Chủ Nhật, 17 tháng 10, 2021

Hiểu biết phương pháp khoa học: mệnh lệnh đối với một thế giới phức tạp

Susan Schneegans và Shamila Nair-Bedouelle

Trong đại dịch, công chúng đã quay sang khoa học

Truyền thông khoa học đã được đề cao trong đại dịch COVID-19, khi thế giới vật lộn để hiểu tai họa đã giáng xuống nó. Các nhà truyền đạt khoa học đã phục vụ như là chiếc cầu nối giữa những người làm chính sách và công chúng nói chung, trả lời các câu hỏi như: Virus từ đâu mà ra? Nó lây nhiễm cho tế bào người như thế nào? Có cách điều trị hiệu quả hay không? Tôi có thể tự bảo vệ mình khỏi lây nhiễm như thế nào? Mất bao nhiêu thời gian để phát triển vắc xin?

Ngay từ đầu, công chúng đã quay sang khoa học để có các câu trả lời cho các câu hỏi đó. Các cơ sở, các nhà tư vấn, các nhà báo khoa học và những người khác đã nhận lấy trách nhiệm, truyền đạt cho công chúng về khoa học đằng sau SARS-CoV-2 và về các biện pháp xử lý nó qua các cuộc phỏng vấn, các bài báo, blog và các phương tiện khác. Vai trò của họ từng là sống còn trong việc thuyết phục công chúng tuân thủ với các nỗ lực tập thể đề kiềm chế sự lây lan của virus như đeo khẩu trang ở nơi công cộng, giãn cách xã hội và cách ly.

Đấu tranh chống lại ‘đại dịch thông tin’

Tuy nhiên, như Tổ chức Y tế Thế giới (WHO) nêu, cũng đã có một ‘đại dịch thông tin’ (infodemic) các thông tin sai lệch về đại dịch. Tổng Thư ký Liên hiệp quốc đã than thở rằng, ‘khi COVID-19 lây lan, một cơn sóng thần của thông tin sai lệch, thù hận, vật tế thần và sự hù dọa đã được phóng ra’.

Vào năm 2020, hơn 130 quốc gia đã ký Tuyên bố Liên Khu vực về ‘Đại dịch thông tin’ trong bối cảnh của COVID-191. Nó quan sát thấy ‘sự lan truyền của “đại dịch thông tin” có thể nguy hiểm cho sức khỏe và an toàn của con người hệt như bản thân đại dịch đó. Trong số các hiệu quả tiêu cực khác, COVID-19 đã tạo ra các điều kiện xúc tác cho sự lan truyền thông tin sai lệch, tin giả và các video giả chữa bệnh có nội dung nhằm kích động bạo lực và chia rẽ cộng đồng.’

Tuyên bố nêu rằng khủng hoảng COVID-19 đã thể hiện nhu cầu bức thiết về tiếp cận thông tin miễn phí, thực tế, đáng tin cậy và dựa trên khoa học. Nó xác nhận rằng đại dịch đã khẳng định các phương tiện truyền thông miễn phí, độc lập, có trách nhiệm và đa nguyên đã đóng vai trò chính để cải thiện minh bạch, trách nhiệm giải trình và lòng tin của công chúng.

Các bên ký kết nói rằng ‘nhiều quốc gia, bao gồm cả của chúng tôi, và các cơ sở quốc tế, như WHO và UNESCO, đã làm việc hướng tới khả năng phục hồi ngày càng gia tăng của xã hội chống lại thông tin sai lệch, nó đã cải thiện toàn bộ tính chuẩn bị sẵn sàng để làm việc cả với và hiểu biết tốt hơn về “đại dịch thông tin” và đại dịch COVID-19’. Để chống lại sự lan truyền thông tin sai lệch, UNESCO đã và đang thúc đẩy tài nguyên giáo dục mở, các mạng công cụ kiểm tra sự việc và các tài nguyên thúc đẩy hiểu biết phương tiện và thông tin2.

Hãy tin vào khoa học!

Khi Nhóm Phản ứng Mức Cao của UNESCO gặp nhau vào tháng 10/2020, nhà kinh tế học Fouad Laroui đã quan sát thấy ‘khoa học đang trong khủng hoảng. Chúng tôi đã thấy nó rõ ràng trong đại dịch nhưng cũng liên quan tới biến đổi khí hậu. Trong khoảng 20 năm qua, chúng tôi đã thấy sự phát triển về ý tưởng rằng khoa học chỉ là một niềm tin giống như bất kỳ niềm tin nào khác. Điều này là rất nguy hiểm.3

Ông nhận thấy rằng, cho đến gần đây, 'sự tung hô hàng loạt về mê tín dị đoan và các thuyết âm mưu chỉ là ngoại lệ, chứ không phải là quy luật' nhưng điều đó xảy ra, 'với sự ra đời của Internet và các phương pháp chia sẻ thông tin khác cho phép những điều sai sự thật như vậy được lan truyền rộng rãi và nhanh chóng, nó ngày càng trở nên phổ biến hơn.'

Đối với TS. Laroui, ‘các thuyết âm mưu giống như ý tưởng rằng thế giới là phẳng có thể phần lớn vô hại nhưng, ví dụ, quan điểm rằng các vắc xin là tồi tệ và, quan trọng hơn, giữ quan điểm đó ngang bằng với bằng chứng khoa học theo chiều ngược lại, dẫn tới tác động rất thực tế lên sức khỏe con người - và ngày càng có vấn đề khi bạn có các kiểu tường thuật này tồn tại ở cấp độ cao hơn trong quá trình ra quyết định và truyền thông. Chúng tôi đã thấy điều này xảy ra trong đại dịch, với các kết quả thảm họa.’

Khi được đặt câu hỏi vào năm 2020 thông qua Khảo sát Thế giới năm 2030 của UNESCO về những thách thức toàn cầu có liên quan tới sức khỏe và bệnh tật, hơn một nửa những người trả lời đã mô tả ‘không biết thông tin nào để tin tưởng hoặc tin vào ai’ đang là lo ngại hàng đầu4.

Các phát hiện đó đã dẫn UNESCO và các đối tác của nó tạo ra chủ đề ‘khoa học tin cậy’ trong Ngày Ánh sáng Quốc tế (International Day of Light) vào ngày 16/05/2021. Như một phần của chiến dịch xây dựng nhận thức này, những người ủng hộ khoa học đang được khuyến khích ký cam kết tin vào khoa học. UNESCO nằm trong số các bên ký kết đầu tiên.

Hiểu biết phương pháp khoa học có thể đấu tranh chống thông tin sai lệch

Hiểu biết phương pháp khoa học (Scientific Literacy) có thể là cái đệm hiệu quả chống lại các phong trào chống khoa học (anti-science) đang tìm cách gieo nghi ngờ trong tâm trí của công chúng bằng việc phổ biến thông tin họ biết là giả. Trong cuốn sách của mình, Oreskes và Conway (2010) chỉ ra rằng các chiến thuật được ngành công nghiệp nhiên liệu hóa thạch sử dụng để chê bai khoa học khí hậu, gieo nghi ngờ vào tâm trí các công dân Mỹ và khóa hành động pháp lý từng là y hệt như những gì đã được nghành công nghiệp thuốc lá sử dụng để chống lại nghiên cứu về các hiệu ứng độc hại của hút thuốc lên sức khỏe. Oreskes và Conway (2010) cũng chỉ ra rằng chính họ, các cá nhân, các hãng quan hệ công chúng, các tổ chức quảng cáo và các nhóm nghiên cứu chiến lược (think tank) mà đã lan truyền thông tin sai lệnh về biến đổi khí hậu đã có các quan hệ chặt chẽ với cả các công ty nhiên liệu hóa thạch và thuốc lá.

Các nhà lý thuyết âm mưu, các nhà vận động hành lang của giới công nghiệp và những người bán rong khác chống khoa học không thể đạt được sức hút với những người hiểu biết khoa học, vì những người hiểu biết khoa học biết rằng khoa học là về bằng chứng, không phải ý kiến.

Đại dịch COVID-19 đã nhấn mạnh tầm quan trọng của hiểu biết phương pháp khoa học cả trong quần thể dân cư rộng rãi và giữa những người làm chính sách, như các cán bộ của chính quyền địa phương và chính phủ trung ương và các nghị sỹ. Các nhà lãnh đạo chính phủ hiểu biết phương pháp khoa học đã nhanh chóng hiểu giá trị của tiếp cận dựa vào khoa học để xử lý đại dịch; trong các tuần bùng phát đầu năm 2020, họ đã thiết lập các ủy ban khoa học đặc biệt để quản lý khủng hoảng.

Hiểu biết phương pháp khoa học (Scientific Literacy) là không y hệt như hiểu biết khoa học (Science Literacy). Cái sau tập trung vào việc có được kiến thức khoa học và kỹ thuật để áp dụng thực tiễn, để đào tạo thế hệ tiếp sau các nhà khoa học, các kỹ sư và các kỹ thuật viên. Đây là nhóm chuyên ngành tạo nên một phần nhỏ cư dân. Thậm chí ở một quốc gia công nghiệp hóa cao độ như Đức, đã chỉ có 5.212 nhà nghiên cứu và 2.018 kỹ thuật viên6 cho mỗi một triệu người dân vào năm 2018, theo Viện Thống kê UNESCO.

Hiểu biết phương pháp khoa học, mặt khác, nhằm vào quần thể dân cư rộng lớn hơn. Nó tìm cách truyền đạt lối tư duy khoa học, trang bị cho mọi người cách tiếp cận vấn đề từ góc độ phân tích. Tiếp cận tới việc học tập dựa vào truy vấn được UNESCO ủng hộ dạy cho trẻ em phương pháp khoa học, xoay quanh việc quan sát, đo lường và thí nghiệm. Học sinh sẽ học tạo ra các giả thuyết họ sau đó kiểm thử và hiệu chỉnh, dựa vào các kết quả thí nghiệm của họ. Như ngài Peter Medawar nêu trong Tư vấn cho Nhà khoa học Trẻ (1979), ‘tất cả thử nghiệm là chỉ trích. Nếu một thử nghiệm không loại trừ khả năng khiến người ta phải sửa đổi quan điểm của một người, thì thật khó hiểu tại sao nó nên được thực hiện.’

Giá trị của tư duy có sắc thái

Thành phần quan trọng của hiểu biết phương pháp khoa học là khả năng hiểu sắc thái. Nhiều sự hiểu nhầm về văn hóa giữa các hệ thống cộng đồng của công chúng và khoa học từ thực tế là công chúng thịnh vượng dựa vào sự chắc chắn, trong khi khám phá khoa học thịnh vượng dựa vào sự không chắc chắn.

Sự đối kháng này đã được đề cập tới trong việc ra chính sách bằng sự giới thiệu nguyên tắc phòng ngừa. Nguyên tắc này quy định rằng, trong trường hợp không có sự nhất trí về mặt khoa học, trách nhiệm chứng minh rằng một hành động hoặc chính sách sẽ không có hại thuộc về những người có ý định hành động.

Nhà khoa học thịnh vượng nhờ vào việc tìm kiếm bất tận cho các câu trả lời. Người có phương pháp khoa học hiểu quá trình điều chỉnh liên tục này khi các sự kiện mới được đưa ra ánh sáng. Mặt khác, người mù về phương pháp khoa học có xu hướng cảm nhận sắc thái như là sự yếu kém. Điều này đặt ra sức ép lên những người làm chính sách để cung cấp các câu trả lời có tính quyết định cho các câu hỏi phức tạp.

Sự phân đôi này đã được sự trao đổi trong khi trình bày trong báo cáo năm 2013 của Phiên Liên chính phủ về Biến đổi Khí hậu minh họa trên cơ sở khoa học vật lý đối với biến đổi khí hậu ở trụ sở của UNESCO ở Paris. Một nhà báo trong phòng đã hỏi một trong những nhà khoa học ở đó mô tả một thế giới ấm lên sẽ giống như cái gì vào năm 2100. Nhà khoa học đã trả lời bằng việc phác họa một loạt các kịch bản, từng kịch bản phản ánh bước khử carbon toàn cầu khác nhau. Nhà báo đã đặt bút của anh ta xuống.

Trong trường hợp này, nhà báo đang tìm cách truyền đạt sự chắc chắn cho độc giả của mình - "đây là thế giới sẽ như thế nào vào năm 2100", trong khi nhà khoa học đang tìm cách truyền tải sắc thái. Những người hoài nghi về khí hậu đã nắm lấy xu hướng sắc thái này để tuyên bố rằng không có sự đồng thuận khoa học về biến đổi khí hậu.

Để đáp ứng nhu cầu của công chúng về sự chắc chắn, Nhóm Liên chính phủ về Biến đổi Khí hậu (IPCC, 2007) đã đưa các thuật ngữ có thể đo lường được vào báo cáo năm 2007 của nó về cơ sở khoa học vật lý của biến đổi khí hậu, chẳng hạn như "rất có thể xảy ra" (90% xác suất xảy ra). Ví dụ, họ viết rằng ‘hầu hết sự gia tăng quan sát được của nhiệt độ trung bình toàn cầu kể từ giữa thế kỷ 20 là rất có thể do sự gia tăng quan sát được của nồng độ khí nhà kính do con người gây ra.’ Những người hoài nghi về khí hậu đã nắm lấy sự nhượng bộ này để cho rằng sự thiếu đồng thuận khoa học và gieo rắc nghi ngờ về vai trò của con người trong biến đổi khí hậu.

Người truyền thông khoa học như là ‘người phiên dịch’

Vai trò của người truyền thông khoa học là cung cấp thông tin chính xác, kịp thời để giúp cho công chúng hiểu các vấn đề chính của ngày và nhận biết được thông tin sai lệch. Người truyền thông khoa học đóng vai trò quan trọng trong việc lan truyền hiểu biết phương pháp khoa học bằng việc hành động như là ‘người phiên dịch’ để tạo thuận lợi cho đối thoại giữa nhà khoa học và công dân. Người truyền thông khoa học giỏi giải thích khoa học đằng sau các vấn đề nhưng cũng làm sắc thái thông tin này, liên hệ những gì đã biết mà không phê bình những lỗ hổng kiến thức.

Theo cách thức y hệt, cố vấn khoa học tạo thuận lợi cho đối thoại chính sách giữa cộng đồng khoa học và các nhánh lập pháp và hành pháp của chính phủ bằng việc trình bày các sự việc trong khi nhấn mạnh các lỗ hổng thông tin và gợi ra các kịch bản khác nhau để thông tin cho hành động chính sách.

Công dân càng có giáo dục bao nhiêu, càng tốt bấy nhiêu họ sẽ hiểu sắc thái. Sự linh hoạt về mặt tinh thần này sống còn khi phân tích các lựa chọn liên quan đến các vấn đề về cảm xúc như cây trồng biến đổi gen, tác động của biến đổi khí hậu, tiêm vắc xin hoặc đại dịch Covid-19 hiện hành. Ví dụ, vài biện pháp điều trị có hứa hẹn đối với COVID-19 rốt cuộc đã được coi là không hiệu quả sau khi được thử nghiệm trên bệnh nhân coronavirus. Sẽ là đáng tiếc nếu những tin tức như vậy làm xói mòn niềm tin của công chúng vào năng lực xác định các giải pháp của ngành y sinh học. Ngược lại, công chúng cần xem xét thí nghiệm thất bại là một phần của một phần của quy trình thử và lỗi ở đó các nhà khoa học tham gia khi đối mặt với căn bệnh mới mà đối với nó còn chưa biết cách chữa trị. Những thất bại thí nghiệm như vậy đã được công khai cần được ôm lấy như là dấu hiệu của sự minh bạch.

Thực hành của việc chia sẻ các phát hiện nghiên cứu đang gia tăng bằng việc xuất bản chúng trên các tạp chí truy cập mở đang nhấn mạnh sự minh bạch của quy trình khoa học. Hơn nữa, vì các cơ sở nghiên cứu đang ngày càng gia tăng cộng tác trong các dự án nghiên cứu với các đối tác công nghiệp, nhiều tạp chí học thuật bây giờ buộc các nhà nghiên cứu tiết lộ bất kỳ xung đột lợi ích tiềm ẩn nào, như khi công việc của họ được một ngành công nghiệp nhất định nào đó cấp tài chính. Sự tiết lộ các xung đột lợi ích là sống còn để tăng cường lòng tin của công chúng vào tính xác thực của quy trình khoa học.

Khoa học có giá trị chỉ khi chúng ta biết làm gì với nó

Vào năm 1999, UNESCO và Hội đồng Khoa học Quốc tế đã tổ chức Hội nghị Thế giới về Khoa học để thiết lập một hợp đồng xã hội mới về khoa học. Tư duy đằng sau hợp đồng mới này từng là, liệu khoa học có trở nên phù hợp hơn với các nhu cầu của xã hội hay không thông qua tương tác lớn hơn giữa các nhóm khác nhau các bên liên quan (các chính phủ, các nghị sỹ quốc hội, các nhà khoa học, khu vực các doanh nghiệp, xã hội dân sự), điều này, tới lượt nó, có thể làm cho xã hội ủng hộ nhiều hơn cho khoa học, dẫn tới các mức cấp vốn cao hơn cho nghiên cứu (UNESCO và ICSU, 1999).

Ví dụ, các công dân những người hiểu biết về khoa học có thể có đóng góp giá trị cho thiết kế các chính sách công, như khi được tiếp cận qua các tư vấn công khai. Một báo cáo tạm thời cuối năm 2019 về tình trạng triển khai Chính sách và Kế hoạch Hành động 2017-2019 của Iceland đã lưu ý rằng tổ chức các cuộc tư vấn công khai đã tập hợp các ưu tiên nghiên cứu sát hơn với các nhu cầu của người dân Iceland. Các cuộc tư vấn đó đã cho thấy người dân Iceland bận tâm nhất về tình hình môi trường (xem chương 11).

Một quần thể dân cư hiểu biết phương pháp khoa học có thể gây ảnh hưởng tới chính sách công theo các cách thức khác. Vào năm 2020, UNESCO đã phân tích các xu thế xuất bản khoa học cho một mẫu với 56 chủ đề nghiên cứu thích hợp với các Mục tiêu Phát triển Bền vững. Chủ đề về các mảnh vụn nhựa trôi nổi trong đại dương cho thấy sự phát triển nhanh nhất, mặc dù xuất phát điểm thấp. Sức ép của người tiêu dùng và những thay đổi chính sách trong một thập kỷ qua - như pháp luật điều chỉnh các túi nhựa sử dụng một lần - đã được thông báo từ một cơ quan đang phát triển nghiên cứu và các báo cáo của truyền thông có liên quan ghi lại mức độ ảnh hưởng của các mảnh vụn nhựa trôi nổi trong đại dương (xem chương 2).

Trong vài năm qua, vài quốc gia châu Âu đã thành lập các ủy ban gồm khoảng 150 người rút ra từ tất cả các ngõ ngách của cuộc sống, những người đã được mời tương tác với các chuyên gia với quan điểm đề xuất các biện pháp để giảm thiểu lượng khí thải gây hiệu ứng nhà kính của đất nước họ. Ở Pháp, ví dụ, chính phủ đã tiến hành một loạt đề xuất pháp lý từ Công ước về Khí hậu của các Công dân của họ; một đề xuất như vậy liên quan tới việc cấm các chuyến bay nội địa tới các vị trí có thể đi tới được bằng tàu hỏa trong vòng 2,5 giờ đồng hồ.

Là sống còn để các nghị sỹ quốc hội, bản thân họ, là có hiểu biểu khoa học. Sự cân nhắc này đã dẫn UNESCO tới việc khởi xướng một chương trình quốc tế vào thời điểm chuyển đổi thế kỷ để thúc đẩy đối thoại giữa các nghị sỹ, các nhà khoa học và phần còn lại của xã hội, để thúc đẩy quá trình lập pháp có đầy đủ thông tin phù hợp với mối bận tâm của xã hội.

Tóm lại, khoa học có giá trị chỉ nếu chúng ta biết tìm nó ở đâu, làm gì với nó và tích hợp nó như thế nào vào hệ thống rộng lớn hơn vì lợi ích của loài người trên trái đất. Hệ thống đó phải bao gồm quần thể dân cư có hiểu biết khoa học.


  • Susan Schneegans (b. 1963: New Zealand) là Tổng biên tập của tạp chí Báo cáo Khoa học của UNESCO.

  • Shamila Nair-Bedouelle (b. 1960: South Africa) là Trợ lý Tổng Giám đốc về Khoa học Tự nhiên ở UNESCO.

CÁC THAM CHIẾU

  • IPCC (2007) Climate Change: the Physical Science Basis. Working Group I Contribution to Fourth Assessment Report. Summary for Policy-Makers. Intergovernmental Panel on Climate Change: Geneva, Switzerland.

  • Oreskes, Naomi and Erik M. Conway (2010) Merchants of Doubt: how a Handful of Scientists obscured the Truth on Issues from Tobacco Smoke to Global Warming. Bloomsbury Press.

  • UNESCO and ICSU (1999) Declaration on Science and the Use of Scientific Knowledge. UNESCO and International Council for Science: Paris. See: www.unesco.org/science/wcs/eng/declaration_e.htm

CÁC CHÚ GIẢI

1 Xem: https://www.who.int/health-topics/infodemic

2 Xem: https://en.unesco.org/covid19/communicationinformationresponse

3 Xem: https://en.unesco.org/news/building-trust-science-essential-general-interest-humankind

4 Khảo sát này đã thu thập các câu trả lời từ hơn 15.000 người khắp trên thế giới. Trong số đó 57% là dưới 35 tuổi.

5 Ngày Ánh sáng Quốc tế được Chương trình Khoa học Cơ bản Quốc tế của UNESCO quản lý qua Ban Chỉ đạo với nhiều đối tác. Chiến dịch Tin tưởng Khoa học được Ban Chỉ đạo Ngày Ánh sáng Quốc tế, Hiệp hội Quang tử của Viện các Kỹ sư Điện và Điện tử, Hiệp hội Quốc tế về Quang học và Quang tử và Hiệp hội Quang học, đồng tài trợ.

6 Tương đương mọi lúc


Thừa nhận:

Dịch từ: UNESCO (2021) Báo cáo Khoa học của UNESCO: Chạy đua với thời gian vì sự phát triển thông minh hơn. S. Schneegans, T. Straza and J. Lewis (eds). UNESCO xuất bản: Paris. Giấy phép nội dung CC BY-SA 3.0 IGO.


Quay về danh sách các tiểu luận và các đoạn trích được đăng!

Thứ Năm, 14 tháng 10, 2021

Yêu cầu cấp bách xây dựng chính sách cấp phép mở quốc gia để giúp đối phó với đại dịch COVID-19 và tạo thuận lợi để triển khai Khoa học Mở và chương trình chuyển đổi số quốc gia


(Bài viết cho Hội thảo chuyên đề: Cơ hội và thách thức đối với các cơ sở đào tạo Luật hiện nay ở Việt Nam, do Khoa Luật Đại học Quốc gia Hà Nội tổ chức theo chương trình Diễn đàn Luật học mùa thu – VALF (VNU-LS Autumn Law Forum) lần thứ nhất, ngày 15/10/2021. Bài được đăng trong Kỷ yếu Hội thảo, trang 6-14)

Tóm tắt: Thực tế đối phó đại dịch COVID-19 cũng như xu thế phát triển Khoa học Mở không thể đảo ngược trên thế giới cùng với nhiệm vụ triển khai chương trình chuyển đổi số quốc gia bằng công nghệ mở đòi hỏi cấp bách ngành luật Việt Nam xây dựng chính sách cấp phép mở quốc gia.

Các từ khóa: xây dựng chính sách cấp phép mở quốc gia, đại dịch COVID-19, Khoa học Mở, chương trình chuyển đổi số quốc gia.

Abstract: The reality of dealing with the COVID-19 pandemic as well as the irreversible trend of Open Science development in the world along with the task of implementing a National Digital Transformation programme by open technologies urgently requires Vietnam’s Law sector to develop a National Open Licensing Policy.

Keywords: to develop a National Open Licensing Policy, COVID-19 pandemic, Open Science, National Digital Transformation Programme.

---

Đại dịch COVID-19 đang diễn ra khắp trên thế giới. Cho tới nay đã có hơn 4 triệu người người chết và hàng trăm triệu người bị lây nhiễm đang phải điều trị và/hoặc cách ly, riêng nước Mỹ cho tới nay đã có hơn 635.000 người chết chỉ trong vòng chưa tới 2 năm kể từ khi phát hiện ra đại dịch vào tháng 1/2020 và là nước có số người chết nhiều nhất trên thế giới vì COVID-19, gấp hơn 10 lần số lính Mỹ chết trong 20 năm chiến tranh Việt Nam là 58.000 người, một cuộc chiến tranh mà cả thế giới thừa nhận là khốc liệt nhất thế giới kể từ sau chiến tranh thế giới II, và con số đó hiện vẫn tiếp tục gia tăng hàng ngày. Tại Việt Nam, con số người chết vì COVID-19 tính tới ngày 12/08/2021 là gần 4.500 người và hơn 236.000 người bị lây nhiễm, nhiều nhất là ở thành phố Hồ Chí Minh, trung tâm kinh tế của cả nước, với hơn 3.500 người chết và hơn 132.000 người bị lây nhiễm - hầu hết các con số này - mới xuất hiện từ 27/04/2021 cho tới 12/08/2021. Con số thiệt hại cho xã hội và các nền kinh tế chắc chắn còn khủng khiếp hơn nhiều cùng vô vàn khó khăn của hàng tỷ người trên thế giới để thích ứng được với trạng thái bình thường mới, thậm chí với khả năng phải sống chung với COVID-19.


Hình 1. Số liệu
COVID-19 trên https://ncov.moh.gov.vn/, truy cập ngày 12/08/2021


Hình 2. Số liệu
COVID-19, https://baomoi.com/events/coronavirus.epi, 12/08/2021


Ngay bây giờ, ngay trong những ngày này, hầu như ở từng quốc gia trên thế giới, một cuộc chiến khác đang diễn ra, cuộc chiến chạy đua với thời gian theo từng ngày, từng giờ, trong việc giành được và tiêm vaccine ngừa COVID-19 cho người dân của mình, với hy vọng của mọi quốc gia nhằm đạt được miễn dịch cộng đồng.

Câu hỏi đặt ra là: đại dịch COVID-19 với những con số thiệt hại cao khủng khiếp và chưa từng có về người và của chỉ trong một thời gian rất ngắn đó thì có liên quan gì tới yêu cầu cấp bách về xây dựng chính sách cấp phép mở quốc gia của Việt Nam? và tới lượt nó, yêu cầu cấp bách về xây dựng chính sách cấp phép mở quốc gia thì có liên quan gì tới Khoa học Mở Chương trình chuyển đổi số quốc gia?

Chắc chắn, việc xây dựng chính sách cấp phép mở quốc gia có liên quan tới việc nghiên cứu, xem xét, và rà soát lại khía cạnh các quyền sở hữu trí tuệ - IPR (Intellectual Property Rights), bản quyền, bằng sáng chế và/hoặc phạm vi công cộng, cùng với các khía cạnh liên quan có thể khác, trong các Luật và văn bản quy phạm pháp luật hiện hành, ví dụ như, Luật sở hữu trí tuệ, Luật xuất bản, Luật thư viện... và ngành luật là nơi có các chuyên gia am hiểu luật tốt nhất để có thể thực hiện công việc này thành công.

Ngày 5/5/2021, chính quyền của Tổng thống Mỹ Biden đã tuyên bố ủng hộ việc từ bỏ các bằng sáng chế đối với vaccine Covid-19[1]. Đại diện Thương mại Mỹ cho biết: “Đây là cuộc khủng hoảng sức khỏe toàn cầu và các trường hợp bất thường của đại dịch Covid-19 kêu gọi các biện pháp bất thường”, và “Chính quyền rất tin tưởng vào các biện pháp bảo vệ quyền sở hữu trí tuệ, nhưng để chấm dứt đại dịch này, ủng hộ việc từ bỏ các biện pháp bảo vệ đó đối với vaccine Covid-19”.

Nước Mỹ thường được nhắc tới như một quốc gia luôn đặt các vấn đề bảo vệ quyền sở hữu trí tuệ lên hàng đầu, cũng là nước đang hứng chịu tổn thất lớn nhất về số người chết vì COVID-19, đã có hành động bất thường kể trên, là lời cảnh tỉnh cho toàn thế giới và cho Việt Nam, về sự cần thiết điều chỉnh Luật sở hữu trí tuệ và bằng sáng chế cùng các Luật liên quan khác để cứu người, không để cho hệ thống Luật sở hữu trí tuệ và bằng sáng chế khắt khe hiện hành trở thành một dạng vũ khí giết người hàng loạt!

Đúng một tuần sau tuyên bố trên, trong bản thảo Khuyến cáo Khoa học Mở mới nhất được UNESCO xuất bản ngày 12/05/2021 nêu[2]: “Khủng hoảng y tế COVID-19 trên toàn cầu đã chứng minh cho cả thế giới sự cấp bách của việc khai thác truy cập tới thông tin khoa học một cách công bằng, tạo thuận lợi cho việc chia sẻ kiến thức, dữ liệu và thông tin khoa học, cải thiện việc ra quyết định dựa vào sự cộng tác, khoa học và kiến thức để đáp lại sự cấp bách toàn cầu và gia tăng khả năng phục hồi của xã hội”. Đây là một trong những căn cứ để xây dựng Khuyến cáo Khoa học Mở của UNESCO, sẽ được 193 quốc gia thành viên của nó phê chuẩn vào tháng 11/2021 tới.

Trước đó một chút, vào ngày 23/04/2021, UNESCO đã tổ chức cuộc họp trên trực tuyến với các chuyên gia để thảo luận về các mối quan hệ giữa các quyền sở hữu trí tuệ – IPR (Intellectual Property Rights) và Khoa học Mở với các mục tiêu được nêu như sau[3]:

Việc thiết lập sự cân bằng giữa bảo vệ IPR và tính mở là một thách thức chính sách hiện hành quan trọng sống còn để vận hành Khoa học Mở khắp trên thế giới. Khung IPR, nếu được định nghĩa đúng ngay từ đầu, có thể là công cụ quan trọng cho Khoa học Mở để đảm bảo, trong số những điều khác, tất cả những người đóng góp chia sẻ dữ liệu, thông tin và kiến thức khoa học của họ được thừa nhận và công nhận đúng.

Trong ngữ cảnh này, cuộc họp của các chuyên gia sẽ cung cấp cơ hội để thảo luận về các mối quan hệ giữa IPR và Khoa học Mở; để trình bày các công cụ và cơ chế khác nhau đang tồn tại nhằm hòa giải quyền sở hữu và việc chia sẻ/tính mở, và để trao đổi về các tiếp cận cân bằng giữa IPR và Khoa học Mở.

Điều này cho thấy 2 khía cạnh của vấn đề cần được lưu ý:

  1. Luật sở hữu trí tuệ và các Luật liên quan tới sở hữu trí tuệ, ở mức quốc tế, còn chưa được định nghĩa đúng và cần phải thay đổi bằng việc thiết lập sự cân bằng giữa bảo vệ IPR và tính mở để thúc đẩy Khoa học Mở phát triển để giải quyết các vấn đề cấp bách hiện nay, đặc biệt đại dịch COVID-19.

  2. Luật sở hữu trí tuệ và các Luật liên quan tới sở hữu trí tuệ là thay đổi được để giải quyết các vấn đề cấp bách của thế giới bây giờ và trong tương lai.

Một vài ví dụ thực tế nổi bật trong phòng chống COVID-19 có liên quan tới chính sách về sở hữu trí tuệ đã được nêu trong bài báo gần đây trên tạp chí Tia Sáng[4]:

  • Cam kết COVID-19 Mở (Open COVID-19 Pledge). Cam kết này được thành lập tháng 4/2020, đã kêu gọi các tổ chức khắp trên thế giới làm cho các bằng sáng chế và bản quyền của họ sẵn sàng tự do không mất tiền để đấu tranh với đại dịch COVID-19 bằng việc cấp phép mở với 3 loại giấy phép COVID mở. Cho tới nay, ước tính có khoảng 500.000 bằng sáng chế và nhiều bản quyền đã cam kết mở công khai để đối phó với COVID-19.

  • Hệ thống truyền thông học thuật tất yếu phải thay đổi theo hướng mở, phù hợp với sự phát triển của Khoa học Mở và Truy cập Mở. Sự lỗi thời của mô hình xuất bản truyền thống dựa vào thuê bao của người sử dụng và sự nổi lên của các máy chủ preprints - chứa các bài báo nghiên cứu và học thuật chưa được rà soát lại ngang hàng, hướng tới Truy cập Mở Kim cương[5], nơi mà cả những người sử dụng và các tác giả đều không phải trả tiền để truy cập được tới các xuất bản phẩm nghiên cứu trên các tạp chí; nơi các nhà cấp vốn nghiên cứu (bất kể từ tổ chức nhà nước, tư nhân, từ thiện hoặc khác nào) chi trả các khoản phí xử lý bài báo được đăng trên các tạp chí và/hoặc duy trì hoạt động của hệ thống xuất bản truy cập mở kim cương đó. Liên minh S (cOAlition S)[6] với 27 nhà cấp vốn nghiên cứu đã và đang triển khai Kế hoạch S (Plan S) theo hướng Truy cập Mở Kim cương với yêu cầu rằng, từ 2021, các xuất bản phẩm khoa học là kết qủa từ nghiên cứu được các trợ cấp nhà nước cấp vốn phải được xuất bản trên các tạp chí hoặc các nền tảng tuân thủ Truy cập Mở.

Ví dụ nổi bật nhất trong đại dịch COVID-19 có lẽ là sự hình thành cộng đồng phần cứng nguồn mở (PCNM) cung ứng các thiết bị bảo vệ cá nhân - PPE (Personal Protective Equipment) và các vật tư y tế bị thiếu hụt nghiêm trọng vì sự đứt gẫy của chuỗi cung ứng toàn cầu và sự thất bại của cả các chính phủ và các doanh nghiệp lớn để đáp ứng sự thiếu hụt và đứt gãy đó, đặc biệt trong những ngày đầu của đại dịch, vào Quý I/2020. Khởi nguồn từ nước Mỹ, cộng đồng PCNM đó đã nhanh chóng lan ra toàn cầu với các hoạt động của nó được mô tả ngắn gọn như sau:

Một chuỗi cung ứng mới được phân phối, được sản xuất ở địa phương rộng khắp quốc gia và khắp trên thế giới đã xuất hiện từ con số không chỉ trong vài tuần.

Cộng đồng PCNM này với hơn 42.000 người, gồm 1.878 cá nhân và nhóm người ở 86 quốc gia trên thế giới đã sản xuất và phân phối được hơn 48,3 triệu đơn vị vật tư y tế có trị giá hơn 271 triệu USD, như trên Hình 3.


Hình 3. Tác động toàn cầu của cộng đồng Vật tư Y tế Nguồn Mở (OSMS)[7]

Quan trọng hơn, nó đã cho thấy một thực tế là:

Trích dẫn[8]:

Các quy trình thiết kế kỹ thuật truyền thống là “nguồn đóng” - các kết quả đầu ra của chúng được coi là sở hữu trí tuệ của các công ty trả tiền cho các nhóm những người thiết kế và các kỹ sư. Trong khi có hiệu quả và lợi nhuận qua thời gian dài, dạng phát triển này có thể là chậm và có hạn chế, khi từng nhóm làm việc trong một giải pháp phải tiến hành nghiên cứu người sử dụng của riêng nó, phát triển các yêu cầu dự án của riêng nó, lặp đi lặp lại trong thiết kế và nguyên mẫu, và phát triển các thiết kế của riêng nó cho các quy trình chế tạo cụ thể.

Ngược lại, các quy trình thiết kế và kỹ thuật nguồn mở có thể diễn ra cực kỳ nhanh chóng, khi toàn bộ các cộng đồng của hàng trăm ngàn người có thể đóng góp cho sự hiểu biết được chia sẻ của nghiên cứu, các yêu cầu của dự án, các thiết kế, và các quy trình chế tạo. Do tất cả thông tin và thiết kế nguồn mở đều được công khai, bất kỳ ai trên thế giới (chứ không chỉ là bất kỳ ai ở Việt Nam) đều có thể bổ sung vào khối kiến thức này, phát triển các thiết kế phái sinh, hoặc sản xuất các vật tư từ các kế hoạch hiện có mà không cần phải thiết kế cho riêng họ.

Hết trích dẫn

Thực tế các hoạt động của cộng đồng PCNM này cho thấy cần điều chỉnh vài khía cạnh trong các hoạt động của chính phủ Mỹ, và một trong số đó là khuyến cáo điều chỉnh các tiêu chuẩn và quy định hiện hành trong pháp luật của nước Mỹ nói riêng, và cũng là gợi ý cho các quốc gia khác nói chung:

Hệ thống (pháp luật) hiện hành cho việc điều chỉnh trang thiết bị y tế đã không được thiết kế để dàn xếp dạng thiết kế và sáng tạo PCNM cộng tác, phân tán, độc lập đã chứng minh rất sống còn để đáp trả COVID-19. [...] sự đáp trả COVID-19 minh họa cho vai trò quan trọng mà các cộng đồng PCNM có thể đóng trong khủng hoảng.”

Thực tế này là không khác gì ở Việt Nam hiện nay, và vì thế hệ thống pháp luật cũng cần phải thay đổithay đổi được càng nhanh càng tốt để đối phó với đại dịch COVID-19 và các khủng hoảng tương tự trong tương lai, cũng là để tạo điều kiện để PCNM - một trong các thành phần chính của Khoa học Mở - phát triển.

Từ góc nhìn khác, chính phủ Việt Nam khẳng định lựa chọn công nghệ mở để thực hiện chiến lược Chuyển đổi số Quốc gia[9] trong những năm tới, với mục đích để xây dựng chính phủ số, kinh tế số và xã hội số, như phát biểu của Bộ trưởng Bộ Thông tin Truyền thông Nguyễn Mạnh Hùng trong Ngày Công nghệ Mở Việt Nam 2020[10] (Vietnam Open Summit lần thứ nhất), như sau:

Công nghệ thông tin, công nghệ số đã trở thành nền tảng của KT-XH. Cuộc di chuyển vĩ đại nhất trong lịch sử nhân loại là cuộc di chuyển từ thế giới thực sang thế giới ảo. Nhưng tất cả các quốc gia đều lo lắng về an ninh mạng. Niềm tin sẽ trở thành yếu tố quyết định cho sự thành công của cuộc di chuyển này. Các quốc gia chỉ có thể có niềm tin này khi công nghệ họ sử dụng là công nghệ mở. Công nghệ mở là để các quốc gia có thể làm chủ công nghệ mà mình sử dụng. Không còn như trước đây, chúng ta mua một ‘Black Box’ từ một quốc gia khác và phó mặc số phận của quốc gia mình cho một quốc gia khác. Hiện nay, nhiều quốc gia đã tuyên bố chỉ mua công nghệ khi công nghệ là mở, nhất là khi các công nghệ đó dùng để xây dựng các hạ tầng nền tảng quốc gia.”

Bộ trưởng tiếp tục:

Việc lựa chọn phát triển công nghệ mở, lựa chọn phát triển phần mềm nguồn mở, lựa chọn mở dữ liệu để các cá nhân, doanh nghiệp tham gia sáng tạo giá trị mới là định hướng của chúng ta.”

Việc lựa chọn công nghệ mở như vậy sẽ cần có sự vào cuộc tích cực của ngành Luật Việt Nam, để có khả năng, nhanh nhất có thể, điều chỉnh các quy định pháp luật có liên quan tới các khía cạnh như IPR và/hoặc khác để xây dựng chính sách cấp phép mở rõ ràng ở cấp chính phủ, biết rằng:

Trích dẫn[11]

Theo Luật sở hữu trí tuệ, ngay khi một tài nguyên - một tác phẩm trí tuệ - được tạo ra, nó sẽ tự động được Luật sở hữu trí tuệ (hoặc Luật bằng sáng chế) bảo vệ, bất kể tác giả của nó có đăng ký tác phẩm đó hay không. Vì thế, chỉ khi được chính (các) tác giả cấp phép mở, tài nguyên mới thực sự là tài nguyên mở, vì người sử dụng rõ ràng có được sự cho phép từ (các) tác giả đối với tài nguyên đó để họ sử dụng mà không vi phạm bất kỳ bản quyền/các quyền sở hữu trí tuệ nào của (các) tác giả được Luật sở hữu trí tuệ bảo vệ. Điều này giải thích vì sao:

  • Một chương trình phần mềm không được cấp phép mở thì 100% không phải là phần mềm tự do nguồn mở. Cộng đồng phần mềm nguồn mở thế giới coi các phần mềm được gọi là ‘MỞ’ dạng này là Open Washing, tạm dịch sang tiếng Việt là “tráng qua hàng mở” hay “phần mềm nguồn mở RỞM”.

  • Tương tự, một tài nguyên không được cấp phép mở thì tài nguyên đó 100% không là tài nguyên mở, không là tài nguyên truy cập mở, không là dữ liệu mở, không là tài nguyên giáo dục mở, và nhiều nhất, chúng chỉ có thể được gọi là “tài nguyên mở RỞM”.

Đáng tiếc là tình trạng “phần mềm nguồn mở RỞM” và/hoặc “tài nguyên mở RỞM” là rất phổ biến hiện nay ở Việt Nam, mà nguyên nhân sâu xa của nó có lẽ là do không một cơ sở giáo dục nào ở mọi cấp học của Việt Nam dạy về cấp phép mở, trong khi nhà nước cũng không có chính sách nào về cấp phép mở cho tới nay.”

Hết trích dẫn

Ngoài ra, phần lớn các tài nguyên mở hiện hành trên thế giới như tài nguyên truy cập mở, dữ liệu mở, tài nguyên giáo dục mở, thường được cấp các giấy phép mở Creative Commons có khả năng để máy đọc được[12], một tính năng rất quan trọng cho các công nghệ dựa vào tài nguyên số, như trí tuệ nhân tạo, trong khi, sẽ không có bất kỳ diễn giải nào trong các văn bản quy phạm pháp luật có thể thay thế được cho tính năng đó.

Để kết thúc bài viết này, một lần nữa xin được nêu lại đoạn kết bài phát biểu của Bộ trưởng Nguyễn Mạnh Hùng tại Vietnam Open Summit lần thứ nhất, ngày 18/11/2020:

Vietnam Open Summit lần thứ nhất là cam kết của Việt Nam về phát triển và làm chủ công nghệ số dựa trên chuẩn mở. Không chỉ là cam kết mà đây còn là chiến lược của chúng ta: Mở để phát triển và làm chủ công nghệ Việt Nam, để Make in Vietnam. Không chỉ là chiến lược mà đây còn là chương trình hành động của chúng ta. Mỗi cơ quan, doanh nghiệp hãy nhận lấy cho mình một công việc và cam kết hành động. Cơ quan nhà nước hãy hành động để xây dựng chính sách, chiến lược. Doanh nghiệp hãy hành động để phát triển các nền tảng. Các cơ sở đào tạo hãy hành động để nuôi dưỡng và phát triển cộng đồng mở.”

kỳ vọng vô cùng lớn ngành Luật Việt Nam với tinh thần “Chống dịch như chống giặc” và “Mở để phát triển và làm chủ công nghệ Việt Nam, để Make in Vietnam”, sẽ XÂY DỰNG CHÍNH SÁCH CẤP PHÉP MỞ QUỐC GIA trong thời gian sớm nhất có thể và theo cách thức nhanh nhất có thể, nhằm tạo bước đột phá đầu tiên không thể thiếu, để giúp Việt Nam có thêm nhiều công cụ hữu hiệu đối phó với đại dịch COVID-19 và tạo thuận lợi để triển khai thành công Khoa học Mở và Chương trình chuyển đổi số quốc gia trong những năm tới.


Các chú giải

[1] Katie Jennings, Forbes Staff, 05/05/2021: Biden Decision To Back Waiving Patents For Covid Vaccines Sparks Industry Backlash: https://www.forbes.com/sites/katiejennings/2021/05/05/biden-decision-to-back-waiving-patents-for-covid-vaccines-sparks-industry-backlash/?sh=36965cf6410b

[2] UNESCO, 12/05/2021: Draft text of the Unesco Recommendation on Open Science. Bản dịch sang tiếng Việt có tại: https://www.dropbox.com/s/hh9havem2m15dka/376893eng_Vi-13052021.pdf?dl=0

[3] UNESCO, 23/04/2021: Towards a global consensus on Open Science - online expert meeting “Open Science and Intellectual Property Rights”. Bản dịch sang tiếng Việt: https://www.dropbox.com/s/f5clwfg1qk61vn6/concept_note_expert_meeting_open_science_and_intellectual_property_rights_23_april_Vi-13072021.pdf?dl=0

[4] Lê Trung Nghĩa, 13/06/2021: Khoa học Mở, Truy cập Mở và tác động của đại dịch COVID-19: https://tiasang.com.vn/-doi-moi-sang-tao/Khoa-hoc-Mo-Truy-cap-Mo-va-tac-dong-cua-dai-dich-COVID19-28215

[5] Lê Trung Nghĩa, 26/05/2021: Truy cập mở kim cương và cái đích của chuyển đổi số ngành xuất bản: https://tiasang.com.vn/-doi-moi-sang-tao/Truy-cap-mo-kim-cuong-va-cai-dich-cua-chuyen-doi-so-nganh-xuat-ban-28170

[6] cOAlition S: https://www.coalition-s.org/

[7] OSMS: Collective Global Impact: https://opensourcemedicalsupplies.org/impact/

[8] Open Source Medical Suppliers (OSMS) and Nation of Makers, 2021: DESIGN | MAKE | PROTECT: https://opensourcemedicalsupplies.org/wp-content/uploads/2021/01/Design-Make-Protect_21.01.27.pdf, CC BY-SA 4.0, p. 25-26.

[9] Cổng thông tin điện tử Chính phủ: Quyết định 749/QĐ-TTg ngày 03/06/2020. Phê duyệt “Chương trình Chuyển đổi số quốc gia đến năm 2025, định hướng đến năm 2030”: http://datafilesbk.chinhphu.vn/file-remote-v2/DownloadServlet?filePath=vbpq/2020/06/749.signed.pdf

[10] Vietnamnet, 18/11/2020: Toàn văn phát biểu của Bộ trưởng Nguyễn Mạnh Hùng tại diễn đàn công nghệ mở Việt Nam: https://vietnamnet.vn/vn/thong-tin-truyen-thong/toan-van-phat-bieu-cua-bo-truong-nguyen-manh-hung-tai-dien-dan-cong-nghe-mo-viet-nam-689681.html

[11] Lê Trung Nghĩa: Những điều cơ bản về nguồn mở (Phần 1). Tạp chí Tia Sáng, 28/06/2021: https://tiasang.com.vn/-doi-moi-sang-tao/Nhung-dieu-co-ban-ve-nguon-mo-Phan-1-28248

[12] wiki.creativecommons.org: Marking your work with a CC license. Machine-readability: https://wiki.creativecommons.org/wiki/Marking_your_work_with_a_CC_license#Author.2C_License.2C_Machine-readability.




 

Giấy phép nội dung: CC BY 4.0 Quốc tế

Trung Nghĩa


PS: Bài trình chiếu tại Hội thảo có tại địa chỉ: https://www.dropbox.com/s/6rvye9oeymxrz6h/Open_License_Needed.pdf?dl=0

Tải về Kỷ yếu Hội thảo tại địa chỉ:https://www.dropbox.com/s/g55xbx1wkid5n56/KyYeu?dl=0

Tweet: https://twitter.com/nghiafoss/status/1449413207215382535

Đối thoại của Đối tác Dữ liệu Mở châu Á 2021 Việt Nam qua ảnh

 

Ngày 14/10/2021, sự kiện Đối thoại của Đối tác Dữ liệu Mở châu Á (AODP) 2021 do Việt Nam đăng cai tổ chức đã diễn ra trên trực tuyến.

Dưới đây là diễn tiến của sự kiện qua hình ảnh:

  1. Hội Truyền thông Số Việt Nam (VDCA), chủ tọa AODP 2021 Vietnam khai mạc

  2. Bài trình bày chính của VDCA: Trao đổi dữ liệu, cộng tác giữa các chính phủ và giới công nghiệp

  3. Chụp ảnh lưu niệm

  4. Báo cáo của Ban thư ký AODP

  5. Báo cáo từ các đối tác của AODP

    1. Hiệp hội các trường đại học, cao đẳng Việt Nam (AVU&C) & Khoa Thư viện, Đại học KHXHNV, ĐHQGHN (FLIS)

    2. Liên minh Dữ liệu Mở (ODA), Đài Loan

    3. Cục Xã hội Thông tin Quốc gia Hàn Quốc (NIA)

    4. Cục Kỹ thuật Số, Nhật Bản

    5. Khách mời: Đối tác Hợp đồng Mở (Open Contracting Partnership)

    6. Cơ quan Kế hoạch Quản lý và Hiện đại hóa Hành chính Malaysia (MAMPU)

    7. Cục Phát triển Chính phủ Số (DGA), Thái Lan

    8. Tổ chức Tự do Thông tin (FOI PH) và DLSU-JRIG, Philippines

    9. Phòng thí nghiệm Dữ liệu Mở Jakarta (OD Lab), Indonesia

    10. Bộ Điện tử và Công nghệ Thông tin, Ấn Độ (MeitY)

    11. Sáng kiến Phát triển Mở (ODI), Myanmar

    12. Cộng đồng khởi nghiệp TAOStartup, Việt Nam

Thảo luận

  1. Đại diện đơn vị tổ chức Hội nghị lần thứ 8 AODP 2022, Dự án Sinar, Malaysia

    Malaysia sẽ là nước đăng cai Hội nghị AODP 2022

     

  2. Chủ tọa đối thoại lần thứ 7 AODP 2021 Việt Nam phát biểu bế mạc


Tweet: https://twitter.com/nghiafoss/status/1448692553369329670

 

Đối thoại của các thành viên AODP là để chuẩn bị cho Hội nghị Thượng đỉnh AODP 2021 Việt Nam sẽ diễn ra trên trực tuyến vào ngày 16/11/2021.


Thông tin về Hội nghị Thượng đỉnh AODP 2021 Việt Nam có tại địa chỉ:

Thứ Ba, 12 tháng 10, 2021

Thời điểm cho khoa học mở là bây giờ

UNESCO đang phát triển Khuyến nghị Khoa học Mở sẽ được đệ trình tới các quốc gia thành viên để phê chuẩn vào tháng 11/2021.

Ana Persic, Fernanda Beigel, Simon Hodson và Peggy Oti-Boateng

Nhu cầu cấp bách về khoa học mở

Nhiều vấn đề cơ bản con người và trái đất đang đối mặt ngày nay là nhiều mặt và không biết đến biên giới địa lý cũng như chính trị. Từ biến đổi khí hậu cho tới mất đa dạng sinh thái, đại dịch toàn cầu và thảm họa tự nhiên, những thách thức đó là phức tạp và có liên quan lẫn nhau.

Để đáp lại các thách thức đó, chúng ta cần kiến thức tổng hợp, liên ngành và thông tin tin cậy truy cập được tới tất cả mọi người. Chúng ta cần kịp thời, truy cập tự do không mất tiền tới dữ liệu tốt nhất, các xuất bản phẩm, thông tin và đổi mới sáng tạo. Chúng ta cần cộng đồng khoa học mạnh mẽ hiện đại mở rộng vượt ra khỏi các bức tường của các tổ chức khoa học, vượt ra khỏi các ngành và các cách thức truyền thống để làm khoa học. Chúng ta cần một xã hội có đầy đủ thông tin được trang bị tốt để đấu tranh với thông tin sai lệch và hỗ trợ việc ra quyết định dựa vào bằng chứng. Cuối cùng nhưng không kém phần quan trọng, chúng ta cần hạ tầng và các nền tảng để đảm bảo sự phong phú này về thông tin và dữ liệu đến được tất cả chúng ta.

Thế giới số ngày càng gia tăng của chúng ta trao cho cộng đồng khoa học một cơ hội chưa từng thấy để khai thác tiềm năng mênh mông của khoa học vì lợi ích của xã hội. Internet đã làm cho có khả năng đối với các nhà khoa học ở phía đối diện của Trái đất cộng tác được mà không cần gặp mặt đối mặt. Xu thế hướng tới đồng tác giả quốc tế đang tăng tốc, thậm chí ở các quốc gia giàu có, theo nghiên cứu được tiến hành cho Báo cáo Khoa học của UNESCO (Hình 1; xem chương 1). Hơn nữa, các nhà khoa học ở các quốc gia đang phát triển ngày càng coi các đồng nghiệp của họ từ cùng một khu vực là những người cộng tác gần gũi nhất của họ.


Hình 1: Tỷ lệ các xuất bản phẩm liên quan tới các đồng tác giả từ 2 hoặc nhiều hơn các quốc gia, năm 2015 và 2019 (%)


Các nhà khoa học bây giờ có cơ hội chia sẻ các dữ liệu nghiên cứu của họ, các phương pháp, giao thức và mã, các ghi chép phòng thí nghiệm và các tư liệu khác bằng việc làm cho chúng sẵn sàng tự do không mất tiền trên trực tuyến, theo các điều khoản xúc tác cho nghiên cứu này để sử dụng lại được, tái tạo lại được, phân phối lại được và được thừa nhận ghi công. Tiếp cận này là nằm trong chính tâm của khoa học mở. Để phá vỡ các hệ thống khoa học đóng truyền thống của chúng ta, phong trào khoa học mở đã tuyên bố làm cho quy trình khoa học minh bạch hơn, hòa nhập hơn và dân chủ hơn. Văn hóa chia sẻ, nằm trong cốt lõi của khoa học mở, nuôi dưỡng sự đồng vận và tránh đúp bản nỗ lực khoa học, đang dẫn tới nghiên cứu được tiến hành nhanh hơn và hiệu quả hơn, dễ dàng hơn để soi xét và, vì thế, chất lượng cao hơn.

Nguồn gốc của khoa học mở

Tất nhiên, các trao đổi mở giữa các nhà khoa học đã không được sinh ra với World Wide Web vào năm 1993. Kể từ khi xuất bản các tạp chí khoa học đầu tiên vào thế kỷ 17, việc đảm bảo truy cập rộng rãi tới kiến thức khoa học đã từng là vấn đề quan tâm của xã hội. Các hiệp hội khoa học đã được thành lập, để xúc tác cho các nhà khoa học giao tiếp và cộng tác với nhau, cũng như để chia sẻ các kết quả thí nghiệm của họ. Lấy một trong số không thể đếm nổi các ví dụ, vào năm 1800, nhà vật lý người Ý Alessandro Volta đã viết cho Joseph Banks của Xã hội Hoàng gia ở Vương quốc Anh để chia sẻ các chi tiết phát minh của ông, một ‘đống điện’ (cục pin) có thể đi tiếp để trở thành nguồn điện mạnh đầu tiên.

Qua thời gian, các nhà xuất bản các tạp chí khoa học có lẽ trở thành các ông chủ chính của kiến thức khoa học. Kết quả là, phần lớn nghiên cứu được cấp vốn công khai đã kết thúc bằng việc bị khóa trói đằng sau các bức tường thanh toán của các nhà xuất bản khoa học thương mại, không sẵn sàng cho tất cả mọi người mà cho những ai có thể kham được việc thuê bao tạp chí, như các trường đại học và viện nghiên cứu giàu có.

Để đáp lại xu thế này, phong trào truy cập mở toàn cầu đã tận dụng tiềm lực của World Wide Web để làm cho tư liệu nghiên cứu học thuật tự do không mất tiền truy cập được trên trực tuyến (Hộp 1).

Một trung tâm cho phong trào này đã có ở Mỹ Latin, nơi các nỗ lực để tạo ra các kho công khai, không bị hạn chế từ những ngày thành lập Thư viện Y học Khu vực - Regional Library of Medicine (BIREME, từ đồng nghĩa tiếng Tây Ban Nha) vào năm 1967. Nỗ lực này đã được theo đuổi với sự tạo ra các cơ sở dữ liệu đánh chỉ mục (Clase, est. 1975; Periódica, est. 1978) và các kho Latindex của khu vực (1997), SciELO (1998) và Redalyc (2005) được các cơ sở công lập thành lập.

Tác nhân chính trong phong trào truy cập mở từng là Mạng Quốc tế về Tính sẵn sàng của các Xuất bản phẩm Khoa học, được Hội đồng Quốc tế Liên đoàn Khoa học - ICSU (International Council for Scientific Unions) thành lập năm 1992, như nó sau này được biết tới1.

Ngày nay, UNESCO có Cổng Truy cập Mở Toàn cầu, nó giám sát tình trạng truy cập mở tới thông tin khoa học ở 158 quốc gia2. Cổng đó cũng đặt chỗ cho một kho các tài nguyên học thuật sẵn sàng theo truy cập mở.

Truy cập mở đã tạo ra một số hậu quả không mong muốn

Trong việc mở rộng truy cập tới các phát hiện khoa học, các thực hành truy cập mở đã tạo ra vài hậu quả không mong muốn. Ví dụ, các tạp chí học thuật hiện lấy tiền xử lý bài báo (hoặc các khoản phí xuất bản) để trang trải cho chi phí của quy trình rà soát lại ngang hàng, biên tập, sắp chữ, thiết kế đồ họa, đánh chỉ mục, quản lý các quyền, bán và phổ biến các bài báo khoa học. Khoản phí xuất bản này do tác giả gánh chịu, là một gánh nặng đối với các nhà khoa học có phương tiện khiêm tốn, đặc biệt là ở các nước đang phát triển.

Cái gọi là xuất bản săn mồi (Predatory Publishing) khai thác mô hình xuất bản truy cập mở bằng việc khai thác sức ép lên các nhà khoa học để xuất bản, không cung cấp các dịch vụ sống còn như vậy như kiểm soát chất lượng, cấp phép, đánh chỉ mục và lưu trữ nội dung, để tối đa hóa lợi nhuận. Các tạp chí săn mồi, vì thế, làm xói mòn đáng kể chất lượng các bài báo được xuất bản. Có nhu cầu về sự minh bạch lớn hơn của các quy trình rà soát lại ngang hàng và xuất bản tạp chí để đấu tranh với các thực hành săn mồi như vậy.

Nhu cầu các dàn xếp cấp vốn mới

Điều này kêu gọi các dạng mới dàn xếp cấp vốn giữa các trường đại học và các nhà xuất bản hoặc các cơ quan cấp vốn và các nhà xuất bản đang ở vị thế chào các lựa chọn thay thế bền vững cho các mô hình hoặc ‘tác giả trả tiền’ hoặc ‘độc giả trả tiền’.

Nhiều nhà cấp vốn hiện trang trải các chi phí xuất bản như một phần của các trợ cấp nghiên cứu, với vài nhà cấp vốn bây giờ ra điều kiện cấp vốn với một đề xuất cam kết đối với bên hưởng lợi xuất bản truy cập mở và/hoặc truyền đạt về các kết quả nghiên cứu của họ.

Kể từ tháng 1/2021, xuất bản truy cập mở đã là bắt buộc cho bất kỳ người nhận trợ cấp nào được Liên minh S cấp vốn, một nhóm gồm 22 tổ chức quốc tế, các cơ quan và các quỹ nghiên cứu quốc gia châu Âu. Tuy nhiên, điều này có thể dẫn tới lạm phát các khoản phí xuất bản trên các tạp chí truy cập mở. Nhóm này bây giờ đang thúc đẩy minh bạch giá thành. Từ tháng 7/2022 trở đi, các tạp chí khoa học sẽ phải công khai các chi phí xuất bản của họ để đủ điều kiện được thanh toán đổi lại việc xuất bản bất kỳ nghiên cứu nào được liên minh S cấp vốn (Wallace, 2020).

Ủy ban châu Âu đang khởi xướng một mô hình khác trong năm 2021. Thông qua Châu Âu Nghiên cứu Mở (Open Research Europe), một nền tảng xuất bản truy cập mở có rà soát lại ngang hàng cho các dự án được cấp vốn qua các chương trình nghiên cứu và đổi mới sáng tạo của Horizon 2020 (2014-2020) và Horizon Europe (2021-2027), Ủy ban châu Âu sẽ thanh toán một khoản phí cố định 780 € cho mỗi xuất bản phẩm3.

Có số lượng đang gia tăng các lựa chọn thay thế khả thi cho hệ thống tác giả trả tiền. Chúng trải từ các hợp đồng cấp vốn quốc gia hoặc khu vực tới các hệ thống dựa vào cơ chế thành viên hoặc hợp tác lập nhóm nhiều cơ sở. Trong số những điều sau là SciELO. Mạng này bây giờ xoay quanh 16 quốc gia ở Mỹ Latin và châu Âu, cùng với Nam Phi. Tương tự, AmeliCA và Latindex đã được thiết kế như là các mạng khu vực gồm các cơ sở công lập và các cơ quan nghiên cứu từ các quốc gia khác.

Ngoài các tài nguyên được yêu cầu để xuất bản một bài báo, tầm với của khoa học trong tương lai sẽ phụ thuộc vào sự phân phối và lưu trữ lâu dài của nó. Trách nhiệm này có thể nằm lại với tác giả (phổ biến ở các mô hình truy cập mở xanh) hoặc với một nhà xuất bản, được coi là tiêu chuẩn vàng.

Đi vượt ra khỏi truy cập mở

Phong trào truy cập mở đã dần tiến hóa thành một phong trào khoa học mở tìm cách làm cho toàn bộ quy trình khoa học truy cập được và minh bạch hơn bằng việc chia sẻ dữ liệu, các giao thức, phần mềm và hạ tầng. Khi chuyển dịch vượt khỏi cộng đồng khoa học truyền thống, phong trào khoa học mở cũng đã ôm lấy việc cam kết với khoa học công dân và các nhận thức luận khác, như các hệ thống kiến thức bản địa và địa phương. Tính mở này tăng cường cho các đường liên kết giữa lý thuyết và thực hành, khoa học và xã hội. Khoa học mở cũng cung cấp cơ hội để cải thiện sự đồng vận giữa nghiên cứu, phát triển và đổi mới sáng tạo.

Từ đầu những năm 2000, các nhà khoa học và các bên liên quan khác, như các nhà cấp vốn, các hiệp hội kiến thức, các nhà xuất bản và các thư viện, đã cùng nhau biện hộ cho ứng dụng có hệ thống hơn các nguyên tắc của khoa học mở xuyên khắp quy trình khoa học. Các sáng kiến bao gồm Sáng kiến Truy cập Mở Budapest (Hungary), Kêu gọi Hành động về Khoa học Mở Amsterdam 2016 (Hà Lan) và Tuyên bố Jussieu 2017 về Khoa học Mở và ‘đa dạng thư mục’ - bibliodiversity (Pháp).

Ngoài ra, các nguyên tắc chính cho khoa học mở đã được phát triển để đảm bảo các thực hành tốt trong chia sẻ dữ liệu và thông tin. Các ví dụ bao gồm, các Nguyên tắc và Hướng dẫn của OECD cho Truy cập tới Dữ liệu Nghiên cứu từ Vốn cấp Nhà nước (2007) và Báo cáo của Xã hội Hoàng gia, Khoa học như một Doanh nghiệp Mở (2012).

Trong năm 2016, Ủy ban châu Âu đã áp dụng nguyên tắc hướng dẫn ‘càng mở càng tốt và (chỉ) đóng khi cần’ và, cùng năm đó, các Nguyên tắc Hướng dẫn FAIR cho quản lý và quản trị dữ liệu khoa học6. Điều sau phác họa cách sử dụng dữ liệu như thế nào để có thể tối đa hóa được và liệu chúng có cần được bảo vệ hay có thể được làm thành truy cập mở hay không. Để tuân thủ với các Nguyên tắc CARE bổ sung cho Quản trị Dữ liệu Bản địa (2019)7, bất kỳ nghiên cứu nào tạo ra dữ liệu phải kết hợp các nguyên tắc lợi ích tập thể, kiểm soát, tôn trọng và có đạo đức trước khi bất kỳ dữ liệu nào như vậy có thể được làm thành truy cập mở.


Khoa học mở: phong trào toàn cầu

Phong trào khoa học mở lan rộng khắp toàn cầu. Mỹ Latin được xem như là một hình mẫu, với các động lực chính cho truy cập mở đang được các trường đại học công lập và các tổ chức chính phủ, không thuê ngoài làm cho các nhà xuất bản thương mại. Các sáng kiến được nhà nước cấp vốn, do các học giả dẫn dắt (Latindex, SciELO, Redalyc) đã giúp các tạp chí trong khu vực cải thiện chất lượng, tiến hành chuyển đổi sang truy cập mở mà không trông cậy vào các khoản phí xử lý bài báo và cung cấp các chỉ số truy cập mở ban đầu.

Liên minh châu Âu (EU), mục tiêu của khoa học mở đang hiện thực hóa trong bối cảnh Nền tảng Chính sách Khoa học Mở châu Âu được thiết lập vào năm 2016 và thông qua sự phát triển của Đám mây Khoa học Mở châu Âu được khởi xướng năm 2016, các yêu cầu mới đối với nghiên cứu được Liên minh châu Âu cấp vốn với khía cạnh truy cập mở tới dữ liệu khoa học được sinh ra từ các dự án được EU và Kế hoạch S cấp vốn về truy cập mở tới tư liệu khoa học, được khởi xướng vào năm 2018(xem chương 11).

Nền tảng Khoa học Mở châu Phi đã được khởi xướng năm 2017 sau đó được mở rộng vào năm 2020. Nó là dựa vào các nguyên tắc của việc chia sẻ và cộng tác được thể hiện trong khái niệm của ubuntu.

Các sáng kiến nền tảng dữ liệu nghiên cứu và khoa học mở chính cũng đang diễn ra ở Trung Quốc, Malaysia, Canada, Đức và những nơi khác nữa.

Cùng lúc, số lượng ngày càng gia tăng các quốc gia đã phát triển các chính sách khoa học mở quốc gia, bao gồm Canada, Pháp và Serbia.

Các bài học học được từ đại dịch COVID-19

Đại dịch COVID-19 đã nhấn mạnh hơn nữa nhu cầu quan trọng truy cập nhanh chóng, phổ cập tới khoa học. Nó cũng đã chỉ ra tiềm năng không thể tin nổi của cộng tác khoa học. Chính đã nhờ vào cộng tác khoa học quốc tế mà coronavirus có thể được giải trình tự trong thời gian kỷ lục.

Tốc độ theo đó các nhà khoa học, các tập đoàn và các chính phủ đã huy động để tìm kiếm vắc xin cho COVID-19 là đáng khen ngợi. Các công ty dược đang xuất bản dữ liệu của họ về phát triển vắc xin trên các tạp chí chuyên ngành, nơi các chuyên gia khác như các nhà virus học và nhiễm trung học có thể thấy chúng, chào sự minh bạch bổ sung có thể phục vụ để trấn an công chúng. Điều này chỉ ra giá trị của việc liên kết khoa học mở với đổi mới sáng tạo mở để đảm bảo phát triển các giải pháp kịp thời vì lợi ích của tất cả mọi người.

Từ đầu, các bên ký kết tuyến bố của Wellcome Trust (2020) cam kết làm cho tất cả nghiên cứu và dữ liệu về bùng phát COVID-19 sẵn sàng tức thì, hoặc qua các nền tảng tạp chí hoặc các kho preprint cho các hạng mục còn chưa được rà soát lại ngang hàng. Các bên ký kết đó bao gồm các nhà xuất bản khoa học chính, các cơ sở học thuật và các nhà cấp vốn nghiên cứu.

Tuy nhiên, như được Larivière et al. (2020) lập luận, các tài liệu và các chương sách mà đã đi vào phạm vi công cộng qua biện pháp này chỉ đại diện một phần nhỏ tư liệu sẵn sàng về coronavirus này.

Sự bùng phát cũng đã nhấn mạnh 2 điều kém hiệu quả trong hệ thống nghiên cứu: xu hướng mặc định khoa học đóng và nhấn mạnh thái quá về các ưu tiên dòng chủ lưu và xuất bản ngôn ngữ tiếng Anh, bất chấp bối cảnh và các hệ lụy của nghiên cứu có liên quan. Như được Tổng Giám đốc UNESCO, Audrey Azoulay, lưu ý vào tháng 10/2020, ưu tiên chính ngày nay là ‘đảm bảo rằng khoa học mở không nhân bản các thất bại của các hệ thống khoa học đóng truyền thống. Chính những thất bại đó đã dẫn tới các mức cao không tin cậy vào khoa học, ngắt kết nối giữa khoa học và xã hội, và làm rộng thêm các khoảng cách về khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo giữa và trong các quốc gia’ (Azoulay, 2020).

Các điều kiện cho chuyển đổi suôn sẻ sang khoa học mở

Để khoa học mở trở thành hiện thực toàn cầu, tất cả các nhà khoa học và tất cả các quốc gia sẽ cần tham gia. Điều này sẽ đòi hỏi các tài nguyên đúng thích đáng, xây dựng năng lực và đầu tư vào hạ tầng khoa học mở. Các cơ hội của công nghệ và khoa học mở thế kỷ 21 là khổng lồ nhưng chúng đòi hỏi đầu tư của nhà nước: vào các kho dữ liệu, vào duy trì tài liệu, siêu dữ liệu và ngữ nghĩa để cho phép dữ liệu, mà và các tài nguyên khác truy cập được, kết hợp được và sử dụng lại được. Tuy nhiên, câu hỏi thường xuyên hơn được đặt ra không phải là cần được các nhà cấp vốn nghiên cứu đầu từ vào bao nhiêu, mà thay vào đó, là có thể bị mất bao nhiêu bằng việc không đầu tư vào khoa học mở? Ví dụ, báo cáo được Ủy ban châu Âu ủy thác (PWC, 2019) đã thiết lập ước tính thận trọng 10.2 tỷ € cho chi phí cơ hội không có dữ liệu FAIR.

Ngoài ra, các hệ thống đánh giá, định giá và thưởng hiện hành cho các nhà khoa học, dựa vào đếm các trích dẫn và yếu tố tác động của các nhà xuất bản, khuyến khích cạnh tranh để xuất bản trên các tạp chí uy tín bằng sự trả giá của cộng tác khoa học được cải thiện, chia sẻ kiến thức và tương tác với xã hội. Sự đóng góp tiêu chuẩn cho khoa học đang thay đổi nhanh chóng; sự thay đổi này cần được tạo thuận lợi.

Bài báo theo truyền thống con người đọc dược không còn là đủ trong hầu hết các lĩnh vực. Ngày càng gia tăng, đầu ra cũng cần tạo thành tóm tắt máy đọc được các phát hiện chính, dữ liệu hỗ trợ, mã, các công cụ phân tích và các thuật toán như các phát hiện có thể được tổng hợp, được soi xét, được tái tạo lại và được sử dụng lại.

Có nhu cầu cấp bách cho sự thay đổi toàn cầu về hệ thống đánh giá và thưởng khoa học, để khuyến khích chuyển đổi sang khoa học mở, đặc biệt cho các nhà khoa học trẻ bắt tay vào sự nghiệp của họ.

Trong khi thiếu khung chính sách toàn cầu về khoa học mở, các thực hành không khớp và thiếu các khung pháp lý và kỹ thuật hài hòa cho việc chia sẻ thông tin và dữ liệu đang đặt ra rồi các thách thức cho hợp tác khoa học quốc tế. Các chuẩn mực và các tiêu chuẩn đúng thích hợp cũng cần phải được thiết lập để giải quyết các vấn đề về đạo đức và pháp lý có liên quan tới thu thập dữ liệu và truy cập tới dữ liệu .

Khuyến nghị thiết lập các tiêu chuẩn toàn cầu cho khoa học mở

Với UNESCO đang là cơ quan Liên hiệp quốc duy nhất với nhiệm vụ cho khoa học, là logic nó cần nắm lấy câu hỏi của khoa học mở. Vào năm 2019, 193 quốc gia thành viên của UNESCO đã giao nhiệm vụ cho Ban thư ký với việc phát triển một công cụ thiết lập tiêu chuẩn quốc tế ở dạng một Khuyến nghị Khoa học Mở, sẽ được phê chuẩn vào tháng 11/2021. Các hướng dẫn này được ban hành từ cơ quan quản lý tối cao của Tổ chức, Đại hội đồng, họp hai năm một lần.

Thông qua các khuyến nghị, các chính phủ xây dựng các nguyên tắc và chuẩn mực toàn cầu cho quy định quốc tế của một câu hỏi nhất định, với mục đích tác động đến sự phát triển của luật pháp và thông lệ quốc gia phù hợp với các chuẩn mực này.

Quy trình phát triển khuyến nghị toàn cầu cũng quan trọng như bản thân khuyến nghị, vì nó trải qua một loạt các cuộc tư vấn nhiều bên liên quan trong 3 năm qua để một định nghĩa chung về khoa học mở sẽ được kết tinh.

Các tư vấn đó làm cho có khả năng để chọn lọc ra các lợi ích và các rào cản chính của khoa học mở, để xác định các ưu tiên của khu vực và các thách thức đặc thù các nhà khoa học và các tác nhân mở khác đối mặt, đặc biệt ở các quốc gia đang phát triển. Điều đó là sống còn cho công cụ pháp lý quốc tế đầu tiên này về khoa học mở để thừa nhận và giải quyết các hệ lụy có thể không mong đợi của khoa học mở trong các cơ sở khoa học và khu vực khác nhau, như được nêu ở trên.

Ghi tạc điều này, UNESCO đã tổ chức một loạt các tư vấn mặt đối mặt và trên trực tuyến từ tháng 12/2019 để khuyến khích tranh luận mở. Các tư vấn đó đã tập hợp các quốc gia thành viên; những người làm chính sách; cộng đồng khoa học, bao gồm các nhà khoa học trẻ; các cơ sở khoa học và các thực thể khác cả ở các mức quốc tế và quốc gia; các cơ quan Liên hiệp quốc có liên quan; các thường dân; và những người nắm giữ kiến thức truyền thống.

Tiềm năng của khoa học mở được công nhận rộng rãi

Tất cả các khu vực đã công nhận tiềm năng của khoa học mở nhưng các ưu tiên khu vực là khác nhau. Ví dụ, ở Tây Âu và Bắc Mỹ, nhu cầu điều chỉnh các ưu đãi cho khoa học mở đã được xác định như là ưu tiên chính. Quy trình này sẽ ngụ ý việc rà soát lại các hệ thống hiện hành về đánh giá và thưởng khoa học dựa vào các nguyên tắc của khoa học mở. Các ưu tiên khác bao gồm: thúc đẩy thế hệ mới các dạng cộng tác đổi mới sáng tạo, bao gồm với các tác nhân xã hội vượt ra khỏi cộng đồng khoa học; tôn trọng đa dạng sinh thái; hài hòa các chính sách bảo vệ dữ liệu; và đầu tư vào hạ tầng được chia sẻ và phối hợp để tạo thuận lợi cho khoa học mở, tính tới các đặc thù khu vực và ngành.

Các tác nhân ở Mỹ Latin và vùng Caribe đã lập luận về tiếp cận toàn diện và được điều phối toàn cầu về khoa học mở mà giải quyết các nhu cầu cấu trúc của các nền kinh tế đang nổi lên và đang phát triển và đảm bảo rằng những lợi ích của khoa học mở được chia sẻ công bằng giữa tất cả các quốc gia. Họ ưu tiên đảm bảo truy cập bền vững tới hạ tầng và tính tương thích với các ưu tiên quốc gia, điều chỉnh sự thương mại hóa dữ liệu mở, tương tác đa ngôn ngữ và hòa nhập công bằng và bình đẳng của những người nắm giữ kiến thức bị gạt ra ngoài lề lịch sử. Các thực hành đánh giá khoa học mở đã được xác định như là các ưu tiên cho Khuyến nghị Khoa học Mở của UNESCO giải quyết.

châu Á và Thái bình dương, các tác nhân đã chỉ ra nhu cầu có tầm nhìn chung về khoa học mở, một khung chính sách khu vực mạch lạc và các hướng dẫn thực hành về các yếu tố khác nhau, các thực hành và các chính sách có liên quan tới khoa học mở. Họ cũng đã nhấn mạnh nhu cầu tăng cường hợp tác khu vực, bao gồm qua việc thiết lập một nền tảng khu vực cho khoa học mở được các chương trình xây dựng năng lực khu vực đi kèm.

Đối với các tác nhân từ châu Phi, là quan trọng để đầu tư vào khả năng kết nối và hạ tầng như phần cứng và phần mềm máy tính, để loại bỏ các rào cản tới khoa học mở. Sự chuyển đổi sang khoa học mở cũng sẽ cần đi với sự phát triển năng lực tổ chức cho khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo và một môi trường chính sách xúc tác. Nhiều cộng tác và kết nối khoa học hiệu quả hơn, bao gồm việc chia sẻ và mở rộng phạm vi các thực hành tốt trong cộng tác khu vực, sẽ là quan trọng để đáp lại ảnh hưởng tiêu cực của sự phụ thuộc cao vào cộng tác quốc tế và giữ lại dữ liệu và thông tin nhiều hơn ở châu Phi, để sinh ra kiến thức mới và thu hút các quỹ nghiên cứu đáng kể hơn ở mức khu vực.

các quốc gia Ả rập, chuyển đổi sang khoa học mở sẽ chủ yếu đòi hỏi sự dịch chuyển văn hóa từ chế độ cạnh tranh sang cộng tác về thực hành khoa học. Sự dịch chuyển này sẽ cần được các chính sách đi kèm và năng lực kỹ thuật để quản lý các quyền sở hữu trí tuệ có liên quan tới khoa học mở. Hạ tầng sẽ cần được xây dựng và các kho của khu vực cần được thiết lập. Các tác nhân nhấn mạnh nhu cầu nhận thức lớn hơn về khoa học mở như là bộ xúc tác chính của đổi mới sáng tạo và sự thịnh vượng. Cũng sẽ là mệnh lệnh phải đảm bảo rằng kết quả đầu ra nghiên cứu là truy cập được, có chất lượng và tuân thủ với đánh giá công bằng. Để khoa học mở thịnh vượng, sẽ cần sự minh bạch lớn hơn và các kết nối mạnh hơn giữa nghiên cứu và tác động xã hội.

Nói chung, có các rào cản sẽ cần nhấc bỏ, nếu chúng ta định vận hành khái niệm khoa học mở với tiềm năng đầy đủ của nó. Một điều, vẫn chưa có sự hiểu biết chung về khoa học mở ngụ ý gì. Cũng có câu hỏi về chi phí của khoa học mở, khả năng sử dụng sai thông tin và dữ liệu mở, chất lượng của vài kết quả đầu ra khoa học thấp và hành vi săn mồi của các tạp chí truy cập mở nhất định.

Cũng có sự chưa khớp giữa các nguyên tắc của khoa học mở và các hệ thống đánh giá sự nghiệp hiện hành. Ngoài ra, sẽ là sống còn để làm việc với những khác biệt khổng lồ về tính kết nối, khả năng và nguồn lực có thể làm sâu sắc thêm phân cách số và khoa học Nam - Bắc.

Vì chúng ta dịch chuyển hướng tới sự đồng thuận toàn cầu về vấn đề đó, văn bản phác thảo đầu tiên của Khuyến nghị Khoa học Mở của UNESCO đã định nghĩa khoa học mở dưới khái niệm bao trùm kết hợp vài phong trào và thực hành nhằm để:

  • làm cho kiến thức, các phương pháp, dữ liệu và bằng chứng khoa học sẵn sàng tự do không mất tiền và truy cập được tới tất cả mọi người;

  • gia tăng cộng tác khoa học và chia sẻ thông tin vì lợi ích của cả khoa học và xã hội; và

  • mở ra quy trình tạo lập và lưu thông kiến thức khoa học tới các tác nhân xã hội đi vượt ra khỏi cộng đồng khoa học được thể chế hóa.

Bản thảo đầu tiên của Khuyến nghị này lập luận rằng kết quả đầu ra khoa học cần phải là càng mở càng tốt và chỉ đóng khi cần, lưu ý tới các vấn đề liên quan tới bảo mật, quyền riêng tư và tôn trọng các đối tượng nghiên cứu khoa học.

Thực hiện quyền con người đối với khoa học

Khoa học mở ngày càng được thừa nhận như là bộ tăng tốc chính cho các Mục tiêu Phát triển Bền vững (SDG) của Liên hiệp quốc tới năm 2030 và là công cụ mạnh để lấp đi phân cách khoa học giữa và trong các quốc gia.

Nó cũng được coi như là người thay đổi cuộc chơi tiềm năng trong thực hiện quyền con người về khoa học, như được nêu ở Điều 27 Tuyên ngôn Quyền Con người của Liên hiệp quốc (1948) và được tái khẳng định trong Khuyến nghị về Khoa học và các Nhà nghiên cứu Khoa học của UNESCO (2017). Cái sau thúc đẩy khoa học như là hàng hóa công cộng. Nó nêu rằng ‘khoa học mở, bao gồm việc chia sẻ dữ liệu, các phương pháp, các kết quả và kiến thức bắt nguồn từ đó, tăng cường vai trò công cộng của khoa học và cần được tạo điều kiện và khuyến khích.

Điều 21 của Khuyến nghị về Khoa học và các Nhà nghiên cứu Khoa học nêu rằng, ‘để đảm bảo quyền con người được chia sẻ tiến bộ khoa học và những lợi ích của nó, các quốc gia thành viên cần thiết lập và tạo thuận lợi cho các cơ chế cho khoa học mở cộng tác và tạo thuận lợi cho việc chia sẻ kiến thức khoa học trong khi đảm bảo các quyền khác được tôn trọng.

Khuyến nghị Khoa học Mở của UNESCO sẽ làm thỏa mãn tham vọng này.

  • Ana Persic (b. 1977: Croatia) là lãnh đạo bộ phận về chính sách khoa học và xây dựng năng lực tại UNESCO ở Paris. Bà có bằng Tiến sỹ khoa học về sinh thái học từ Đại học Paris VI (Pháp).

  • Fernanda Beigel (b. 1970: Argentina) là Giáo sư hàng đầu về xã hội học Mỹ Latin ở Đại học Quốc gia Cuyo ở Argentina, nơi bà giành được bằng Tiến sỹ khoa học về khoa học xã hội và chính trị. GS. Beigel cũng là nhà nghiên cứu chính ở Viện Khoa học về con người, xã hội và môi trường của Hội đồng Nghiên cứu Kỹ thuật và Khoa học Quốc gia Argentina (CONICET). Bà hiện là Chủ tịch của Ủy ban Cố vấn về Khoa học Mở của UNESCO có nhiệm vụ phác thảo Khuyến nghị Khoa học Mở của UNESCO.

  • Simon Hodson (b. 1971: Kenya) từng là Giám đốc điều hành Ủy ban về Dữ liệu của Hội đồng Khoa học Quốc tế (CODATA) từ tháng 8/2013. Ông hiện là Phó chủ tịch của Ban Cố vấn về Khoa học Mở của UNESCO có nhiệm vụ phác thảo Khuyến nghị Khoa học Mở của UNESCO. Ông có bằng Tiến sĩ khoa học về Lịch sử Hiện đại từ Đại học Oxford (Vương quốc Anh).

  • Peggy Oti-Boateng (b.1959: Ghana) là Giám đốc Bộ phận Chính sách Khoa học và xây dựng năng lực của UNESCO ở Paris. Bà có bằng Tiến sĩ khoa học về Khoa học Thực phẩm và Công nghệ từ Đại học Adelaide (Úc).

CÁC THAM CHIẾU

  • Azoulay, Audrey (2020) Intervention on the occasion of the launch of the Joint Appeal for Open Science by UNESCO, the World Health Organization and United Nations High Commission for Human Rights. Press release, 27 October. See: https://tinyurl.com/unesco-call-for-open-science

  • Callaghan, Chris and Denise Nicholson (2020) Predatory publishing and predatory journals: a critical review and proposed research agenda for higher education. Journal of Further and Higher Education, 44(10): 1433–1449. DOI: 10.1080/0309877X.2019.1695762

  • Larivière, Vincent; Shu, Fei and Cassidy Sugimoto (2020) The coronavirus (Covid-19) outbreak highlights serious deficiencies in scholarly communication. Blogpost. London School of Economics, 5 March. See: https://tinyurl.com/deficiencies-scholarly-comm

  • PWC (2019) Cost–benefit Analysis for FAIR Research Data. Study by Price Waterhouse Coopers for the European Commission: Brussels. See: https://tinyurl.com/cost-benefit-FAIR-data

  • Wallace, Nicholas (2020) Open-access science funders announce price transparency rules for publishers. Science, 18 May. DOI: 10.1126/science.abc8302

  • Wellcome Trust (2020) Sharing research data and findings relevant to the novel coronavirus (Covid-19) outbreak. Press release, 31 January. See: https://wellcome.org/coronavirus-covid-19/open-data


CÁC CHÚ GIẢI

1 Sau này được đổi tên thành Hội đồng Khoa học Quốc tế nhưng vẫn giữ nguyên từ viết tắt, ICSU đã hợp nhất với Hội đồng Khoa học Xã hội Quốc tế vào năm 2017 để tạo thành Hội đồng Khoa học Quốc tế.

2 Xem: www.unesco.org/new/en/communication-and-information/portals-and-platforms/goap/

3 Xem: https://open-research-europe.ec.europa.eu/

4 Xem: www.doaj.org

5 Xem: https://www.dimensions.ai/

6 FAIR là Tìm thấy được, Truy cập được, Tương hợp được và Sử dụng lại được (Findable, Accessible, Interoperable and Reusable).

7 CARE là Lợi ích tập thể, Quyền kiểm soát, Trách nhiệm và Đạo đức (Collective benefit, Authority to control, Responsibility and Ethics)


Thừa nhận:

Dịch từ: UNESCO (2021) Báo cáo Khoa học của UNESCO: Chạy đua với thời gian vì sự phát triển thông minh hơn. S. Schneegans, T. Straza and J. Lewis (eds). UNESCO xuất bản: Paris. Giấy phép nội dung CC BY-SA 3.0 IGO.


Quay về danh sách các tiểu luận và các đoạn trích được đăng!