Ngày 25/08/2026, Câu lạc bộ
Phần mềm Tự do Nguồn Mở Việt Nam - VFOSSA (Vietnam Free and Open Source
Software Association) đã tổ chức Hội thảo: Hội thảo: Linux và phần mềm
nguồn mở - hướng đi giúp doanh nghiệp Việt Nam tuân thủ pháp luật về bản
quyền với chi phí hợp lý nhằm mục đích giúp các doanh nghiệp Việt Nam
hiểu rõ hơn về phần mềm nguồn mở, ứng dụng và phát triển phần mềm nguồn
mở để làm chủ công nghệ, tránh bị phụ thuộc và/hoặc bị khóa trói vào các
nhà cung cấp cụ thể, đảm bảo an ninh an toàn hệ thống, tôn trọng bản
quyền và sở hữu trí tuệ, phát triển bền vững với chi phí hợp lý.
Bốn
quyền tự do này lần đầu tiên được Tổng thống Franklin Delano Roosevelt
(FDR) tuyên bố vào ngày 6/1/1941, trong bài phát biểu Thông điệp Liên
bang. Những quyền tự do này, cụ thể là tự do ngôn luận, tự do tín
ngưỡng, tự do khỏi thiếu thốn và tự do khỏi sợ hãi, là những quyền mà
mọi người ở khắp mọi nơi đều có quyền được hưởng.
Tuyên
bố về những quyền tự do này của FDR đã phá vỡ truyền thống không can
thiệp đã được duy trì ở Hoa Kỳ kể từ Thế chiến I và thúc đẩy Hoa Kỳ tham
gia Thế chiến II khi cuộc chiến đã bắt đầu (chỉ 11 tháng sau bài phát
biểu này). Mọi người đều xứng đáng được hưởng những quyền tự do này và
Hoa Kỳ có trách nhiệm giúp bảo vệ chúng. Bài phát biểu tuyên bố những
quyền tự do này của ông là chìa khóa để định hướng cho Liên Hợp Quốc
nhiều năm sau đó, nhưng ngay lập tức hơn, nó đã cung cấp lý do hợp lý
cho sự tham gia của Mỹ vào cuộc chiến.
Những điểm chính
Trong bài phát biểu, ông nói:
“Trong
những ngày tương lai mà chúng ta mong muốn bảo đảm, chúng ta hướng tới
một thế giới được xây dựng trên bốn quyền tự do thiết yếu của con người.
Thứ nhất là tự do ngôn luận và biểu đạt – ở khắp mọi nơi trên thế giới.
Thứ hai là tự do của mỗi người được thờ phượng Chúa Trời theo cách riêng của mình – ở khắp mọi nơi trên thế giới.
Thứ
ba là tự do khỏi sự thiếu thốn – mà nếu dịch ra ở phạm vi toàn cầu, có
nghĩa là những thỏa thuận kinh tế sẽ đảm bảo cho mỗi quốc gia một cuộc
sống hòa bình lành mạnh cho người dân của mình – ở khắp mọi nơi trên thế
giới.
Thứ
tư là tự do khỏi nỗi sợ hãi – mà nếu dịch ra ở phạm vi toàn cầu, có
nghĩa là việc giảm trừ vũ khí trên toàn thế giới đến mức và một cách
triệt để đến nỗi không một quốc gia nào có thể thực hiện hành vi gây hấn
về thể chất đối với bất kỳ quốc gia láng giềng nào – ở bất cứ đâu trên
thế giới.
Đó
không phải là viễn cảnh của một thiên niên kỷ xa xôi. Đó là một nền
tảng chắc chắn cho một kiểu thế giới có thể đạt được trong thời đại và
thế hệ của chúng ta. Kiểu thế giới đó hoàn toàn trái ngược với cái gọi
là trật tự chuyên chế mới mà các nhà độc tài tìm cách tạo ra bằng tiếng
nổ của một quả bom.” – Franklin D. Roosevelt, trích từ Bài phát biểu
Thông điệp Liên bang trước Quốc hội, ngày 6/1/1941
Câu hỏi thảo luận
Bốn quyền tự do của FDR đã tác động như thế nào đến phong trào mở?
Bốn quyền tự do vẫn đang ảnh hưởng đến phong trào mở như thế nào?
Những người không ủng hộ tư tưởng mở có phải đang thực hành một hình thức chuyên chế không?
Tự do kinh tế mà tư tưởng mở mang lại là gì, nếu có?
Roosevelt, F. D. (1941). Bài diễn văn Thông điệp Liên bang năm 1941 trước Quốc hội (“Bốn quyền tự do”). (6/1/1941) truy cập tại https://edtechbooks.org/-BWIi
Kennedy,
David M., Tự do khỏi nỗi sợ hãi: Người dân Mỹ trong thời kỳ suy thoái
và chiến tranh, 1929–1945 (Oxford: Nhà xuất bản Đại học Oxford, 1999)
393–94
Bài
diễn văn đầy cảm hứng của Franklin D. Roosevelt về bốn quyền tự do đã
cung cấp cho Richard Stallman một khuôn khổ để tuyên bố, với hy vọng là
một cách truyền cảm hứng, Bốn Quyền Tự Do liên quan đến phần mềm.
Stallman, một sinh viên tốt nghiệp MIT, lo ngại về xu hướng ngày càng
tăng của phần mềm độc quyền, đã khởi xướng phong trào Phần mềm Tự do
(Free Software), hiện được Quỹ Phần mềm Tự do (Free Software Foundation)
hỗ trợ.
Những điểm chính
Một chương trình được gọi là “phần mềm tự do” nếu người dùng chương trình đó có bốn quyền tự do thiết yếu sau:
Quyền tự do chạy chương trình theo ý muốn, cho bất kỳ mục đích nào.
Quyền
tự do nghiên cứu cách thức hoạt động của chương trình và thay đổi nó để
nó thực hiện các tác vụ tính toán theo ý muốn. Quyền truy cập vào mã
nguồn là điều kiện tiên quyết cho việc này.
Quyền tự do phân phối lại các bản sao để bạn có thể giúp đỡ người khác.
Quyền
tự do phân phối các bản sao phiên bản đã sửa đổi của bạn cho người
khác. Bằng cách này, bạn có thể cho toàn bộ cộng đồng cơ hội hưởng lợi
từ những thay đổi của bạn. Quyền truy cập vào mã nguồn là điều kiện tiên
quyết cho việc này.
Nếu phần mềm được cấp phép theo cách không cung cấp 4 quyền tự do này, thì nó được phân loại là không tự do hoặc độc quyền.
Câu hỏi thảo luận
Bốn quyền tự do của Stallman có tác động như thế nào đến khái niệm "mở"?
"Tự do" khác với "mở" như thế nào?
Tài liệu tham khảo bổ sung
Quỹ Phần mềm Tự do (Free Software Foundation). (2013). Phần mềm tự do là gì. Truy cập tại https://edtechbooks.org/-awLr
Nội dung này được EdTech Books cung cấp miễn phí cho bạn.
Khi
những người ủng hộ tầm nhìn về tự do của Stallman nhận thấy những gì
đang xảy ra với nội dung mở, họ đã cố gắng giành lại quyền kiểm soát
cuộc đối thoại bằng cách bắt đầu nói về "nội dung tự do" (free content).
(Đây là một trong những trường hợp trong lịch sử mà khái niệm "mở" xuất
hiện trước.) Tuy nhiên, vẫn còn nhiều sự mơ hồ xung quanh cụm từ "nội
dung tự do", đặc biệt là khi nó được những người tham gia vào các dự án
Wikimedia sử dụng.
Công
trình "Định nghĩa Tự do" được Erik Möller khởi xướng như một phương
tiện để giải quyết sự mơ hồ về cụm từ "nội dung tự do". Nó được lấy cảm
hứng từ Định nghĩa Phần mềm Tự do. Những phản hồi hữu ích đã nhận được
trong quá trình soạn thảo ban đầu (theo thứ tự thời gian này) từ Richard
Stallman của Tổ chức Phần mềm Tự do, Lawrence Lessig của Creative
Commons, và Angela Beesley, thành viên hội đồng quản trị của Tổ chức
Wikimedia và Phó Chủ tịch của Wikia, Inc. Benjamin Mako Hill, người đã
theo đuổi những mục tiêu tương tự (như được thể hiện trong bài báo
“Hướng tới một tiêu chuẩn về tự do” - Towards a Standard of Freedom), đã
nhanh chóng tham gia dự án và giúp cải thiện định nghĩa ngay cả trước
khi giai đoạn chỉnh sửa mở được khởi động vào năm 2006.
Những điểm chính
Tự do sử dụng tác phẩm và hưởng lợi từ việc sử dụng tác phẩm
Tự do nghiên cứu tác phẩm và áp dụng kiến thức thu được từ tác phẩm
Tự do tạo ra và phân phối lại các bản sao, toàn bộ hoặc một phần, của thông tin hoặc biểu đạt
Tự do thực hiện các thay đổi và cải tiến, và phân phối các tác phẩm phái sinh
Câu hỏi thảo luận
Bốn quyền tự do của Stallman đã ảnh hưởng đến định nghĩa này như thế nào?
Các
Giấy phép Văn hóa Tự do (Free Culture Licenses) dường như có cùng quy
tắc với Phần mềm Tự do của Stallman, vậy chúng có phải là nhánh Nội dung
của Phần mềm Tự do không?
Các
Nguyên tắc Phần mềm Tự do Debian - DFSG (Debian Free Software
Guidelines) là một tập hợp các nguyên tắc mà Dự án Debian sử dụng để xác
định xem giấy phép được một phần mềm sử dụng có đủ điều kiện là giấy
phép phần mềm tự do hay không. Sự phân biệt này rất quan trọng vì nó
quyết định liệu một phần mềm có đủ điều kiện để được đưa vào Dự án
Debian hay không.
Ý
tưởng về việc nêu rõ “hợp đồng xã hội của dự án với cộng đồng phần mềm
tự do” được Ean Schuessler đề xuất. DFSG này được Bruce Perens soạn
thảo, được các nhà phát triển Debian khác tinh chỉnh trong một hội nghị
qua email kéo dài một tháng vào tháng 6/1997, và sau đó được chấp nhận
là chính sách được công bố công khai của Dự án Debian.
Những điểm chính
Hợp đồng xã hội Debian, bao gồm DFSG, nêu rõ:
Debian
sẽ vẫn là Phần mềm Tự do 100% – họ sẽ hỗ trợ những người dùng nào phát
triển và sử dụng phần mềm không tự do dựa trên Debian, nhưng sẽ không
bắt buộc hệ thống phải cần đến nó.
Các Nguyên tắc Phần mềm Tự do Debian:
Phân phối lại miễn phí – không hạn chế, không phí bản quyền
Mã nguồn – cũng phải được phân phối
Tác phẩm phái sinh – phải được cho phép
Tính
toàn vẹn về Mã nguồn của Tác giả – giấy phép có thể hạn chế việc phân
phối mã nguồn khi đã được sửa đổi chỉ khi các tệp vá lỗi được cho phép.
Các tệp phái sinh có thể được yêu cầu sử dụng một cái tên hoặc con số
khác. (Đây là một sự thỏa hiệp bất đắc dĩ).
Không phân biệt đối xử với cá nhân hoặc nhóm
Không phân biệt đối xử với các lĩnh vực hoạt động (ví dụ: kinh doanh, nghiên cứu di truyền)
Phân phối giấy phép – phải có khả năng sử dụng cùng một giấy phép trong các bản phân phối
Giấy phép không được dành riêng cho Debian – giấy phép phải đứng độc lập
Giấy phép không được làm ảnh hưởng đến phần mềm khác – không được hạn chế phần mềm đi kèm với nó.
Ví dụ về các giấy phép – GPL, BSD, Artistic.
Họ
sẽ đóng góp lại cho cộng đồng phần mềm tự do – những sản phẩm mới sẽ
được cấp phép dưới dạng phần mềm tự do. Họ sẽ tạo ra hệ thống tốt nhất
có thể và cải thiện sản phẩm của mình.
Sẽ không che giấu các vấn đề – giữ nguyên toàn bộ hệ thống nhưng báo cáo công khai.
Ưu
tiên là người dùng và phần mềm tự do – Sẽ không ngăn cản người dùng sử
dụng bất kỳ phần mềm nào họ muốn trên Debian, nhưng hệ thống sẽ vẫn duy
trì chất lượng cao và miễn phí.
Các
chương trình không đáp ứng tiêu chuẩn phần mềm tự do – Có chỗ cho phần
mềm không tự do trên Debian và họ sẽ cung cấp cơ sở hạ tầng cho nó.
Câu hỏi thảo luận
Debian có mối quan hệ như thế nào với phần mềm mở?
Tài liệu tham khảo bổ sung
Open Source Definition. (2014). Sáng kiến Nguồn Mở (Open Source Initiative). Truy cập tại http://opensource.org/docs/osd
Trong
tài liệu “Về giấy phép xuất bản mở”, David Wiley phác thảo lịch sử của
việc cấp phép nội dung mở bắt đầu bằng Giấy phép Nội dung Mở - OCL (Open
Content License) và tiếp theo là Giấy phép Xuất bản Mở - OPL (Open
Publication License). Ông giải thích những thiếu sót của cả Giấy phép
Nội dung Mở và Giấy phép Xuất bản Mở và tại sao cuối cùng chúng được
thay thế bằng Giấy phép Creative Commons (CC) mạnh mẽ hơn.
Những điểm chính
Giấy phép Nội dung Mở (OCL) được xuất bản vào ngày 14/7/1998.
Giấy
phép Xuất bản Mở (OPL) cải tiến được xuất bản vào ngày 8/6/1999 và là
kết quả của sự cộng tác giữa David Wiley, Eric Raymond và những người
khác.
Các
giấy phép Creative Commons đã được xuất bản tháng 12/2002 và hiện nay
là các giấy phép được sử dụng cho hầu hết việc cấp phép nội dung mở hiện
nay.
Câu hỏi thảo luận
1. Lý do chính cho việc từ bỏ cả OCL và OPL để chuyển sang CC là gì?
2. Điểm mạnh và điểm yếu của các giấy phép Creative Commons là gì?
Nội dung này được EdTech Books cung cấp miễn phí cho bạn.
Hội
nghị iSummit năm 2008 đánh dấu mười năm kể từ khi giấy phép nội dung mở
đầu tiên được giới thiệu. Trong video này, David Wiley, người sáng lập
Open Content (Nội dung Mở), nói về sự ra đời của ý tưởng nội dung mở,
đánh giá những thành công và thách thức của nội dung mở trong thập kỷ
qua, và chia sẻ tầm nhìn của ông về hướng đi và khả năng tương lai của
nội dung mở.
Những điểm chính
Open
Content (Nội dung Mở) dần dần nổi lên từ mảnh đất màu mỡ được phong
trào Phần mềm Tự do của Richard Stallman và phong trào Mã nguồn Mở của
Eric Raymond chuẩn bị. Wiley, khi làm việc tại Đại học Marshall và sau
đó là nghiên cứu sinh tại BYU, dần nhận ra rằng các lý tưởng và nguyên
tắc của phần mềm nguồn mở có thể được áp dụng vào thế giới nội dung giáo
dục kỹ thuật số và, nếu được thực hiện đúng cách, có thể cách mạng hóa
giáo dục như chúng ta biết.
Bước
đầu tiên trong việc tạo ra nội dung mở là tạo ra một giấy phép GPL cho
nội dung. Wiley đã bắt tay vào làm điều này và, theo thời gian, đã giúp
tạo ra Giấy phép Xuất bản Mở - OPL (Open Publication License), tiền thân
về mặt trí tuệ của các giấy phép Creative Commons được sử dụng trên
toàn thế giới ngày nay.
Trong
thập kỷ qua, hàng triệu sản phẩm – bao gồm ảnh, nhạc, video và bài viết
– đã được cấp phép theo giấy phép Creative Commons, UNESCO đã nhiệt
tình thúc đẩy Tài nguyên Giáo dục Mở, và Tuyên bố Cape Town đã được hàng
nghìn người ký kết. Tất cả những điều này đã khiến Wiley phải thốt lên,
“Không tồi chút nào cho mười năm!”
Cuối
cùng, Wiley nêu ra một số vấn đề vẫn cần được giải quyết như khả năng
tương thích của việc cấp phép và định nghĩa thuật ngữ “phi thương mại”
(noncommercial), và nhìn về phía trước một số cơ hội, chẳng hạn như CC
plus, CC zero, và khái niệm Trường Trung học Mở Utah (một trường trung
học trực tuyến miễn phí và hoàn toàn sử dụng tài liệu mở, hiện được đổi
tên thành Học viện Mountain Heights).
Câu hỏi thảo luận
1. Một số thành công của thập kỷ đầu tiên của Nội dung Mở là gì? Một số thách thức là gì?
2. Ngoài những điều Wiley đã đề cập, những thách thức và thành công tiềm năng khác trong tương lai của Nội dung Mở là gì?
3. Cá nhân bạn đã thấy tác động của Tài nguyên Giáo dục Mở như thế nào?
Phần
lớn nhờ bài báo này, Eric Raymond là một trong những tiếng nói hàng đầu
và người ủng hộ mạnh mẽ phần mềm nguồn mở. Phong trào phần mềm nguồn mở
bắt nguồn từ phong trào phần mềm tự do của những năm 80 và 90. Thay vì
chủ yếu được thúc đẩy bởi hệ tư tưởng, như trường hợp của phần mềm tự
do, cộng đồng nguồn mở chủ yếu được thúc đẩy bởi những lợi ích thiết
thực có thể đạt được thông qua việc tham gia vào nguồn mở. Khi xã hội
ngày càng hướng tới các mô hình nguồn mở, tư duy của Raymond và cộng
đồng mà ông truyền cảm hứng đã ảnh hưởng mạnh mẽ đến quyền sở hữu trí
tuệ và luật pháp cũng như các chuẩn mực văn hóa liên quan đến sản xuất
và phát triển phần mềm. Ví dụ, người ta thừa nhận rộng rãi rằng cuốn
sách “Nhà thờ lớn và cái chợ” đã thuyết phục Netscape phát hành mã nguồn
trình duyệt web của họ và khởi động dự án Mozilla/Firefox.
Những điểm chính
Trong
“Nhà thờ lớn và cái chợ”, Eric Raymond đưa ra một dàn ý gồm 19 bài học
mà ông đã học được từ việc tham gia vào cộng đồng nguồn mở. Chủ đề xuyên
suốt của mỗi bài học này là sự ưu việt của nguồn mở và mã mở so với
phần mềm độc quyền. Raymond đưa ra lập luận mạnh mẽ rằng các cộng đồng
phần mềm nguồn mở phát triển phần mềm nhanh hơn, tạo ra phần mềm ít lỗi
hơn, sáng tạo hơn và phù hợp hơn với người dùng cuối so với các công ty
sản xuất phần mềm độc quyền. Raymond cũng nêu rõ các điều kiện tiên
quyết cần thiết để một cộng đồng phần mềm nguồn mở thịnh vượng.
Câu hỏi thảo luận
Theo
Raymond, những điều kiện tiên quyết nào phải được đáp ứng trước khi các
cộng đồng phần mềm nguồn mở có thể phát triển mạnh? Bạn đồng ý hay
không đồng ý?
Bên
cạnh phần mềm nguồn mở, những tác phẩm sáng tạo nào khác được phát
triển bằng các nguyên tắc tương tự như những nguyên tắc mà Raymond đã
nêu trong bài viết này?
Những môi trường sản xuất nào khác có thể hưởng lợi từ việc kết hợp các nguyên tắc này? Tại sao?
Loại môi trường sản xuất nào sẽ không được hưởng lợi từ phương pháp tiếp cận của phần mềm nguồn mở? Tại sao?
Trong
cuốn “Homesteading the Noosphere”, Eric Raymond đưa ra một cái nhìn
tổng quan hấp dẫn về động cơ và các nguyên tắc tổ chức không chính thức
về văn hóa của người vọc (hacker) phần mềm, mà theo ông, bắt nguồn từ
các nguyên tắc quyền sở hữu của Locke. Raymond xác định tư cách thành
viên trong văn hóa nguồn mở thông qua lăng kính về các mức độ nhiệt tình
và thù địch khác nhau đối với phần mềm thương mại. Các kết hợp và cường
độ khác nhau của những biến thể này tạo nên chín thái độ khác nhau của
hacker – từ những người nhiệt tình phản đối và công khai thù địch với
phần mềm thương mại “độc ác” đến những người lập trình như một sở thích
và vui vẻ sử dụng Windows cho công việc hàng ngày của họ (và thỉnh
thoảng vào buổi tối và cuối tuần).
Những điểm chính
Raymond
cũng khám phá hiện tượng khá khó hiểu về các cộng đồng nguồn mở của các
lập trình viên không được trả lương, những người sẽ phát triển các sản
phẩm cực kỳ hữu ích và chuyên nghiệp với tốc độ nhanh hơn so với các lập
trình viên được trả lương. Ông cho rằng các hacker đã áp dụng một hình
thức quyền sở hữu ngầm dựa trên “văn hóa tặng quà”, trong đó danh tiếng,
chứ không phải tiền bạc, là thứ hàng hóa được mong muốn. Raymond sử
dụng một số lý thuyết lịch sử và liên quan để hỗ trợ lập luận của mình
rằng cộng đồng nguồn mở thực sự có một cấu trúc khả thi cho phép các con
đường hiệu quả để giải quyết xung đột và phát triển phần mềm.
Câu hỏi thảo luận
Điều
gì thúc đẩy mọi người tham gia hoạt động tình nguyện (ví dụ: xây nhà,
làm việc tại các bếp ăn từ thiện, dọn dẹp sau thảm họa, dạy trẻ em đọc)?
Những động lực tương tự đã thúc đẩy cộng đồng phần mềm nguồn mở như thế
nào?
“Sự dư dả” trong môi trường trực tuyến ảnh hưởng như thế nào đến văn hóa tặng quà của cộng đồng hacker?
Thuật
ngữ giáo dục mở đề cập đến việc ứng dụng các triết lý và thực tiễn của
nguồn mở trong lĩnh vực giáo dục. Phong trào nguồn mở và nhiều triết lý
của nó có thể được truy nguyên và phát triển từ những ý tưởng của
Richard Stallman về phần mềm tự do. Các khái niệm được thảo luận trong
bài đọc này, theo nhiều cách, là mầm mống mà từ đó giáo dục mở cuối cùng
đã phát triển. Stallman giải thích bản chất của sự tự do (“tự do như
trong ngôn luận” chứ không phải “tự do như trong uống bia”) đã ảnh hưởng
mạnh mẽ đến các định nghĩa về mở (mở theo nghĩa có thể tái sử dụng và
phối lại, chứ không phải mở theo nghĩa “bia miễn phí”) như được sử dụng
trong cả cộng đồng nguồn mở và giáo dục mở.
Những điểm chính
Phần
mềm tự do tập trung vào sự tự do, không phải giá cả. Người dùng được tự
do để chạy, sao chép, phân phối, nghiên cứu, thay đổi và cải tiến phần
mềm tự do. Do đó, “phần mềm tự do” là vấn đề về tự do, không phải giá
cả. Một chương trình “không tự do” cấu thành một công cụ của quyền lực
bất công. Hoặc người dùng kiểm soát chương trình (tự do), hoặc chương
trình kiểm soát người dùng (không tự do) trong khi nhà phát triển kiểm
soát chương trình.
Có bốn quyền tự do thiết yếu của phần mềm tự do:
0. Quyền tự do chạy chương trình theo ý muốn, cho bất kỳ mục đích nào.
1.
Quyền tự do nghiên cứu cách chương trình hoạt động và thay đổi nó để
thực hiện những gì bạn muốn. Phải có quyền truy cập vào mã nguồn.
2. Quyền tự do phân phối lại – để giúp đỡ người khác.
3.
Quyền tự do phân phối lại các bản sao của các phiên bản đã sửa đổi.
Bằng cách này, bạn có thể cho toàn bộ cộng đồng cơ hội hưởng lợi từ
những thay đổi của bạn. Quyền truy cập vào mã nguồn là điều kiện tiên
quyết cho việc này.
Khi người dùng không kiểm soát được chương trình, Stallman gọi đó là chương trình “không tự do” hoặc “độc quyền”.
Câu hỏi thảo luận
Còn những người không có hứng thú/khả năng đóng góp cho phần mềm tự do thì sao? Liệu họ có đang bị đối xử bất công?
Tại sao một chương trình không tự do lại nhất thiết là “công cụ của quyền lực bất công”?
Điều
gì vốn dĩ “phi đạo đức” trong phần mềm không tự do? Nếu ai đó muốn kiếm
tiền từ công sức viết phần mềm của mình, điều đó có sai không?
Việc
dạy con cái các kỹ năng máy tính, chẳng hạn như chỉnh sửa ảnh, bằng
phần mềm không tự do có tạo ra sự phụ thuộc không lành mạnh (giống như
việc cho chúng hút thuốc lá) không?
Nội dung này được EdTech Books cung cấp miễn phí cho bạn.
Trong
những ngày đầu của lập trình máy tính, các lập trình viên tự do chia sẻ
mã nguồn và hợp tác với nhau. Khi ngành công nghiệp phần mềm phát
triển, các công ty bắt đầu sử dụng các thỏa thuận bảo mật ngăn cản lập
trình viên chia sẻ mã của họ. Stallman đã phản đối sự thay đổi này trên
cơ sở đạo đức và đưa ra khái niệm phần mềm tự do như một phản ứng. GNU
là một hệ điều hành dựa trên triết lý phần mềm tự do. Là tiền thân tự do
của nguồn mở, và cuối cùng là phong trào giáo dục mở, các khái niệm của
Stallman đã ảnh hưởng đến sự phát triển của triết lý giáo dục mở và nội
dung giáo dục mở.
Những điểm chính
Việc ngăn cản mọi người chia sẻ và thay đổi phần mềm là phi đạo đức.
Khái niệm phần mềm tự do dựa trên những giả định rằng các tác giả không đồng ý, chẳng hạn như:
Các
công ty phần mềm có quyền sở hữu phần mềm một cách tự nhiên và không
thể tranh cãi, và do đó có quyền lực đối với người sử dụng phần mềm.
Điều
duy nhất quan trọng về phần mềm là những nhiệm vụ nó có thể thực hiện
và do đó người dùng máy tính không nên quan tâm đến xã hội mà chúng ta
đang có.
Sẽ
chẳng ai tạo ra phần mềm hữu dụng nếu các công ty không được sở hữu nó –
điều này rõ ràng là không đúng, bằng chứng là phong trào phần mềm tự
do.
Copyleft
sử dụng luật bản quyền (Copyright Law) để cho phép người dùng làm bất
cứ điều gì họ muốn với phần mềm, ngoại trừ việc biến nó thành phần mềm
độc quyền.
Đây
thực sự là một quy tắc đạo đức: “Unix là (và vẫn là) phần mềm độc
quyền, và triết lý của Dự án GNU nói rằng chúng ta không nên sử dụng
phần mềm độc quyền. Nhưng, áp dụng cùng lý luận dẫn đến kết luận rằng
bạo lực tự vệ là chính đáng, tôi kết luận rằng việc sử dụng một gói phần
mềm độc quyền là hợp pháp khi điều đó rất quan trọng để phát triển một
phần mềm tự do thay thế giúp những người khác ngừng sử dụng gói phần mềm
độc quyền đó.”
Câu hỏi thảo luận
Điều gì đã thúc đẩy Stallman tạo ra một bản sao của hệ điều hành hiện có?
Điều gì thúc đẩy mọi người trả tiền cho phần mềm (hoặc bất cứ thứ gì khác)?
Tại
sao Stallman lại cho rằng việc chỉ quan tâm đến những nhiệm vụ mà phần
mềm có thể thực hiện là tương đương với việc không quan tâm đến loại xã
hội mà chúng ta đang có?
Nội dung này được EdTech Books cung cấp miễn phí cho bạn.
Hiểu
được lý do tại sao khái niệm “quyền sở hữu trí tuệ” tồn tại là bước đầu
tiên quan trọng để hiểu về phong trào giáo dục mở. Cuốn sách “Phạm vi
công cộng” (The Public Domain) của James Boyle cung cấp một điểm khởi
đầu tuyệt vời để phát triển sự hiểu biết này.
James
Boyle là một trong những thành viên sáng lập và cựu chủ tịch hội đồng
quản trị của Creative Commons, một hình thức cấp phép mở được chấp nhận
và sử dụng rộng rãi và phổ biến nhất trên thế giới, sẽ được thảo luận
chi tiết hơn ở phần sau của cuốn sách này. Là một trong những thành viên
chủ chốt của phong trào đương thời nhằm thay đổi cách thức bảo vệ và
phân phối quyền sở hữu trí tuệ, quan điểm của Boyle về vấn đề này là nền
tảng rất quan trọng để hiểu bối cảnh xã hội của các phát triển có ý
nghĩa lịch sử khác như việc giới thiệu bản quyền tự do/mở của Richard
Stallman, điều cũng sẽ được đề cập trong các bài đọc sau. Bằng cách hiểu
những điều khoản này, chúng ta có thể hiểu được các phong trào giáo dục
mở trong 50 năm qua. Sự tiến bộ vượt bậc của công nghệ đã thay đổi đáng
kể các lựa chọn mà xã hội có thể đưa ra liên quan đến quyền sở hữu trí
tuệ, nhưng điều quan trọng là phải hiểu lý thuyết, lịch sử và thực tế
của quyền sở hữu trí tuệ nếu xã hội hy vọng tạo ra những thay đổi thực
sự dẫn đến tiến bộ và nền giáo dục có tác động mạnh mẽ.
Những điểm chính
Chương
đầu tiên này giới thiệu về lịch sử của các khái niệm sở hữu trí tuệ. Nó
cũng khám phá xem tài sản là gì, tài sản không phải là gì và tại sao
điều đó lại quan trọng.
Trong
chương này, Boyle tập trung vào lý thuyết kinh tế đã tạo ra sở hữu trí
tuệ. Ông bắt đầu bằng cách giải thích rằng kể từ những ngày đầu của nền
văn minh phương Tây, các quyền sở hữu được xác định rõ ràng và được bảo
vệ đã rất quan trọng đối với sự tiến bộ của xã hội. Công dân có quyền sở
hữu có thể dành thời gian cho giáo dục, theo đuổi khoa học và các hoạt
động tạo ra tiền mà không cần phải dành phần lớn thời gian mài kiếm để
chống lại những tên trộm đến cướp đoạt lợi nhuận từ những hoạt động giáo
dục, khoa học hoặc tạo ra tiền đó. Với quyền sở hữu tốt và chính phủ
tốt, xã hội có thể tập trung vào các hoạt động sản xuất thay vì rơi vào
tình trạng hỗn loạn. Những điểm chính về tài sản:
Quyền
sở hữu trí tuệ thường mang tính “cạnh tranh”, nghĩa là không thể được
sử dụng bởi nhiều hơn một người cùng một lúc, vì vậy việc ăn cắp là tước
đoạt cơ hội sử dụng tài liệu của người khác.
Quyền
sở hữu trí tuệ được bảo vệ tốt sẽ khuyến khích các cá nhân sản xuất
bằng cách giúp họ nắm bắt những lợi ích trong tương lai do sáng tạo của
họ tạo ra.
Quyền
sở hữu trí tuệ đặc biệt cần thiết để khuyến khích các cá nhân khi sản
phẩm họ tạo ra rất tốn kém để sản xuất và rất rẻ để sao chép (chẳng hạn
như thuốc). Nếu không có quyền sở hữu trí tuệ, cá nhân sẽ phải gánh chịu
tất cả chi phí nghiên cứu cần thiết để đạt được sản phẩm đầu tiên nhưng
lại mất đi những lợi ích trong tương lai cho những kẻ sao chép mà không
cần đầu tư ban đầu. Nếu tình trạng này xảy ra, các nhà phát minh sẽ
không còn động lực để sáng tạo ngay từ đầu và toàn xã hội sẽ phải chịu
thiệt hại.
Hệ
thống quyền sở hữu trí tuệ được thiết lập để tạo ra những động lực nêu
trên là bằng sáng chế, nhãn hiệu thương mại và bản quyền.
Mặc
dù lý thuyết về “quyền sở hữu trí tuệ” rất hữu ích cho xã hội, Boyle đã
chỉ ra cách thức áp dụng các biện pháp bảo vệ này đã bị bóp méo và đặt
câu hỏi về việc áp dụng chúng trong không gian trực tuyến. Boyle đi sâu
vào những điểm chính sau đây về tác động tiêu cực của việc áp dụng sai
các chế độ sở hữu trí tuệ:
Hiện tại ở Mỹ, bản quyền doanh nghiệp được bảo hộ trong 95 năm và quyền cá nhân được bảo hộ suốt đời cộng thêm 70 năm.
Bản
quyền và bằng sáng chế hiện hành tồn tại lâu hơn mục đích ban đầu là
khuyến khích việc tạo ra các tác phẩm có lợi cho xã hội. Bằng cách kéo
dài quyền sở hữu trí tuệ đến hàng thập kỷ sau khi tác phẩm được tạo ra
và tác giả qua đời, sở hữu trí tuệ thực sự hạn chế tầm ảnh hưởng của tác
phẩm bằng cách hạn chế việc tái sử dụng, phối lại, làm lại hoặc phân
phối lại các tác phẩm.
Chính
sách bản quyền tức thời hiện hành tạo ra một vùng đất chết về văn hóa
bằng cách ngăn cản các nghệ sĩ hoặc nhà xuất bản (các thực thể sản xuất
khác) sử dụng các tác phẩm đương đại ngay cả khi nghệ sĩ đã chết hoặc
không quan tâm.
Bằng
sáng chế chỉ được cấp cho những phát minh mới lạ, không hiển nhiên và
hữu ích. Nhiều bằng sáng chế hiện nay không đáp ứng được các tiêu chí
đó.
Có
một số khác biệt cơ bản giữa ý tưởng và tài sản hữu hình, điều này sẽ
thay đổi cách chúng ta nhìn nhận “tài sản trí tuệ”. Theo nhiều cách, ý
tưởng và các sản phẩm kỹ thuật số không mang tính cạnh tranh, có nghĩa
là việc lấy từ một nhà sản xuất, chẳng hạn như tải xuống một bộ phim từ
Disney, không làm giảm nguồn cung sẵn có cho Disney. Bản chất không cạnh
tranh của các tài liệu kỹ thuật số sẽ thay đổi cách thức cấu trúc và áp
dụng một số luật.
Internet khiến nhiều loại hàng hóa hoạt động giống như hàng hóa công cộng hơn là hàng hóa tư nhân.
Câu hỏi thảo luận
Có
phù hợp không khi sử dụng ngôn ngữ của tài sản hữu hình khi đề cập đến
các ý tưởng và các loại hàng hóa không cạnh tranh khác (như tài sản,
trộm cắp hoặc vi phạm bản quyền)? Điểm tương đồng là gì? Điểm khác biệt
là gì? Chúng nên ảnh hưởng đến luật sở hữu trí tuệ như thế nào?
Ý tưởng mang tính cạnh tranh ở những khía cạnh nào? Ý tưởng không mang tính cạnh tranh ở những khía cạnh nào?
Còn
những hệ thống hoặc hệ thống sở hữu trí tuệ nào khác có thể khuyến
khích sự sáng tạo mà tránh được những vấn đề đã nêu ở trên?
Thời hạn bản quyền tối ưu là bao nhiêu?
Làm thế nào để cân bằng lợi ích cá nhân của người sáng tạo tác phẩm với lợi ích công cộng?
Hiện nay, những biện pháp lập pháp nào đang được thực hiện để giảm bớt các hạn chế về bản quyền?
Những bên liên quan nào đang vận động hành lang để có thời hạn bản quyền dài hơn?
Động lực cạnh tranh để sáng tạo là gì? Tình nguyện? Bắt buộc phải sáng tạo?
Tài liệu tham khảo bổ sung
Các bài viết trên Wikipedia về “Hàng hóa công cộng”, “Hàng hóa tư nhân”, “Công ước Berne”, “WIPO”
Nội dung này được EdTech Books cung cấp miễn phí cho bạn.
Chương
“Thomas Jefferson viết thư” cung cấp góc nhìn về các cuộc thảo luận, lý
tưởng và sự kiện lịch sử đã định hình nên sự hiểu biết hiện tại của
chúng ta về sở hữu trí tuệ. Chương này đi sâu hơn vào lịch sử dẫn đến
tình trạng hiện tại bằng cách giới thiệu các cuộc thảo luận của những
người sáng lập nước Mỹ có ảnh hưởng lớn thời kỳ đầu.
Chương
tập trung vào một bức thư mà Thomas Jefferson viết năm 1813, tóm gọn và
thể hiện một cách tuyệt vời vấn đề cốt lõi về mối liên hệ giữa sở hữu
trí tuệ với nhân quyền và tiến bộ xã hội.
Những điểm chính
Không
giống như chương đầu tiên của cuốn sách, Boyle dành nhiều thời gian hơn
cho các lý tưởng pháp lý mà những người sáng lập nước Mỹ thời kỳ đầu và
các nhà cải cách phương Tây ủng hộ trong nỗ lực cải thiện xã hội. Họ
phấn đấu cho cả tự do và tiến bộ, mà họ nhận ra là những lý tưởng có
phần đối lập khi nói đến một số khía cạnh của sở hữu trí tuệ và việc
thúc đẩy các cá nhân sáng tạo và chia sẻ.
Boyle
tập trung vào tuyên bố của Jefferson rằng, “bằng sáng chế là một độc
quyền được dung thứ”, nơi cạnh tranh bị hạn chế để một cá nhân có thể
gặt hái phần thưởng từ một ý tưởng hoặc nguồn lực trí tuệ. Jefferson
ủng hộ quan điểm rằng con người được ban tặng một số quyền tự nhiên
nhất định như “quyền sống, quyền tự do và quyền mưu cầu hạnh phúc”,
nhưng quyền sở hữu trí tuệ không đáp ứng tiêu chí đó.
Trên thực tế, “quyền” sở hữu trí tuệ là một đặc quyền do xã hội ban cho
để mang lại lợi ích cho xã hội, chứ không phải là quyền tự nhiên bất
khả xâm phạm. Jefferson viết rằng đặc quyền độc quyền này càng trở nên
tai hại theo thời gian và do đó cần phải được giới hạn tối đa về phạm vi
và thời hạn. Chỉ trong những trường hợp nhất định, quyền sở hữu trí tuệ
mới nên được dung thứ. Ông viết nên điều mà Boyle gọi là “Cảnh báo của
Jefferson” để nêu ra những điều kiện cần được xem xét trước khi ban hành
quyền sở hữu trí tuệ.
Cảnh
báo này tóm gọn trong các điểm sau: Thay vì coi quyền sở hữu trí tuệ
như quyền tự nhiên bất khả xâm phạm, quyền sở hữu trí tuệ:
Được
trao cho các cá nhân trong một khoảng thời gian cực kỳ hạn chế và chỉ
khi đặc quyền đó mang lại lợi ích cho xã hội mà đang trao tặng cho họ.
Vốn dĩ cản trở sự đổi mới vì chúng cản trở sự lan truyền kiến thức.
Tạo ra nhiều câu hỏi cần được giải quyết sau khi quyết định ban hành một hệ thống sở hữu trí tuệ.
Không
thể khuyến khích người đã khuất tạo ra thêm bất kỳ tác phẩm sáng tạo
nào. Hầu hết mọi người không được khuyến khích bởi các quyền mà họ có
thể có sau khi chết. Việc kéo dài thời hạn bản quyền sau khi tác giả qua
đời không thể khuyến khích họ sáng tạo thêm bất cứ điều gì. Do đó, việc
kéo dài bản quyền sau khi tác giả qua đời không mang lại lợi ích gì cho
họ mà lại làm tăng chi phí cho xã hội.
Boyle
sử dụng các lập luận mà Jefferson viết để củng cố lập luận mà ông đưa
ra trong chương đầu tiên của cuốn sách – rằng quyền sở hữu trí tuệ bị
lạm dụng nghiêm trọng và xã hội mất đi rất nhiều sự đổi mới và tiến bộ
vì điều đó. Boyle viện dẫn Jefferson và đề xuất rằng để “phát minh có
hiệu quả, chúng ta cần giới hạn chặt chẽ thời gian và phạm vi của độc
quyền do nhà nước cung cấp, nếu không thì các phát minh tiếp theo sẽ trở
nên bất khả thi.”
Câu hỏi thảo luận
Thời
hạn bản quyền của một quốc gia ảnh hưởng đến sự tiến bộ và đổi mới như
thế nào? Liệu lời cảnh báo của Jefferson chỉ áp dụng ở một số quốc gia?
Vì
việc coi một điều gì đó là bất hợp pháp không nhất thiết ngăn chặn nó
xảy ra, liệu bản quyền có thực sự là cách để bảo vệ tài sản trí tuệ?
Tại sao việc cấp bản quyền là miễn phí, nhưng việc cấp bằng sáng chế lại rất tốn kém?
Thời hạn bản quyền tối ưu là bao nhiêu?
Làm thế nào chúng ta có thể cân bằng giữa việc cung cấp đủ động lực cho người sáng tạo tác phẩm với lợi ích công cộng?
Hiện nay, những biện pháp lập pháp nào đang được thực hiện để giảm bớt các hạn chế về bản quyền?
Những bên liên quan nào đang vận động hành lang để có thời hạn bản quyền dài hơn?
Động lực cạnh tranh để sáng tạo là gì? Tự nguyện? Bắt buộc sáng tạo?
Liệu
mọi người có cần phải mua thêm số năm bản quyền ngay từ đầu, hay họ có
thể chờ xem mọi việc diễn ra như thế nào? “Nói cách khác, nếu chủ sở hữu
bản quyền phải mua riêng từng 5 năm thời hạn bổ sung, giống như cách
chúng ta mua bảo hành cho thiết bị của mình, thì những người có lý trí
về mặt kinh tế chủ yếu sẽ chọn một khoảng thời gian khá ngắn.”
Tài liệu tham khảo bổ sung
Để
được trợ giúp trả lời câu hỏi thảo luận đầu tiên ở trên, hãy xem liên
kết, đó là bài viết trên Wikipedia về “Danh sách thời lượng bản quyền
của các quốc gia”.
Nội dung này được EdTech Books cung cấp miễn phí cho bạn.