Thứ Tư, 9 tháng 9, 2026

AI Nguồn Mở và mối quan hệ giữa AI tạo sinh và sở hữu trí tuệ

 

AI Nguồn Mở và mối quan hệ giữa AI tạo sinh và sở hữu trí tuệ

Lê Trung Nghĩa. ORCID iD: https://orcid.org/0009-0007-7683-7703

Viện Nghiên cứu, Đào tạo và Phát triển Tài nguyên Giáo dục Mở (InOER),

Hiệp hội các trường đại học cao đẳng Việt Nam (AVU&C)

Giấy phép nội dung: CC BY 4.0 Quốc tế

------------------------------------------------------

Tóm tắt: Việc ứng dụng và phát triển AI Nguồn Mở chắc chắn là một lựa chọn tốt cho nhiều tổ chức, quốc gia trên thế giới trong kỷ nguyên AI, vừa góp phần đảm bảo an toàn an ninh mạng và thông tin, vừa tránh bị phụ thuộc hoặc khóa trói vào một nhà cung cấp duy nhất, vừa có khả năng chỉnh sửa cho phù hợp với mục đích sử dụng, nhưng vẫn đảm bảo tôn trọng bản quyền và sở hữu trí tuệ. Bài viết đề cập tới định nghĩa, các thành phần và đặc tính của AI nguồn mở, so sánh giữa AI nguồn mở với AI nguồn đóng, đưa ra một vài ví dụ về hệ thống AI nguồn mở, cũng như mối quan hệ giữa AI tạo sinh và sở hữu trí tuệ. Cuối cùng, bài viết đưa ra kết luận bằng một vài gợi ý.

Từ khóa: AI Nguồn Mở, AI tạo sinh, phần mềm nguồn mở (PMNM), sở hữu trí tuệ

------------------------------------------------------

1. Đặt vấn đề

Ứng dụng và phát triển AI cần tuân thủ các nguyên tắc cơ bản được nêu trong Điều 4 của Luật Trí tuệ nhân tạo số 134/2025/QH151 của Quốc hội ngày 10/12/2025, có hiệu lực từ ngày 01/03/2026 (Hình 1), nhằm phát huy các mặt tích cực đồng thời hạn chế các mặt tiêu cực của AI.

Hình 1. Nguyên tắc cơ bản trong hoạt động trí tuệ nhân tạo

Nghiên cứu của OpenPraxis2 cho thấy, AI có nhiều điểm tích cực và tiêu cực (Hình 2).

Hình 2. AI tích cực và AI tiêu cực

Về tuân thủ bản quyền và sở hữu trí tuệ. Theo Điều 225, Bộ luật Hình sự 2015 “mức phạt cao nhất đối với cá nhân lên đến 3 năm tù. Đối với doanh nghiệp, có thể bị phạt lên đến 3 tỉ đồng hoặc đình chỉ hoạt động có thời hạn3. Công điện số 38/CĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ ngày 05/05/20264: Về tập trung chỉ đạo thực hiện quyết liệt các giải pháp đấu tranh, ngăn chặn, xử lý hành vi xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ. Theo khảo sát của Revenera: Software Piracy Statistics – 2026 Outlook5, Việt Nam nằm trong Top 10 quốc gia sử dụng phần mềm lậu nhiều nhất thế giới ở thời điểm năm 2026.

Để AI tuân thủ các nguyên tắc cơ bản của Luật trí tuệ nhân tạo cũng như Luật sở hữu trí tuệ, ứng dụng và phát triển AI Nguồn Mở là cần thiết.



 

2. Định nghĩa và các đặc tính của AI Nguồn Mở

Để có thể hiểu rõ về AI Nguồn Mở, trước hết cần hiểu rõ phần mềm nguồn mở (PMNM).

Định nghĩa Phần mềm nguồn mở (PMNM) của Open Source Inititive (OSI)6: là phần mềm được cấp phép mở theo một giấy phép được OSI phê chuẩn, với các điều khoản cho phép bất kỳ ai: (1) Sử dụng; (2) Nghiên cứu; (3) Sửa đổi; và (4) Chia sẻ. Điều kiện tiên quyết để thực hiện các quyền này là: Mã nguồn phần mềm phải được mở công khai trên Internet. Danh sách các giấy phép PMNM của OSI có tại đây7.

Muốn có tự chủ, an ninh an toàn hệ thống phần mềm và công nghệ thông tin, thì cần phải phát triển PMNM, để bất kỳ ai cũng nhìn thấy và hiểu được mục đích của từng dòng mã lệnh được viết trong phần mềm là để làm gì, để không “xây nhà trên móng của người khác” dẫn tới việc gây mất an toàn an ninh cho hệ thống, bên cạnh nhiều rủi ro khác, bao gồm cả việc vi phạm bản quyền và sở hữu trí tuệ.

Một khi tôn trọng các điều khoản của giấy phép mở gắn với PMNM, người dùng PMNM không vi phạm bản quyền của bất kỳ ai, không vi phạm luật sở hữu trí tuệ của bất kỳ quốc gia nào. Ví dụ, nếu bạn có một đĩa CD hệ điều hành nguồn mở Ubuntu hoặc bộ phần mềm văn phòng LibreOffice, bạn có thể chia sẻ hoàn toàn hợp pháp cho bất kỳ ai, nhưng sẽ là bất hợp pháp và vi phạm bản quyền phần mềm nếu bạn làm như vậy với Microsoft Windows hoặc Microsoft Office. Điều này cũng đúng cho AI Nguồn Mở, nhưng ở một quy mô lớn hơn. 

Định nghĩa AI Nguồn Mở của OSI8:

Dựa trên cùng ý tưởng với PMNM, AI Nguồn Mở (Open Source AI) là một hệ thống được cấp phép mở theo các điều khoản cho phép người dùng có quyền tự do:

  1. Sử dụng: Sử dụng hệ thống vì bất kỳ mục đích gì và không cần phải hỏi sự cho phép. Điều kiện tiên quyết để thực hiện các quyền tự do này là có quyền tiếp cận dạng thức phù hợp để sửa đổi hệ thống đó, cũng như các phương tiện để sử dụng hệ thống đó.

  2. Nghiên cứu: Nghiên cứu cách thức hoạt động của hệ thống và hiểu cách các kết quả của nó đã được tạo ra như thế nào. Điều kiện tiên quyết để thực thi các quyền tự do này là phải có quyền truy cập vào dạng thức phù hợp nhất để sửa đổi hệ thống, cũng như các phương tiện để sử dụng nó.

  3. Sửa đổi: Tự do sửa đổi hệ thống vì bất kỳ mục đích nào, bao gồm cả việc thay đổi kết quả đầu ra. Điều kiện tiên quyết để thực hiện các quyền tự do này là phải có quyền truy cập vào dạng thức phù hợp để sửa đổi hệ thống và các phương tiện để sử dụng hình thức đó.

  4. Chia sẻ: Chia sẻ hệ thống để người khác sử dụng — có hoặc không có sửa đổi — vì bất kỳ mục đích nào. Điều kiện tiên quyết để thực hiện các quyền tự do này là phải có quyền truy cập vào dạng thức phù hợp để thực hiện sửa đổi hệ thống, cũng như các phương tiện để sử dụng hệ thống đó.

Khác với PMNM, một mô hình/ hệ thống/ ứng dụng AI không chỉ có phần mềm, mà còn có dữ liệu và tài liệu, như theo Khung Tính mở Mô hình - MOF (Model Openness Framework)9 của Linux Foundation. Tất cả các thành phần của hệ thống AI Nguồn Mở cần phải được cấp phép mở để đáp ứng được định nghĩa của AI Nguồn Mở (Hình 3).

Hình 3: Khung Tính mở Mô hình của Linux Foundation

Về dữ liệu của các hệ thống AI, Viện Dữ liệu Mở - ODI (Open Data Institute) đưa ra Chỉ số minh bạch dữ liệu AI – AIDTI (AI Data Transparency Index) để đánh giá tính mở của các dữ liệu đó. Hình bên dưới là số liệu về AIDTI của nhiều hệ thống AI đầu năm 2025, khi có sự nổi lên của DeepSeek của Trung Quốc10 cho thấy hầu hết các dữ liệu mà các hệ thống AI dựa vào là không mở (Hình 4), điều có thể mang theo các định kiến và rủi ro sử dụng. Theo AIDTI thì DeepSeek không đủ điều kiện để được gọi là một AI Nguồn Mở, dù nó đủ điều kiện để được gọi là một PMNM vì mã nguồn phần mềm của nó được công khai trên kho GitHub tại https://github.com/deepseek-ai và hầu hết các thành phần phần mềm của nó đều mang giấy phép của PMNM như MIT hoặc Apache-2.0.

Hình 4: Chỉ số minh bạch dữ liệu AI (AIDTI) của các mô hình AI

Trong thực tế11, tính minh bạch của một hệ thống AI cụ thể đối với mã nguồn phần mềm, tham số mô hình và dữ liệu đào tạo của của nó có thể là rất khác nhau (Hình 5), gây thêm khó khăn cho việc phân biệt giữa các mô hình AI Nguồn Mở và nguồn đóng.

Hình 5: Các chiều minh bạch của AI theo các thành phần

Cần đảm bảo rằng dữ liệu để đào tạo mô hình/hệ thống AI tuân thủ Luật sở hữu trí tuệ. Vì thế nó cũng nên là dữ liệu mở và được cấp phép hợp lệ. Vì lý do này, một số bộ dữ liệu huấn luyện mô hình LLM nguồn mở12 được quản lý và cung cấp trong cộng đồng nguồn mở như: (1) Common Crawl; (2) Starcoder Data; (3) Red Pajama; và (4) ROOTS.

3. So sánh AI Nguồn Mở với AI Nguồn Đóng

Một bài viết nghiên cứu13 cho thấy sự khác biệt giữa AI Nguồn Mở và AI nguồn đóng nằm ở những điểm chính sau: (1) Khả năng truy cập; (2) Hợp tác; (3) Minh bạch; (4) Chi phí; (5) Cập nhật và hỗ trợ; (6) Bảo mật; và (7) Tùy chỉnh.

Một bài viết khác “AI Nguồn Mở so với nguồn đóng: Bạn sẽ tin ai?”14 (Hình 6) đưa ra một bảng so sánh giữa chúng theo các khía cạnh: (1) Tính minh bạch; (2) Hiệu năng; (3) Khả năng đảm bảo an ninh an toàn hệ thống; (4) Đạo đức và định kiến; (5) Điều hành quản lý; (6) Tính cộng đồng; và (7) Chi phí và sự kiểm soát.

Hình 6: So sánh giữa AI Nguồn Mở và AI Nguồn Đóng

Tài liệu này cũng so sánh những điểm mạnh và yếu của vài nền tảng/mô hình/hệ thống AI nguồn mở và nguồn đóng hàng đầu (Hình 7).

Hình 7: Những điểm mạnh và yếu của một số nền tảng AI hàng đầu

Câu hỏi đặt ra là: Lựa chọn mô hình AI nào để sử dụng? Đối với cá nhân, mục đích sử dụng đơn giản là để giải quyết được các vấn đề trước mắt của riêng mình, trong khi đối với tổ chức hoặc quốc gia, mục đích sử dụng có thể là để đảm bảo được quyền tự chủ đối với mô hình AI được chọn.

Phần nội dung “Khuyến khích AI Nguồn Mở và AI trọng số mở” trong tài liệu “Chiến thắng cuộc đua: KẾ HOẠCH HÀNH ĐỘNG AI CỦA NƯỚC MỸ” của Nhà Trắng15, xuất bản năm 2025 cho thấy những lợi ích to lớn của AI Nguồn Mở và AI trọng số mở đối với các chính phủ, các doanh nghiệp và nhất là các nhà nghiên cứu: “Các mô hình AI nguồn mở và AI trọng số mở được các nhà phát triển cung cấp miễn phí để bất kỳ ai trên thế giới cũng có thể tải xuống và chỉnh sửa. Các mô hình được phân phối theo cách này có giá trị đặc biệt cho đổi mới sáng tạo vì các công ty khởi nghiệp có thể sử dụng chúng một cách linh hoạt mà không phụ thuộc vào nhà cung cấp mô hình đóng. Chúng cũng mang lại lợi ích cho việc áp dụng AI trong thương mại và chính phủ vì nhiều doanh nghiệp và chính phủ có dữ liệu nhạy cảm mà họ không thể gửi cho các nhà cung cấp mô hình đóng. Và chúng rất cần thiết cho nghiên cứu học thuật, vốn thường dựa vào quyền truy cập vào trọng số và dữ liệu đào tạo của một mô hình để thực hiện các thí nghiệm khoa học nghiêm ngặt”.

4. Vài ứng dụng AI Nguồn Mở, LLM Nguồn Mở

Nhiều bài viết nghiên cứu16 chỉ ra các ứng dụng AI Nguồn Mở, mô hình ngôn ngữ lớn - LLM (Large Language Model) nguồn mở, và các ứng dụng AI Nguồn Mở, chẳng hạn như:

  • Bài viết về 12 dự án AI Nguồn Mở hàng đầu17 gồm: (1) TensorFlow; (2) PyTorch; (3) Keras; (4) Giskard; (5) Rasa; (6) Amazon SageMaker; (7) GPT4All; (8) Scikit-learn; (9) OpenCV; (10) H2O.ai; (11) Hugging Face Transformers; và (12) MindsDB.

  • Bài viết về 7 mô hình LLM nguồn mở hàng đầu18 trong năm 2026, gồm: (1) DeepSeek; (2) Google Gemma 4; (3) Z.ai GLM 5; (4) Kimi K2.5; (5) MiniMax M2.5; (6) LLaMA 4; và (7) Qwen 3.5.

5. Quan hệ giữa AI tạo sinh và sở hữu trí tuệ

Trong bối cảnh AI tạo sinh (Generative AI) hiện đang được các cá nhân và tổ chức sử dụng rộng rãi ở khắp mọi nơi, nhiều nghiên cứu đã chỉ ra rằng, kết quả đầu ra của AI tạo sinh không đủ điều kiện để được bảo hộ bản quyền. Điều này được khẳng định trong tài liệu ‘Bản quyền và Trí tuệ nhân tạo’ (Copyright and Artificial Intelligence)19 của Văn phòng Bản quyền Hoa Kỳ, được xuất bản tháng 1 năm 2025 (Hình 8). Vì vậy, AI không là tác giả, không là đồng tác giả, dù trợ giúp cho các tác giả trong các tác phẩm của mình. Nói một cách khác, kết quả đầu ra của AI tạo sinh là các tài nguyên thuộc phạm vi công cộng20 và là Tài nguyên Giáo dục Mở (TNGDM) theo định nghĩa TNGDM của UNESCO21, và theo Điều 43 Luật Sở hữu trí tuệ 202522 của Việt Nam, chúng là các tác phẩm thuộc về công chúng.

Hình 8: Nếu nội dung hoàn toàn do AI tạo ra, nó không thể được bảo hộ bản quyền

Trong khi đó, các lời nhắc (Prompts) tinh xảo do con người tạo ra – Đầu vào của AI tạo sinh – hoàn toàn có thể được bảo vệ bản quyền, ví dụ, theo Luật sở hữu trí tuệ 2025 của Việt Nam, và nên được cấp phép mở phù hợp để trở thành TNGDM, cho phép bất kỳ ai cũng có quyền không mất chi phí để truy cập, sử dụng lại, tái mục đích, tùy chỉnh và phân phối lại – hệt như theo định nghĩa TNGDM của UNESCO.


6. Lời kết

Dưới đây là một vài gợi ý cho cá nhân và tổ chức ứng dụng và phát triển AI ở Việt Nam:

  • Ứng dụng và phát triển AI cần tuân thủ các nguyên tắc cơ bản trong hoạt động AI theo Luật AI 2025 và các Luật liên quan của Việt Nam.

  • Để có thể tự chủ trong ứng dụng và phát triển AI, cần thiết ứng dụng và phát triển AI Nguồn Mở, đặc biệt trong các tình huống có liên quan tới an toàn an ninh thông tin hệ thống và các tình huống nhạy cảm.

  • Khi phát triển hệ thống AI Nguồn Mở, tất cả các thành phần của hệ thống đều phải được cấp phép mở phù hợp, cả mã nguồn, dữ liệu, và tài liệu để bất kỳ ai cũng có quyền để sử dụng, nghiên cứu, sửa đổi và chia sẻ chúng.

  • Đầu ra của các hệ thống AI tạo sinh không đủ điều kiện để được bảo hộ bản quyền, và là các tài nguyên thuộc phạm vi công cộng, thuộc về công chúng.

  • Vì AI là một công nghệ kỹ thuật số mới nổi và phát triển nhanh, nhiều khía cạnh của nó còn chưa được giải quyết ở mức toàn cầu, ví dụ như việc ghi nhận nguồn gốc cho dữ liệu được sử dụng để huấn luyện các hệ thống AI.


 

Chú giải

  1. Cổng thông tin điện tử Chính phủ: Luật Trí tuệ nhân tạo số 134/2025/QH15 của Quốc hội ngày 10/12/2025, có hiệu lực từ ngày 01/03/2026: https://datafiles.chinhphu.vn/cpp/files/vbpq/2026/01/luat134.signed.pdf

  2. OpenPraxis (2024): The Manifesto for Teaching and Learning in a Time of GenerativeAI: A Critical Collective Stance to Better Navigate the Future: https://openpraxis.org/articles/777/files/6749b446d17e9.pdf. Bản dịch sang tiếng Việt: https://www.dropbox.com/scl/fi/3rwkmzqodszn7xxuf3dln/6749b446d17e9_Vi-10052025.pdf?rlkey=2dul6urx28xp46qibhpoqlms7&e=1&st=1xog04bw&dl=0

  3. Báo Tuổi trẻ trên trực tuyến (19/05/2026): Doanh nghiệp xài phần mềm thông qua các phiên bản bẻ khóa có thể bị phạt tù, phạt tiền 3 tỉ đồng: https://tuoitre.vn/nld/doanh-nghiep-xai-phan-mem-thong-qua-cac-phien-ban-be-khoa-co-the-bi-phat-tu-phat-tien-3-ti-dong-19626051916240207.htm

  4. Cổng thông tin điện tử Chính phủ: Công điện số 38/CĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ ngày 05/05/2026: Về tập trung chỉ đạo thực hiện quyết liệt các giải pháp đấu tranh, ngăn chặn, xử lý hành vi xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ: https://vanban.chinhphu.vn/?pageid=27160&docid=217999

  5. Revenera: Software Piracy Statistics – 2026 Outlook: https://www.revenera.com/blog/software-monetization/software-piracy-stat-watch/

  6. Open Source Initiative (OSI): The Open Source Definition: https://opensource.org/osd

  7. Open Source Initiative: OSI Approved Licenses: https://opensource.org/licenses

  8. Open Source Initiative: The Open Source AI Definition 1.0: https://opensource.org/ai. Bản dịch sang tiếng Việt: https://giaoducmo.avnuc.vn/ai/dinh-nghia-ai-nguon-mo-v1-0-1374.html

  9. LF AI & DATA (2024): The Model Openness Framework (MOF) Specification: https://lfaidata.foundation/wp-content/uploads/sites/3/2025/01/05_White_paper_MOF_Specification.pdf. Bản tiếng Việt: https://zenodo.org/records/16939515
  10. Open Data Institute (ODI) (2025): If DeepSeek wants to be a real disruptor, it should go much further on data transparency: https://theodi.org/news-and-events/blog/if-deepseek-wants-to-be-a-real-disruptor-it-should-go-much-further-on-data-transparency/. Bản dịch sang tiếng Việt: https://giaoducmo.avnuc.vn/index.php/ai/neu-deepseek-muon-tro-thanh-mot-nguoi-pha-vo-thuc-su-no-phai-tien-xa-hon-nua-ve-tinh-minh-bach-cua-du-lieu-1382.html

  11. Aaron Linskens (2025): Beyond Open vs. Closed: Understanding the Spectrum of AI Transparency: https://www.sonatype.com/blog/beyond-open-vs.-closed-understanding-the-spectrum-of-ai-transparency. Bản dịch sang tiếng Việt: https://giaoducmo.avnuc.vn/index.php/ai/vuot-ra-ngoai-ranh-gioi-mo-va-dong-hieu-ve-pho-minh-bach-cua-ai-1501.html

  12. Jess Lulka (2025): Top 12 Open Source AI Platforms to Add to Your Tech Stack: https://www.digitalocean.com/resources/articles/open-source-ai-platforms. Bản dịch sang tiếng Việt: https://giaoducmo.avnuc.vn/index.php/ai/12-du-an-ai-nguon-mo-hang-dau-de-bo-sung-vao-kho-cong-nghe-cua-ban-1507.html

  13. Dario Lemut, Dina Sostarec, Ishita Jaiswal (2024): Open-Source AI vs. Closed-Source AI: What’s the Difference?: https://www.multimodal.dev/post/open-source-ai-vs-closed-source-ai. Bản dịch sang tiếng Việt: https://giaoducmo.avnuc.vn/index.php/ai/ai-nguon-mo-so-voi-ai-nguon-dong-dau-la-su-khac-biet-1499.html

  14. index (2025): Open-Source vs. Closed AI: Who Should You Trust?: https://www.index.dev/blog/open-source-vs-closed-ai-guide. Bản dịch sang tiếng Việt: https://giaoducmo.avnuc.vn/index.php/ai/ai-nguon-mo-so-voi-dong-ban-se-tin-ai-1500.html

  15. The White House (2025): Winning the Race AMERICA’S AI ACTION PLAN: https://www.whitehouse.gov/wp-content/uploads/2025/07/Americas-AI-Action-Plan.pdf, p.4-5. Bản dịch sang tiếng Việt, đoạn về ‘Khuyến khích AI Nguồn Mở và AI trọng số mở’ (Encourage Open-Source and Open-Weight AI): https://giaoducmo.avnuc.vn/ai/khuyen-khich-ai-nguon-mo-va-ai-trong-so-mo-tu-tai-lieu-chien-thang-cuoc-dua-ke-hoach-hanh-dong-ai-cua-nuoc-my-do-nha-trang-xuat-ban-ngay-23-07-2025-1502.html

  16. Trang tin Giáo dục Mở - Tài nguyên Giáo dục Mở - Ứng dụng và phát triển: Loạt bài về AI và AI Nguồn Mở: Công cụ AI; Dự án AI Nguồn Mở; LLM Nguồn Mở; Kỹ thuật lời nhắc; Tín hiệu CC: https://giaoducmo.avnuc.vn/index.php/phan-mem-tu-do-nguon-mo/loat-bai-ve-ai-va-ai-nguon-mo-cong-cu-ai-du-an-ai-nguon-mo-llm-nguon-mo-ky-thuat-loi-nhac-1606.html

  17. Jess Lulka (2025): Top 12 Open Source AI Platforms to Add to Your Tech Stack: https://www.digitalocean.com/resources/articles/open-source-ai-platforms. Bản dịch sang tiếng Việt: https://giaoducmo.avnuc.vn/index.php/ai/12-du-an-ai-nguon-mo-hang-dau-de-bo-sung-vao-kho-cong-nghe-cua-ban-1507.html

  18. NetAppInstaclustr (2026): Top 7 open source LLMs for 2026: https://www.instaclustr.com/education/open-source-ai/top-7-open-source-llms-for-2026/

  19. United States Copyright Office (January 2025): Copyright and Artificial Intelligence. Part 2: Copyrightability: https://www.copyright.gov/ai/Copyright-and-Artificial-Intelligence-Part-2-Copyrightability-Report.pdf, p.10.

  20. David Wiley (2023): AI, Instructional Design, and OER: https://opencontent.org/blog/ai-instructional-design-and-oer/. Bản dịch sang tiếng Việt: https://giaoducmo.avnuc.vn/ai/ai-thiet-ke-huong-dan-va-tai-nguyen-giao-duc-mo-oer-1473.html

  21. UNESCO (2019): Recommendation on Open Educational Resources (OER), p.5: https://unesdoc.unesco.org/ark:/48223/pf0000373755/PDF/373755eng.pdf.multi.page=3. Bản dịch sang tiếng Việt: https://www.dropbox.com/scl/fi/7apdot5yilc9msz3f6wo1/DCPMS_U1911920_Vi-04122019.pdf?rlkey=x7pw6229008b06tvf23h9plw9&e=1&dl=0, tr. 6.
  22. Trang thông tin điện tử Chính phủ: Văn bản hợp nhất số 155/VBHN-VPQH của Văn phòng Quốc hội: LUẬT SỞ HỮU TRÍ TUỆ (09/09/2025): https://vanban.chinhphu.vn/?pageid=27160&docid=215309

------------------------------------------------------

(Bài viết cho hội thảo nhân sự kiện Security Bootcamp 2026 được tổ chức tại Buôn Ma Thuột, tỉnh Daklak trong các ngày 10-11-12/09/2026)

Tự do tải về bài viết toàn văn định dạng PDF ở DOI: 

Tự do tải về bài trình chiếu tại địa chỉ: https://www.dropbox.com/scl/fi/j7fef4v6c8xh9fkswgpq8/Open-Source-AI-GenAI-and-IP_Presentation.pdf?rlkey=wb6j58mp60vfzqteprwiblorh&st=t0ckk8wf&dl=0

X(Tweet): https://x.com/nghiafoss/status/2097885215863750813

Xem thêm:

Thứ Ba, 8 tháng 9, 2026

Độc giả của Giáo dục Mở. XIII. Kinh tế học của Mở

 

Độc giả của Giáo dục Mở. XIII. Kinh tế học của Mở

An Open Education Reader

The Economics of Open

Nội dung này được EdTech Books cung cấp miễn phí cho bạn. 

Truy cập nó trên trực tuyến hoặc tải nó về tại https://edtechbooks.org/openedreader/the_economics_of_ope.

---------------------------------------------------

Thừa nhận:

Nội dung này được dịch sang tiếng Việt từ tài liệu ‘Độc giả của Giáo dục Mở’ (An Open Education Reader) của tác giả David Wiley

https://edtechbooks.org/openedreader

Giấy phép CC BY

---------------------------------------------------

VỀ TRANG MỤC LỤC

---------------------------------------------------

41. Yochai Benkler, “Chim cánh cụt của Coase, hay Linux và bản chất của doanh nghiệp”

Yochai Benkler, Coases Penguin, or Linux and The Nature of the Firm

Đọc bài viết tại https://edtechbooks.org/-PDq

Bối cảnh

Cuốn sách “Chim cánh cụt của Coase, hay, Linux và Bản chất của Doanh nghiệp” của Yochai Benkler được viết vào đầu kỷ nguyên Web 2.0 và đã cung cấp những khuôn khổ rất chính xác để xem xét sự mở rộng của các dự án do cộng đồng dẫn dắt (Peer-driven) trong môi trường Internet. Bằng cách áp dụng tư duy kinh tế cơ bản vào các dự án này, Benkler cho thấy rằng chúng thực sự có thể phát triển từ các mô hình hiện tại của chúng ta và nên được coi trọng như các mô hình mà chúng ta đang sử dụng hiện nay. Coase, một nhà kinh tế học có ảnh hưởng, đã giới thiệu một mô hình hình thành doanh nghiệp vào năm 1960. Mô hình này hoạt động tốt cho đến khi sự trỗi dậy của Internet cho thấy những trường hợp mà các cá nhân và cấu trúc (như Linus và dự án Linux) đã thách thức mô hình này. Thông qua việc xem xét những ngoại lệ hiện đại này với cùng khuôn khổ giả định mà Coase đã sử dụng khi viết cuốn Bản chất của Doanh nghiệp, Benkler mở rộng mô hình đó để hình thành một mô hình sản xuất ngang hàng (Model of Peer Production) bổ sung, có thể giúp xã hội hiểu liệu nên sử dụng thị trường tự do, doanh nghiệp hay cấu trúc sản xuất ngang hàng để tối ưu hóa hiệu quả sản xuất. 

Những điểm chính

Mặc dù các mô hình và lý thuyết cho rằng các cá nhân sẽ không bỏ nhiều công sức vào các dự án mà họ không nhận được phần thưởng (tiền bạc), chúng ta thấy rằng khá nhiều người vẫn làm như vậy, ví dụ như GNU, NASA click worker, Wikipedia, Project Gutenberg, giới học thuật, v.v.

Phần I minh họa “hiện tượng hợp tác quy mô lớn và trung bình giữa các cá nhân được tổ chức mà không có thị trường hoặc hệ thống phân cấp quản lý” đang “xuất hiện ở khắp mọi nơi trong hệ thống sản xuất thông tin và văn hóa”.

Các dự án mở nên có những đặc điểm sau:

  • Tính mô-đun – được chia thành các thành phần mà một cá nhân độc lập có thể tạo ra

  • Kích thước – các mô-đun nên nhỏ – nhiều người có thể giúp đỡ, ngay cả khi họ có ít động lực đóng góp. Nên có nhiều cấp độ chi tiết để phù hợp với mức độ động lực.

  • Tích hợp chi phí thấp bao gồm kiểm soát chất lượng và cơ chế để đưa các mô-đun vào sản phẩm cuối cùng. Một dự án cần phải chống lại những đóng góp kém chất lượng hoặc được lắp ráp một cách rẻ tiền.

Ví dụ về Sản xuất ngang hàng – cách mỗi thành phần của chuỗi sản xuất thông tin được bao phủ bằng cách sử dụng mô hình dựa trên ngang hàng trực tuyến.

  • Nội dung

    • Clickworkers – huy động cộng đồng lập bản đồ các miệng núi lửa trên sao Hỏa. Các dự án mà một vài chuyên gia phải mất hàng tháng trời có thể được thực hiện chỉ với vài phút nỗ lực của mỗi tình nguyện viên khác nhau. Ngân sách của dự án dành cho việc điều phối, mọi người đóng góp vì niềm vui.

    • Wikipedia – người dùng thích nghi với các chuẩn mực mà Wikipedia đã thiết lập.

  • Mức độ liên quan/Chứng nhận

    • Amazon – những người khác thích những gì bạn thích và X – vậy nên, với đủ số lượng người/điểm dữ liệu, nó có thể đưa ra gợi ý cho từng cá nhân

    • Google – sử dụng liên kết đến các trang web khác trong thuật toán xếp hạng

    • Slashdot (/reddit) – hệ thống bình chọn ủng hộ và phản đối

  • Phân phối giá trị gia tăng

    • Napster – hàng ngàn cá nhân chia sẻ không gian ổ cứng của họ thay vì một máy chủ trung tâm

    • Dự án Gutenberg/Người hiệu đính phân tán – mọi người hiệu đính sách để chúng có thể được cung cấp dưới dạng kỹ thuật số. Sách được đọc nhiều lần để tìm lỗi.

Có nhiều động cơ khác nhau thúc đẩy mọi người đóng góp vào các dự án mở. Có ba loại phần thưởng chính, sự kết hợp của chúng định hình động lực: tiền tệ, khoái cảm và tâm lý xã hội. Những phần thưởng này có thể tích cực hoặc tiêu cực. Lượng động lực mà người đóng góp cần có liên quan đến tính mô-đun và mức độ chi tiết của dự án. “Sản xuất ngang hàng không bị giới hạn bởi tổng chi phí hoặc độ phức tạp của dự án, mà bởi tính mô-đun, mức độ chi tiết và chi phí tích hợp.” Tính mô-đun là mức độ mà một dự án có thể được chia nhỏ thành các phần mà các cá nhân có thể thực hiện độc lập. Mức độ chi tiết là kích thước của các mô-đun. Càng nhỏ thì càng thu hút được nhiều người tham gia dự án.

Câu hỏi thảo luận

  1. Làm thế nào chúng ta có thể làm cho các nguồn tài nguyên giáo dục trở nên mô-đun hơn, chi tiết hơn và dễ tích hợp hơn?

  2. “Sản xuất ngang hàng dựa trên tài nguyên chung” cải thiện như thế nào so với các chiến lược sản xuất dựa trên thị trường hoặc doanh nghiệp?

  3. Ưu điểm của “sản xuất ngang hàng dựa trên tài nguyên chung” so với thị trường hoặc doanh nghiệp là gì? 4. Hiện tượng Wikipedia đã cho chúng ta thấy điều gì kể từ khi bài viết này được viết vào năm 2002?

  4. Động lực, tính mô đun và chi tiết của dự án, cũng như sự hiện diện hoặc vắng mặt của quyền sở hữu trí tuệ ảnh hưởng như thế nào đến sự thành công hay thất bại của sản xuất ngang hàng dựa trên tài nguyên chung?

Nội dung này được EdTech Books cung cấp miễn phí cho bạn. 

Truy cập nó trên trực tuyến hoặc tải nó về tại https://edtechbooks.org/openedreader/coases-penguin-or-linux-and-the-nature-of-the-firm.

---------------------------------------------------

42. Yochai Benkler, “Sự thông thái chung: Sản xuất ngang hàng tài liệu giáo dục”

Yochai Benkler, “Common Wisdom: Peer Production of Educational Materials”

Đọc bài viết tại https://edtechbooks.org/-mJYX

Bối cảnh

Bài báo này được Trung tâm Học tập Mở và Bền vững tại Đại học Bang Utah ủy thác. Bài báo được trình bày lần đầu tiên tại Hội nghị Nâng cao Hiệu quả và Tính bền vững của Giáo dục Mở, Viện Công nghệ Giảng dạy thường niên lần thứ 17 tại Đại học Bang Utah, ngày 30/9/2005.

Những điểm chính

Yochai Benkler đang trả lời câu hỏi: liệu sản xuất ngang hàng có phù hợp với tài nguyên giáo dục hay không? Ông thảo luận về những hạn chế và rào cản trong việc tạo ra tài nguyên giáo dục. Ông cũng nói về các chiến lược và đổi mới có thể cải thiện quá trình phát triển. Hai lý do chính mà ông ủng hộ điều này là để cung cấp giáo dục ở khắp mọi nơi, đặc biệt là ở các quốc gia nghèo nhất.

Ông đề cập đến hai loại hình sản xuất khác nhau: dựa trên tài nguyên chung và dựa trên sự ngang hàng. Sản xuất dựa trên tài nguyên chung là khi đầu vào được nhận từ tài nguyên chung và không ai có quyền độc quyền. Sản xuất dựa trên sự ngang hàng tương tự nhưng bổ sung thêm yếu tố phối hợp.

Thuật ngữ "đối tượng học tập rời rạc" là thuật ngữ ông sử dụng để mô tả tài nguyên giáo dục cơ bản nhất. Ông cho rằng lý do sản xuất ngang hàng các đối tượng này là do ba nguyên nhân: giảm chi phí, động lực đa dạng và truy cập Internet giá rẻ, phổ biến khắp nơi. Vì việc tạo ra các đối tượng này rất dễ dàng, vấn đề nằm ở việc sắp xếp chúng sao cho hữu ích. Vấn đề này có thể được giải quyết bằng một hệ thống có các công cụ tự lưu trữ và gắn thẻ. Hoặc có thể được thực hiện thông qua sản xuất ngang hàng.

Các tài liệu cấp cao hơn như sách giáo khoa khó tạo ra theo cách này hơn vì chúng không có tính mô-đun. Wikipedia là một ví dụ điển hình về tài liệu cấp cao hơn, nhưng nó là một bách khoa toàn thư chứ không phải sách giáo khoa. Sách giáo khoa cần có các chủ đề, phương pháp tiếp cận và lý thuyết xuyên suốt tài liệu.

WikiBooks đã cố gắng sử dụng mô hình của họ để tạo ra sách giáo khoa nhưng họ đã không thành công lắm vì sách giáo khoa không có tính mô-đun như bách khoa toàn thư. Mọi người đã cố gắng cộng tác viết sách giáo khoa mở nhưng họ đã không thành công vì một khi được chia nhỏ thành các cấp độ chi tiết hơn, sách giáo khoa không thể được ghép lại với nhau vì chúng quá chi tiết và chi phí giao dịch quá cao.

Câu hỏi thảo luận

  1. Tại sao việc tạo ra sách giáo khoa thông qua hình thức sản xuất ngang hàng lại khó khăn hơn trong quá khứ? Theo bạn, mức đóng góp lý tưởng để sản xuất ngang hàng thành công một cuốn sách giáo khoa mở là bao nhiêu?

  2. Khi nào thì việc sản xuất dựa trên tài nguyên chung có giá trị hơn việc sản xuất dựa trên sự ngang hàng? Tại sao?

  3. Việc tạo ra một công cụ có thể tạo ra sách giáo khoa mở thành công thông qua sản xuất dựa trên sự ngang hàng sẽ thay đổi giáo dục như thế nào?

Nội dung này được EdTech Books cung cấp miễn phí cho bạn. 

Truy cập nó trên trực tuyến hoặc tải nó về tại https://edtechbooks.org/openedreader/common-wisdom-peer-production-of-educational-materials.

---------------------------------------------------

43 Yochai Benkler, “‘Chia sẻ một cách tử tế’: Về hàng hóa có thể chia sẻ và sự xuất hiện của việc chia sẻ như một phương thức sản xuất kinh tế” 

Yochai Benkler, “‘Sharing Nicely’: On shareable goods and the emergence of sharing as a modality of economic production”

Đọc bài viết tại https://edtechbooks.org/-JbuJ

Bối cảnh

Yochai Benkler giải thích cách thức các hoạt động trên qui mô lớn của việc chia sẻ hàng hóa tư nhân, có thể loại trừ đang nổi lên. Ông sử dụng một số nghiên cứu trường hợp để minh họa nơi điều này đang xảy ra. Chi phí giao dịch và động cơ được xem xét liên quan đến các hoạt động chia sẻ giữa các cá nhân xa lạ hoặc có quan hệ yếu.

Những điểm chính

Hàng hóa có thể chia sẻ được định nghĩa là hàng hóa vật chất có công suất dư thừa. Chúng có hai đặc điểm chính. Thứ nhất, chúng có tính chất rời rạc, có nghĩa là “chúng cung cấp chức năng theo các gói riêng biệt chứ không phải theo một dòng chảy liền mạch”, vì vậy có những lượng nhất định mà bạn mua bất kể lượng đó quá nhiều hay quá ít so với nhu cầu của bạn. Bộ nhớ trên máy tính cá nhân là một ví dụ điển hình; bạn mua một lượng nhất định ngay cả khi bạn sẽ không bao giờ sử dụng hết dung lượng. Đặc điểm thứ hai là tính chi tiết. Động cơ hơi nước là một ví dụ điển hình về tính chi tiết cao vì nó chỉ có thể được sử dụng bằng cách tập hợp nhu cầu, trong khi bánh rán là một loại hàng hóa có tính chi tiết thấp.

Vì mọi thứ đều “rời rạc”, nên có thể khai thác công suất dư thừa thông qua việc chia sẻ. Có hai loại hàng hóa rời rạc có thể được chia sẻ. Loại đầu tiên là hàng hóa tái tạo, là thứ có thể được sử dụng đi sử dụng lại nhiều lần. Thứ hai là một nguồn tài nguyên đang nhanh chóng bị hao mòn, ví dụ như một chiếc xe hơi với những chỗ ngồi trống. Hai yếu tố quyết định liệu hai loại hàng hóa này có thể được chia sẻ hay không là chi phí giao dịch của việc chia sẻ và động lực của những người chia sẻ.

Khi nói về chi phí giao dịch, chúng ta cần xác định khuôn khổ giao dịch của mình. Bước đầu tiên là xác định sự loại trừ. Nếu không có sự loại trừ, chúng ta chỉ đơn giản là để nguồn tài nguyên mở cho bất kỳ ai sử dụng. Điều này có thể dẫn đến chi phí tắc nghẽn, có nghĩa là nguồn tài nguyên có thể không có sẵn khi bạn cần. Bước thứ hai là lựa chọn giữa loại trừ hoàn toàn và loại trừ một phần. Loại trừ một phần yêu cầu bạn phải chọn lọc hoặc không chọn lọc trong cách bạn loại trừ người khác. Khuôn khổ giao dịch của bạn sẽ xác định chi phí giao dịch, đó là chi phí chia sẻ. Động lực là lý do khiến mọi người chia sẻ. Hai yếu tố này có mối tương quan trực tiếp. Chi phí giao dịch càng cao thì động lực chia sẻ càng phải cao. Mọi người có động lực nội tại và động lực bên ngoài. Động lực bên ngoài “lấn át” động lực nội tại bằng cách làm suy yếu quyền tự quyết và lòng tự trọng. Việc trả tiền cho bạn bè ăn tối là không thể chấp nhận được, nhưng việc mang rượu đến thì lại được chấp nhận.

Câu hỏi thảo luận

  1. Bây giờ chúng ta đã hiểu lý thuyết về mô hình hàng hóa có thể chia sẻ, liệu chúng ta có thể tạo ra các điều kiện khuyến khích việc chia sẻ hay phải coi đây là một biến nội sinh? Bạn sẽ làm gì để khuyến khích việc sử dụng hiệu quả hàng hóa này?

  2. Khi tạo ra các nguồn tài nguyên giáo dục có thể chia sẻ, điều gì quan trọng hơn: chi phí giao dịch hay động lực?

Tài liệu tham khảo bổ sung 

Trong bài viết, Benkler đã đưa vào rất nhiều chú thích và tài liệu tham khảo bổ sung hữu ích mà người đọc nên tìm hiểu thêm.

Nội dung này được EdTech Books cung cấp miễn phí cho bạn. 

Truy cập nó trên trực tuyến hoặc tải nó về tại https://edtechbooks.org/openedreader/sharing-nicely-on-shareable-goods-and-the-emergence-of-sharing-as-a-modality-of-economic-production

---------------------------------------------------

Thừa nhận:

Nội dung này được dịch sang tiếng Việt từ tài liệu ‘Độc giả của Giáo dục Mở’ (An Open Education Reader) của tác giả David Wiley

https://edtechbooks.org/openedreader

Giấy phép CC BY

---------------------------------------------------

Xem thêm:

Thứ Hai, 7 tháng 9, 2026

Độc giả của Giáo dục Mở. XII. Nghiên cứu về Giáo dục Mở

 

Độc giả của Giáo dục Mở. XII. Nghiên cứu về Giáo dục Mở

An Open Education Reader

Research in Open Education

Nội dung này được EdTech Books cung cấp miễn phí cho bạn. 

Truy cập nó trên trực tuyến hoặc tải nó về tại https://edtechbooks.org/openedreader/research_in_open_education.

---------------------------------------------------

Thừa nhận:

Nội dung này được dịch sang tiếng Việt từ tài liệu ‘Độc giả của Giáo dục Mở’ (An Open Education Reader) của tác giả David Wiley

https://edtechbooks.org/openedreader

Giấy phép CC BY

---------------------------------------------------

VỀ TRANG MỤC LỤC

---------------------------------------------------

38. Trung tâm Nghiên cứu OER

OER Research Hub

Khám phá trang web tại http://oerresearchhub.org/

Bối cảnh

Trung tâm Nghiên cứu Tài nguyên Giáo dục Mở (OER Research Hub) là một tổ chức có trụ sở tại Vương quốc Anh, trực thuộc Đại học Mở (Open University), chuyên thu thập và phân tích các nghiên cứu về tác động của OER. Tuân thủ triết lý mở, họ tin rằng bạn không nên che giấu các câu hỏi nghiên cứu của mình mà nên cởi mở để người khác có thể giúp tìm ra câu trả lời. Trung tâm Nghiên cứu OER được Quỹ Hewlett tài trợ.

Những điểm chính

Công việc của Trung tâm Nghiên cứu OER được xây dựng dựa trên các giả thuyết sau:

  • Việc sử dụng OER dẫn đến cải thiện hiệu suất và sự hài lòng của sinh viên;

  • Khía cạnh mở của OER tạo ra các mô hình sử dụng và áp dụng khác biệt so với các tài nguyên trực tuyến khác.

  • Mô hình giáo dục mở dẫn đến việc tiếp cận giáo dục công bằng hơn, phục vụ nhiều người học hơn so với giáo dục truyền thống;

  • Sử dụng OER là một phương pháp hiệu quả để cải thiện tỷ lệ giữ chân sinh viên có nguy cơ bỏ học;

  • Việc sử dụng OER dẫn đến sự phản tư mang tính phê phán của các nhà giáo dục, với bằng chứng về sự cải thiện trong thực tiễn của họ;

  • Việc áp dụng OER ở cấp độ của cơ sở dẫn đến lợi ích tài chính cho sinh viên và/hoặc các cơ sở;

  • Người học không chính quy sử dụng nhiều chỉ số khác nhau khi lựa chọn OER;

  • Người học không chính quy áp dụng nhiều kỹ thuật khác nhau để bù đắp cho sự thiếu hỗ trợ chính quy, điều này có thể được hỗ trợ trong các khóa học mở;

  • Giáo dục mở đóng vai trò là cầu nối đến giáo dục chính quy, và mang tính bổ sung chứ không cạnh tranh với nó;

  • Tham gia vào các dự án và chương trình thí điểm OER dẫn đến thay đổi chính sách ở cấp độ cơ sở;

  • Các phương tiện đánh giá không chính quy là động lực thúc đẩy việc học tập với OER.

Câu hỏi thảo luận

  1. Phần nào của khung về Chi phí - Kết quả học tập - Sử dụng - Nhận thức – COUP (Cost, Outcomes, Use, Perceptions) là quan trọng nhất đối với bạn? Học sinh? Giáo viên? Quản lý trường học? Phụ huynh?

  2. Các giả thuyết của Trung tâm Nghiên cứu OER có liên quan như thế nào đến khung COUP của Nhóm Giáo dục Mở?

Nội dung này được EdTech Books cung cấp miễn phí cho bạn. 

Truy cập nó trên trực tuyến hoặc tải nó về tại https://edtechbooks.org/openedreader/oer-research-hub.

---------------------------------------------------

39. Nhóm Giáo dục Mở

Open Education Group

Khám phá trang web tại http://openedgroup.org/

Bối cảnh

Nhóm Giáo dục Mở là một nhóm nghiên cứu bao gồm các giảng viên, sinh viên hiện tại và cựu sinh viên, cùng các đồng nghiệp về Tài nguyên Giáo dục Mở (OER) nhằm mục đích trả lời các câu hỏi nghiên cứu về tác động của OER. Hầu hết các thành viên trong nhóm đều thuộc Đại học Brigham Young.

Những điểm chính

Nhóm Giáo dục Mở đã phát triển một khung nghiên cứu để nghiên cứu tác động của OER. Khung này được gọi là “COUP” và viết tắt của:

  • Cost - Chi phí (tiết kiệm)

  • Outcomes - Kết quả (học tập)

  • Use - Sử dụng (sinh viên/giáo viên)

  • Perceptions - Nhận thức (sinh viên/giáo viên)

Câu hỏi thảo luận

  1. Phần nào của COUP là quan trọng nhất đối với bạn? Sinh viên? Giáo viên? Quản lý trường học? Phụ huynh?

  2. Các giả thuyết của Trung tâm Nghiên cứu OER có liên quan như thế nào đến khung COUP của Nhóm Giáo dục Mở?

Nội dung này được EdTech Books cung cấp miễn phí cho bạn. 

Truy cập nó trên trực tuyến hoặc tải nó về tại https://edtechbooks.org/openedreader/open-education-group.

---------------------------------------------------

40. Marshall Smith, “Suy ngẫm về nghiên cứu về OER”

Marshall Smith, Ruminations on Research on OER

Đọc bài viết tại http://goo.gl/THMylq

Những điểm chính 

Những đặc điểm định nghĩa Tài nguyên Giáo dục Mở (OER) tiềm ẩn khả năng tạo ra giá trị vượt trội hoặc khác biệt so với các sản phẩm tương tự không phải OER. OER có thể tạo ra sự thay đổi mạnh mẽ, nhưng cần phải vượt qua các rào cản về mặt thể chế. Có chín lĩnh vực nghiên cứu có thể giúp OER được áp dụng rộng rãi hơn:

  • Chính sách

    • Các yếu tố tích cực và tiêu cực trong môi trường chính trị

    • Đặc điểm của các chính sách giáo dục hiện hành hạn chế hoặc tạo điều kiện thuận lợi cho việc sử dụng OER

  • Quyền tiếp cận/sử dụng

    • OER mang lại giá trị gia tăng gì?

    • Điều gì phân biệt OER với các sản phẩm khác?

    • Các điều kiện địa phương cho phép dễ dàng và hiệu quả thực hiện nguyên tắc 4R.

  • Hiệu quả

    • “Khi bối cảnh giáo dục thay đổi, bản chất và nội dung mà chúng ta kỳ vọng ở việc học tập của học sinh cũng có thể thay đổi” – cũng như khi thị trường việc làm thay đổi, khi xã hội dịch chuyển.

    • Liệu OER được tùy chỉnh phù hợp với nhu cầu địa phương có cải thiện thành tích và kết quả học tập không? 

  • Đổi mới

    • OER ít bị ràng buộc hơn, và do đó có thể “thực sự đổi mới” hơn.

    • Đổi mới theo định nghĩa là điều không thể đoán trước – chúng ta nên cởi mở với nó, đặc biệt là khi chúng ta không biết điều gì có thể xảy ra từ đó.

  • Vượt ra ngoài giáo dục chính quy

    • Sẽ rất thú vị nếu tổ chức OER theo kết quả hơn là theo lĩnh vực (ví dụ: sự khan hiếm nước, sự nóng lên toàn cầu). Điều này tương tự như ý tưởng về kết quả học tập mà chúng ta đã có.

  • Tính bền vững

    • Không nhất thiết phải duy trì bất kỳ OER cụ thể nào mãi mãi.

  • Phát triển và cải tiến

    • “Nghiên cứu để hiểu và cải thiện quy trình tạo lập, sửa đổi và sử dụng OER”

  • Triển khai

    • Quy trình đưa OER vào lớp học, trường học, quận huyện và quốc gia là gì và làm thế nào để cải thiện quy trình đó.

  • Cơ sở hạ tầng

Tài liệu tham khảo bổ sung 

https://edtechbooks.org/-Txh

Nội dung này được EdTech Books cung cấp miễn phí cho bạn. 

Truy cập nó trên trực tuyến hoặc tải nó về tại https://edtechbooks.org/openedreader/ruminations-on-research-on-oer.

 

---------------------------------------------------

Thừa nhận:

Nội dung này được dịch sang tiếng Việt từ tài liệu ‘Độc giả của Giáo dục Mở’ (An Open Education Reader) của tác giả David Wiley

https://edtechbooks.org/openedreader

Giấy phép CC BY

---------------------------------------------------

Xem thêm:

Chủ Nhật, 6 tháng 9, 2026

Độc giả của Giáo dục Mở. XI. Sách giáo khoa Mở

 

Độc giả của Giáo dục Mở. XI. Sách giáo khoa Mở

An Open Education Reader

Open Textbooks

Nội dung này được EdTech Books cung cấp miễn phí cho bạn. 

Truy cập nó trên trực tuyến hoặc tải nó về tại https://edtechbooks.org/openedreader/open_textbooks

 

---------------------------------------------------

Thừa nhận:

Nội dung này được dịch sang tiếng Việt từ tài liệu ‘Độc giả của Giáo dục Mở’ (An Open Education Reader) của tác giả David Wiley

https://edtechbooks.org/openedreader

Giấy phép CC BY

---------------------------------------------------

VỀ TRANG MỤC LỤC

---------------------------------------------------

36. Nicole Allen, “Sách giáo khoa Mở: Giải pháp toàn diện: Cách để sách giáo khoa mở là con đường dẫn đến khả năng chi trả với giá cả phải chăng”

Nicole Allen, “Open Textbooks: A Cover to Cover Solution: How Open Textbooks are the Path to Affordability”

Đọc bài viết tại https://edtechbooks.org/-VvdJ

Bối cảnh

Trung bình mỗi sinh viên chi 900USD cho sách giáo khoa mỗi năm, chiếm 26% học phí trung bình của đại học và 76% học phí trung bình của cao đẳng cộng đồng. Các Nhóm Nghiên cứu vì Lợi ích Công cộng của Sinh viên - PIRGs (Student Public Interest Research Groups) đã tiến hành nghiên cứu đột phá vào năm 2010, khảo sát 1428 sinh viên đại học trên mười trường về chi phí của mười cuốn sách giáo khoa phổ biến nhất. Các PIRGs sinh viên đưa ra một số khuyến nghị về cách giảm chi phí cho sinh viên, chủ yếu là bằng cách sử dụng sách giáo khoa mở, sinh viên có thể tiết kiệm được 80%.

Những điểm chính

Vấn đề sách giáo khoa đắt đỏ một phần xuất hiện do thiếu minh bạch trong quy trình và trách nhiệm của người dùng cuối bị các bên trung gian không liên quan cản trở. Các nhà xuất bản cung cấp thông tin sách giáo khoa cho ban quản lý hoặc giảng viên, những người thường lựa chọn dựa trên các yếu tố khác ngoài chi phí. Tuy nhiên, các luật mới, chẳng hạn như Đạo luật Cơ hội Giáo dục Đại học, hiện yêu cầu các nhà cung cấp phải công khai giá sách giáo khoa trong quá trình tiếp thị. Các chiến thuật khác bao gồm việc phát hành phiên bản mới với những thay đổi nhỏ về hình thức sau mỗi 3-4 năm, đóng gói các chương trình học thành các gói riêng lẻ thay vì bán sách giáo khoa, hoặc thực hiện "phá hoại thị trường bán lại" bằng cách bán lại những mặt hàng không có giá trị bán lại như gói đăng ký sách giáo khoa 180 ngày.

Thị trường hiện tại đang thay đổi. Sinh viên hiện có thể thuê sách giáo khoa ở cả dạng bản cứng và bản điện tử. Sách điện tử và thiết bị đọc sách điện tử cũng có sẵn, nhưng nhiều sinh viên vẫn thích sách giáo khoa truyền thống hơn. Các mô hình thay thế hiện đang nổi lên. Sách giáo khoa nguồn mở (Open-source textbook) có sẵn trực tuyến theo giấy phép nguồn mở, cung cấp quyền truy cập kỹ thuật số miễn phí, chi phí in ấn thấp và khả năng tùy chỉnh.

Các Nhóm PIRG sinh viên nhận thấy rằng các giải pháp giảm giá sách giáo khoa phải đáp ứng được nhiều sở thích khác nhau của sinh viên:

  • Sinh viên phân vân giữa sách in và sách điện tử – nghiêng về sách in hơn.

  • Kết hợp cả hai có thể là tốt nhất

  • Hầu hết sinh viên thích thuê một số sách và mua một số sách khác

  • Các lựa chọn giảm chi phí truyền thống chỉ hấp dẫn một bộ phận sinh viên, và do đó không thể giảm nhiều chi phí thị trường tổng thể.

  • Sách giáo khoa mở có thể giảm chi phí cho tất cả sinh viên và có tiềm năng bền vững lâu dài

  • Khóa học giảm chi phí tới 80% so với thị trường

  • Tính bền vững

    • Nhiều sinh viên sẽ mua sách giáo khoa bản cứng ngay cả khi có bản điện tử miễn phí

    • 76% cho biết họ sẽ ủng hộ một khoản phí nhỏ để trợ cấp cho các tác giả sách giáo khoa mở

Do đó, giải pháp phải giảm chi phí và thu hút nhiều sinh viên là hai điều mà sách giáo khoa mở có thể đạt được. Và dường như sách giáo khoa mở có thể khuyến khích các nhà xuất bản tôn trọng sinh viên với tư cách là người tiêu dùng. 

Các khuyến nghị nghiên cứu bao gồm:

  • Các nhà xuất bản nên phát triển các mô hình có thể sản xuất sách chất lượng cao, giá cả hợp lý (ví dụ: Flat World Knowledge) vì in theo yêu cầu tiết kiệm chi phí hơn.

  • Giảng viên nên sử dụng sách giáo khoa mở và các sách giáo khoa giá cả phải chăng khác khi có thể.

  • Các trường đại học và chính phủ nên đầu tư vào sách giáo khoa mở và các mô hình bền vững khác.

  • Sinh viên nên phổ biến thông tin về sách giáo khoa mở.

Câu hỏi thảo luận

  1. Sinh viên thích sách giáo khoa in thường nêu lý do là khả năng đọc/ghi chú. Làm thế nào để sách giáo khoa mở dễ đọc hơn và thuận tiện hơn cho việc ghi chú?

  2. Tại sao sinh viên lại chọn thuê một số sách của họ?

  3. Làm thế nào các tác giả có thể tăng tính hữu ích của sách giáo khoa để sinh viên có nhiều khả năng giữ lại chúng hơn?

Tài liệu tham khảo bổ sung 

Nội dung này được EdTech Books cung cấp miễn phí cho bạn. 

Truy cập nó trên trực tuyến hoặc tải nó về tại https://edtechbooks.org/openedreader/open-textbooks-a-cover-to-cover-solution-how-open-textbooks-are-the-path-to-affordability.

 

---------------------------------------------------

37. Frydenberg và Matkin, "Sách giáo khoa mở: Tại sao? Cái gì? Như thế nào? Khi nào?"

Open Textbooks: Why? What? How? When?

Đọc bài viết tại https://edtechbooks.org/-Vqgb

Bối cảnh

Các nhà giáo dục, tác giả, nhà quản trị của các tổ chức dựa trên nguồn mở, doanh nhân và các bên liên quan trong phong trào sách giáo khoa mở đã tập hợp tại Newport Beach, California vào năm 2007 để khám phá bốn câu hỏi nghiên cứu cơ bản:

  1. Tại sao chúng ta cần sách giáo khoa mở?

  2. Sách giáo khoa mở là gì (được định nghĩa như thế nào)?

  3. Sách giáo khoa mở sẽ được sản xuất và sử dụng như thế nào?

  4. Và cuối cùng, khi nào sách giáo khoa mở sẽ có đủ số lượng và chất lượng để tạo ra tác động tích cực?

Những điểm chính

  1. Tại sao cần sách giáo khoa mở? Chi phí sách giáo khoa đại học đang tăng vọt và sách giáo khoa mở là một giải pháp để làm cho việc học đại học trở nên dễ chi trả hơn. Quá trình xuất bản sách giáo khoa ở bậc phổ thông (K-12) đầy rẫy yếu tố chính trị và quan liêu, vì vậy nó không được giải quyết theo cùng một cách, mặc dù sách giáo khoa mở cũng có thể tiết kiệm tiền cho các trường phổ thông công lập. Ở các nước đang phát triển, chìa khóa là tiếp cận với các tài liệu chất lượng cao, điều mà sách giáo khoa mở cung cấp.

  2. Sách giáo khoa mở là gì (được định nghĩa như thế nào)? Cuộc thảo luận đã hé lộ một số cặp khía cạnh mới cần xem xét:

  • Giáo dục phổ thông (K-12)/Giáo dục đại học: Bối cảnh khác nhau đến mức bất kỳ cuộc thảo luận nào cũng phải được định nghĩa trong một trong hai bối cảnh này.

  • Các nước phát triển/Các nước đang phát triển: Các nước phát triển có nguồn lực trong khi các nước đang phát triển có thể dễ dàng hưởng lợi hơn từ việc tiếp cận Tài nguyên Giáo dục Mở (OER) nói chung.

  • Từ trên xuống/Từ dưới lên: Từ trên xuống – Tôi sẽ cho bạn biết điều gì tốt cho bạn/Từ dưới lên – Hãy để tôi nói cho bạn biết điều tôi muốn.

  • Khóa học/Tài liệu tham khảo: OER sẽ là một phần không thể thiếu của khóa học hay chỉ là tài liệu tham khảo bổ sung?

  • Nội dung cốt lõi/Chế độ dịch vụ: Nếu bạn xây dựng nó, họ sẽ đến, thay vì chỉ bao gồm phương pháp sư phạm.

  • Công nghệ cao/Khả năng người dùng: Công nghệ đa phương tiện phong phú có thể nâng cao trải nghiệm người dùng ở các nước phát triển nhưng lại hạn chế khả năng của người dùng ở các nước đang phát triển. 

Ngoài ra, các rào cản đối với việc sử dụng OER bao gồm chi phí ban đầu và nguồn lực duy trì, sự trì trệ, công nghệ, phân phối và khả năng tìm kiếm phát hiện, thiếu tiêu chuẩn chất lượng, sở hữu trí tuệ và quản lý quyền kỹ thuật số, cũng như các vấn đề chính trị, cần được xem xét trong bối cảnh rộng hơn của việc áp dụng OER.

  • Sách giáo khoa mở sẽ được sản xuất và sử dụng như thế nào?

    • Chất lượng: Nhiều nhóm đang cố gắng giải quyết vấn đề chất lượng bằng cách áp dụng các tiêu chuẩn, hệ thống xếp hạng, huy động cộng đồng và các bộ lọc.

    • Khả năng truy cập – về phần mềm, nó cần phải dựa trên nền tảng mở, theo mô-đun, linh hoạt và có thể sử dụng được ở các mức độ năng lực khác nhau.

    • Tính bền vững – kế hoạch bền vững là một phần quan trọng của bất kỳ dự án Tài nguyên Giáo dục Mở (OER) nào. Nếu nó không còn phù hợp hoặc khả thi về mặt tài chính trong một năm, điều đó cần được xem xét.

    • Cộng đồng và sự hội tụ – nguồn tài trợ thường đến từ các tổ chức hoặc cộng đồng để duy trì tính bền vững.

  • Và cuối cùng, khi nào sách giáo khoa mở sẽ có đủ số lượng và chất lượng để tạo ra tác động tích cực? Câu hỏi thích hợp cần đặt ra là “khi nào”, chứ không phải “liệu có hay không”. Điều quan trọng là đặt OER trong khuôn khổ hiện có của các nhà xuất bản sách giáo khoa thay vì tạo ra sự căng thẳng giữa hai nhóm. 

Các bước tiếp theo: Bên cạnh việc bổ sung kinh phí, năm hoạt động sau đây là rất cần thiết để tiến lên phía trước:

  • Xây dựng năng lực cơ sở hạ tầng bằng cách phát triển các tiêu chuẩn, công cụ hỗ trợ cho tính tương hợp (Interoperability), tài trợ cho việc tìm kiếm thông tin, tăng cường sự tham gia của các tổ chức và tiếp thị phong trào.

  • Thành lập một trung tâm thông tin hoặc điều phối mạng lưới, điều này sẽ làm giảm sự trùng lặp của nhiều thực thể cùng xây dựng các khóa học giống nhau.

  • Hình thành cộng đồng, đây là một bước quan trọng, ngay cả khi chúng tách biệt với các cơ sở, chẳng hạn như Open Education Consortium, trước đây là Open CourseWare Consortium, tách biệt với MIT.

  • Tài trợ và công khai các dự án thí điểm, bao gồm các bước thực hành tốt nhất để dễ dàng sao chép nhân bản, để những người khác có thể làm điều tương tự trong các cơ sở và cộng đồng của họ.

  • Nghiên cứu – Các quỹ có thể tập hợp các nhà thực hành để thảo luận về những lĩnh vực quan tâm lớn nhất và hợp tác nghiên cứu trong các lĩnh vực đó.

Những cải tiến nhỏ có thể được thực hiện để giúp phong trào đạt được những bước tiến đáng kể.

Câu hỏi thảo luận

  1. Làm thế nào để tính mở có thể phù hợp với mô hình sách giáo khoa độc quyền?

  2. Việc nhìn nhận OER thông qua lăng kính của các khía cạnh mới nêu trên có những lợi ích và hạn chế nào?

  3. Ba ý tưởng hàng đầu của bạn để vượt qua các rào cản trong sử dụng OER là gì?

Tài liệu bổ sung 

Nội dung này được EdTech Books cung cấp miễn phí cho bạn. 

Truy cập nó trên trực tuyến hoặc tải nó về tại https://edtechbooks.org/openedreader/open-textbooks-why-what-how-when.

 

---------------------------------------------------

Thừa nhận:

Nội dung này được dịch sang tiếng Việt từ tài liệu ‘Độc giả của Giáo dục Mở’ (An Open Education Reader) của tác giả David Wiley

https://edtechbooks.org/openedreader

Giấy phép CC BY

---------------------------------------------------

Xem thêm: