sử dụng OER. Thiết kế
nghiên cứu này có một số ưu điểm vì nó cho phép nhà
nghiên cứu thu thập dữ liệu sơ cấp cần thiết trực
tiếp từ người trả lời. Các ưu điểm khác bao gồm:
(1) Sử dụng (1) Phương pháp này, nhà nghiên cứu không
kiểm soát biến số; (2) nhà nghiên cứu chỉ có thể báo
cáo những gì đã xảy ra hoặc đang xảy ra. Một trong
những nhược điểm của loại thiết kế nghiên cứu này
là kết quả nghiên cứu có thể phản ánh một mức độ
thiên lệch nhất định do thiếu các bài kiểm tra thống
kê.”
Tài
liệu tham khảo hữu ích cho Khảo sát & Bảng câu hỏi:
Aggarwal (2008); Fowler (2014); Groves et al., 2011); Lefever, Dal &
Matthíasdóttir (2007); Ponto (2015); Sills & Song (2002);
Solomon (2001); Vehovar & Manfreda (2008); Vehovar, Manfreda, &
Berzelak (2018)
---------------------------------------------------
Thừa nhận:
Nội
dung này được dịch từ tài liệu của các tác giả: Farrow, R. (ed.),
Weller, M., Pitt, R., Iniesto, F., Algers, A., Almousa, S., Baas, M.,
Bentley, P., Bozkurt, A., Butler, W., Cardoso, P., Chtena., N., Cox, G.,
Czerwonogora, A., Dabrowski, M.T., Derby, R., DeWaard, H., Elias, T.,
Essmiller, K., Funk, J., Hayman, J., Helton, E., Huth, K., Hutton, S.
C., Iyinolakan, O., Johnson, K. R., Jordan, K., Kuhn, C., Lambert, S.,
Mittelmeier, J., Nagashima, T., Nerantzi, C., O’Reilly, J., Paskevicius,
M., Peramunugamage, A., Pete, J., Power, V., Pulker, H., Rabin, E.,
Rets, I., Roberts, V., Rodés, V., Sousa, L., Spica, E., Vizgirda, V.,
Vladimirschi, V., & Witthaus, G. (2023). Sổ tay Nghiên cứu Mở của
GO-GN.
Mạng lưới Cao học Toàn cầu về Tài nguyên Giáo dục Mở / Trung tâm Nghiên cứu Giáo dục Mở.
https://go-gn.net/gogn_outputs/open-research-handbook/.
Giấy phép nội dung: CC BY 4.0 Quốc tế.
---------------------------------------------------
VỀ TRANG MỤC LỤC
VỀ TRANG: SỔ TAY PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
---------------------------------------------------
Xem thêm: