Ngày 28/08/2026, Trường Đại
học Kinh tế - Luật, thành phố Hồ Chí Minh, tổ chức tập huấn ‘Nâng cao
năng lực số cho Cán bộ Thư viện các Trường Đại học tại Việt Nam’.
GPL
hay Giấy phép Công cộng GNU (GNU General Public License) là giấy phép
copyleft đầu tiên và vẫn là giấy phép được sử dụng rộng rãi nhất.
Những điểm chính
Giấy phép copyleft miễn phí cho phần mềm + các thứ khác
Bảo vệ, chứ không phải tước đoạt tự do của bạn
Quyền phân phối phần mềm, ngay cả khi phải trả phí
Quyền nhận mã nguồn và thực hiện các thay đổi
Các quy tắc
Cần tôn trọng tự do của người khác bằng cách thông báo cho họ rằng họ có thể truy cập mã nguồn.
Khẳng định bản quyền và sau đó cung cấp cho mọi người giấy phép GNU
Một
phiên bản khác của GPL được gọi là Giấy phép GNU Affero General Public -
AGPL (GNU Affero General Public License). Bạn phải phân phối mã nguồn,
ngay cả khi bạn không phân phối phần mềm như trong trường hợp các ứng
dụng web (ví dụ: Facebook)
Câu hỏi thảo luận
Tình huống với các thiết bị không cho phép người dùng chạy phiên bản đã sửa đổi trong đoạn văn bản thứ 3 từ cuối lên là gì?
Bằng sáng chế có thể được áp dụng cho phần mềm như thế nào?
Điều
thú vị là phần mềm được cấp phép GPL có thể được sử dụng để tạo ra phần
mềm độc quyền. Liệu điều này có phải vì lý do thực tế?
Microsoft
dường như tuyên bố rằng GPL có một số đặc tính lan truyền, vậy phần mềm
không miễn phí có những đặc tính tương tự không?
Làm thế nào Stallman có thể biện minh cho việc bán các ngoại lệ giấy phép cho các công ty? Chẳng phải họ là những kẻ xấu xa sao?
Nội dung này được EdTech Books cung cấp miễn phí cho bạn.
BSD
– Giấy phép Phân phối Phần mềm Berkeley (Berkeley Software
Distribution). Giấy phép BSD gốc ban đầu tương thích với giấy phép GPL
của Quỹ Phần mềm Tự do (Free Software Foundation), nhưng các phiên bản
sửa đổi thì không do các điều khoản về quảng cáo.
Những điểm chính
Giấy phép phần mềm tự do, với các hạn chế tối thiểu về phân phối lại
Không có các yêu cầu chia sẻ tương tự như copyleft.
Cho phép sử dụng độc quyền và cho phép tích hợp vào các sản phẩm độc quyền.
Câu hỏi thảo luận
Tại sao một người lại chọn BSD thay vì GPL?
BSD khác với GPL như thế nào?
Điều gì làm cho BSD khác biệt so với các giấy phép khác?
Viện
Công nghệ Massachusetts - MIT (Massachusetts Institute of Technology)
có phiên bản giấy phép phần mềm “nguyên trạng” của riêng họ. Giấy phép
này cấp quyền miễn phí cho người dùng để sử dụng và tái sử dụng tài
liệu/phần mềm của họ theo bất kỳ cách nào họ thấy phù hợp.
Những điểm chính
Cho
phép sử dụng lại trong phần mềm độc quyền miễn là bản sao của phần mềm
được cấp phép bao gồm bản sao điều khoản cấp phép của MIT và thông báo
bản quyền.
Phần mềm độc quyền vẫn là độc quyền.
Nêu rõ các quyền của người dùng.
Câu hỏi thảo luận
Tại sao một người lại chọn giấy phép MIT thay vì BSD hoặc GPL?
Giấy phép MIT khác biệt với BSD và GPL như thế nào?
Giấy
phép này rộng hơn giấy phép BSD và MIT, với một số điểm cần lưu ý thú
vị, chẳng hạn như bằng sáng chế và nhãn hiệu thương mại. Một phần tư các
dự án nguồn của Google sử dụng giấy phép Apache, bao gồm cả hệ điều
hành Android.
Những điểm chính
Không yêu cầu các sản phẩm phái sinh phải được phân phối bằng cùng một giấy phép.
Yêu cầu tất cả các phần không bị sửa đổi phải có giấy phép gốc.
Bất cứ khi nào mã nguồn được thay đổi, phải có thông báo. Thông báo này không được sửa đổi giấy phép.
Câu hỏi thảo luận
Tại sao một người lại chọn Giấy phép Apache thay vì MIT, BSD hoặc GPL?
Giấy phép Apache khác với giấy phép MIT, BSD và GPL như thế nào?
Có
rất nhiều loại giấy phép cho phần mềm tự do/nguồn mở phổ biến và được
sử dụng rộng rãi. Các giấy phép này có nhiều điểm chung nhưng cũng khác
nhau ở những chi tiết nhỏ.
Những điểm chính
So sánh các giấy phép:
MIT license
BSD License
Apache License
GNU License
Phổ biến và được sử dụng rộng rãi:
Có
Có
Có
Có
Loại giấy phép
Dễ dãi
Dễ dãi
Dễ dãi
Copyleft mạnh
Thẩm quyền:
Không chỉ định
Không chỉ định
Không chỉ định
Không chỉ định
Cấp quyền sở hữu bằng sáng chế
Không
Không
Có
Không
Điều khoản trả đũa bằng sáng chế
Không
Không
Có
Không
Chỉ định ghi công nâng cao
Không
Không
Không
Không
Giải quyết lỗ hổng bảo mật:
Không
Không
Không
Không
Gồm tính năng ‘không quảng bá’
Có
Có
Có
Có
Câu hỏi thảo luận
Tại sao có nhiều loại giấy phép như vậy?
Ai quản lý giấy phép?
Làm thế nào bạn có thể chọn loại giấy phép phù hợp nhất với mình?
Do
những khác biệt cơ bản giữa phần mềm tự do và nguồn mở, cần phải định
nghĩa rõ ràng hơn ý nghĩa thực sự của "mở" và phân biệt nó với "tự do".
Định nghĩa Nguồn Mở - OSD (Open Source Definition) đã giúp làm rõ ý
nghĩa của "mở" và phân biệt phong trào mở với phong trào phần mềm tự do.
Giống như DFSG mà nó dựa trên, OSD chủ yếu được sử dụng để xác định xem
giấy phép phần mềm có đủ điều kiện để được dán nhãn "nguồn mở" hay
không.
Những điểm chính
Phân phối lại miễn phí
Mã nguồn
Tác phẩm phái sinh
Tính toàn vẹn về mã nguồn của tác giả
Không phân biệt đối xử với cá nhân hoặc nhóm
Không phân biệt đối xử với lĩnh vực hoạt động
Phân phối giấy phép
Giấy phép không được dành riêng cho một sản phẩm
Giấy phép không được hạn chế phần mềm khác
Giấy phép phải trung lập về công nghệ
Định
nghĩa này chứa các điều kiện tương tự như Debian, với điều kiện bổ sung
là giấy phép phải trung lập về công nghệ – giấy phép không thể yêu cầu
bất kỳ công nghệ hoặc giao diện cụ thể nào.
Câu hỏi thảo luận
Các nguyên tắc phần mềm tự do của Debian đã ảnh hưởng đến Định nghĩa Mở như thế nào?
Tại sao phần mềm mở không giống y hệt với phần mềm tự do?
Google là phần mềm mở? Phần mềm tự do? Không phải cả hai? Đúng cả hai? Tại sao?
Lấy
cảm hứng từ phần mềm nguồn mở và phần mềm tự do, “nội dung mở” hướng
đến việc áp dụng một cách hợp lý các nguyên tắc của tính mở (openness)
cho các tác phẩm sáng tạo không phải phần mềm, bao gồm văn bản, hình
ảnh, âm thanh và video. David Wiley, người đặt ra thuật ngữ này vào năm
1998, đặc biệt quan tâm đến việc nội dung mở có thể giảm chi phí và nâng
cao chất lượng giáo dục như thế nào.
Về bản chất, “nội dung mở” mô tả một tác phẩm có bản quyền được cấp phép theo cách “cung cấp cho người dùng quyền tự do và vĩnh viễn để tham gia vào các hoạt động 5R”, đó là lưu giữ, tái sử dụng, sửa đổi, phối lại và phân phối lại.
Những điểm chính
5R
Retain - Giữ lại: quyền tạo ra, sở hữu và kiểm soát các bản sao nội dung (ví dụ: tải xuống, sở hữu, lưu trữ và quản lý)
Reuse - Tái sử dụng: quyền sử dụng nội dung theo nhiều cách khác nhau (ví dụ: trong lớp học, nhóm học tập, trang web, video)
Revise
- Sửa đổi: quyền tùy chỉnh, tinh chỉnh, thay đổi hoặc chỉnh sửa bản
thân nội dung (ví dụ: dịch nội dung sang ngôn ngữ khác)
Remix
- Phối lại: quyền kết hợp nội dung gốc hoặc đã sửa đổi với nội dung mở
khác để tạo ra nội dung mới (ví dụ: kết hợp nội dung vào một bản tổng
hợp)
Redistribute
- Phân phối lại: quyền chia sẻ bản sao nội dung gốc, bản sửa đổi hoặc
bản phối lại của bạn với người khác (ví dụ: tặng bản sao nội dung cho
bạn bè)
Các yêu cầu và hạn chế pháp lý có thể khiến nội dung trở nên ít mở hơn, cũng như có thể có các lựa chọn kỹ thuật kém.
Câu hỏi thảo luận
Bản quyền với nguồn mở tương tác như thế nào so với copyleft (Stallman/GNU)?
Những hệ quả của tài liệu giáo dục nội dung mở là gì?
Tương lai của giáo dục với nội dung mở sẽ như thế nào?
Nội dung mở có rẻ hơn không?
Nội dung mở có miễn phí không? Nếu có, tại sao? Nếu không, tại sao không?
Sách giáo khoa có thực sự biến mất không? Chúng có trở nên lỗi thời? Có còn hữu dụng không?
Chúng ta có thực sự cần giữ lại những cuốn sách giáo khoa hiện có không?
Chúng ta nên làm gì với những phiên bản sách giáo khoa cũ?
Định
nghĩa "mở" được tạo ra để đưa ra một định nghĩa chính xác và rõ ràng về
khái niệm "mở" cũng như cách thức hoạt động và sử dụng của nó. "Kiến
thức được coi là mở nếu bất kỳ ai cũng có thể tự do truy cập, sử dụng,
sửa đổi và chia sẻ nó — với điều kiện, tối đa, là phải tuân thủ các biện
pháp bảo tồn nguồn gốc và tính mở."
Những điểm chính
Giấy phép mở – phải đáp ứng các yêu cầu sau:
Tác phẩm mở
Giấy phép mở – tác phẩm phải được cung cấp theo giấy phép mở
Quyền truy cập – tác phẩm phải được cung cấp toàn bộ và với chi phí sao chép một lần hợp lý
Định dạng mở – tác phẩm phải được cung cấp ở dạng thuận tiện và có thể chỉnh sửa
Giấy phép mở – Quyền cần thiết
Sử dụng – phải cho phép sử dụng miễn phí tác phẩm được cấp phép
Phân phối lại – giấy phép phải cho phép phân phối lại tác phẩm được cấp phép
Chỉnh
sửa (và phân phối theo các điều khoản tương tự như bản gốc) – phải cho
phép tạo ra các tác phẩm phái sinh từ tác phẩm được cấp phép
Tách biệt – các phần có cùng quyền với toàn bộ – đây là một điểm mới
Biên soạn – không hạn chế các tác phẩm được phân phối cùng
Không phân biệt đối xử – giấy phép phải không được phân biệt đối xử
Phổ biến – các quyền phải áp dụng cho tất cả những người được phân phối lại
Áp dụng cho bất kỳ mục đích nào – giấy phép phải cho phép sử dụng, phân phối lại, sửa đổi và biên soạn
Miễn phí – giấy phép không được phép thu phí.
Điều kiện chấp nhận được
Ghi công – việc phân phối tác phẩm phải bao gồm việc ghi công
Tính toàn vẹn – có thể yêu cầu các phiên bản đã sửa đổi của tác phẩm được cấp phép phải có tên hoặc số phiên bản khác
Chia sẻ tương tự – các bản sao phải giữ nguyên giấy phép
Thông báo – giấy phép có thể yêu cầu thông báo về bản quyền
Mã nguồn – tác phẩm đã sửa đổi cần phải có sẵn ở dạng cho phép sửa đổi thêm
Cấm hạn chế kỹ thuật – điều này có thể cấm phân phối tác phẩm
Không xâm phạm – giấy phép có thể yêu cầu người sửa đổi cấp thêm quyền cho công chúng
Câu hỏi thảo luận
Các nguyên tắc của Phần mềm Tự do Debian đã ảnh hưởng đến Định nghĩa Mở như thế nào?
Tại
sao một số người ủng hộ phần mềm mở cho rằng việc đặt hạn chế Chia sẻ
Tương tự trong giấy phép làm cho nội dung trở nên mở hơn? Bạn có đồng ý
không?
Nguyên
tắc R thứ 5 (Giữ lại - Retain) được giới thiệu bảy năm sau khi 4 nguyên
tắc (tái sử dụng, sửa đổi, phối lại và phân phối lại) được xác định. Để
cung cấp quyền truy cập vào tài liệu, thư viện được tạo ra để giúp mọi
người tiếp cận sách khi việc sở hữu là không thể. Giờ đây, việc sở hữu
sách giáo khoa rất khả thi, nhưng chi phí sách giáo khoa đang tăng cao
đến mức các tổ chức đang cố gắng thuyết phục sinh viên quay trở lại mô
hình truy cập.
Những điểm chính
Tài
nguyên giáo dục mở (OER) được định nghĩa là quyền truy cập miễn phí và
không bị hạn chế vào các tài nguyên cũng như bất kỳ quyền bản quyền nào
cần thiết để người dùng tham gia vào các hoạt động 4R.
Sự tấn công vào quyền sở hữu cá nhân – các nhà xuất bản vẫn giữ quyền kiểm soát đối với bạn và việc sử dụng nội dung của họ.
Mực
in biến mất – các tổ chức cố gắng làm cho sách trở nên dễ tiếp cận hơn
bằng cách giảm nhẹ quyền truy cập vào chúng (mua lại, cho thuê, đăng ký,
quản lý bản quyền kỹ thuật số) – về cơ bản, các tổ chức/nhà xuất bản
đang truyền đạt cho sinh viên rằng sách của họ sẽ không hữu ích ngoài
một lớp học, điều này dường như làm mất đi mục đích của chúng. Trường
đại học đang đưa ra một thông điệp mâu thuẫn khi làm điều này và đồng
thời yêu cầu bạn tham gia các lớp học dựa trên những cuốn sách này.
Nguyên tắc R thứ 5
Các nhà xuất bản thương mại sẽ không giải quyết vấn đề này, vì vậy trách nhiệm thuộc về giáo dục mở
Các khung OER vẫn chưa tập trung vào quyền sở hữu, mặc dù điều này được ngụ ý ở các lĩnh vực khác
Việc bổ sung vào khung sẽ giúp tập trung vào vấn đề này.
Câu hỏi thảo luận
Hãy
nghĩ về các vấn đề lưu trữ. Nếu bạn có quyền truy cập vào một thứ gì đó
ngay bây giờ, và cảm giác gần như là có quyền sở hữu vì bạn không muốn
có bản sao cứng hoặc thậm chí là bản sao trên ổ cứng của hầu hết mọi
thứ, nhưng nếu người khác đang lưu trữ nó, điều đó có nghĩa là bạn có
thể mất quyền truy cập bất cứ lúc nào mà không có bất kỳ cảnh báo nào?
Tại sao nguyên tắc 5R lại quan trọng trong vấn đề giáo dục mở?
Bài
luận ngắn này lập luận rõ ràng chống lại ý tưởng về một tiêu chí phân
định ranh giới rõ ràng cho khái niệm “mở” trong bối cảnh nội dung mở.
Những điểm chính
Các định nghĩa về mở tồn tại trên một dải liên tục.
Mặc
dù có một số người muốn có các định nghĩa chính xác hoặc “ranh giới rõ
ràng”, cho phép họ phân định rõ ràng cái gì là mở và cái gì không, nhưng
việc tạo không gian cho những người ra quyết định suy nghĩ sâu sắc về
khái niệm tính mở là rất quan trọng.
Không phải tất cả các bài học từ phần mềm nguồn mở đều có thể được áp dụng trực tiếp vào suy nghĩ của chúng ta về nội dung mở.
Phần mềm và nội dung khác nhau ở những điểm tinh tế và quan trọng.
Ngày 25/08/2026, Câu lạc bộ
Phần mềm Tự do Nguồn Mở Việt Nam - VFOSSA (Vietnam Free and Open Source
Software Association) đã tổ chức Hội thảo: Hội thảo: Linux và phần mềm
nguồn mở - hướng đi giúp doanh nghiệp Việt Nam tuân thủ pháp luật về bản
quyền với chi phí hợp lý nhằm mục đích giúp các doanh nghiệp Việt Nam
hiểu rõ hơn về phần mềm nguồn mở, ứng dụng và phát triển phần mềm nguồn
mở để làm chủ công nghệ, tránh bị phụ thuộc và/hoặc bị khóa trói vào các
nhà cung cấp cụ thể, đảm bảo an ninh an toàn hệ thống, tôn trọng bản
quyền và sở hữu trí tuệ, phát triển bền vững với chi phí hợp lý.
Bốn
quyền tự do này lần đầu tiên được Tổng thống Franklin Delano Roosevelt
(FDR) tuyên bố vào ngày 6/1/1941, trong bài phát biểu Thông điệp Liên
bang. Những quyền tự do này, cụ thể là tự do ngôn luận, tự do tín
ngưỡng, tự do khỏi thiếu thốn và tự do khỏi sợ hãi, là những quyền mà
mọi người ở khắp mọi nơi đều có quyền được hưởng.
Tuyên
bố về những quyền tự do này của FDR đã phá vỡ truyền thống không can
thiệp đã được duy trì ở Hoa Kỳ kể từ Thế chiến I và thúc đẩy Hoa Kỳ tham
gia Thế chiến II khi cuộc chiến đã bắt đầu (chỉ 11 tháng sau bài phát
biểu này). Mọi người đều xứng đáng được hưởng những quyền tự do này và
Hoa Kỳ có trách nhiệm giúp bảo vệ chúng. Bài phát biểu tuyên bố những
quyền tự do này của ông là chìa khóa để định hướng cho Liên Hợp Quốc
nhiều năm sau đó, nhưng ngay lập tức hơn, nó đã cung cấp lý do hợp lý
cho sự tham gia của Mỹ vào cuộc chiến.
Những điểm chính
Trong bài phát biểu, ông nói:
“Trong
những ngày tương lai mà chúng ta mong muốn bảo đảm, chúng ta hướng tới
một thế giới được xây dựng trên bốn quyền tự do thiết yếu của con người.
Thứ nhất là tự do ngôn luận và biểu đạt – ở khắp mọi nơi trên thế giới.
Thứ hai là tự do của mỗi người được thờ phượng Chúa Trời theo cách riêng của mình – ở khắp mọi nơi trên thế giới.
Thứ
ba là tự do khỏi sự thiếu thốn – mà nếu dịch ra ở phạm vi toàn cầu, có
nghĩa là những thỏa thuận kinh tế sẽ đảm bảo cho mỗi quốc gia một cuộc
sống hòa bình lành mạnh cho người dân của mình – ở khắp mọi nơi trên thế
giới.
Thứ
tư là tự do khỏi nỗi sợ hãi – mà nếu dịch ra ở phạm vi toàn cầu, có
nghĩa là việc giảm trừ vũ khí trên toàn thế giới đến mức và một cách
triệt để đến nỗi không một quốc gia nào có thể thực hiện hành vi gây hấn
về thể chất đối với bất kỳ quốc gia láng giềng nào – ở bất cứ đâu trên
thế giới.
Đó
không phải là viễn cảnh của một thiên niên kỷ xa xôi. Đó là một nền
tảng chắc chắn cho một kiểu thế giới có thể đạt được trong thời đại và
thế hệ của chúng ta. Kiểu thế giới đó hoàn toàn trái ngược với cái gọi
là trật tự chuyên chế mới mà các nhà độc tài tìm cách tạo ra bằng tiếng
nổ của một quả bom.” – Franklin D. Roosevelt, trích từ Bài phát biểu
Thông điệp Liên bang trước Quốc hội, ngày 6/1/1941
Câu hỏi thảo luận
Bốn quyền tự do của FDR đã tác động như thế nào đến phong trào mở?
Bốn quyền tự do vẫn đang ảnh hưởng đến phong trào mở như thế nào?
Những người không ủng hộ tư tưởng mở có phải đang thực hành một hình thức chuyên chế không?
Tự do kinh tế mà tư tưởng mở mang lại là gì, nếu có?
Roosevelt, F. D. (1941). Bài diễn văn Thông điệp Liên bang năm 1941 trước Quốc hội (“Bốn quyền tự do”). (6/1/1941) truy cập tại https://edtechbooks.org/-BWIi
Kennedy,
David M., Tự do khỏi nỗi sợ hãi: Người dân Mỹ trong thời kỳ suy thoái
và chiến tranh, 1929–1945 (Oxford: Nhà xuất bản Đại học Oxford, 1999)
393–94
Bài
diễn văn đầy cảm hứng của Franklin D. Roosevelt về bốn quyền tự do đã
cung cấp cho Richard Stallman một khuôn khổ để tuyên bố, với hy vọng là
một cách truyền cảm hứng, Bốn Quyền Tự Do liên quan đến phần mềm.
Stallman, một sinh viên tốt nghiệp MIT, lo ngại về xu hướng ngày càng
tăng của phần mềm độc quyền, đã khởi xướng phong trào Phần mềm Tự do
(Free Software), hiện được Quỹ Phần mềm Tự do (Free Software Foundation)
hỗ trợ.
Những điểm chính
Một chương trình được gọi là “phần mềm tự do” nếu người dùng chương trình đó có bốn quyền tự do thiết yếu sau:
Quyền tự do chạy chương trình theo ý muốn, cho bất kỳ mục đích nào.
Quyền
tự do nghiên cứu cách thức hoạt động của chương trình và thay đổi nó để
nó thực hiện các tác vụ tính toán theo ý muốn. Quyền truy cập vào mã
nguồn là điều kiện tiên quyết cho việc này.
Quyền tự do phân phối lại các bản sao để bạn có thể giúp đỡ người khác.
Quyền
tự do phân phối các bản sao phiên bản đã sửa đổi của bạn cho người
khác. Bằng cách này, bạn có thể cho toàn bộ cộng đồng cơ hội hưởng lợi
từ những thay đổi của bạn. Quyền truy cập vào mã nguồn là điều kiện tiên
quyết cho việc này.
Nếu phần mềm được cấp phép theo cách không cung cấp 4 quyền tự do này, thì nó được phân loại là không tự do hoặc độc quyền.
Câu hỏi thảo luận
Bốn quyền tự do của Stallman có tác động như thế nào đến khái niệm "mở"?
"Tự do" khác với "mở" như thế nào?
Tài liệu tham khảo bổ sung
Quỹ Phần mềm Tự do (Free Software Foundation). (2013). Phần mềm tự do là gì. Truy cập tại https://edtechbooks.org/-awLr
Nội dung này được EdTech Books cung cấp miễn phí cho bạn.
Khi
những người ủng hộ tầm nhìn về tự do của Stallman nhận thấy những gì
đang xảy ra với nội dung mở, họ đã cố gắng giành lại quyền kiểm soát
cuộc đối thoại bằng cách bắt đầu nói về "nội dung tự do" (free content).
(Đây là một trong những trường hợp trong lịch sử mà khái niệm "mở" xuất
hiện trước.) Tuy nhiên, vẫn còn nhiều sự mơ hồ xung quanh cụm từ "nội
dung tự do", đặc biệt là khi nó được những người tham gia vào các dự án
Wikimedia sử dụng.
Công
trình "Định nghĩa Tự do" được Erik Möller khởi xướng như một phương
tiện để giải quyết sự mơ hồ về cụm từ "nội dung tự do". Nó được lấy cảm
hứng từ Định nghĩa Phần mềm Tự do. Những phản hồi hữu ích đã nhận được
trong quá trình soạn thảo ban đầu (theo thứ tự thời gian này) từ Richard
Stallman của Tổ chức Phần mềm Tự do, Lawrence Lessig của Creative
Commons, và Angela Beesley, thành viên hội đồng quản trị của Tổ chức
Wikimedia và Phó Chủ tịch của Wikia, Inc. Benjamin Mako Hill, người đã
theo đuổi những mục tiêu tương tự (như được thể hiện trong bài báo
“Hướng tới một tiêu chuẩn về tự do” - Towards a Standard of Freedom), đã
nhanh chóng tham gia dự án và giúp cải thiện định nghĩa ngay cả trước
khi giai đoạn chỉnh sửa mở được khởi động vào năm 2006.
Những điểm chính
Tự do sử dụng tác phẩm và hưởng lợi từ việc sử dụng tác phẩm
Tự do nghiên cứu tác phẩm và áp dụng kiến thức thu được từ tác phẩm
Tự do tạo ra và phân phối lại các bản sao, toàn bộ hoặc một phần, của thông tin hoặc biểu đạt
Tự do thực hiện các thay đổi và cải tiến, và phân phối các tác phẩm phái sinh
Câu hỏi thảo luận
Bốn quyền tự do của Stallman đã ảnh hưởng đến định nghĩa này như thế nào?
Các
Giấy phép Văn hóa Tự do (Free Culture Licenses) dường như có cùng quy
tắc với Phần mềm Tự do của Stallman, vậy chúng có phải là nhánh Nội dung
của Phần mềm Tự do không?
Các
Nguyên tắc Phần mềm Tự do Debian - DFSG (Debian Free Software
Guidelines) là một tập hợp các nguyên tắc mà Dự án Debian sử dụng để xác
định xem giấy phép được một phần mềm sử dụng có đủ điều kiện là giấy
phép phần mềm tự do hay không. Sự phân biệt này rất quan trọng vì nó
quyết định liệu một phần mềm có đủ điều kiện để được đưa vào Dự án
Debian hay không.
Ý
tưởng về việc nêu rõ “hợp đồng xã hội của dự án với cộng đồng phần mềm
tự do” được Ean Schuessler đề xuất. DFSG này được Bruce Perens soạn
thảo, được các nhà phát triển Debian khác tinh chỉnh trong một hội nghị
qua email kéo dài một tháng vào tháng 6/1997, và sau đó được chấp nhận
là chính sách được công bố công khai của Dự án Debian.
Những điểm chính
Hợp đồng xã hội Debian, bao gồm DFSG, nêu rõ:
Debian
sẽ vẫn là Phần mềm Tự do 100% – họ sẽ hỗ trợ những người dùng nào phát
triển và sử dụng phần mềm không tự do dựa trên Debian, nhưng sẽ không
bắt buộc hệ thống phải cần đến nó.
Các Nguyên tắc Phần mềm Tự do Debian:
Phân phối lại miễn phí – không hạn chế, không phí bản quyền
Mã nguồn – cũng phải được phân phối
Tác phẩm phái sinh – phải được cho phép
Tính
toàn vẹn về Mã nguồn của Tác giả – giấy phép có thể hạn chế việc phân
phối mã nguồn khi đã được sửa đổi chỉ khi các tệp vá lỗi được cho phép.
Các tệp phái sinh có thể được yêu cầu sử dụng một cái tên hoặc con số
khác. (Đây là một sự thỏa hiệp bất đắc dĩ).
Không phân biệt đối xử với cá nhân hoặc nhóm
Không phân biệt đối xử với các lĩnh vực hoạt động (ví dụ: kinh doanh, nghiên cứu di truyền)
Phân phối giấy phép – phải có khả năng sử dụng cùng một giấy phép trong các bản phân phối
Giấy phép không được dành riêng cho Debian – giấy phép phải đứng độc lập
Giấy phép không được làm ảnh hưởng đến phần mềm khác – không được hạn chế phần mềm đi kèm với nó.
Ví dụ về các giấy phép – GPL, BSD, Artistic.
Họ
sẽ đóng góp lại cho cộng đồng phần mềm tự do – những sản phẩm mới sẽ
được cấp phép dưới dạng phần mềm tự do. Họ sẽ tạo ra hệ thống tốt nhất
có thể và cải thiện sản phẩm của mình.
Sẽ không che giấu các vấn đề – giữ nguyên toàn bộ hệ thống nhưng báo cáo công khai.
Ưu
tiên là người dùng và phần mềm tự do – Sẽ không ngăn cản người dùng sử
dụng bất kỳ phần mềm nào họ muốn trên Debian, nhưng hệ thống sẽ vẫn duy
trì chất lượng cao và miễn phí.
Các
chương trình không đáp ứng tiêu chuẩn phần mềm tự do – Có chỗ cho phần
mềm không tự do trên Debian và họ sẽ cung cấp cơ sở hạ tầng cho nó.
Câu hỏi thảo luận
Debian có mối quan hệ như thế nào với phần mềm mở?
Tài liệu tham khảo bổ sung
Open Source Definition. (2014). Sáng kiến Nguồn Mở (Open Source Initiative). Truy cập tại http://opensource.org/docs/osd