Thứ Ba, 19 tháng 5, 2026

Tổng quan Nghiên cứu của GO-GN. Sư phạm Mở


GO-GN Research Review.

Open Pedagogy

Năng lực hiểu biết dữ liệu mang tính phê phán trong giáo dục đại học: giảng dạy và nghiên cứu về đạo đức và công bằng dữ liệu

Atenas, J., Haveman, L., Kuhn, C. và Timmermann, C. (2022) Năng lực hiểu biết dữ liệu mang tính phê phán trong giáo dục đại học: giảng dạy và nghiên cứu về đạo đức và công bằng dữ liệu. Trong: Văn hóa dữ liệu trong giáo dục đại học. Springer. http://oars.uos.ac.uk/2348/

Được Kate Huth (Đại học Griffith, Úc) đánh giá

Các tác giả của chương này nhanh chóng giới thiệu cho người đọc ý tưởng rằng thế giới hiện đại của giáo dục đại học chứa rất nhiều dữ liệu, hơn nữa, việc xử lý và hiểu dữ liệu này đòi hỏi nhiều kỹ năng khác nhau. Mục đích đã nêu của họ là giải quyết một số câu hỏi về cách thức đạo đức và việc sử dụng đạo đức như một phương pháp nghiên cứu có thể giải quyết sự thiên vị trong dữ liệu, trong việc thu thập, phân tích và diễn giải dữ liệu, cũng như trong cách sử dụng dữ liệu. Họ kêu gọi các nhà giáo dục và nhà nghiên cứu cùng nhau khám phá các vấn đề về năng lực hiểu biết dữ liệu bằng cách sử dụng các hoạt động dựa trên nghiên cứu từ góc độ công bằng xã hội.

Một phần cách họ thực hiện điều này là bằng cách sử dụng nghiên cứu trường hợp về một khóa học được tổ chức tại Uruguay, vốn là một phần của nghiên cứu lớn hơn. Tuy nhiên, phần lớn chương này cố gắng giới thiệu sự hiểu biết sâu sắc hơn về dữ liệu, sự thiên vị trong dữ liệu, năng lực hiểu biết dữ liệu và đạo đức như một phương pháp nghiên cứu.

Phần thảo luận về nghiên cứu trường hợp được viết tốt và dễ hiểu. Nghiên cứu tập trung vào một khóa học cụ thể được vận hành trực tuyến trong 2 học kỳ. Khóa học yêu cầu sinh viên suy ngẫm về chính trị của dữ liệu và sự giao thoa của các khía cạnh xã hội khác nhau (chủng tộc, giới tính, dân tộc).

Dự án được thiết kế bằng cách sử dụng mô hình học tập dựa trên nghiên cứu. Những người tham gia khóa học phải xác định một vấn đề liên quan đến dữ liệu một cách phê phán và đề xuất giải pháp dựa trên nội dung đã học trong khóa học. Phản hồi tích cực đã nhận được từ những người tham gia dựa trên nội dung, tài nguyên, các nghiên cứu trường hợp thực tiễn, các hoạt động phản tư và các hoạt động có thể được áp dụng vào lớp học.

Phần này ủng hộ các lập luận do các tác giả đưa ra và cung cấp một số hiểu biết về cách sử dụng thành công các hình thức Tài nguyên Giáo dục Mở (OER) khác nhau trong nhiều bối cảnh.

Ý tưởng lớn nhất và nhất quán nhất mà các tác giả đưa ra là dữ liệu không nên được coi là vô hại. Họ xem dữ liệu như một thực thể sống – nó không tĩnh. Ngay cả khi được quan sát, nó cũng thay đổi. Dữ liệu được thu thập nhưng sau đó được phân tích, diễn giải và truyền đạt. Tại mỗi điểm này, các tác giả cho thấy, dữ liệu được xây dựng.

Có rất nhiều thông tin hơn trong phần dẫn đến nghiên cứu trường hợp, vốn là cơ sở của nghiên cứu, tuy nhiên những gì đã có khiến tôi cảm thấy chưa thỏa mãn. Thông tin có vẻ không đầy đủ vì một số ý tưởng “quan trọng” chưa được giải thích đầy đủ.

Các tác giả muốn người đọc có cách tiếp cận phê phán đối với năng lực hiểu biết dữ liệu. Họ muốn người học và nhà giáo dục xem xét các câu hỏi về công bằng xã hội và các giá trị đa nguyên trong khi sử dụng dữ liệu để hướng tới việc giảm thiểu các bất công xã hội phổ biến. Họ muốn các nhà nghiên cứu sử dụng đạo đức không phải như một hướng dẫn mà như một phương pháp nghiên cứu. Tất cả những điều này họ đều nói với chúng ta.

Điều không được nói ra, hoặc không được diễn đạt theo cách mà tôi có thể hiểu được, là ý nghĩa của một số điều họ đề cập. Các tác giả lên án khái niệm "hiểu biết thông thường" (commonsensical understandings) nhưng lại dựa vào chúng cho những phần quan trọng trong thông điệp của chính họ. Thuật ngữ quan trọng được sử dụng thường xuyên nhưng không bao giờ được định nghĩa, thay vào đó các tác giả dựa vào sự hiểu biết thông thường, là công bằng xã hội. Vì khái niệm này tạo thành nền tảng lập luận của họ cùng với tư duy phản biện (được định nghĩa rất rõ ràng) và đạo đức dữ liệu (được định nghĩa rất rõ ràng), nên một định nghĩa về ý nghĩa của thuật ngữ này trong ngữ cảnh này sẽ củng cố lập luận của họ.


Lý do của phương pháp sư phạm mở: Khái niệm đặt giá trị làm trọng tâm để nâng cao thực hành giảng dạy

Werth, E., Williams, K. (2022). Lý do của phương pháp sư phạm mở: Khái niệm đặt giá trị làm trọng tâm để nâng cao thực hành giảng dạy. Môi trường học tập thông minh 9, 10. https://doi.org/10.1186/s40561-022-00191-0

Được Emily Helton (Đại học West Virginia, Hoa Kỳ) đánh giá

Bài báo này nhằm mục đích giải quyết khoảng cách giữa lý thuyết và thực tiễn trong phương pháp sư phạm mở bằng cách kết nối những người hướng dẫn chưa quen thuộc với các kỹ thuật mở phù hợp với các giá trị hiện có của họ, cụ thể là: tính minh bạch, việc chia sẻ, học tập cá nhân hóa, trao quyền cho người học, phá vỡ các cấu trúc quyền lực truyền thống và xây dựng kiến thức cộng tác. Bài báo bao gồm một bảng và hình một đồ họa cho thấy các chuyên gia về lĩnh vực này đã đánh giá sự hiện diện của từng giá trị này trong bốn khía cạnh của phương pháp sư phạm mở như thế nào: thiết kế mở, nội dung mở, đánh giá mở và phương pháp sư phạm được OER xúc tác (OER-enabled Pedagogy) (với khía cạnh sau nhận được điểm cao ở tất cả các giá trị). Họ đặt tên cho khung này là Khung Giá trị Ưu tiên - VFF (Values-First Framework). Lập luận của họ là bằng cách bắt đầu từ động lực của một người hướng dẫn thiếu kinh nghiệm, VFF sẽ giúp dễ dàng tìm ra những điểm khởi đầu cho phương pháp sư phạm mở.

Trong việc phát triển các giá trị, các tác giả ủng hộ cách tiếp cận diễn giải học, trích dẫn Bách khoa toàn thư Triết học Stanford (Zalta, 2022). Vì không thực sự quen thuộc với diễn giải học, tôi sẽ đánh giá cao một mô tả chi tiết hơn, tuy nhiên bảng mà họ đề cập (Bảng 1) bao gồm một danh sách rất hữu ích các tài liệu tham khảo và thuật ngữ khái niệm liên quan đến mỗi trong sáu giá trị của họ. Đặc biệt, các thuật ngữ khái niệm có thể hữu ích trong việc thực hiện tìm kiếm tài liệu.

Dữ liệu của họ bao gồm một cuộc khảo sát điện tử được thu thập từ chín chuyên gia về lĩnh vực này - SME (Subject Matter Experts). Họ đã chọn 12 cá nhân đã xuất bản các bài báo trên các tạp chí được bình duyệt ngang hàng về phương pháp sư phạm mở, và tất cả trừ ba người đều đồng ý tham gia, đại diện cho Hoa Kỳ, Canada, Nam Mỹ, Vương quốc Anh và Trung Đông (trang 13). Họ yêu cầu các chuyên gia chọn giá trị nào trong sáu giá trị thể hiện rõ trong mỗi bốn khía cạnh của phương pháp sư phạm mở. Không có chuyên gia nào yêu cầu định nghĩa cho bốn khía cạnh. Họ báo cáo những kết quả này trong một bảng kiểu bản đồ nhiệt, trong đó bất kỳ sự kết hợp giá trị-khía cạnh nào nhận được hơn sáu phiếu bầu đều được mã hóa màu. Các giá trị dao động từ bốn đến chín, với chín cho thấy sự đồng thuận từ tất cả các chuyên gia (xuất hiện sáu lần trong số 24 khả năng).

Ngôn ngữ xuyên suốt rất rõ ràng, và tôi thấy đây là một tác phẩm rất dễ tiếp cận. Phần lớn nội dung tổng quan tài liệu tập trung vào việc thiếu các định nghĩa rõ ràng hoặc sự đồng thuận về định nghĩa trong phạm vi rộng lớn về cách sử dụng Tài nguyên Giáo dục Mở (OER) trong môi trường giáo dục, trước khi đi đến kết luận rằng các thực hành Giáo dục Mở của Nascimbeni và Burgos (2016) là nền tảng cho công trình của họ. Có một danh mục tài liệu tham khảo dài bao gồm phần lớn các nghiên cứu về sư phạm mở và các khái niệm liên quan.

Nhìn chung, tôi thích ý tưởng về một khuôn khổ giúp các nhà giáo dục quan tâm đến, nhưng chưa triển khai, sư phạm mở kết nối với những địa điểm cụ thể để bắt đầu. Bảng cuối cùng trong bài viết (Bảng 4) đưa ra một vài trích dẫn cho mỗi trong bốn khía cạnh như một điểm khởi đầu để các nhà giáo dục bắt đầu. Có lẽ, họ sẽ đọc bài viết, xác định các giá trị của mình, sau đó tìm hiểu thêm các trích dẫn đó. Tôi có thể thấy điều này được chia sẻ với các đồng nghiệp bày tỏ sự quan tâm đến sư phạm mở.


Dạy tiếng Đức như một ngoại ngữ bằng Tài nguyên Giáo dục Mở (OER): Triển khai và Kinh nghiệm từ một trường đại học Indonesia

Wijayati, P. H., Kharis, M., Hidayat, E., Ardiyani, D. K., Ebner, M., & Schön, S. (2022). Dạy tiếng Đức như một ngoại ngữ bằng Tài nguyên Giáo dục Mở (OER): Triển khai và Kinh nghiệm từ một trường đại học Indonesia. Tạp chí Quốc tế về Công nghệ Mới nổi trong Học tập (iJET), 17(04), trang 225–238. https://doi.org/10.3991/ijet.v17i04.23225

Được Paula Cardoso (Instituto Politécnico de Leiria, Bồ Đào Nha) đánh giá

Bài báo này là một nỗ lực thú vị để mô tả việc sử dụng OER ở Indonesia, vì không có nhiều nghiên cứu trong bối cảnh cụ thể này, đặc biệt là khi nói đến việc học ngôn ngữ. Bài báo này mô tả việc triển khai và sử dụng Tài nguyên Giáo dục Mở (OER) trong bối cảnh dạy tiếng Đức như một ngoại ngữ tại một trường đại học ở Indonesia. Tuy nhiên, bài báo còn tồn tại một số điểm yếu, cả về nghiên cứu và phương pháp liên quan cũng như các kết luận được rút ra.

Một mặt, bài báo thiếu tài liệu tham khảo đối với một số vấn đề cụ thể liên quan đến OER. Ví dụ, mặc dù các tác giả thừa nhận rằng “OER dường như chưa được sử dụng rộng rãi trong việc học ngôn ngữ”, nhưng cần thêm tài liệu tham khảo về việc sử dụng này để bài báo mạnh mẽ hơn cả về giả định lý thuyết lẫn phương pháp được sử dụng. Ngoài ra, thuật ngữ không phải lúc nào cũng rõ ràng và cần được phát triển thêm, như trong cụm từ “OER thuộc loại MOOC”.

Mặt khác, phương pháp luận không xác định rõ nguồn OER (các trang Internet được đề cập như một tài liệu tham khảo chung). Các tiêu chí để tìm và lựa chọn OER phù hợp không được mô tả, cũng như việc triển khai không rõ ràng, vì không thể hiểu được sinh viên cần làm gì với các tài liệu OER hoặc cách chúng được tích hợp. Hơn nữa, không rõ ràng ý của các tác giả khi họ nói rằng các tài liệu khác đã được sử dụng, không phải là OER, nhưng được truy cập miễn phí. Lợi ích đối với giảng viên chưa thực sự rõ ràng, còn đối với sinh viên thì hoàn toàn không được đề cập. Để có một bài luận sâu sắc hơn về chủ đề này, cần phải nghiên cứu kỹ hơn nữa những lợi ích của tài nguyên giáo dục mở (OER) đối với việc học ngôn ngữ.

Ban đầu, các tác giả cho rằng có sự thiếu hụt tài nguyên giáo dục mở (OER) cho việc học ngôn ngữ và xác định đây là trở ngại lớn đối với việc sử dụng OER. Tuy nhiên, trong phần thảo luận của bài báo, các tác giả lại đề cập rằng họ “đã phát hiện ra rằng có rất nhiều OER dành cho việc học tiếng Đức trên Internet”.

Về phần kết quả, các tác giả cho rằng kết quả phù hợp với các nghiên cứu khác về vấn đề thiếu chất lượng của OER, nhưng xuyên suốt nghiên cứu, yếu tố này lại không được đề cập đến. Tuy nhiên, họ có đề cập rằng, mặc dù tìm được OER, giảng viên vẫn phải tự điều chỉnh chúng cho phù hợp với nhu cầu của mình, và điều này được coi là một điểm yếu của OER, thay vì một trong những lợi ích của nó, đó là khả năng phối lại và tái sử dụng tài liệu.

Các mục tiêu nghiên cứu cũng có thể được điều chỉnh phù hợp hơn với nghiên cứu hiệu quả, để bao gồm cả nhận thức của giảng viên về việc sử dụng OER.

Có một tài liệu đính kèm thú vị liệt kê tất cả các OER và nguồn gốc của chúng, đồng thời cũng được chia sẻ như một OER, do đó nó đóng góp hữu ích cho việc giải quyết sự thiếu hụt tài liệu trong lĩnh vực này.


Nhận thức của người học về sự chuyển đổi sang môi trường học trực tuyến do giảng viên hướng dẫn: Các yếu tố thuận lợi và rào cản trong đại dịch COVID-19

Kamble, A., Gauba, R., Desai, S., & Golhar, D. (2021). Nhận thức của người học về sự chuyển đổi sang môi trường học trực tuyến do giảng viên hướng dẫn: Các yếu tố thuận lợi và rào cản trong đại dịch COVID-19. Tạp chí quốc tế về nghiên cứu học tập mở và phân tán, 22(1), 199-215. https://doi.org/10.19173/irrodl.v22i1.4971

Được Anuradha Peramunugamage đánh giá

Mục đích của nghiên cứu này là để xác định phản ứng của người học theo hình thức học trực tiếp truyền thống tại Đại học Savitribai Phule Pune, Ấn Độ, đối với sự chuyển đổi đột ngột sang học trực tuyến vào tháng 3 năm 2020 do đại dịch, cũng như ảnh hưởng của nó đến việc học tập của họ. Trong bối cảnh đại dịch COVID-19, các tác giả đã nghiên cứu nhận thức của người học truyền thống về học trực tuyến và sự chấp nhận hình thức này ở Ấn Độ. Nghiên cứu đã điều tra hiện tượng này thông qua phương pháp nghiên cứu định tính theo trường hợp. Nghiên cứu đã xem xét sự thích nghi của người học với việc học trực tuyến trong thời gian đại dịch COVID-19 và việc đóng cửa trường học trên toàn quốc. Những người tham gia nghiên cứu là sinh viên chương trình thạc sĩ quản trị kinh doanh tại một trường kinh doanh trực thuộc Đại học Savitribai Phule Pune. Do đại dịch, trường kinh doanh đã tạm ngừng giảng dạy trên lớp và thay vào đó cung cấp các tài liệu khóa học còn lại thông qua các môi trường học tập trực tuyến - OLE (Open Learning Environments) như Microsoft Teams. Các cuộc phỏng vấn với người tham gia diễn ra vào giữa tháng 4 năm 2020, khi kết thúc học kỳ thứ hai. Nghiên cứu có 35 sinh viên tham gia. Microsoft Teams cho phép 35 sinh viên tham gia phỏng vấn có cấu trúc. Tám câu hỏi mở đã được đặt ra cho những người tham gia về quá trình chuyển đổi sang OLE và quan điểm của họ về việc dạy và học trong môi trường có sự hỗ trợ của công nghệ. Ngoài ra, các câu hỏi phỏng vấn đã được một hội đồng chuyên gia của trường đại học (ba giảng viên và hai sinh viên) xác nhận. Quá trình mã hóa ban đầu, được thực hiện bằng phần mềm NVivo, đã xác định các mẫu, danh mục và mối liên hệ giữa các mã. Dữ liệu từ các cuộc phỏng vấn đã tiết lộ mười lăm danh mục khác nhau. Các danh mục này đã hé lộ năm chủ đề chính.

Nhà nghiên cứu đã đề cập rằng những người tham gia nhấn mạnh tầm quan trọng của việc có máy tính và truy cập Internet để tham gia các khóa học trực tuyến. Rõ ràng là giáo dục trực tuyến đòi hỏi phải có kết nối Internet không giới hạn thông qua máy tính để bàn, máy tính bảng, điện thoại thông minh hoặc máy tính xách tay. Những người tham gia nghiên cứu (n=32) cho biết kết nối Internet là một trở ngại đáng kể đối với việc học trực tuyến. Trong khi một số người tham gia tin rằng học trực tuyến có lợi hơn học truyền thống và cải thiện khả năng tập trung của họ, những người khác lại cho rằng nó không hiệu quả. Những phát hiện này phổ biến ở tất cả các nước đang phát triển. Mặc dù OLE có một số lợi ích so với phương pháp giảng dạy truyền thống trong lớp học, nhưng trong nghiên cứu này, một số người tham gia đã chỉ trích OLE vì thiếu các trao đổi trực tiếp với giáo viên và sự làm rõ vấn đề. Theo một số người tham gia, các buổi học trở thành giao tiếp một chiều giữa giảng viên và người hướng dẫn, và tài liệu giảng dạy được truyền đạt một cách không hiệu quả. Ngoài ra, người tham gia cho biết sinh viên gặp khó khăn trong việc duy trì sự tập trung trong lớp do bị phân tâm, các khóa học về số học và thực hành khó nắm bắt trực tuyến và giáo viên thiếu quyền kiểm soát trong môi trường trực tuyến. Hơn nữa, nghiên cứu đã chỉ ra rằng, học trực tuyến phù hợp nhất với các khóa học lý thuyết hơn là các khóa học thực hành liên quan đến các khái niệm số học. Người học nhất trí rằng yếu tố quan trọng nhất là sự vắng mặt về mặt thể chất của giảng viên. Người tham gia nhận thấy sự thiếu tương tác giữa người học và giảng viên trong môi trường học tập trực tuyến (OLE). Khoảng cách ảnh hưởng đến sự tham gia của sinh viên, dẫn đến việc chỉ có sự tương tác một chiều giữa giảng viên và học viên. Những phát hiện này cần được hoàn thiện sau khi phân tích các hoạt động khóa học và cơ chế truyền đạt. Như các tác giả đã đề xuất, cần tiến hành thêm các nghiên cứu với quy mô mẫu lớn hơn ở các vùng khác của Ấn Độ, cũng như cần cải thiện việc cung cấp OLE và tăng cường đào tạo về OLE ở các quốc gia đang phát triển như Ấn Độ.


Giáo dục mở là gì? Xác định điểm chung

Tietjen, P., & Asino, T. I. (2021). Giáo dục mở là gì? Xác định điểm chung. Tạp chí quốc tế về nghiên cứu trong học tập mở và phân tán, 22(2), 185-204. https://doi.org/10.19173/irrodl.v22i2.5161

Được Helen DeWaard (Đại học Lakehead, Canada) đánh giá

Trong lĩnh vực giáo dục mở, có những cuộc tranh luận gây tranh cãi và các thuật ngữ có vấn đề cản trở nghiên cứu. Tietjien và Asino (2021) cố gắng làm rõ khái niệm về giáo dục mở vì “một định nghĩa đóng vai trò như một thấu kính hiệu chỉnh để xem xét một hiện tượng” (Tietjien & Asino, 2021, tr. 199). Ngoài ra, các tác giả sử dụng dạng viết tắt OP (Open Pedagogy) để chỉ sư phạm mở, giúp phân biệt khái niệm này với sự nhầm lẫn hiện tại khi sử dụng OEP (Open Educational Practices) cho cả sư phạm mở và thực hành giáo dục mở. Nghiên cứu này là một nỗ lực đáng khen ngợi nhằm mang lại sự gắn kết cần thiết cho các khái niệm đầy thách thức của sư phạm mở.

Việc xem xét kỹ lưỡng các nghiên cứu mà Tietjien và Asino dựa vào để xây dựng khung năm vòng tròn của họ được giới hạn trong khoảng thời gian từ năm 2011, khi giáo dục mở dựa trên web mở rộng sau Báo cáo Sáng kiến Chất lượng Giáo dục Mở - OPAL (Open Educational Quality Initiative) (Andrade và cộng sự, 2011) đến năm 2020. Các tác giả chia khung thời gian này thành hai giai đoạn bằng cách sử dụng năm 2017 làm mốc phân chia vì, như họ giải thích, năm này được chỉ định là Năm của Mở (Year of Open) và hội nghị OER17 đã tạo ra một số lượng đáng kể các bài đăng trên blog về chủ đề sư phạm mở. Mặc dù những năm mốc này là dễ hiểu, nhưng việc tập trung hẹp vào một sự kiện hoặc địa điểm hội nghị duy nhất có thể hạn chế phạm vi của nghiên cứu. Một cái nhìn rộng hơn có thể bao gồm các sự kiện quan trọng khác như Tuyên bố Paris (UNESCO, 2012), Hội nghị Giáo dục Mở (OpenEd17, n.d.), hoặc Hội nghị OEGlobal (OE Global Consortium, n.d.) nơi kỷ niệm mười năm Tuyên bố Giáo dục Mở Cape Town (CPT+10, n.d.). Những sự kiện và tài liệu bổ sung này có thể đã góp phần làm rõ thêm việc tìm kiếm định nghĩa về Sư phạm Mở (OP).

Bài tổng quan nghiên cứu do Tietjien và Asino (2021) thực hiện bao gồm nhiều loại nguồn khác nhau, chẳng hạn như các bài báo được bình duyệt ngang hàng, sách và chương sách, và kỷ yếu hội nghị. Các tác giả mô tả các chiến lược tìm kiếm được sử dụng để xác định 938 tài liệu tham chiếu đến giáo dục mở, sư phạm mở hoặc thực hành giáo dục mở. Con số này tiếp tục được giảm xuống còn 87 bài báo bằng cách loại bỏ các bài trùng lặp và tập trung vào các bài báo cung cấp chi tiết cụ thể để định nghĩa sư phạm mở. Mặc dù việc giảm xuống còn 24 bài báo dựa trên việc đáp ứng các tiêu chí liên quan (Tietjien & Asino, 2021, tr. 188), nhưng các tiêu chí này không được thảo luận rõ ràng. Giá trị gia tăng trong nghiên cứu của Tietjien và Asino (2021) là việc bao gồm các bài đăng trên blog có liên quan xuất hiện từ hội nghị OER17. Mặc dù nhiều tên tác giả bài đăng trên blog có thể quen thuộc với những người trong lĩnh vực giáo dục mở, nhưng hạn chế trong cách tìm kiếm các bài đăng trên blog có liên quan này cần được xem là một hạn chế tiềm tàng. Việc lựa chọn các blogger liên kết với hội nghị OER17 hạn chế những hiểu biết tiềm năng về định nghĩa từ sự đa dạng các tiếng nói. Nhìn chung, quy trình nghiên cứu và kết quả được mô tả tốt, và phân tích cùng các phát hiện cho thấy những hiểu biết thú vị.

Khung năm vòng tròn do Tietjien và Asino (2021) trình bày cung cấp một khái niệm thú vị về OP và dựa trên nghiên cứu. Năm yếu tố này chồng chéo và liên kết với nhau. Các yếu tố này bao gồm sự đa dạng về tiếng nói, tư duy tham gia, việc áp dụng giấy phép mở, mở rộng vượt ra ngoài ranh giới học thuật truyền thống, và nuôi dưỡng sự cộng tác (Tietjien & Asino, 2021). Mặc dù khung này góp phần lớn vào việc làm cho khái niệm OP trở nên mạch lạc hơn bằng cách tăng cường sự rõ ràng và tạo động lực cho nghiên cứu sâu hơn, nhưng vẫn thiếu sự bao gồm rõ ràng về tính phê phán và công bằng xã hội. Với khung năm vòng tròn này, Tietjien và Asino (2021) đã đạt được mục tiêu xác định những điểm chung trong tài liệu, giúp những người khác, đặc biệt là những người mới tham gia lĩnh vực giáo dục mở, hiểu rõ hơn về khái niệm OP và đóng góp vào diễn ngôn mở tập trung vào khái niệm OP này.

Hai câu hỏi quan trọng mà Tietjien và Asino (2021) đặt ra rất đáng chú ý. Thứ nhất, tại sao khoa học học tập lại vắng mặt trong diễn ngôn về sư phạm mở, đặc biệt là mối liên hệ của nó với mạng lưới xây dựng tri thức của Scardamalia và Bereiter (2014). Thứ hai, câu hỏi tại sao “cuộc thảo luận xung quanh thuật ngữ sư phạm liên quan đến tài liệu OP lại im lặng một cách đáng ngại” cho thấy một khoảng trống đáng kể trong nghiên cứu hiện tại. Cả hai câu hỏi đều chỉ ra những lĩnh vực tiềm năng dẫn đến nghiên cứu sâu hơn, và làm cho bài báo này trở nên đáng đọc đối với bất kỳ ai trong lĩnh vực giáo dục mở.


Khám phá nhận thức của sinh viên với tư cách là đồng tác giả của tài liệu khóa học

Werth, E., & Williams, K. (2021). Khám phá nhận thức của sinh viên với tư cách là đồng tác giả của tài liệu khóa học. Open Praxis, 13(1), 53-67. http://dx.doi.org/10.5944/openpraxis.13.1.1187

Được Glenda Cox (Đại học Cape Town, Nam Phi) đánh giá

Các tác giả so sánh kết quả của họ với chỉ hai nghiên cứu khác về sinh viên tham gia vào phương pháp sư phạm được Tài nguyên Giáo dục Mở (OER) xúc tác (OER-enabled Pedagogy). Cả hai nghiên cứu đó đều được thực hiện tại các cơ sở giáo dục công lập lớn. Do đó, nghiên cứu này cung cấp bằng chứng thực nghiệm cực kỳ hữu ích về nhận thức và kinh nghiệm của sinh viên. Nghiên cứu này ủng hộ các tuyên bố trước đây về tiềm năng của phương pháp này, nơi sinh viên được thúc đẩy và đạt được các kỹ năng và sự tự tin.

Nghiên cứu này được thực hiện tại một trường đại học tư thục tuyển sinh mở. Các giáo viên đã thiết kế lại một khóa học hội thảo năm nhất để bao gồm phương pháp sư phạm được OER xúc tác. Khóa học có tỷ lệ bỏ học là 40%, vì vậy mục tiêu là thu hút sinh viên. Hơn 50% sinh viên tham gia khóa học đến từ các nhóm thu nhập thấp, do đó một mục đích khác của việc thiết kế lại chương trình là tiết kiệm chi phí cho sinh viên bằng cách cung cấp tài liệu miễn phí.

Sinh viên tham gia vào việc tạo nội dung cho khóa học và nội dung của họ được đưa vào sách điện tử. Sinh viên xác định được khoảng trống kiến thức, nghiên cứu chủ đề và tạo ra một sản phẩm (video hoặc đồ họa thông tin - infographic). Việc này có thể được cá nhân hoặc nhóm thực hiện. Sinh viên nộp đề xuất dự án, bản nháp để được bạn bè đánh giá và bản dự án cuối cùng. Giảng viên hướng dẫn họ từng bước. Khả năng tự chủ của sinh viên được tăng cường nhờ sự hỗ trợ từ giảng viên. Họ cũng được học về Creative Commons và có thể chọn giấy phép riêng của mình cũng như quyết định có muốn được ghi công hay không.

Phương pháp nghiên cứu kết hợp đã được sử dụng. Một cuộc khảo sát đã được tiến hành với tất cả sinh viên trong tuần học cuối cùng, 92 (329) sinh viên đã hoàn thành khảo sát (tỷ lệ phản hồi 28%). Các câu hỏi khảo sát được cung cấp dưới dạng phụ lục, rất hữu ích cho các nhà nghiên cứu khác khi bắt đầu một phương pháp sư phạm được OER xúc tác tương tự. Sau cuộc khảo sát là 12 cuộc phỏng vấn bán cấu trúc. Về tính hợp lệ, các tác giả thảo luận về sự tham gia của họ trong việc thiết kế lại chương trình giảng dạy và tạo điều kiện đào tạo cho giảng viên. Họ rất cẩn trọng về tính minh bạch và khả năng tự phản tỉnh của mình.

Cuộc khảo sát bao gồm 15 câu hỏi. Sáu câu hỏi trong cuộc khảo sát tập trung vào thái độ của sinh viên đối với phương pháp sư phạm được OER xúc tác này. Khoảng 40% sinh viên rất hào hứng, có động lực, tích cực và tham gia vào chương trình giảng dạy mới của khóa học. Cuộc khảo sát sử dụng thang đo Likert và các câu trả lời trung lập cho các câu hỏi này dao động từ 35-44%. Sinh viên không quan tâm đến việc tên của họ được in trên tài liệu và việc có sẵn tài liệu cho các lớp học trong tương lai.

Ba câu hỏi đo lường xem kỹ năng của sinh viên có được cải thiện ở ba lĩnh vực hay không: hoàn thành dự án kéo dài nhiều tuần, cộng tác và nghiên cứu, và rút ra kết luận. Tỷ lệ phản hồi tích cực dao động từ 44% đến 56,5%. Sinh viên sẵn sàng tham gia một khóa học tương tự khác, mặc dù 38% tỏ ra thờ ơ, kết quả này tương tự với những gì Hilton và cộng sự đã tìm thấy.

Các cuộc phỏng vấn đã cung cấp cái nhìn sâu sắc hơn về lý do tại sao sinh viên lại có động lực và cảm thấy tích cực về phương pháp sư phạm được OER xúc tác. Sinh viên muốn giúp đỡ người khác và vì vậy họ rất vui mừng khi tài nguyên mà họ tạo ra có thể hữu ích trong tương lai. Sinh viên thích sự chủ động và khả năng lựa chọn các chủ đề mà họ thấy thú vị. Sự chủ động này là một lợi thế quan trọng của phương pháp sư phạm mở này và nó phá vỡ sự cân bằng quyền lực trong lớp học, trao cho sinh viên tiếng nói và quyền sở hữu đối với tài liệu giảng dạy.

Khía cạnh trao quyền này phù hợp với lời kêu gọi từ sinh viên toàn cầu về việc phi thực dân hóa chương trình giảng dạy và phù hợp với các nguyên tắc công bằng xã hội.

Câu hỏi nghiên cứu đầu tiên đề cập đến động lực và sự tham gia của sinh viên trong phương pháp sư phạm mở này. Như giả thuyết đã đưa ra, hầu hết sinh viên đều hào hứng và có thái độ tích cực về khóa học. Sự tham gia của họ rất tích cực. Điều này phù hợp với công trình nghiên cứu của các tác giả trước đó (Hilton và cộng sự và Sheu).

Câu hỏi nghiên cứu thứ hai tập trung vào bất kỳ mối lo ngại nào mà sinh viên có thể có về “tính mở” của các bài tập. Như dự đoán, sinh viên rất muốn được ghi nhận nguồn gốc. Các tác giả cho rằng có thể có mối liên hệ giữa việc sử dụng mạng xã hội và sự sẵn lòng chia sẻ của một người. Cần có thêm nghiên cứu trong lĩnh vực này.

Có rất nhiều phản hồi trung lập, liệu đây có phải là xu hướng của sinh viên năm nhất? Các nhà nghiên cứu chỉ có thể biết được nếu hoàn thành thêm nhiều cuộc khảo sát. Cũng có một tỷ lệ nhỏ sinh viên có thái độ tiêu cực và/hoặc thiếu động lực. Một lý do được đưa ra là những sinh viên này cảm thấy các sinh viên khác sẽ không sử dụng tài nguyên của họ trong tương lai. Điều này có thể được kiểm chứng trong những năm tới khi phương pháp sư phạm được OER xúc tác trưởng thành hơn.

Hiểu được trải nghiệm của sinh viên trong việc cùng nhau tạo ra tài liệu là một khía cạnh rất quan trọng đối với nghiên cứu trong tương lai về phương pháp sư phạm mở. Cần có thêm nhiều nghiên cứu như nghiên cứu này tại các cơ sở giáo dục khác nhau với các cấp độ sinh viên khác nhau và các ngành học khác nhau để cải thiện quy trình thiết kế tài liệu do sinh viên cùng tạo ra.


Những khả năng sử dụng, thách thức và tác động của phương pháp sư phạm mở

Baran, E., & AlZoubi, D. (đang xuất bản). Những khả năng sử dụng, thách thức và tác động của phương pháp sư phạm mở: Xem xét tiếng nói của sinh viên. Giáo dục từ xa. 10.1080/01587919.2020.1757409

Được Caroline Kuhn (Đại học Bath Spa, Vương quốc Anh) đánh giá

Bài báo này cố gắng tìm hiểu cách sinh viên hình dung về các thực hành sư phạm mở - OPP (Open Pedagogy Practices) và cách họ nhận thức về những khả năng sử dụng, thách thức và tác động của chúng. Các tác giả cho rằng, sự hiểu biết này rất quan trọng để phát triển các mô hình hoạt động cho sư phạm mở trong thực tiễn giáo dục đại học. Để làm được điều này, các nhà nghiên cứu đã giải quyết hai câu hỏi nghiên cứu, một câu hỏi liên quan trực tiếp đến nhận thức của người tham gia về những khả năng sử dụng và thách thức của sư phạm mở (OP) và câu hỏi còn lại khám phá nhận thức của sinh viên về tác động của thực hành sử phạm mở (OPP) đối với kiến thức và nhận thức của họ về truy cập mở và sự tự chủ của họ.

Nghiên cứu được thiết kế bằng cách sử dụng một nghiên cứu trường hợp định tính toàn diện duy nhất, trong đó 13 sinh viên từ ba cơ sở giáo dục đại học ở Mỹ đã được lựa chọn. Người tham gia không có kinh nghiệm trước đó về các thực hành mở và được yêu cầu tạo ra ba bài tập có thể tái sử dụng khác nhau dưới dạng Tài nguyên Giáo dục Mở (OER): một mô-đun khóa học trực tuyến mở trên Canvas Commons, một chương sách trực tuyến mở trên PressBook và một wikibook. Mục đích của các hoạt động này là thu thập những hiểu biết của sinh viên về kinh nghiệm của họ khi tham gia vào các bài tập sư phạm mở.

Các nhà nghiên cứu đã thu thập dữ liệu bằng cách sử dụng báo cáo phản ánh và phỏng vấn bán cấu trúc, được phân tích thông qua phân tích chủ đề. Kết quả nghiên cứu đã nêu bật những lợi thế và thách thức của sáu thực hành chính của sư phạm mở: quản lý nội dung, phản hồi từ bạn bè, sự tham gia của cộng đồng, phát triển, suy ngẫm và hỗ trợ học tập. Mỗi thực hành này đều được các tác giả nghiên cứu chuyên sâu, tóm tắt nhận thức của người tham gia về từng thực hành. Sử dụng thông tin đó, các tác giả đã tạo ra mô hình “sư phạm mở trong hành động”. Mặc dù mô hình này có tính đến các thực hành được người tham gia xác định, nhưng người đọc không hiểu rõ dữ liệu thực nghiệm đã được chuyển đổi thành mô hình thực hành như thế nào, lý thuyết nào đã được sử dụng để khái quát hóa dữ liệu thành một công cụ mang tính hướng dẫn. Các tác giả khẳng định rằng mô hình này “cung cấp cho giảng viên các thực hành để phát triển kiến thức và nhận thức của sinh viên về truy cập mở và quyền tự chủ của sinh viên trong lớp học”. Tôi tin rằng những phát hiện hữu ích như vậy sẽ có ích hơn nếu các tác giả đưa ra một cái nhìn tổng quan về cách thức hoạt động của mô hình này trong thực tế.

Các tác giả đề xuất rằng cần có thêm nghiên cứu để giải quyết các chiến lược nhằm thúc đẩy sự tham gia phê phán của sinh viên đối với OEP. Có thể hữu ích khi khám phá việc sử dụng mô hình này trong thực tiễn để tạo ra một số hướng dẫn, từ đó có thể bổ sung vào những phát hiện hữu ích như vậy cho lĩnh vực thực hành giáo dục mở. Một thành tích xuất sắc của bài báo này là nó mở ra nhiều hướng nghiên cứu khác nhau trong lĩnh vực này, gợi ý những khả năng khác nhau có thể được khám phá trong sư phạm mở, hỗ trợ các nhà nghiên cứu mới bắt đầu nghiên cứu bất kỳ chủ đề nào được các tác giả đề xuất.


Tiến hóa hướng tới Mở: Một khung cho thiết kế cộng tác các bài tập tái tạo lại được

Katz, Stacy và Van Allen, Jennifer (2020). Tiến hóa hướng tới Mở: Một khung cho thiết kế cộng tác các bài tập tái tạo lại được. CUNY Academic Works. https://academicworks.cuny.edu/le_pubs/306

Được Michael T. Dabrowski (Đại học Athabasca, Canada) đánh giá

Bài báo này là một nỗ lực nhằm chính thức hóa khung thiết kế bài tập tái tạo lại được có tính cộng tác để sử dụng trong các ứng dụng sư phạm. Bài báo bắt đầu với một cái nhìn tổng quan ngắn gọn về các lập luận phản đối bài tập dùng một lần và ủng hộ bài tập tái tạo lại được như được Wiley và Hilton (2018) hình dung. Các tác giả xây dựng khung này dựa trên một bài tập trong lớp học, một trong số đó được phát triển trong chương trình đào tạo giáo viên. Khóa học này khám phá tính linh hoạt được cấp phép cho OER để phối lại, sửa đổi, điều chỉnh hoặc tạo lập nội dung.

Bài báo này không hẳn là một nghiên cứu, mà là một câu chuyện cá nhân và cẩm nang hướng dẫn cho người đọc trên hành trình chuyển đổi từ bài tập dùng một lần sang bài tập tái tạo lại được. Các tác giả nhấn mạnh rằng đây không phải là một khung cứng nhắc, mà là một thực hành phản ánh để thúc đẩy giảng viên, thủ thư và sinh viên hướng tới việc tạo ra nội dung mở có ý nghĩa. Quá trình mà các tác giả tạo ra được ghi lại xuyên suốt với các trích dẫn từ các chuyên gia nổi tiếng về quy trình tạo lập OER để củng cố các lựa chọn quy trình của họ. Trên hết, đây là một nỗ lực nhằm trực quan hóa các thực hành sư phạm mở để những người khác có thể sử dụng khung này khi muốn chuyển đổi từ các phương pháp giáo dục truyền thống hơn, nhấn mạnh sự cần thiết của sự cộng tác giữa giảng viên và thủ thư để tạo điều kiện thuận lợi cho việc phát triển Tài nguyên Giáo dục Mở (OER).

Đối với nhiều nhà thực hành OEP và những người quen thuộc với công trình của Wiley và Hilton, phần lớn văn bản này chỉ đơn giản là bổ sung cấu trúc chính thức và nhiều từ ngữ hơn cho quá trình chuyển đổi từ bài tập dùng một lần sang bài tập có thể tái sử dụng. Tuy nhiên, đối với bất kỳ ai mới bắt đầu và muốn có người hướng dẫn trên hành trình hướng tới các thực hành mở, văn bản này cung cấp một điểm khởi đầu có cấu trúc và được ghi chép đầy đủ vào lĩnh vực sư phạm mở ngày càng phổ biến. Những suy ngẫm giữa hai tác giả được trình bày để tạo điều kiện thuận lợi cho quá trình phản tư, giúp người đọc có thể trực tiếp áp dụng khung này vào nhu cầu trước mắt của họ. Văn bản này cũng đi kèm với các đường liên kết đến các văn bản quan trọng về sư phạm mở có sẵn trên trực tuyến và các phụ lục bao gồm một phiếu đánh giá bài tập OEP của sinh viên và các đường liên kết đến các sản phẩm mẫu do sinh viên tạo ra được chia sẻ với Giấy phép Creative Commons trên trực tuyến.


Trở thành một nhà giáo dục mở: hướng tới một khung ngưỡng mở

Tur, G., Havemann, L., Marsh, D., Keefer, J. M., & Nascimbeni, F. (2020). Trở thành một nhà giáo dục mở: hướng tới một khung ngưỡng mở. Nghiên cứu về Công nghệ Học tập, 28. https://doi.org/10.25304/rlt.v28.2338

Được Helen DeWaard (Đại học Lakehead, Canada) đánh giá

Việc tìm kiếm các đặc điểm và phẩm chất xác định của một nhà giáo dục mở đã thúc đẩy Tur và cộng sự (2020) trình bày “viên kim cương thô” này, một sự kết hợp của hai hướng nghiên cứu khác biệt được đưa đến để trả lời câu hỏi “Nhà giáo dục mở là ai và điều gì làm cho thực hành của họ khác biệt?” Bằng cách kết nối nghiên cứu về các khái niệm ngưỡng (Meyer & Land, 2006) với nghiên cứu nhằm định nghĩa một nhà giáo dục mở (Nascimbeni & Burgos, 2016), các tác giả của bài báo này đưa ra lập luận cho việc nghiên cứu thực nghiệm sâu hơn về “sự chuyển đổi, khó khăn và tính chuyển tiếp liên quan đến việc hình thành bản sắc của một nhà giáo dục mở” (Tur et al., 2020, tr. 11).

Các tác giả cho rằng quan niệm về tính mở trong giáo dục đã chuyển trọng tâm từ thuộc tính của sự vật (tài nguyên giáo dục mở dưới dạng OER), sang các thực hành và quy trình tương tác với OER. Các tác giả cho rằng nghiên cứu vẫn chưa xem xét đầy đủ bản sắc và đặc điểm của những người hướng tới OEP. Bài báo này bổ sung giá trị cho khối lượng nghiên cứu với một góc nhìn độc đáo và khung lý thuyết mà khi được áp dụng vào việc hình thành bản sắc OEP, sẽ khơi gợi những suy nghĩ và hướng đi mới cho nghiên cứu và thực hành. Bằng cách xem xét việc xây dựng bản sắc, như một thành phần của OEP, thông qua lăng kính của các khái niệm ngưỡng, các tác giả đề xuất một mô hình sáng tạo có sức hấp dẫn nhất định. Trong khi lý thuyết về các khái niệm ngưỡng - TC (Threshold Concepts) tập trung vào học tập và nhận thức, bài báo này chuyển trọng tâm sang các “cách thức tư duy, thực hành và tồn tại mang tính xã hội và tổ chức, đóng vai trò báo hiệu tư cách thành viên hoặc thay đổi vị thế trong một cộng đồng thực hành” (Tur et al., 2020, tr. 5).

Ba trong số tám tiêu chí khái niệm ngưỡng được chọn để làm sáng tỏ “hình bóng mờ ảo của một nhà giáo dục mở” (Tur et al., 2020, tr. 6). Chúng bao gồm các tiêu chí liên quan đến sự chuyển đổi, sự khó khăn và sự chuyển tiếp hoặc trạng thái chuyển tiếp. Các tác giả giải thích ngắn gọn sự liên quan của ba tiêu chí của khái niệm ngưỡng (TC) đối với bản sắc của các nhà giáo dục mở. Ngoài ra, sẽ hữu ích nếu các tác giả nêu rõ lý do lựa chọn ba tiêu chí TC và chỉ rõ các định nghĩa như được cung cấp trong nghiên cứu về TC. Meyer & Land (2006) xác định các tiêu chí cho kiến thức về khó khăn như là mang tính nghi lễ, trì trệ, khó hiểu về mặt khái niệm, xa lạ, ngầm định và bao gồm ngôn ngữ khó hiểu. Việc biết những đặc điểm nhận dạng kiến thức khó khăn này sẽ hỗ trợ lập luận của các tác giả rằng các nhà giáo dục mở cần vẽ lại bản đồ khái niệm của họ và bác bỏ những niềm tin đã có trước đây về việc dạy và học. Khi các nhà giáo dục đối mặt với những thời điểm khó khăn để áp dụng, định vị lại hoặc chống lại tính mở trong thực hành của họ, điều này ít liên quan đến phong trào giáo dục mở, như Tur et al. (2020) đã đề xuất, mà liên quan nhiều hơn đến các chuẩn mực thực hành cá nhân và được chấp nhận.

Có những điểm tương đồng tiềm tàng giữa các quan niệm về ngưỡng (TC) được trình bày trong bài viết này với những quan niệm được tìm thấy trong diễn ngôn về năng lực hiểu biết. Ví dụ, khái niệm về bản sắc được định nghĩa bởi Gee (2000) mà các tác giả cùng chia sẻ, liên kết với một nghiên cứu sâu hơn về bản sắc như một quá trình tồn tại, hành động, hiểu biết và trở thành (Gee, 2017). Tuy nhiên, sự thiếu sót nhỏ này chỉ càng làm tăng thêm tiềm năng mở rộng các ý tưởng được khám phá trong bài viết này. Do đó, bài viết này sẽ khuyến khích những người khác nghiên cứu và trình bày các phân tích rõ ràng về kiến thức lý thuyết, kỹ năng kỹ thuật, và thực hành có đạo đức (episteme, phronesis and techne) của các thực hành giáo dục mở, khi chúng liên quan đến các khái niệm ngưỡng. Như vậy, bài viết này hoàn thành mục đích của nó là thúc đẩy diễn ngôn xung quanh việc "trở thành" một nhà giáo dục mở.


Chạy nhanh tới đích: Lợi ích và thách thức của các đợt viết sách nhanh trong cộng tác giữa giảng viên và nghiên cứu sinh về tài nguyên giáo dục mở (OER)

Zapata, G. C. (2020). Chạy nhanh tới đích: Lợi ích và thách thức của các đợt viết sách nhanh trong cộng tác giữa giảng viên và nghiên cứu sinh về tài nguyên giáo dục mở (OER). Tạp chí quốc tế về nghiên cứu học tập mở và phân tán, 21(2), 1-17. https://doi.org/10.19173/irrodl.v21i2.4607

Được Michael T. Dabrowski (Đại học Athabasca, Canada) đánh giá

Bài báo này thuật lại các mục tiêu, quy trình và kinh nghiệm của các nghiên cứu sinh tham gia vào quá trình phát triển tài nguyên giáo dục mở (OER) bằng tiếng Tây Ban Nha theo hình thức viết sách nhanh. Sau phần tổng quan ngắn gọn về các kinh nghiệm viết sách nhanh hiện có, trong đó các chuyên gia học thuật được mời tham gia tạo ra các tài nguyên giáo dục mở (OER), tác giả đã nêu bật những khoảng trống trong các ấn phẩm này. Bài báo này đề cập đến dự án viết sách cấp tốc, mở rộng nghiên cứu hiện có bằng cách sử dụng nghiên cứu sinh và tạo ra một số công cụ để thu thập bằng chứng về hiệu quả của quá trình tạo lập OER (Tài nguyên Giáo dục Mở) này đối với những người tham gia. Bài báo lập luận rằng trải nghiệm của nghiên cứu sinh trong dự án viết sách cấp tốc mang lại lợi ích cả về mặt cá nhân và chuyên môn, điều đã được chứng minh rộng rãi trong các ấn phẩm trước đây, đồng thời nêu bật những thách thức trong việc kết nối các mục tiêu sư phạm, trải nghiệm viết sách cấp tốc và nội dung mở được tạo ra.

Phương pháp luận của nghiên cứu này phù hợp với quy mô mẫu hạn chế. Với sáu nghiên cứu sinh, sẽ rất khó để sử dụng bất kỳ phương pháp luận nào khác ngoài nghiên cứu trường hợp với phân tích dữ liệu phương pháp hỗn hợp. Mặc dù tác giả nêu bật những hạn chế của nghiên cứu và những cách thức có thể làm cho nghiên cứu mạnh mẽ hơn, trường hợp viết sách cấp tốc được ghi chép đầy đủ chi tiết để người đọc có thể hiểu đầy đủ quy trình và nền tảng sư phạm và hậu cần cơ bản đã định hướng dự án. Nghiên cứu này kịp thời, phù hợp và dễ tiếp cận, và mặc dù dự án tập trung vào việc học ngôn ngữ thứ hai, những lợi ích sư phạm được chứng minh cho người tham gia khuyến khích người đọc suy rộng ra các lĩnh vực và trình độ phát triển của riêng họ.

Không đáng ngạc nhiên, tất cả những người tham gia đều báo cáo những trải nghiệm tích cực khi làm việc cộng tác với đồng nghiệp trong một dự án bổ sung cho sở thích chuyên môn của họ. Trên thực tế, nhà nghiên cứu nhấn mạnh đây là lợi ích có tác động lớn nhất do những cơ hội phát triển cá nhân và nghề nghiệp mà sự cộng tác mang lại. Những lợi ích rõ ràng của việc phát triển Tài nguyên Giáo dục Mở (OER) cho giáo viên tương lai được nêu bật thông qua việc chuyển giao kiến thức giữa các cá nhân, sự thay đổi quan điểm từ sinh viên đi giảng dạy sang giảng viên dạy học sinh, và sự tự tin hơn vào khả năng giảng dạy của họ được thể hiện thông qua việc phát triển OER.

Tác giả dẫn chứng việc không hoàn thành các chương OER được giao trong thời gian quy định là một yếu tố gây thất vọng cho cả trưởng nhóm và người tham gia, và phê bình hình thức của "book sprint" (viết sách nhanh) và những hạn chế vốn có của nó. Có lẽ điều này cho thấy rằng "book sprint" nên là một quy trình và việc tạo ra OER có tính chất lặp đi lặp lại, trái ngược với mô hình xuất bản truyền thống. Luận điểm và kết luận được trình bày rõ ràng và súc tích. Tuy nhiên, việc nhấn mạnh vào cá nhân hóa "tạo OER nhanh" cho những người tham gia để tối đa hóa lợi ích sư phạm dường như cho thấy rằng hình thức lý tưởng của phương pháp luận này khó có thể hoạt động trong môi trường ngày càng bị hạn chế về tài chính của chúng ta.

Bài báo này mở rộng nghiên cứu về giáo dục mở tập trung vào sự cộng tác giữa các giáo sư và chuyển hướng các hoạt động sang các nghiên cứu sinh, chứng minh rõ ràng khả năng đóng góp của những học giả tương lai này vào việc tạo ra Tài nguyên Giáo dục Mở (OER) một cách có ý nghĩa, cả đối với bản thân họ và cộng đồng toàn cầu.

---------------------------------------------------

Thừa nhận: 

Nội dung này được dịch từ tài liệu của các tác giả: Farrow, R. (ed.), Weller, M., Pitt, R., Iniesto, F., Algers, A., Almousa, S., Baas, M., Bentley, P., Bozkurt, A., Butler, W., Cardoso, P., Chtena., N., Cox, G., Czerwonogora, A., Dabrowski, M.T., Derby, R., DeWaard, H., Elias, T., Essmiller, K., Funk, J., Hayman, J., Helton, E., Huth, K., Hutton, S. C., Iyinolakan, O., Johnson, K. R., Jordan, K., Kuhn, C., Lambert, S., Mittelmeier, J., Nagashima, T., Nerantzi, C., O’Reilly, J., Paskevicius, M., Peramunugamage, A., Pete, J., Power, V., Pulker, H., Rabin, E., Rets, I., Roberts, V., Rodés, V., Sousa, L., Spica, E., Vizgirda, V., Vladimirschi, V., & Witthaus, G. (2023). Sổ tay Nghiên cứu Mở của GO-GN.

Mạng lưới Cao học Toàn cầu về Tài nguyên Giáo dục Mở / Trung tâm Nghiên cứu Giáo dục Mở.

https://go-gn.net/gogn_outputs/open-research-handbook/.



 Giấy phép nội dung: CC BY 4.0 Quốc tế

---------------------------------------------------

VỀ TRANG MỤC LỤC

VỀ TRANG TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU CỦA GO-GN

---------------------------------------------------

Xem thêm: 

Thứ Hai, 18 tháng 5, 2026

Tổng quan Nghiên cứu của GO-GN. Tài nguyên Giáo dục Mở (OER) - Lý thuyết


GO-GN Research Review.

Open Educational Resources - Theory

Văn hóa kỹ thuật số (Khoa học) / (Wissenschafts-)Kultur der Digitalität

Lasch, A. (2021). Văn hóa kỹ thuật số (Khoa học) / (Wissenschafts-)Kultur der Digitalität. Những bài học kinh nghiệm. Tập 1 Số 1/2. https://doi.org/10.25369/ll.v1i1/2.27

Được Robert Farrow (Đại học Mở, Vương quốc Anh) đánh giá

Bài viết ngắn này tập trung vào ý tưởng rằng văn hóa kỹ thuật số [Kultur der Digitalität] thường được các trường đại học coi là một yếu tố gây xáo trộn, và lập luận rằng thay vào đó chúng ta nên nhìn nhận sự liên tục giữa các khía cạnh truyền thống và kỹ thuật số của giáo dục đại học. Lasch dẫn lời Stalder (2019) khi mô tả ba yếu tố của văn hóa số là Tính tham chiếu - Referentiality (kiến thức có thể không thuộc sở hữu độc quyền và điều này được việc số hóa thúc đẩy), Tính cộng đồng - Communality (cộng đồng tri thức là cộng đồng thực hành) và Tính thuật toán - Algorithmicity (máy móc ngày càng có khả năng thực hiện các nhiệm vụ trước đây chỉ dành cho con người).

Mỗi yếu tố này đều có những mâu thuẫn nội tại liên quan đến việc đóng/mở. Lasch lập luận rằng những mâu thuẫn này nổi lên với các câu hỏi xoay quanh việc mọi người tham gia vào các trường đại học như thế nào; hoạt động và kết quả của họ minh bạch và rõ ràng đến mức nào; ai có quyền truy cập; và giá trị được tạo ra như thế nào từ hoạt động. Do đó, tính mở có thể được coi là bao trùm tất cả những câu hỏi quan trọng này.

Phần tiếp theo của bài báo khám phá ba dự án liên quan đến văn hóa số: blog Lingdrafts (dự án); việc thúc đẩy các tài nguyên giáo dục mở bởi một nhóm các tổ chức ở Đức; và các phương pháp tiếp cận cộng tác về sư phạm như một thực hành giáo dục mở. Ý tưởng chung ở đây là “Tính mở không thể được quy định. Tính mở phải được cùng nhau xây dựng.” Khái niệm này được trình bày chi tiết hơn ở phần cuối cùng, liên quan đến dự án virTUos sắp tới, dự án đề xuất một phương pháp tiếp cận sư phạm linh hoạt, sáng tạo, toàn trường và liên ngành.

Mặc dù không đủ chỗ trong bài báo để xem xét kỹ lưỡng tất cả các luận điểm cơ bản, bài báo ngắn gọn này đã làm tốt việc giải thích mối quan hệ giữa tính mở và văn hóa kỹ thuật số có thể được hiểu như một phép biện chứng bao quát. Tầm nhìn chiến lược được trình bày rõ ràng và có khả năng thu hút sự quan tâm của những người tập trung vào việc các cơ sở giáo dục đại học có thể chuyển đổi theo hướng tính mở như thế nào.


Phản hồi về những khó khăn trong quá trình chuyển đổi sang Tài nguyên Giáo dục Mở (OER) thông qua lăng kính Lý thuyết học tập chuyển đổi của Mezirow

Rambow, A. (2021). Tài nguyên Giáo dục Mở (OER): Phản hồi về những khó khăn trong quá trình chuyển đổi sang Tài nguyên Giáo dục Mở (OER) thông qua lăng kính Lý thuyết học tập chuyển đổi của Mezirow. Trong Gabellini, C., Gallner, S., Imboden, F., Kuurstra, M. & Tremp, P. (biên tập) Phát triển Giáo dục bằng Tính mở – Tài nguyên Giáo dục Mở trong Bối cảnh Đại học. Trang 71-75 http://www.sfdn.ch/wp-content/uploads/Lehrentwicklung_by_Openness_OER_im_Hochschulkontext.pdf#page=71

Được Glenda Cox (Đại học Cape Town, Nam Phi) đánh giá

Nghiên cứu này nhằm mục đích hiểu rõ các tiêu chí chất lượng lựa chọn cho Tài nguyên Giáo dục Mở (OER) và xác định đây là một lĩnh vực chưa được khám phá cần được nghiên cứu thêm trong các khóa học đại học tại Hoa Kỳ (Mỹ). Các chuyên gia đánh giá ngang hàng và người đánh giá khóa học đã được phỏng vấn từ Quality Matters, một tổ chức tại Mỹ chuyên đánh giá các khóa học trực tuyến và kết hợp.

Mục đích, tính dễ sử dụng và nội dung dường như là ba trụ cột của chất lượng và được đề cập trong các câu hỏi nghiên cứu. Theo nghiên cứu định tính này, Tài nguyên Giáo dục Mở (OER) đã cải thiện chất lượng học trực tuyến, các giảng viên tìm kiếm OER từ các trang web ưa thích như MERLOT, American Yawp và OpenStax. Nhìn chung, người tham gia đánh giá OER tích cực và cho rằng chúng không chỉ liên quan đến chi phí mà còn cả tính phù hợp và thông tin cập nhật.

Tác giả sử dụng Lý thuyết học tập chuyển đổi của Mezirow. Lý thuyết của Mezirow được sử dụng để định hình từng bước trong hành trình từ việc sử dụng tài liệu đóng theo truyền thống đến việc sử dụng OER cho đến khi tạo ra sự thay đổi mô hình. Luận điểm được đưa ra là những người thực hành OER giàu kinh nghiệm này đã trải qua tất cả 10 giai đoạn của học tập chuyển đổi.

Phương pháp định tính được sử dụng. Một mẫu gồm 16 giảng viên khóa học đã được phỏng vấn. Đây là một nghiên cứu trường hợp về một nhóm rất cụ thể với những quan điểm tương đồng. Tác giả muốn hiểu rõ hơn về chất lượng của OER. Các câu hỏi nghiên cứu có thể đã tập trung cụ thể hơn vào chất lượng và sự thay đổi trong thực hành (chuyển đổi). Tuy nhiên, các câu hỏi về mục đích, tính dễ sử dụng và nội dung của OER vẫn rất thú vị.

Luận điểm về sự thay đổi trong thực tiễn là một quá trình phức tạp được phân tích kỹ lưỡng bằng cách sử dụng lý thuyết chuyển đổi của Mezirow. Lý thuyết này đã được Stacey Katz sử dụng và được kiểm chứng lại ở đây để xác định sự thay đổi về giá trị của những người được phỏng vấn. Tôi tự hỏi liệu việc áp dụng lý thuyết này có hữu ích cho các giảng viên mới làm quen với Tài nguyên Giáo dục Mở (OER) hoặc những người đã tạo ra hoặc sử dụng một OER nào đó nhưng sau đó không tiếp tục thực hành hay không. Có lẽ giai đoạn mà quá trình chuyển đổi bị tắc nghẽn có thể được xác định.

Bài báo ngắn gọn nhưng là bản tóm tắt được viết tốt của một nghiên cứu chi tiết hơn nhiều. Nó rất quan trọng trong việc chứng minh rằng Tài nguyên Giáo dục Mở (OER) cải thiện tài liệu trực tuyến. Lý do chính là tài liệu có sẵn ngay lập tức và không cần phải chờ đợi để mua sách giáo khoa đắt tiền. Bài báo kết luận bằng một phần về những hàm ý dành cho lãnh đạo, những người nên xem xét việc tiết kiệm chi phí cho sinh viên và khuyến khích giảng viên sử dụng OER ở cấp độ tổ chức.


Tài nguyên Giáo dục Mở: Hỗ trợ sự đa dạng và chia sẻ trong giáo dục

Ramoutar, S. (2021). Tài nguyên Giáo dục Mở: Hỗ trợ sự đa dạng và chia sẻ trong giáo dục. TechTrends 65, 410–412. https://doi.org/10.1007/s11528-021-00615-7

Được Paula Cardoso đánh giá

Bài báo này trình bày sự phát triển ngắn gọn của khái niệm và lý thuyết về Tài nguyên Giáo dục Mở (OER), từ nguồn gốc đến một số cân nhắc về tương lai của OER.

Bằng cách phân tích một số tài liệu tham khảo và tác giả quan trọng nhất trong lĩnh vực này, tác giả đã phác thảo một con đường ngắn gọn nhưng nhất quán của phong trào OER. Bài báo bắt đầu với định nghĩa ban đầu và giải thích cách nó đã phát triển thành một khái niệm được thiết lập, từ nguồn gốc của nó trong Phát triển Đối tượng Học tập (Learning Object Development) và nội dung mở. Sau đó, tác giả chuyển sang tổng quan rất ngắn gọn về các sáng kiến OER chính, tập trung vào các tài nguyên trực tuyến có sẵn thông qua các nền tảng trực tuyến và kho lưu trữ trực tuyến trên toàn cầu. Một khía cạnh quan trọng là bài báo cung cấp các ví dụ về nghiên cứu hiện hành về tác động và lợi ích của phương pháp sư phạm mở, không bỏ qua bối cảnh văn hóa xung quanh OER và các thực tiễn chính trị và thể chế hỗ trợ nó.

Mặc dù đây là một bài báo lý thuyết, nhưng nó được viết tốt và trình bày rõ ràng, cung cấp một nguồn nghiên cứu liên quan tốt, điều này trở nên quan trọng để hệ thống hóa và thúc đẩy nghiên cứu giáo dục mở.

---------------------------------------------------

Thừa nhận: 

Nội dung này được dịch từ tài liệu của các tác giả: Farrow, R. (ed.), Weller, M., Pitt, R., Iniesto, F., Algers, A., Almousa, S., Baas, M., Bentley, P., Bozkurt, A., Butler, W., Cardoso, P., Chtena., N., Cox, G., Czerwonogora, A., Dabrowski, M.T., Derby, R., DeWaard, H., Elias, T., Essmiller, K., Funk, J., Hayman, J., Helton, E., Huth, K., Hutton, S. C., Iyinolakan, O., Johnson, K. R., Jordan, K., Kuhn, C., Lambert, S., Mittelmeier, J., Nagashima, T., Nerantzi, C., O’Reilly, J., Paskevicius, M., Peramunugamage, A., Pete, J., Power, V., Pulker, H., Rabin, E., Rets, I., Roberts, V., Rodés, V., Sousa, L., Spica, E., Vizgirda, V., Vladimirschi, V., & Witthaus, G. (2023). Sổ tay Nghiên cứu Mở của GO-GN.

Mạng lưới Cao học Toàn cầu về Tài nguyên Giáo dục Mở / Trung tâm Nghiên cứu Giáo dục Mở.

https://go-gn.net/gogn_outputs/open-research-handbook/.



 Giấy phép nội dung: CC BY 4.0 Quốc tế

---------------------------------------------------

VỀ TRANG MỤC LỤC

VỀ TRANG TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU CỦA GO-GN

---------------------------------------------------

Xem thêm: 

Chủ Nhật, 17 tháng 5, 2026

Tổng quan Nghiên cứu của GO-GN. Tài nguyên Giáo dục Mở (OER) - Tác động


GO-GN Research Review.

Open Educational Resources - Impact

Nghiên cứu về việc sử dụng và nhận thức về Tài nguyên Giáo dục Mở (OER) trong lĩnh vực STEM tại một trường đại học nghiên cứu lớn

Bharti, N. & Leonard, M. (2021). Nghiên cứu về việc sử dụng và nhận thức về OER trong lĩnh vực STEM tại một trường đại học nghiên cứu lớn. Tạp chí Quốc tế về Tài nguyên Giáo dục Mở, Tập 4, Số 1. https://www.ijoer.org/a-study-of-stem-usage-and-perceptions-of-oer-at-a-large-research-university/

Được Paula Cardoso đánh giá

Bài báo này trình bày và thảo luận về kết quả thu thập được từ một cuộc khảo sát điều tra hiện trạng của Tài nguyên Giáo dục Mở (OER) tại một trường đại học nghiên cứu của Mỹ. Từ góc nhìn của các thủ thư học thuật, các tác giả lập luận rằng việc sử dụng OER có thể giúp ích cho chương trình giảng dạy và nghiên cứu của một tổ chức. Do đó, họ tiến hành một nghiên cứu về việc sử dụng và nhận thức về OER trong bối cảnh của giảng viên, nhà nghiên cứu và sinh viên STEM, như là bước đầu tiên của chiến lược thể chế nhằm thiết lập các sáng kiến OER trong khuôn viên trường.

Cuộc khảo sát đã điều tra nhận thức về Tài nguyên Giáo dục Mở (OER) và trải nghiệm người dùng khi sử dụng các tài nguyên giáo dục mở cho các sáng kiến giảng dạy và/hoặc nghiên cứu. Các tác giả nhận thấy rằng tầm quan trọng của OER đã được công nhận, mặc dù phần lớn giảng viên và sinh viên trong lĩnh vực STEM chưa biết đến nội dung và cách truy cập OER, cũng như không biết rằng các bộ sưu tập OER có sẵn thông qua thư viện của trường. Do đó, đây là cơ hội tốt để các thư viện lựa chọn con đường đóng góp vào sứ mệnh của trường thông qua việc hỗ trợ các sáng kiến OER.

Bài báo này khẳng định những kết luận mà các nghiên cứu trước đây đã đưa ra, cụ thể là thiếu thời gian và sự không quen thuộc với nội dung là hai trong số những rào cản tiềm tàng phổ biến nhất dẫn đến việc giảng viên không sử dụng Tài nguyên Giáo dục Mở (OER) trong các hoạt động giảng dạy và học tập. Khi nói đến nghiên cứu, việc sử dụng OER tăng lên, đặc biệt là khi sử dụng các bài báo truy cập mở. Về lợi ích tiềm năng, nghiên cứu này cũng khẳng định các nghiên cứu trước đây, khi kết luận rằng lợi thế chính của việc sử dụng OER là tính hiệu quả về chi phí.

Nghiên cứu này có giá trị đối với những người muốn hiểu rõ hơn về nhận thức, việc sử dụng và những thách thức của OER trong cộng đồng, cũng như vai trò quan trọng mà các thủ thư học thuật có thể đóng góp trong việc phát triển một chiến dịch của trường để hỗ trợ sự phát triển của các sáng kiến OER.


Mở ra cho điều gì? Một đánh giá quan trọng về các nghiên cứu hiệu quả của OER

McDermott, I. (2020) Mở ra cho điều gì? Một đánh giá quan trọng về các nghiên cứu hiệu quả của OER. Trong Thư viện với Ống Chì https://academicworks.cuny.edu/lg_pubs/129/

Được Natascha Chtena (Đại học Harvard, Hoa Kỳ) đánh giá

Bài báo này là một bài tổng quan tài liệu không toàn diện về hiện trạng và những hạn chế của nghiên cứu hiệu quả về OER, đặc biệt tập trung vào các vấn đề về chi phí và khả năng tiếp cận, thực tiễn sư phạm và lao động học thuật. Khung khái niệm được McDermott áp dụng ở đây là sư phạm phê phán như được Paulo Freire định nghĩa trong cuốn Sư phạm của Người bị áp bức (1968) và các manh mối trong cuốn Dạy học để vượt qua: Giáo dục như là Thực hành Tự do (1994). Nói tóm lại, sư phạm phê phán là một triết lý giáo dục coi việc giảng dạy như một hành động chính trị. McDermott lưu ý rằng OER “có tiềm năng mang tính cách mạng như những công cụ chuyển đổi cho sư phạm phê phán” nhưng nếu được sử dụng một cách thiếu suy nghĩ, chúng có nguy cơ trở thành “một phiên bản miễn phí của hiện trạng”. Đây là một điểm quan trọng vẫn chưa được đề cập rộng rãi trong các cuộc thảo luận về tài nguyên giáo dục mở (OER) và sách giáo khoa mở, đặc biệt là ở Hoa Kỳ, nơi tác giả sinh sống và làm việc.

Dựa trên một loạt các nghiên cứu được công bố ở Bắc Mỹ từ năm 2008 đến năm 2019, McDermott lập luận rằng các nghiên cứu hiện hành vẽ nên một bức tranh chưa đầy đủ về cách thức OER được áp dụng, phát triển và duy trì trong giáo dục đại học bằng cách bỏ qua khía cạnh kinh tế chính trị của việc tạo ra và triển khai OER, bằng cách phóng đại lợi ích tài chính của OER, và bằng cách không xem xét đúng mức các lựa chọn sư phạm thúc đẩy các sáng kiến OER. McDermott cho rằng, “các chỉ số đo lường như kết quả học tập của sinh viên thường được nhấn mạnh quá mức để thu hút các nhà quản lý và các tổ chức tài trợ.” Điều đáng chú ý là, trong khi McDermott sử dụng lý thuyết sư phạm phê phán như một lăng kính để phân tích các nghiên cứu chọn lọc về hiệu quả của OER, bài đánh giá này không quan tâm đến cách thức lý thuyết sư phạm phê phán được sử dụng trong các sách giáo khoa hoặc tài liệu học tập OER cụ thể. Thay vào đó, ông phân tích các nghiên cứu này để tìm bằng chứng, hoặc thiếu bằng chứng, về các phương pháp tiếp cận phê phán đối với việc áp dụng OER và thiết kế khảo sát liên quan đến chi phí và khả năng tiếp cận, phương pháp sư phạm và lao động học thuật. Mục tiêu của ông là làm rõ các chủ đề được đề cập một cách gián tiếp, nếu không muốn nói là bị bỏ qua hoàn toàn, trong các tài liệu hiện có.

Các phương pháp được mô tả sơ sài và kết quả không được định lượng, điều này không đáng ngạc nhiên cũng không phải là điều đáng trách khi xét đến việc luận điểm của bài báo dựa trên khoa học xã hội nhân văn. Theo tác giả, các nghiên cứu, báo cáo và bài báo được chọn cho bài đánh giá này chủ yếu được lấy từ các tạp chí và trang web truy cập mở, mặc dù các bài báo từ các cơ sở dữ liệu và công cụ tìm kiếm sau đây cũng được sử dụng: Trung tâm Thông tin Tài nguyên Giáo dục - ERIC (Education Resources Information Center), Nguồn Khoa học Thư viện và Thông tin - EBSCOhost (Library and Information Science Source), Nguồn Giáo dục - EBSCOhost (Education Source) và Google Scholar. Mặc dù việc định lượng rõ ràng không phải là mục tiêu của phân tích, nhưng sẽ tốt hơn nếu biết chính xác số lượng nghiên cứu được đưa vào bài đánh giá, cũng như lý do đằng sau việc lựa chọn cơ sở dữ liệu/công cụ tìm kiếm học thuật.

Các phát hiện của bài đánh giá được trình bày trong ba tiểu mục, được tổ chức xung quanh các chủ đề sau: (1) Giảm chi phí, tăng khả năng tiếp cận và kết quả học tập của sinh viên, (2) Tài nguyên giáo dục mở (OER) và Phương pháp sư phạm, (3) OER và Lao động học thuật. Những điểm chính mà McDermott nêu ra là các nghiên cứu về hiệu quả của OER hiếm khi đề cập đến và/hoặc xem xét kỹ lưỡng các khía cạnh sư phạm cụ thể của việc triển khai OER—ví dụ, các đặc điểm sư phạm của OER cụ thể và sách giáo khoa thương mại mà chúng thay thế, hoặc cách OER giao thoa với các lý thuyết sư phạm hoặc sự cộng tác giữa giảng viên/sinh viên/nhân viên; rằng tài liệu thiếu tính minh bạch khi nói đến việc tiết kiệm chi phí của OER; và rằng rất ít nghiên cứu nêu chi tiết về nhân sự tham gia hoặc chi phí cần thiết cho các sáng kiến OER. Bài báo kết luận bằng các đề xuất về cách sử dụng phương pháp sư phạm phê phán cho các nghiên cứu trong tương lai và các sáng kiến OER từ cơ sở.

Mặc dù không phải là một bài đánh giá có hệ thống, bài báo này xác định một số khoảng trống về mặt thực nghiệm và khái niệm trong tài liệu về OER. Bài báo này sẽ rất hữu ích cho những ai đang suy nghĩ về chính trị trong học tập và cách chúng giao thoa với OER, mặc dù nó đặc biệt nên được các học giả có công trình nghiên cứu tập trung vào các nghiên cứu định lượng về hiệu quả và tính hiệu lực đọc.


Vai trò của Tài nguyên Giáo dục Mở trong việc hỗ trợ giáo dục đại học về khoa học địa chất ở Ấn Độ

Verma, O. (2021). Vai trò của Tài nguyên Giáo dục Mở trong việc hỗ trợ giáo dục đại học về khoa học địa chất ở Ấn Độ. Tạp chí Nghiên cứu Khoa học Địa chất, Tập 6, Số 1, tháng 1 năm 2021. https://www.researchgate.net/profile/Omkar-Verma/publication/352256159_Role_of_Open_Educational_Resources_to_Support_Higher_Geoscience_Education_in_India/links/60c0bb894585157774bf6e48/Role-of-Open-Educational-Resources-to-Support-Higher-Geoscience-Education-in-India.pdf

Được Anuradha Peramunugamage đánh giá

Verma nhấn mạnh rằng Ấn Độ là một quốc gia rộng lớn và đa dạng, được thiên nhiên ưu đãi với các nguồn tài nguyên địa chất nhưng thường xuyên phải đối mặt với nhiều mối nguy hiểm liên quan đến địa chất. Ông chỉ ra sự cần thiết của các chuyên gia khoa học địa chất với bằng chứng từ các tài liệu nghiên cứu để khám phá các nguồn tài nguyên địa chất, đảm bảo tính bền vững lâu dài của chúng và giải quyết các vấn đề môi trường địa chất. Ông cũng nhấn mạnh tầm quan trọng của giáo dục khoa học địa chất vì sự thịnh vượng chung của đất nước. Việc thành lập Trung tâm Giáo dục Trực tuyến tại Đại học Mở Quốc gia Indira Gandhi - IGNOU (Indira Gandhi National Open University) vào năm 2004 là một trong những bước đi đầu tiên của đất nước theo hướng này, đánh dấu một bước ngoặt trong lịch sử giáo dục của đất nước. Hiện nay, bộ sưu tập này bao gồm các tài nguyên tự học cho khoảng 227 chương trình của IGNOU, bao gồm địa chất, địa lý và khoa học môi trường, cùng nhiều ngành khác.

Vụ Giáo dục Đại học, Bộ Phát triển Nguồn nhân lực, đã thu thập thông tin về việc đăng ký và hoàn thành thành công của người học trong hai chương trình thạc sĩ về giáo dục khoa học địa chất, một chương trình về địa chất và một chương trình về địa vật lý, từ năm học 2011-2012 đến năm học 2018-2019. Kết quả phân tích dữ liệu khá thú vị. Các nhà nghiên cứu đã xem xét dữ liệu về việc đăng ký và hoàn thành thành công hai chương trình thạc sĩ (địa chất và địa vật lý) từ năm học 2011-2012 đến năm học 2018-2019 và phát hiện ra rằng khoảng 41% sinh viên đã hoàn thành thành công các chương trình này trong suốt thời gian đó.

Bài báo đã tóm tắt kiến thức chuyên ngành không đầy đủ của các ứng viên, điều này đã được nhận thấy trong quá trình tuyển dụng trong vài năm qua, với việc các cá nhân chỉ đạt từ 30 đến 40% điểm trong kỳ thi viết trước khi được mời tham dự vòng tuyển chọn cuối cùng. Các nhà nghiên cứu đã đề cập đến nhiều lý do cho kết quả này, một số trong đó như sau: nhiều sinh viên lần đầu tiếp xúc với giáo dục địa chất ở bậc cử nhân, sinh viên đến từ nhiều nền tảng kinh tế, xã hội và ngôn ngữ khác nhau, thiếu giảng viên, phân bổ không đồng đều giảng viên chuyên ngành, và sinh viên ít được tiếp xúc với chương trình học thực hành tại hiện trường và phòng thí nghiệm, và nhiều lý do khác. Tuy nhiên, phân tích hoặc bằng chứng thích hợp không được đề cập. Ngoài ra, như đã đề cập, có rất ít ấn phẩm về giáo dục địa chất được các tác giả người Ấn Độ xuất bản. Đa số các tài liệu học tập, bao gồm sách giáo khoa và sách hướng dẫn thực hành, được khuyến nghị sử dụng làm nguồn tài liệu học tập cho các khóa học khác nhau trong chương trình giáo dục khoa học địa chất đều có nguồn gốc từ nước ngoài.

Verma nhận thấy rằng cộng đồng dạy và học đang gặp vấn đề do sự khan hiếm sách giáo khoa, sách hướng dẫn thực hành và sách hướng dẫn/cẩm nang thực địa giá rẻ trong lĩnh vực địa chất học có nguồn gốc từ Ấn Độ. Trong bối cảnh này, việc phát triển các nguồn tài liệu giáo dục địa chất học dưới dạng Tài nguyên Giáo dục Mở (OER) sẽ mang lại lợi ích trong việc cung cấp tài liệu giáo dục cho người học và giáo viên, cũng như tạo thuận lợi cho việc giảng dạy hiệu quả và cung cấp nội dung khóa học cập nhật. Ngoài ra, điều này cho thấy OER cho phép các nhà nghiên cứu chuyển đổi công trình của họ thành các nguồn tài liệu giáo dục, hỗ trợ giảng viên địa chất học trong việc sửa đổi các khóa học của họ để kết hợp các lĩnh vực địa chất học mới nổi, thiết kế các thí nghiệm phòng thí nghiệm tương tác mới và hiểu rõ hơn về các thực hành giảng dạy địa chất học.


Tài nguyên giáo dục mở trong quản lý hành chính công: nghiên cứu trường hợp tại Hy Lạp

Mikroyannidis, A. & Papastilianou, A. (2021). Tài nguyên giáo dục mở trong quản lý hành chính công: nghiên cứu trường hợp tại Hy Lạp. Open Learning: The Journal of Open, Distance and e-Learning (bản in trước). https://doi.org/10.1080/02680513.2021.1950526

Được Viviane Vladimirschi đánh giá

Bài báo này mô tả những thách thức mà khu vực công phải đối mặt về mặt thiếu tính mở và tác động của nó đến việc đào tạo và sử dụng tài nguyên cho mục đích giáo dục ở Hy Lạp. Mặc dù các tác giả nhấn mạnh một số lợi thế và lợi ích của việc áp dụng tài nguyên giáo dục mở (OER) trong bối cảnh khép kín này, nhưng những trở ngại hiện có cản trở việc áp dụng, tái sử dụng và tùy chỉnh để mở rộng và nâng cao việc chia sẻ chương trình giảng dạy và tài nguyên cho các bên liên quan. Các tác giả cho rằng OER có tiềm năng mở rộng và nâng cao việc chia sẻ chương trình giảng dạy và tài nguyên trong hành chính công và để đạt được mục tiêu này, đào tạo là cần thiết. Để đào tạo công chức sử dụng OER, Trung tâm Hành chính Công và Chính quyền Địa phương Quốc gia - EKDDA (National Centre of Public Administration and Local Government) đã được lựa chọn. EKDDA hiện đang cung cấp đào tạo nghề cho hơn 650.000 công chức Hy Lạp và đã đi tiên phong trong một sáng kiến OER nhằm thu hút công chức tham gia.

Các tác giả đã sử dụng phương pháp nghiên cứu trường hợp để điều tra tác động của việc đào tạo về sử dụng Tài nguyên Giáo dục Mở (OER) đối với công chức. Nghiên cứu trường hợp bao gồm việc cung cấp đào tạo cho các bên liên quan trên nền tảng SlideWiki. Một nhóm giảng viên và huấn luyện viên từ EKDDA đã cung cấp đào tạo cho học viên về cách sử dụng nền tảng và sử dụng OER thông qua các khóa học trực tuyến, kết hợp và trực tiếp. Các khóa học thí điểm tuân theo mô hình 5 giai đoạn dạy và học của Salmon (2004), nhằm mục đích cung cấp cho người học các kỹ năng để trở thành người học tự điều chỉnh; tăng cường sự trưởng thành của nhóm và thực hiện các hoạt động cộng tác và đồng sáng tạo. Các phương pháp được sử dụng cho phép người học không chỉ trải nghiệm các phương thức học tập khác nhau mà còn có kinh nghiệm thực hành với việc sản xuất OER. Việc tạo ra chế tác và đồng sáng tạo cộng tác là tối quan trọng đối với việc sản xuất OER, do đó các phương pháp được sử dụng rất mạnh mẽ và phù hợp trong bối cảnh này. Cuối cùng, nghiên cứu này có thể dễ dàng được nhân rộng, và phương pháp được mô tả rõ ràng và kỹ lưỡng.

Các tác giả đã sử dụng cả khảo sát định lượng và định tính để đánh giá kiến thức và kỹ năng thu được; thành tích học tập; và phản ứng học tập bao gồm tính hữu ích của khóa đào tạo, sự hài lòng của người học đối với khóa đào tạo, chất lượng tài liệu học tập và sự cải thiện kiến thức tổng thể. Nền tảng SlideWiki cũng được đánh giá. Tác động tổng thể của chương trình đào tạo được đánh giá hai tháng sau khi chương trình kết thúc. Các phát hiện từ giai đoạn đánh giá được trình bày rõ ràng thông qua việc sử dụng biểu đồ, số liệu, biểu đồ hình tròn và thống kê mô tả, hỗ trợ cho các kết luận được đưa ra. Các tác giả đã làm tốt việc trình bày rõ ràng luận điểm bằng cách nhấn mạnh tác động tích cực của việc sử dụng OER đối với sự hợp tác rất cần thiết giữa các nhân viên khu vực công và nhu cầu về các khóa đào tạo như vậy để cung cấp cho họ kiến thức và kỹ năng mới. Sự hợp tác này có thể dẫn đến việc mở rộng và tăng cường việc chia sẻ chương trình giảng dạy và tài nguyên trong hành chính công.

Nhìn chung, bài trình bày được tổ chức tốt. Bài báo có tính dễ đọc cao và dễ tiếp cận với người không chuyên. Mặc dù các tác giả sử dụng nhiều tài liệu tham khảo để hỗ trợ nghiên cứu của họ, nhưng sẽ hữu ích hơn cho người đọc nếu các nghiên cứu khác liên quan đến việc đào tạo công chức sử dụng OER trong cùng bối cảnh này được đưa vào để so sánh và đối chiếu. Bài báo này bổ sung kiến thức cho các tài liệu hiện có về đào tạo công chức trong việc áp dụng và sử dụng OER. Vấn đề đào tạo khu vực công tham gia vào các hoạt động giáo dục mở khá phức tạp do thiếu tính mở, văn hóa cộng tác, minh bạch và các chính sách, luật lệ hiện hành chi phối lĩnh vực này. Do đó, những phát hiện của nghiên cứu này có tiềm năng đóng góp vào lĩnh vực giáo dục mở.


Tài nguyên Giáo dục Mở tại Ý

Nascimbeni F. (2020) Tài nguyên Giáo dục Mở tại Ý. Trong: Huang R., Liu D., Tlili A., Gao Y., Koper R. (eds) Tình trạng hiện tại của Tài nguyên Giáo dục Mở tại các quốc gia thuộc sáng kiến “Vành đai và Con đường”. Tuyển tập bài giảng về Công nghệ Giáo dục. Springer, Singapore. https://doi.org/10.1007/978-981-15-3040-1_4

Được Viviane Vladimirschi đánh giá

Bài báo này thảo luận về hiện trạng OER tại Ý trong cả giáo dục đại học và giáo dục phổ cập. Bài báo cũng mô tả ngắn gọn luật bản quyền của Ý cùng những hạn chế và thách thức (ví dụ: thiếu chính sách về việc áp dụng OE và OER), điều đó ảnh hưởng đến việc áp dụng và sử dụng rộng rãi OER trên tất cả các lĩnh vực giáo dục của Ý. Cuối cùng, tác giả đưa ra các đề xuất và khuyến nghị để triển khai chính sách quốc gia và các hành động cụ thể nhằm xây dựng năng lực, cung cấp các ưu đãi và phát triển một siêu nền tảng để tăng cường và thúc đẩy việc áp dụng OE và OER trong lĩnh vực giáo dục của Ý.

Phương pháp được sử dụng là phù hợp vì nó cung cấp cho người đọc cái nhìn sâu sắc về hiện trạng của việc ứng dụng Tài nguyên Giáo dục Mở (OER) tại Ý. Nhà nghiên cứu đã tiến hành rà soát tài liệu kỹ lưỡng và bao gồm các vấn đề chính như nguồn tài trợ và các hành động, sáng kiến được thực hiện nhằm thúc đẩy việc sử dụng Giáo dục Mở (OE) và Tài nguyên Giáo dục Mở (OER) ở ba cấp độ chính: cấp độ vĩ mô - chính sách quốc gia và khu vực; cấp độ trung mô - mạng lưới các bên liên quan đầu tư và cộng đồng; và cấp độ vi mô - các tổ chức riêng lẻ và các dự án OER cụ thể. Nhà nghiên cứu cũng đưa vào dữ liệu thu thập được từ một cuộc khảo sát do Hội nghị Hiệu trưởng Ý thực hiện. Cuộc khảo sát này tập trung vào việc hiểu sự sẵn sàng và thiện chí của các bên liên quan trong việc đổi mới các thực hành giáo dục thông qua việc áp dụng OER.

Phần tổng quan tài liệu và kết quả khảo sát cung cấp dữ liệu liên quan hỗ trợ cho các kết luận được đưa ra. Rõ ràng là nhà nghiên cứu đã thực hiện một cuộc điều tra toàn diện để chứng minh các luận điểm nghiên cứu được trình bày trong bài báo và cung cấp cho người đọc sự hiểu biết chi tiết về những thách thức và cơ hội vốn có liên quan đến việc áp dụng Tài nguyên Giáo dục Mở (OER) ở Ý. Kiến thức và sự am hiểu của nhà nghiên cứu trong lĩnh vực Giáo dục Mở (OE) và OER là không thể nghi ngờ và thực sự đã trình bày rõ ràng tất cả các lập luận được đưa ra. Đặc biệt trong phần cuối của bài báo "Thảo luận và Kết luận", nhà nghiên cứu đã làm sáng tỏ và đề cập đến các yếu tố quan trọng giúp vượt qua một số thách thức liên quan đến việc áp dụng và sử dụng OER ở cấp độ chính sách và trong các hành động thực tiễn triển khai trên khắp các lĩnh vực giáo dục đại học và giáo dục phổ cập của Ý. Những lập luận này củng cố nhu cầu về các chính sách, xây dựng năng lực, nâng cao nhận thức và các cơ chế khuyến khích các hoạt động như vậy.

Nhìn chung, bài trình bày được tổ chức rất tốt. Bài báo có tính dễ đọc cao và dễ tiếp cận đối với các nhà nghiên cứu khác trong lĩnh vực này, những người đang đối mặt với các vấn đề tương tự liên quan đến việc áp dụng và sử dụng OER ở quốc gia của họ. Bài báo này bổ sung kiến thức về hiện trạng của Giáo dục Mở ở Ý. Đây là nguồn tài liệu tuyệt vời giúp các nhà nghiên cứu từ các quốc gia khác so sánh tiến độ phát triển và thành tựu hiện tại của OER (Tài nguyên Giáo dục Mở) của họ. Bài báo cũng đưa ra một số đề xuất vô giá và các hành động triển khai thực tiễn có thể được các nhà nghiên cứu và/hoặc những người ủng hộ OER khác áp dụng tùy theo bối cảnh cụ thể và nguồn lực sẵn có. Do đó, những phát hiện từ bài báo này có tiềm năng đóng góp cho lĩnh vực giáo dục mở vì chúng không chỉ nêu bật những thách thức hiện có mà hầu hết các quốc gia đang phải đối mặt trong việc tiếp nhận OER mà còn đưa ra các giải pháp có thể để vượt qua những thách thức này.


Khuyến khích giảng viên áp dụng tài nguyên giáo dục mở (OER) và biên soạn sách giáo khoa mở

Todorinova, L. & Wilkinson, Z. T. (2020). Khuyến khích giảng viên áp dụng tài nguyên giáo dục mở (OER) và biên soạn sách giáo khoa mở. Tạp chí Thư viện Học thuật, Tập 46, Số 6. https://doi.org/10.1016/j.acalib.2020.102220

Được Paula Cardoso đánh giá

Trong bài báo này, Todorinova & Wilkinson (2020) nghiên cứu việc áp dụng OER của giảng viên tại một trường đại học Mỹ. Động lực thúc đẩy nghiên cứu là mối quan ngại về chi phí sách giáo khoa đại học và mục tiêu chính là thúc đẩy khả năng chi trả sách giáo khoa và giảm bớt gánh nặng tài chính cho sinh viên.

Các tác giả đã đánh giá kinh nghiệm và nhận thức của các giảng viên đã tham gia vào chương trình khen thưởng khuyến khích tại trường đại học, nhằm thúc đẩy các tài liệu khóa học giá cả phải chăng, trong đó có Tài nguyên Giáo dục Mở (OER). Khảo sát cũng tìm hiểu kiến thức và việc sử dụng OER của giảng viên, bên cạnh sự quan tâm và nhận thức của họ về sự hỗ trợ nhận được để triển khai chương trình, nhằm mục đích cung cấp thông tin cho việc phát triển chương trình trong tương lai.

Phần tổng quan tài liệu do các tác giả thực hiện dựa trên những lợi ích, rào cản và thách thức trong việc áp dụng OER vào quá trình dạy và học ở giáo dục đại học, từ góc nhìn của một chương trình khuyến khích giảm chi phí sách giáo khoa.

Trong giới hạn của việc trình bày một mẫu nhỏ, do số lượng người tham gia chương trình của trường có hạn, kết quả cho thấy giảng viên đã phản hồi tích cực với chương trình và nhìn chung cảm thấy sinh viên được hưởng lợi từ trải nghiệm học tập dựa trên tài liệu khóa học được thiết kế lại.

Mặc dù hầu hết giảng viên đều nhận thấy tác động tích cực của chương trình, kết quả cho thấy vẫn còn những thách thức ở nhiều cấp độ. Một mặt, giảng viên báo cáo gặp khó khăn trong việc tìm kiếm tài liệu luôn đáp ứng nhu cầu của họ, nhưng đồng thời lại không đặc biệt quan tâm đến việc tạo ra Tài nguyên Giáo dục Mở (OER) hoặc biên soạn sách giáo khoa mở. Mặt khác, giảng viên báo cáo nhận được sự hỗ trợ từ khoa trong việc phát triển các phương pháp và cách thức giảng dạy đổi mới, nhưng không nhất thiết liên quan đến OER.

Mặc dù mục tiêu của bài báo là đánh giá chương trình đã được triển khai tại trường, các tác giả có thể tận dụng kết quả nghiên cứu để phát triển hơn nữa chương trình theo hướng cung cấp đào tạo chuyên sâu về biên soạn OER và đồng thời áp dụng các yếu tố thúc đẩy và khuyến khích khác nhau cho giảng viên ở các giai đoạn khác nhau trong sự nghiệp của họ.

Hầu hết các nghiên cứu về việc áp dụng OER của giảng viên tập trung vào phương pháp từ dưới lên, trong đó những người tiên phong và ủng hộ OER thường thực hiện các hoạt động của họ và khuyến khích những người khác làm theo. Tính phù hợp của bài báo này là nó mang đến phương pháp từ trên xuống và nghiên cứu quan điểm này trong việc thực hiện chiến lược của trường.

---------------------------------------------------

Thừa nhận: 

Nội dung này được dịch từ tài liệu của các tác giả: Farrow, R. (ed.), Weller, M., Pitt, R., Iniesto, F., Algers, A., Almousa, S., Baas, M., Bentley, P., Bozkurt, A., Butler, W., Cardoso, P., Chtena., N., Cox, G., Czerwonogora, A., Dabrowski, M.T., Derby, R., DeWaard, H., Elias, T., Essmiller, K., Funk, J., Hayman, J., Helton, E., Huth, K., Hutton, S. C., Iyinolakan, O., Johnson, K. R., Jordan, K., Kuhn, C., Lambert, S., Mittelmeier, J., Nagashima, T., Nerantzi, C., O’Reilly, J., Paskevicius, M., Peramunugamage, A., Pete, J., Power, V., Pulker, H., Rabin, E., Rets, I., Roberts, V., Rodés, V., Sousa, L., Spica, E., Vizgirda, V., Vladimirschi, V., & Witthaus, G. (2023). Sổ tay Nghiên cứu Mở của GO-GN.

Mạng lưới Cao học Toàn cầu về Tài nguyên Giáo dục Mở / Trung tâm Nghiên cứu Giáo dục Mở.

https://go-gn.net/gogn_outputs/open-research-handbook/.



 Giấy phép nội dung: CC BY 4.0 Quốc tế

---------------------------------------------------

VỀ TRANG MỤC LỤC

VỀ TRANG TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU CỦA GO-GN

---------------------------------------------------

Xem thêm: 

Thứ Năm, 14 tháng 5, 2026

Tổng quan Nghiên cứu của GO-GN. Tài nguyên Giáo dục Mở (OER)


GO-GN Research Review.

Open Educational Resources

Phát triển Khóa học Trực tuyến: Tạo ra Trải nghiệm Giáo dục Trực tuyến Mạnh mẽ

Ballantyne, E. & Trung tâm Giảng dạy và Học tập, Đại học Mount Saint Vincent (2022) Phát triển Khóa học Trực tuyến: Tạo ra Trải nghiệm Giáo dục Trực tuyến Mạnh mẽ. https://caul-cbua.pressbooks.pub/coursedev/

Được Marjon Baas (Đại học Khoa học Ứng dụng Saxion; Trường Cao học Giảng dạy ICLON, Đại học Leiden, Hà Lan) đánh giá

Cuốn sách giáo khoa mở này dành cho các giảng viên sẽ thiết kế một khóa học trực tuyến trong giáo dục đại học. Sách được tổ chức thành 10 chương tập trung vào: người học, các phương pháp sư phạm toàn diện, mục tiêu khóa học, sự tham gia, phản hồi, các hoạt động học tập, đánh giá, nội dung, tổ chức và cân bằng, và hỗ trợ bổ sung. Nhưng trước khi bạn bắt đầu với chương đầu tiên, các trang giới thiệu đã làm rõ rằng tác giả đã suy nghĩ về các vấn đề phụ liên quan của tài nguyên giáo dục mở (OER) này. Cô ấy bày tỏ lòng kính trọng đối với những người bản địa đang gìn giữ vùng đất Kjipuktuk (Halifax, Canada), minh họa cách thức tích hợp khả năng tiếp cận vào thiết kế của tài liệu, và giải thích cách người khác có thể sử dụng và điều chỉnh sách giáo khoa mở này. Bằng cách này, cô ấy đã nhấn mạnh rằng cả nhu cầu của sinh viên và giảng viên đều được xem xét. Hai chủ đề này cũng được đan xen trong toàn bộ sách giáo khoa mở. Nó bắt đầu bằng việc tạo ra nhận thức rằng không có cái gọi là giáo dục "một kích cỡ phù hợp cho tất cả" và phương pháp sư phạm đáp ứng văn hóa phải là một phần của việc phát triển khóa học. Sau đó, nó tiếp tục với các khía cạnh Thiết kế Ngược (Backward Design) khác nhau của một khóa học trực tuyến. Điều thực sự tích cực về cuốn sách giáo khoa mở này là các trang dễ đọc, có sự kết hợp tốt giữa văn bản, video và hình ảnh, và có các bài tập ngắn giúp giảng viên suy nghĩ về thiết kế khóa học trực tuyến của họ.

Nhìn chung, cuốn sách giáo khoa mở này sẽ rất hữu ích cho các giảng viên trên toàn thế giới để chuẩn bị cho việc phát triển khóa học trực tuyến. Nó sẽ đặc biệt hữu ích cho các giáo viên mới vào nghề chưa có kinh nghiệm về thiết kế khóa học nói chung. Cuốn sách này sẽ giúp họ chuẩn bị những điều cần cân nhắc khi thiết kế một khóa học trực tuyến. Sau khi đọc xong, một giảng viên sẽ sẵn sàng bắt đầu thiết kế khóa học trực tuyến. Đó sẽ không phải là một nhiệm vụ dễ dàng, nhưng bằng cách đọc và tham gia vào tác phẩm giới thiệu về thiết kế khóa học trực tuyến này, họ sẽ mở rộng tầm nhìn và kiến thức về những điều cần suy nghĩ khi thiết kế các khóa học như vậy. Một cuốn sách giáo khoa mở tiếp theo, hoặc phần mở rộng của cuốn sách hiện tại, về cách quản lý một khóa học trực tuyến đang hoạt động cũng sẽ rất hữu ích. Việc thiết kế một khóa học trực tuyến và việc thực sự vận hành khóa học đó trên trực tuyến là hai kỹ năng khác nhau, và tôi nghĩ rằng đặc biệt là các giáo viên mới vào nghề (nhưng cả những giáo viên “truyền thống” giàu kinh nghiệm) sẽ cảm thấy được hỗ trợ nếu bước tiếp theo là thực hiện một khóa học trực tuyến cũng được mô tả rõ ràng.


Tác động tích cực của Sáng kiến Bằng cấp Tài nguyên Giáo dục Mở đối với tiến trình học tập của sinh viên đại học

Griffiths, R., Mislevy, J. & Wang, S. (2022). Tác động tích cực của Sáng kiến Bằng cấp Tài nguyên Giáo dục Mở đối với tiến trình học tập của sinh viên đại học. Giáo dục Đại học (2022). https://doi.org/10.1007/s10734-022-00817-9

Được Marjon Bass (Đại học Khoa học Ứng dụng Saxion; Trường Cao học Sư phạm ICLON, Đại học Leiden, Hà Lan) đánh giá

Nghiên cứu truy cập mở được viết tốt này cung cấp cho chúng ta sự hiểu biết tốt hơn về tác động của các lộ trình bằng cấp OER đối với tiến trình học tập của sinh viên. Các tác giả lập luận rằng các nghiên cứu trước đây đã chỉ ra những tác động tích cực của việc áp dụng OER ở cấp độ khóa học, nhưng những hiểu biết về tác động của bằng cấp OER đối với việc học tập của sinh viên vẫn còn hạn chế. Để điều tra tác động dài hạn của các lộ trình bằng cấp OER, các tác giả đã thiết kế một phương pháp mạnh mẽ và phù hợp. Dữ liệu cấp độ sinh viên (ví dụ: thông tin nhân khẩu học, thành tích học tập trước đó và dữ liệu bảng điểm) và dữ liệu cấp độ giảng viên - được đưa vào làm biến dự báo trong phân tích tổng hợp - về kinh nghiệm giảng dạy bằng Tài nguyên Giáo dục Mở (OER) đã được thu thập tại 11 trường cao đẳng cộng đồng. Tuy nhiên, việc triển khai sáng kiến cấp bằng OER cần thời gian và do đó các nhà nghiên cứu không thể khảo sát những sinh viên đã đăng ký toàn bộ chương trình cấp bằng OER. Mặc dù họ đã tạo ra ba điều kiện để đo lường tác động của OER đến việc học tập của sinh viên (liều lượng cao, thấp, không có khóa học OER), tôi đồng ý với những hạn chế mà các tác giả đã nêu ra rằng sẽ rất thú vị nếu khám phá đầy đủ kết quả khi sinh viên đã hoàn thành toàn bộ chương trình cấp bằng OER.

Phân tích do các nhà nghiên cứu thực hiện được giải thích rõ ràng và kết quả được trình bày mạch lạc trong phần kết quả. Một kết quả thú vị là ở 6 trong số 11 trường cao đẳng, sinh viên đăng ký các khóa học OER đã học nhiều tín chỉ hơn trên thực tế so với các bạn cùng lớp đăng ký các khóa học truyền thống. Không tìm thấy tác động đáng kể nào đối với sinh viên tham gia các khóa học OER dẫn đến tác động tích cực đến điểm trung bình - GPA (Grade Point Average) tích lũy của họ. Tuy nhiên, một số nhóm sinh viên được hưởng lợi nhiều hơn từ các chương trình cấp bằng OER so với các nhóm khác. Điều duy nhất không rõ ràng khi đọc phần này trong bài báo là ý nghĩa của thuật ngữ "sinh viên Pell". Nghiên cứu này được thực hiện tại Hoa Kỳ và đây có lẽ là một thuật ngữ quen thuộc ở đó, nhưng bài báo lại thiếu phần giới thiệu rõ ràng cho người ngoài. Ngoài ra, phần kết quả dễ đọc và được minh họa tốt bằng các hình ảnh kèm theo văn bản mô tả. Một nhận định quan trọng mà các tác giả đưa ra trong phần kết quả là các điều kiện và thực tiễn trong mỗi trường đại học có thể ảnh hưởng đến việc liệu kết quả liên quan đến việc triển khai chương trình cấp bằng OER có thuận lợi cho việc học tập của sinh viên hay không. Nghiên cứu trong tương lai của các tác giả có thể khám phá vấn đề này chi tiết hơn. Thêm vào đó, tôi đặc biệt khuyến nghị các tác giả nên đưa vào bài báo một phần hàm ý thực tiễn để kết nối các phát hiện của nghiên cứu với thực tiễn của các lộ trình cấp bằng OER, điều này có thể hỗ trợ các viện giáo dục đại học khác, những người ủng hộ OER và các giảng viên.


Hành trình đến với mở: Hướng dẫn thực hành triển khai tài nguyên giáo dục mở

Roch, S. và Stracuzzi, A. (n.d.). Hành trình đến với mở: Hướng dẫn thực hành triển khai tài nguyên giáo dục mở (OER). Fanshaw College Pressbooks. https://openlibrary-repo.ecampusontario.ca/xmlui/bitstream/handle/123456789/1053/JourneyToOpen-PDFPrint.pdf

Được Lorena Sousa (Đại học Aveiro, Bồ Đào Nha) đánh giá

Cuốn sách Hành trình đến với mở trình bày quy trình phát triển và triển khai sáng kiến Tài nguyên Giáo dục Mở tại Cao đẳng Fanshawe, Canada, nhằm hỗ trợ việc giảng dạy và học tập của giảng viên và sinh viên. Sách được chia thành ba phần:

  • Phần I: Mở tại Cao đẳng Fanshawe

  • Phần II: Quan điểm và Suy ngẫm của Nhóm

  • Phần III: Giới thiệu OER

Trong phần đầu tiên, quy trình liên quan đến việc thành lập Xưởng Thiết kế OER (OER Design Studio) được trình bày, bao gồm các quy trình ươm tạo, thiết kế và áp dụng. Trang 3 và 4 trình bày ngắn gọn dữ liệu từ một cuộc khảo sát được thực hiện trong các sự kiện Ngày Giáo dục Mở (Open Education Days), nhưng kết quả không được phân tích sâu hơn. Sẽ thú vị hơn nếu có thêm thông tin chi tiết về các câu hỏi và tỷ lệ phần trăm liên quan đến các câu trả lời của sinh viên và giảng viên. Bảng trắng ở trang 6 cũng rất thú vị và có thể được thảo luận sâu hơn, đặc biệt là về số lượng người trả lời, thông tin cá nhân của họ và liệu các màu sắc khác nhau có ý nghĩa gì.

Vẫn trong phần I, quy trình tạo ra khóa học được trình bày. Sơ đồ ở trang 12 phác thảo quy trình và cung cấp cái nhìn tổng quan tốt về các bước chung. Từ trang 14 đến trang 19, khóa học được giải thích, nhưng trong quá trình đọc, không rõ liệu nội dung đó đến từ khóa học hay từ hướng dẫn "Hành trình đến với Giáo dục Mở". Ở trang 20, khung sản xuất OER được minh họa rất tốt bằng một quy trình làm việc, mô tả các bước chính được áp dụng trong việc tạo ra OER. Sau đó, mỗi bước được giải thích ở các trang tiếp theo.

Trong phần II, mỗi thành viên trong nhóm suy ngẫm về quá trình phát triển OER trong sáng kiến này tại Cao đẳng Fanshawe. Dữ liệu rất phong phú và phù hợp với nghiên cứu giáo dục mở. Nó mô tả cách khái niệm của nhóm đã thay đổi trong suốt quá trình, những thách thức họ gặp phải và những lợi ích đạt được trong quá trình này. Một gợi ý là sử dụng phương pháp phân tích nội dung để làm phong phú thêm các kết quả này.

Ở phần III, các dự án được sáng kiến này tạo ra có giới thiệu ngắn gọn. Có thể cung cấp thêm chi tiết. Các cân nhắc cuối cùng và kết luận của hướng dẫn thực hành bị thiếu.

Tóm lại, bài báo được cấu trúc tốt và trình bày thông tin liên quan đến lĩnh vực giáo dục mở. Tuy nhiên, một số dữ liệu có thể được phân tích tốt hơn và cần khai thác thêm chi tiết để cung cấp cái nhìn tổng quan tốt hơn cho người đọc.


Thiết kế lại khóa học Phương pháp nghiên cứu với Tài nguyên giáo dục mở tương tác, cá nhân hóa

Wynants, S. A. & Dennis, J (2022). Thiết kế lại khóa học Phương pháp nghiên cứu với Tài nguyên giáo dục mở tương tác, cá nhân hóa: Nghiên cứu trường hợp về nhận thức và hiệu suất của sinh viên. Tạp chí Học thuật về Giảng dạy và Học tập, 22(1). https://doi.org/10.14434/josotl.v22i1.31706

Được Glenda Cox (Đại học Cape Town, Nam Phi) đánh giá

Nghiên cứu này bao gồm kết quả khảo sát và điều tra nhóm đối chứng dựa trên khoa học về kết quả thi để xác định kết quả học tập của sinh viên khi các tài nguyên giáo dục mở được đưa vào một khóa học thay thế sách giáo khoa thương mại. Các tác giả lập luận rằng điểm mạnh của OER nằm ở khả năng được phối lại và tùy chỉnh, dẫn đến phản ứng tích cực của sinh viên vì tài liệu trở nên dễ hiểu và có tính tương tác hơn.

Nghiên cứu được thực hiện tại một cơ sở giáo dục công lập ở Hoa Kỳ với cộng đồng sinh viên đa dạng về chủng tộc.

Một khóa học đã được thiết kế lại để bao gồm tài liệu giáo dục mở (OER), và sách giáo khoa OER được chọn đã được mở rộng để bao gồm các câu hỏi tự kiểm tra nhằm xây dựng các buổi học trực tuyến tương tác hàng tuần. Kết quả thi được so sánh giữa nhóm sinh viên sử dụng sách giáo khoa thương mại và nhóm sinh viên khác sử dụng OER. Cùng một giảng viên đã giảng dạy cho cả hai nhóm.

Phương pháp nhóm đối chứng này được sử dụng trong rất nhiều nghiên cứu. Tuy nhiên, có rất nhiều biến số khác liên quan đến sinh viên và bối cảnh mà không thể kiểm soát được, do đó rất khó để xây dựng một lập luận vững chắc dựa trên kết quả. Kết quả (như các nghiên cứu khác đã chỉ ra) cho thấy không có sự khác biệt đáng kể.

Những phát hiện về nhận thức của sinh viên thú vị và hữu ích hơn vì hiện nay có rất ít nghiên cứu thu thập quan điểm của sinh viên về Tài nguyên Giáo dục Mở (OER). Một cuộc khảo sát bao gồm các câu hỏi mở đã cung cấp phản hồi về trải nghiệm tích cực và sự hài lòng của sinh viên. Nghiên cứu bao gồm các câu hỏi khảo sát và câu hỏi mở, và điều này có thể hữu ích cho các nghiên cứu so sánh trong tương lai tại các cơ sở giáo dục khác. Bài báo này được viết rõ ràng, và các trích dẫn của sinh viên là một nguồn bằng chứng phong phú về kinh nghiệm của họ về những điểm nổi bật và thách thức.

Các tác giả thảo luận về tầm quan trọng của OER trong việc tạo ra trải nghiệm học tập được cá nhân hóa, công nhận sự đa dạng văn hóa của sinh viên. Khía cạnh bản địa hóa này cùng với phản hồi của sinh viên và khả năng đồng sáng tạo trong tương lai được đề xuất như một hướng đi phía trước. Nghiên cứu trong tương lai của các tác giả sẽ điều tra những thay đổi về phương pháp sư phạm mà các học giả trải nghiệm khi tạo lập và giảng dạy bằng OER.


Hướng tới một cách tiếp cận phê phán đối với OER: Nghiên cứu trường hợp loại bỏ “Năm ông lớn” khỏi việc tạo ra OER

Joseph, K., Guy, J., & McNally, M. (2019). Hướng tới một cách tiếp cận phê phán đối với OER: Nghiên cứu trường hợp loại bỏ “Năm ông lớn” khỏi việc tạo ra OER. Open Praxis, 11(4), 355-367. doi:http://dx.doi.org/10.5944/openpraxis.11.4.1020

Được Kathy Essmiller (Đại học bang Oklahoma, Hoa Kỳ) đánh giá

Bài báo này mô tả kết quả của một dự án nghiên cứu trường hợp duy nhất, trong đó các tác giả khám phá sự tiến bộ của một cách tiếp cận phê phán đối với tài nguyên giáo dục mở (OER) thông qua việc loại bỏ việc sử dụng phần mềm độc quyền trong các quy trình và sản phẩm tạo ra OER. Joseph, Guy và McNally cho rằng mặc dù các tài liệu phê phán về OER đã thu hút sự chú ý đến sự mất cân bằng quyền lực, nhưng cần nhiều nghiên cứu hơn để hiểu cách sử dụng các phần mềm độc quyền tương tác trong và với những sự mất cân bằng đó. Dựa trên các lập luận đạo đức do Stallman (2002) và Waynar (2000) đưa ra, các tác giả sử dụng lăng kính phê phán để phân tích cách thức trải nghiệm việc tạo ra OER của chính họ sẽ thay đổi nếu không sử dụng phần mềm từ Apple, Alphabet/Google, Amazon, Facebook và Microsoft, được mô tả trong tiêu đề bài báo là "Năm ông lớn". Họ nhận thấy rằng việc né tránh "Năm ông lớn" hầu như không giúp thúc đẩy cách tiếp cận mang tính phê phán đối với Tài nguyên Giáo dục Mở (OER). (Joseph và cộng sự, tr. 356).

Thiết kế nghiên cứu là một nghiên cứu trường hợp đơn lẻ, và trích dẫn tài liệu hỗ trợ cho thiết kế này, cho thấy nó phù hợp với các dự án tìm kiếm sự hiểu biết sâu sắc thông qua việc nghiên cứu các chương trình riêng lẻ. Trường hợp được nghiên cứu là việc các tác giả tạo ra một loạt các mô-đun hướng dẫn cho chương trình "Mở rộng bản quyền" của Đại học Alberta. Bài báo không bao gồm mô tả rõ ràng về các phương pháp thu thập dữ liệu được sử dụng, nhưng mô tả phong phú về bối cảnh và quy trình cho thấy dữ liệu đã được các tác giả thu thập và phân tích khi họ tham gia vào việc tạo ra các mô-đun và suy ngẫm về thực tiễn của mình. Mô tả kỹ lưỡng của các tác giả về những thách thức liên quan đến việc tạo ra các tài nguyên hướng dẫn mà không sử dụng "Năm ông lớn" làm rõ cho người đọc lý do tại sao họ kết luận rằng chi phí vượt quá lợi ích.

Ngoài giá trị mà các phát hiện của nghiên cứu này mang lại cho nghiên cứu giáo dục mở trong tương lai liên quan đến việc sử dụng phần mềm độc quyền, các học giả sẽ được hưởng lợi từ việc đánh giá tài liệu, thảo luận về nền tảng lý thuyết và sự biện minh cho việc sử dụng nghiên cứu trường hợp cho các dự án tương tự. Bài đánh giá tài liệu trình bày các bài báo thảo luận về sự cân bằng giữa khả năng sử dụng và tính mở dựa trên các cuộc thảo luận về phần mềm nguồn mở, tính bền vững của OER về mặt hỗ trợ sản xuất, và nhu cầu cần tăng cường xem xét kỹ lưỡng hơn về “quan hệ xã hội và quyền lực” (Joseph et al., 2019, tr. 357) gắn liền với việc tạo lập, phổ biến và sử dụng OER. Các tác giả cung cấp một mô tả mạnh mẽ về nền tảng lý thuyết đã định hình lăng kính phê phán mà họ sử dụng để thiết kế và thực hiện nghiên cứu của mình. Bài báo bao gồm tham khảo một số nghiên cứu trường hợp đơn lẻ khác khám phá OER, và đề cập đến một số tác phẩm hỗ trợ việc sử dụng các nghiên cứu trường hợp đơn lẻ cho các dự án tìm kiếm sự hiểu biết về các quy trình và ý nghĩa.

Các tác giả khuyến nghị tiếp tục sử dụng các quan điểm phê phán để khám phá và nghiên cứu OER sâu hơn. Họ khuyến nghị rằng, mặc dù “có những lập luận thực dụng” cho việc tiếp tục sử dụng phần mềm độc quyền (Joseph et al., tr. 363), những người tạo ra OER vẫn cần cảnh giác với việc sử dụng như vậy có thể làm trầm trọng thêm sự mất cân bằng quyền lực hiện có.


MOOC có phải là Tài nguyên Giáo dục Mở (OER) không? Tổng quan tài liệu về lịch sử, định nghĩa và phân loại OER và MOOC

Stracke, C., Downes, S., Conole, G., Burgos, D., & Nascimbeni, F. (2019). MOOC có phải là Tài nguyên Giáo dục Mở (OER) không? Tổng quan tài liệu về lịch sử, định nghĩa và phân loại OER và MOOC. Open Praxis, 11(4), 331-341. doi:http://dx.doi.org/10.5944/openpraxis.11.4.1010

Được Caroline Kuhn (Đại học Bath Spa, Vương quốc Anh) đánh giá

Mục đích chính của bài báo là thảo luận xem Khóa học trực tuyến mở đại chúng - MOOC (Massive Open Online Courses) có nên được coi là OER hay không. Cuộc tranh luận này được thực hiện bằng cách xem xét lịch sử và bản chất của cả OER và MOOC thông qua việc phân tích các định nghĩa và phân loại OER khác nhau liên quan đến các khía cạnh và phân loại của chúng. Cuộc tranh luận này dẫn đến một cuộc thảo luận tập trung vào chất lượng của chúng, mà các tác giả đã sử dụng Khung Chất lượng Giáo dục Mở (OpenEdQuality Framework). Để trả lời câu hỏi, các tác giả đã tiếp cận từ hai góc độ: góc độ Tài nguyên Giáo dục Mở (OER), trong đó MOOC như một sản phẩm có thể được gọi là OER, và từ góc độ giáo dục mở và đổi mới, trong đó MOOC vượt ra ngoài OER với vai trò là công cụ hỗ trợ Giáo dục Mở và được hiểu là một cách thức đổi mới để thay đổi giáo dục.

Để đi đến kết luận, các tác giả đã phân tích các định nghĩa và phân loại khác nhau về OER. Sau đó, họ trình bày các định nghĩa và cách sử dụng liên quan đến các khía cạnh và phân loại của MOOC và liên hệ chúng với định nghĩa chuẩn về OER. Tuy nhiên, họ giới thiệu một yếu tố thứ ba thú vị, đó là Khung Chất lượng Giáo dục Mở, mà họ đã sử dụng làm nền tảng lý thuyết. Khung này được một tổ chức có tên là MOOQ Alliance phát triển, và nó được sử dụng như một công cụ cho các nhà thiết kế, người hướng dẫn và nhà cung cấp để hỗ trợ lợi ích của người học. Chất lượng của tài nguyên, theo khung này, liên quan đến các mục tiêu, sự hiện thực hóa và kết quả của tài nguyên. Mặc dù khung lý thuyết này ban đầu được tạo ra cho các khóa học trực tuyến mở đại chúng (MOOC), nhưng các tác giả cho rằng nó cũng phù hợp để khám phá tài nguyên giáo dục mở (OER), và đã giải thích chi tiết lý do họ cân nhắc việc này.

Các tác giả cho rằng việc MOOC có được coi là một loại Tài nguyên Giáo dục Mở (OER) hay không sẽ phụ thuộc vào quan điểm được xem xét, tức là xem chúng như một nguồn tài nguyên hay như một sự đổi mới trong học tập. Nếu được xem như một nguồn tài nguyên, MOOC có thể được coi là một loại OER, nhưng điều này sẽ phụ thuộc vào mục đích của người trung gian giáo dục. Nếu được xem như một sự đổi mới trong học tập mở, MOOC vượt ra ngoài phạm trù OER và có tiềm năng tạo điều kiện cho các quy trình và trải nghiệm học tập đổi mới. Hơn nữa, và tôi cho là rất thú vị, MOOC có thể được xem không chỉ là nguồn tài nguyên mà còn có thể được chuyển đổi thành các cơ hội và môi trường học tập cho việc tự điều chỉnh và học tập cộng tác.

Bài báo này có thể hữu ích cho các nhà thiết kế và giảng viên đang cân nhắc sử dụng MOOC trong trải nghiệm học tập của họ. Tôi cũng nghĩ rằng việc giới thiệu khung này có thể rất phù hợp cho những người đánh giá MOOC hoặc OER trước khi quyết định tích hợp chúng vào trải nghiệm học tập. Việc có lịch sử ngắn gọn về cả OER và MOOC ở cùng một nơi cũng rất hữu ích cho các nhà nghiên cứu quan tâm đến vấn đề này.


Hiện trạng tài nguyên giáo dục mở tại khu vực Ả Rập

Tlili, A., Jemni, M., Khribi, M.K. và cộng sự (2020). Hiện trạng tài nguyên giáo dục mở tại khu vực Ả Rập: một cuộc điều tra tại 22 quốc gia. Môi trường học tập thông minh, 7, 11. https://doi.org/10.1186/s40561-020-00120-z

Được Kathy Essmiller (Đại học bang Oklahoma, Hoa Kỳ) đánh giá

Bài báo này trình bày và thảo luận về các kết quả thu thập được từ một cuộc khảo sát điều tra hiện trạng Tài nguyên Giáo dục Mở (OER) tại khu vực Ả Rập. Thiết kế nghiên cứu bao gồm một cuộc khảo sát được điều chỉnh từ các bảng câu hỏi có sẵn và được xác nhận bởi các chuyên gia OER từ Tổ chức Giáo dục, Văn hóa và Khoa học Liên đoàn Ả Rập (ALECSO) và Viện Học tập Thông minh của Đại học Sư phạm Bắc Kinh (SLIBNU). Cuộc khảo sát đã điều tra nhận thức về Tài nguyên Giáo dục Mở (OER), việc sử dụng OER, cách thức OER được thúc đẩy thông qua “các sáng kiến và chính sách” (Tlili et al., 2020, tr. 3), và khả năng tiếp cận OER đối với sinh viên Ả Rập. Các tác giả nhận thấy rằng tiến trình phát triển OER ở khu vực Ả Rập không đồng đều, mô tả việc áp dụng và sử dụng OER trong khu vực là “vẫn còn ở giai đoạn sơ khai” (Tlili et al., 2020, tr. 12), và khuyến nghị tăng cường sử dụng OER ở khu vực Ả Rập để giải quyết các vấn đề công bằng xã hội và cải thiện kết quả học tập của sinh viên.

Nghiên cứu này, được thực hiện với sự hợp tác giữa ALECSO và SLIBNU, nhằm mục đích “thúc đẩy công bằng xã hội và tạo điều kiện thuận lợi cho việc áp dụng Tài nguyên Giáo dục Mở (OER) trong khu vực Ả Rập” (Tlili và cộng sự, 2020, tr. 3). ALECSO đã phân phát bảng câu hỏi cho Bộ Giáo dục và Giáo dục Đại học của 22 quốc gia Ả Rập cũng như cho các cá nhân được liệt kê trong cơ sở dữ liệu OER của ALECSO là những người đã bày tỏ sự quan tâm đến việc sử dụng và áp dụng OER. Sau khi nhận được 735 bảng câu hỏi đã hoàn thành từ 21 quốc gia, các tác giả đã có thể khái quát hóa các phát hiện của họ cho toàn bộ khu vực Ả Rập.

Các câu hỏi điều tra nhận thức của những người trong khu vực Ả Rập về OER cho thấy mức độ nhận thức cao về vai trò của OER trong việc cải thiện kết quả học tập, nhưng những khó khăn được nhận thấy liên quan đến việc tạo ra và sử dụng OER lại là rào cản đối với việc sử dụng nó. Những khó khăn đó bao gồm sự hạn chế về nội dung tiếng Ả Rập, thiếu sự tích hợp với các thực tiễn giáo dục có cấu trúc, thiếu thời gian và nguồn lực cần thiết cho việc tùy chỉnh và tạo lập OER, và nhu cầu nâng cao nhận thức về cấp phép mở. Những người tham gia nhận thấy chính phủ hỗ trợ việc sử dụng Tài nguyên Giáo dục Mở (OER), nhưng xác định sự thiếu tầm nhìn và “thiếu các chiến lược hoặc mô hình” (Tlili et al., 2020, tr. 9) là những vấn đề cản trở sự phát triển và sử dụng OER bền vững. Ngoài ra, các phản hồi cho thấy người tham gia nhận thấy cả nhận thức về nội dung phù hợp và cơ sở hạ tầng CNTT đều đặt ra thách thức đối với khả năng tiếp cận OER trong khu vực Ả Rập.

Nghiên cứu này có giá trị đối với những người đang tìm kiếm các khuyến nghị dựa trên nghiên cứu về cách tăng cường tiến bộ OER về nhận thức, sử dụng, sáng kiến và chính sách OER, cũng như khả năng tiếp cận để giải quyết các vấn đề công bằng xã hội và cải thiện kết quả học tập. Các tác giả cung cấp bảng phân tích theo tỷ lệ phần trăm câu trả lời cho các câu hỏi khảo sát và trình bày dữ liệu dưới dạng đồ họa dễ hiểu. Bài báo cung cấp cái nhìn sâu sắc về các lý do thúc đẩy nghiên cứu, cũng như thông tin về các tổ chức hỗ trợ và vận động cho việc sử dụng OER ở các nước Ả Rập, giúp lấp đầy khoảng trống thông tin hiện có về việc sử dụng OER trong khu vực Ả Rập.

---------------------------------------------------

Thừa nhận: 

Nội dung này được dịch từ tài liệu của các tác giả: Farrow, R. (ed.), Weller, M., Pitt, R., Iniesto, F., Algers, A., Almousa, S., Baas, M., Bentley, P., Bozkurt, A., Butler, W., Cardoso, P., Chtena., N., Cox, G., Czerwonogora, A., Dabrowski, M.T., Derby, R., DeWaard, H., Elias, T., Essmiller, K., Funk, J., Hayman, J., Helton, E., Huth, K., Hutton, S. C., Iyinolakan, O., Johnson, K. R., Jordan, K., Kuhn, C., Lambert, S., Mittelmeier, J., Nagashima, T., Nerantzi, C., O’Reilly, J., Paskevicius, M., Peramunugamage, A., Pete, J., Power, V., Pulker, H., Rabin, E., Rets, I., Roberts, V., Rodés, V., Sousa, L., Spica, E., Vizgirda, V., Vladimirschi, V., & Witthaus, G. (2023). Sổ tay Nghiên cứu Mở của GO-GN.

Mạng lưới Cao học Toàn cầu về Tài nguyên Giáo dục Mở / Trung tâm Nghiên cứu Giáo dục Mở.

https://go-gn.net/gogn_outputs/open-research-handbook/.



 Giấy phép nội dung: CC BY 4.0 Quốc tế

---------------------------------------------------

VỀ TRANG MỤC LỤC

VỀ TRANG TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU CỦA GO-GN

---------------------------------------------------

Xem thêm: