Hiển thị các bài đăng có nhãn china. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn china. Hiển thị tất cả bài đăng

Thứ Ba, 16 tháng 5, 2023

Europeana - mô hình mẫu về hệ thống liên thông, Dữ liệu Mở (Liên kết) và dữ liệu FAIR của OpenGLAM/Văn hóa Mở


https://www.europeana.eu/en

Europeana hiện có kết nối liên thông với hơn 3.700 cơ sở là các Phòng trưng bày, Thư viện, Kho lưu trữ, Viện bảo tàng - GLAM (Galleries, Libraries, Archives, Museums) khắp châu Âu, cung cấp khoảng 58 triệu tài nguyên/dữ liệu số, được quản lý theo các Nguyên tắc Dữ liệu Tìm thấy được, Truy cập được, Tương hợp được, Sử dụng lại được - FAIR (Findable, Accessible, Interoperable, Reusable), Dữ liệu Mở và Dữ liệu Mở Liên kết (Linked Open Data) trong lĩnh vực OpenGLAM/Văn hóa Mở. Tham khảo các thông tin về Europeana đã được dịch sang tiếng Việt và/hoặc bằng tiếng Việt bên dưới đây:

  1. Europeana: ‘Chiến lược 2020-2025: Trao quyền thay đổi kỹ thuật số’ - bản dịch sang tiếng Việt

  2. Europeana và các nguyên tắc FAIR cho dữ liệu nghiên cứu

  3. ‘Các rào cản đối với văn hóa mở là gì?’ - bản dịch sang tiếng Việt

  4. Công nghệ mở trong các cơ sở văn hóa và giáo dục

  5. Mô hình dữ liệu của Europeana

  6. Thỏa thuận Trao đổi Dữ liệu (của Europeana)

  7. Lựa chọn tuyên bố quyền của Europeana

  8. Xác định bản quyền trong các hạng mục của bộ sưu tập

  9. Công cụ phạm vi công cộng - tự động tính các tác phẩm trong phạm vi công cộng

  10. Lưu giữ các tác phẩm số hóa trong phạm vi công cộng: chỉ thị bản quyền biến nó thành hiện thực như thế nào

  11. ‘Hiến chương Phạm vi Công cộng của Europeana’ - bản dịch sang tiếng Việt

  12. Chuyển đổi số của ngành văn hóa trong bối cảnh hội nhập quốc tế và cách mạng công nghiệp lần thứ tư và khía cạnh chuyển thể các tác phẩm và di sản văn hóa đang nằm trong phạm vi công cộng sang dạng kỹ thuật số

  13. ‘Người giải thích: Chỉ thị DSM sẽ thay đổi những gì cho các cơ sở di sản văn hóa?’ - bản dịch sang tiếng Việt

  14. ‘Dân chủ hóa viện bảo tàng Rijksmuseum’ - bản dịch sang tiếng Việt

  15. ‘Chính sách phương tiện của Europeana‘ - bản dịch sang tiếng Việt

  16. ‘Các URI trong ngữ cảnh Mô hình Dữ liệu của Europeana v1.0’ - bản dịch sang tiếng Việt

  17. ‘Chiến lược nội dung của Europeana’ - bản dịch sang tiếng Việt

  18. ‘Hướng dẫn xuất bản của Europeana v1.7’ - bản dịch sang tiếng Việt

  19. ‘Khung xuất bản của Europeana V1.1’ - bản dịch sang tiếng Việt

  20. ‘Hướng dẫn chia sẻ nội dung của Europeana cho những người chuyên nghiệp’ - bản dịch sang tiếng Việt

  21. Hướng dẫn sử dụng siêu dữ liệu (của Europeana)

  22. Các hướng dẫn sử dụng phạm vi công cộng (của Europeana)

  23. ‘Khung cấp phép của Europeana’ - bản dịch sang tiếng Việt

  24. ‘Tác động của Truy cập Mở lên các Phòng trưng bày, Thư viện, Viện bảo tàng, và Kho lưu trữ’ - bản dịch sang tiếng Việt

Xem thêm:

Lưu ý: Danh sách này sẽ tiếp tục được cập nhật khi có các bài liên quan

Blogger: Lê Trung Nghĩa

letrungnghia.foss@gmail.com

Thứ Ba, 20 tháng 6, 2017

Cổng Truy cập Mở toàn cầu: Trung Quốc


Global Open Access Portal: China


Phong trào truy cập mở đang giành được xung lượng ở Trung Quốc. Nhận thức được kết hợp với kết quả đầu ra hàn lâm tăng theo cấp số mũ dẫn tới sự tạo thuận lợi cho truy cập mở. Thư viện Khoa học Quốc gia của Viện hàn lâm Khoa học Trung Quốc là một trong những người áp dụng sớm phong trào truy cập mở ở Trung Quốc. Vào năm 2002, Trung Quốc đã thiệt lập kế hoạch khoa học quốc gia mới để thúc đẩy triển khai chiến lược quốc gia trong giáo dục và khoa học và cải thiện khả năng có tính đổi mới của khoa học và công nghệ quốc gia. Mục tiêu của chiến lược này là để cải thiện sự truy cập tới các tài nguyên cũng như hạ tầng khoa học số (digital science). Viện Hàn lâm Khoa học Trung Quốc - CAS (Chinese Academy of Science), và Quỹ Khoa học Tự nhiên Quốc gia Trung Quốc – NSFC (National Natural Science Foundation of China), đã ký Tuyên bố về Truy cập Mở tới Tri thức trong các Khoa học và Nhân văn trong lễ kỷ niệm lần thứ 30 hợp tác giữa CAS và Max Planck Society vào ngày 24/05/2015 ở Bắc Kinh cho sự hợp tác quốc tế. Theo Thư mục các Kho Truy cập Mở - OpenDOAR (Directory of Open Access Repositories), hiện có 40 kho Truy cập Mở ở Trung Quốc và 57 tạp chí truy cập mở được xuất bản ở Trung Quốc được đánh chỉ mục trong Thư mục các Tạp chí Truy cập Mở - DOAJ (Directory of Open Access Journals ). Các chính sách và sáng kiến đã chủ động tích cực ở Trung Quốc về bảo tồn dữ liệu mở và phát triển nội dung. Để khẳng định sự tuân thủ truy cập mở, vào tháng 10/2010, Trung Quốc đã tổ chức Hội nghị Truy cập Mở Berlin 8, lần đầu được tổ chức bên ngoài châu Âu. Viện Hàn lâm Khoa học Trung Quốc là cộng tác của Liên đoàn Quốc tế các Kho Truy cập Mở - COAR (International Confederation of Open Access Repositories) đã được khởi xướng ở Ghent vào tháng 10/2009, trong Tuần lễ Truy cập Mở.
Môi trường xúc tác
Giới hàn lâm và các nhà khoa học Trung Quốc được cung cấp các kênh để gợi ý những thay đổi chính sách được yêu cầu. Vài đề xuất đang được chính phủ trung ương cân nhắc để hình thành các chính sách mới vì sự tiến bộ khoa học. Trong số 5 yếu tố chính trong chuyển đổi hướng tới chiến lược mới là các cơ sở dữ liệu khoa học, thông tin ở dạng các tạp chí và các xuất bản phẩm khác. Vào năm 2010, Thượng Hải đã phát triển kế hoạch thông tin hóa giáo dục trong giai đoạn 2010-2015. Kế hoạch đó đã đề xuất nghiên cứu các website học tập, các nền tảng học tập và các tài nguyên học tập đa dạng khác nhau để đưa ra việc học tập trên trực tuyến, tìm kiếm thông minh, dịch vụ học tập cá nhân, các hồ sơ học tập suốt đời. Tới năm 2015, thư viện các tài nguyên giáo dục suốt đời sẽ được thành lập ở Thượng Hải với kho khổng lồ các dữ liệu. Kế hoạch đó cũng bao gồm dự án ba lô học đường điện tử (e-schoolbag), dự án xây dựng phòng thí nghiệm đổi mới, cổng toàn diện để cải thiện dự án giáo dục tại chức và dự án nền tảng dịch vụ học tập trên trực tuyến. Sự tiến bộ nhanh chóng trong áp dụng CNTT ở Trung Quốc và sự kích thích tích cực tới các triển khai CNTT-TT chắc chắn là chất xúc tác chính.
Các rào cản tiềm tàng
Dù truy cập mở đã giành được tính phổ biến trong nghề thư viện, là khái niệm khá mới giữa các cộng đồng hàn lâm. Nếu truy cập mở được những người đóng góp tự nguyện vận hành chủ yếu, thì tính bền vững là vấn đề lớn. Các nguồn tài chính và sự đầu tư của chính phủ về khía cạnh truy cập mở là hạn chế. Tạo nội dung bằng tiếng Anh là thách thức. Các tiêu chuẩn trao đổi thông tin cần phải được tập trung vào để tạo ra các nền tảng có tính tương hợp. Có nhu cầu thiết lập chính sách quốc gia về truy cập mở.
Chỉ thị cấp vốn
Bộ Khoa học và Công nghệ (ST) Trung Quốc đã lên kế hoạch và thực thi chiến lược phát triển vì các tạp chí ST chất lượng cao để cải thiện năng lực cạnh tranh quốc tế của các tạp chí Trung Quốc, xây dựng nền tảng hiệu năng cao cho xuất bản và trao đổi thông tin đối với các tạp chí ST. Bộ đang đóng vai trò trong việc tiếp sinh lực cho Trung Quốc thông qua khoa học, giáo dục và đổi mới khoa học thông qua việc hỗ trợ cấp vốn và chiến lược. Bộ đã bắt đầu Chiến lược vì các Tạp chí ST Chất lượng Cao của Trung Quốc vào đầu năm 2005. Nó cũng đã khởi xướng một dự án hạ tầng ST chất lượng cao quốc gia cho Hệ thống Thư viện & Thông tin ST vào năm 2006.
Nghị đinh về thư viện đại học (sửa đổi bổ sung) (Bộ Giáo dục [2002]3) rõ ràng đã yêu cầu rằng một trong các nhiệm vụ chính của thư viện đại học là giáo dục Năng lực Phương tiện và Thông tin, để giúp người sử dụng cải thiện nhận thức về thông tin của họ và khả năng giành được và sử dụng các tài nguyên thông tin.
Chiến lược Phát triển tin học hóa Nhà nước (2006-2020) là nơi có mục tiêu cung cấp hạ tầng thông tin rộng khắp quốc gia; cải thiện năng lực áp dụng CNTT trong dân chúng. Viện Thông tin Khoa học và Kỹ thuật Trung Quốc – ISTIC (Institute of Scientific and Technical Information of China) với vốn cấp từ Chương trình Thông tin cho Tất cả mọi người (IFAP) của UNESCO đã tiến hành nghiên cứu về năng lực thông tin ở Trung Quốc.
Kế hoạch 5 năm lần thứ 11 gồm các chỉ thị về tạo nội dung số và cung cấp sự truy cập tới nó trong Dự án Xuất bản Lai Số Quốc gia (National Digital Hybrid Publish Project) hỗ trợ các tiêu chuẩn, công nghệ phổ biến, quản lý tài nguyên, xuất bản đa kênh, công nghệ xuất bản số, công nghệ dịch vụ công, và một loạt các thiết bị và mẫu dạng của công nghệ truy cập nội dung.
Tới tháng 2/2014, ROARMAP đăng ký 4 chính sách truy cập mở từ Trung Quốc, 2 chỉ thị cấp cơ sở và 2 chỉ chị của nhà cấp vốn. Các chỉ thị của các nhà cấp vốn đã được Viện Hàn lâm Khoa học Trung Quốc (CAS) và Quỹ Khoa học Tự nhiên Quốc gia Trung Quốc (NSFC) thiết lập.
Tiến bộ về Truy cập Mở: các bước lớn
Vào năm 2012, Hội nghị Đổi mới Quốc gia đã công bố rằng tất cả các thông tin khoa học được tạo ra bằng tiền nhà nước sẽ là truy cập mở tới toàn bộ xã hội.
Vào năm 2013, Thư viện Khoa học và Công nghệ Quốc gia (NSTL), nhân danh MoST, chính thức ký Bản ghi nhớ ra nhập nhóm xuất bản truy cập mở vật lý năng lượng cao (HEP), SCOAP 3.
Các hoạt động có liên quan tới truy cập mở trong quá khứ và tương lai
  • 18-19/11/2014: Hackathon về Dữ liệu Mở trong Nông nghiệp; Viện hàn lâm Khoa học Nông nghiệp Trung Quốc, Trung Quốc.
  • 12-13/3/2014: Hội nghị quốc tế lần đầu về Truy cập Mở được tổ chức ở Bắc Kinh, Trung Quốc, "Khóa huấn luyện chung của Trung Quốc - Đức về Xuất bản Truy cập Mở". Khóa huấn luyện này đã được Trung tâm Khoa học Trung Quốc - Đức hỗ trợ, được Thư viện Khoa học Quốc gia của Viện hàn lâm Khoa học Trung Quốc (NSL, CAS) và Trung tâm Thông tin Leibniz về Khoa học Đời sống (ZB MED), đồng tổ chức để triệu gọi đại diện các tạp chí Trung Quốc bởi STM Journals Society CAS.
  • 2014: Viện hàn lâm Khoa học Trung Quốc đồng tổ chức Họp Thường niên của Hội đồng Nghiên cứu Toàn cầu lần thứ 3.
  • Tập huấn trong Ngày Truy cập Mở của BioMed Central; 21/10/2014, Thượng Hải, Trung Quốc.
  • Tuần lễ Truy cập Mở 2013 ở Trung Quốc; 21-23/10/2013, Bắc Kinh, Trung Quốc.
  • Ngày Xuất bản Truy cập Mở Trung Quốc (hội nghị) được Thư viện Khoa học Quốc gia, Viện hàn lâm Khoa học Trung Quốc tổ chức; 24/10/2012, Bắc Kinh, TQuốc.
  • Hội nghị Quốc tế về Hợp tác và Thúc đẩy các Tài nguyên Thông tin trong Khoa học và Công nghệ (COINFO) - Đổi mới và Chia sẻ mở có tính Phối hợp, 11-13/11/2011, Hàng Châu, Trung Quốc.
  • Chương trình Inter Academy Panel Program về Thúc đẩy Truy cập tới và Sử dụng các Tài nguyên và Hạ tầng Tri thức Số: Tập trung vào các Quốc gia với các nền kinh tế đang phát triển và trong thời kỳ chuyển đổi quá độ, 28-30/04/2008, Thượng Hải, Trung Quốc.
  • Mở và Tự do: Doanh nghiệp Mới trong Kỷ nguyên Thông tin, 10/01/2007, Đài Loan, Trung Quốc.
  • Hội nghị Quốc tế về các Chính sách và Chiến lược cho Truy cập Mở tới Thông tin Khoa học, 22-24/06/2005, Bắc Kinh, Trung Quốc.
  • Hội nghị Quốc tế các Thư viện Số châu Á. (ICADL). Đài Loan 1999 và Thượng Hải 2004.
Các sự kiện liên quan tới Khoa học Mở
Trong quá trình hội nghị, cộng đồng khí hậu thế giới đã rà soát lại tình trạng khoa học, để ưu tiên các kế hoạch nghiên cứu quốc tế và khởi xướng các cộng tác mới. Hội nghị Khoa học Mở đã cam kết kết nạp rộng hơn các nhà khoa học làm việc trong lĩnh vực quan trọng này.
Các mục tiêu của Hội nghị Khoa học Mở CLIVAR từng là để:
  • Rà soát lại sự tiến bộ hướng tới hiểu biết được nâng cao về tính năng động, sự tương tác, và khả năng dự đoán của hệ thống không khí biển đi cùng
  • Định hình các ý tưởng để đáp ứng các thách thức khoa học khí hậu và đại dương đang nổi lên
  • Cam kết với thế hệ tương lai của các nhà khoa học khí hậu
  • Xác định các vấn đề chính trong nghiên cứu khí hậu và các bên tham gia đóng góp chính
  • Phát triển và tăng cường các cộng tác giữa các quốc gia, xuyên khắp các nghành nghề và các nhóm tuổi và thúc đẩy các nghiên cứu có tính tích hợp
Danh sách các xuất bản phẩm
Nội dung của trang này sẵn sàng theo giấy phép CC-BY-SA IGO 3.0.
Open access movement is gaining momentum in China. Awareness combined with exponential academic output leads to open access facilitation. National Science Library of Chinese Academy of Sciences is one of the early adapters of open access movement in China. In 2002 China established a new national science plan to promote the implementation of a national strategy in education and science and enhance the innovative ability of science and technology of the country. The aim of this strategy is to enhance open access to digital scientific resources as well as infrastructure. Chinese Academy of Sciences (CAS), and National Natural Science Foundation of China (NSFC), signed the Declaration on Open Access to Knowledge in the Sciences and Humanities at the celebrations of the 30-year cooperation between CAS and Max Planck Society on May 24, 2005 in Beijing for international co-operation. According to the Directory of Open Access Repositories (OpenDOAR), there are currently 40 Open Access repositories in China and 57 OA journals published in China which are indexed in the Directory of Open Access Journals (DOAJ). The policies and initiatives have been proactive in China for open data preservation and content development. To affirm open access compliance, in October, 2010 China organized Berlin 8 Open Access Conference held for the first time outside Europe. Chinese Academy of Sciences is a collaborator of the International Confederation of Open Access Repositories (COAR) was launched in Ghent in October 2009, during Open Access Week.

Enabling Environment

Chinese academia and scientists are provided channels to suggest policy changes as required. Several proposals are being considered by the central government to formulate new policies for scientific advancement. Among the five major elements in the transformation towards a new strategy are scientific databases, information in the form of journals and other publications. In 2010, Shanghai developed education informatization plan during 2010-2015. The plan proposed the integration of various learning website, learning platforms and learning resources to provide online learning, the intelligent searching, individual learning service, lifelong learning profiles. By 2015, a lifelong education resource library will be established in Shanghai with a huge store of data. The plan also includes e‐schoolbag project, innovation laboratory construction project, comprehensive portal to enhance vocational education project and lifelong learning service platform project. Rapid progress in IT adaptation in China and active fillip to ICT implementations is certainly a major enabler.

Potential Barriers

Although OA has gained popularity in the library profession, it is a relatively new concept among scholarly communities. If OA is mainly operated by voluntary contributors, sustainability is a big concern. Financial resources and the government investment with respect to OA are limited. Content creation in English is a challenge. Information exchange standards need to be focused upon to create platforms for interoperability. There is a need to establish a national OA policy.

Funding Mandate

The Ministry of Science and Technology (ST) of China has planned and executed a development strategy for high-quality ST journals in order to advance the international competitive capacity of China's journals, build a high performance platform for publication and information exchange for ST journals. The ministry is playing a role in invigorating China through science, education and scientific innovation through funding and strategy support. Ministry started the Strategy for China's High-Quality ST Journals at the beginning of 2005. It also launched one national high-quality ST infrastructure project for ST Library & Information System in 2006.
Regulation of college library (amendments) (the Ministry of Education [2002]3) explicitly required that one of the main task of college library is the education of Media and Information Literacy, to help the user improve their information awareness and the ability to acquire and utilize the information resources.
State informatization Development Strategy (2006-2020) is in place with a goal to provide information infrastructure nationwide; enhancing the capability of applying the information technology among the public. Institute of Scientific and Technical Information of China (ISTIC) with funding from UNESCO’s Information for All Programme (IFAP) conducted research on information literacy in China.
National Eleventh Five‐Year Plan includes mandates for creation of digital content and providing access to it within the National Digital Hybrid Publish Project supporting standards, common technology, resource management, multi‐channel publishing, digital publishing technology, public service technology, a variety of devices and forms of content access technology.
As of Feb 2014, ROARMAP registers four OA policies from China, two institutional and two funder mandates. These funder mandates have been established by the Chinese Academy of Sciences (CAS) and the National Natural Sciences Foundation of China (NSFC).
Open Access Progress: Big Steps
In 2012, the National Innovation Congress declared that all scientific information created with public funding should be openly accessible to the whole society.
In 2013, the National Science and Technology Library (NSTL), on behalf of MoST, officially signed the Memorandum to join the high energy physics (HEP) OA publishing consortium, SCOAP 3

Past and Future OA Related Activities

  • 18-19 November 2014: Agricultural Open Data Hackathon; Chinese Academy of Agricultural Sciences, China
  • 12-13 March 2014: The first international Open Access publishing conference held in Beijing, China "Sino-German Training Workshop on Open Access Publishing". This workshop was supported by Sino-German Science Center, organized by National Science Library of Chinese Academy of Sciences (NSL, CAS) and Leibniz Information Center for Life Sciences (ZB MED), co-organized for convene Chinese journals representatives by STM Journals Society CAS.
  • 2014: The Chinese Academy of Sciences co-hosted the third Global Research Council Annual Meeting. 
  • BioMed Central Open Access Day workshop21 Oct 2014, Shanghai, China.
  • Open Access Week 2013 in China21-23 Oct 2013, Beijing, China.
  • China Open Access Publishing Day (conference) organized by National Science Library, Chinese Academy of Sciences; 24 Oct 2012, Beijing, China.
  • The International Conference on Cooperation and Promotion of Information Resources in Science and Technology (COINFO) - Coordinative Innovation and Open SharingNovember 11-13, 2011, Hangzhou, China
  • Inter Academy Panel Program on Promoting Access to and Use of Digital Knowledge Resources and Infrastructure: Focus on Countries with Developing and Transitional Economies, April 28-30, 2008, Shanghai, China
  • Open and Free: New Enterprise in The Information Age, January 10, 2007, Taipei, China
  • International Conference on Policies and Strategies for Open Access to Scientific Information ,June 22-24, 2005,Beijing, China
  • International Conference of Asian Digital Libraries. (ICADL). Taipei 1999 and Shangai 2004

Open Science Related Events

18-25 September, 2016: CLIVAR Open Science Conference
During the conference, the international climate community reviewed the state of the science, to prioritize international research plans and to initiate new collaborations.The Open Science Conference engaged the wider collection of scientists who work in this important area. 
The objectives of the CLIVAR Open Science Conference were to:
  • Review progress toward improved understanding of the dynamics, the interaction, and the predictability of the coupled ocean-atmosphere system
  • Shape ideas to meet emerging ocean and climate science challenges
  • Engage with the future generation of climate scientists
  • Identify key climate research and stakeholder issues
  • Develop and strengthen collaborations across nations, disciplines and age groups and promote integrative studies

List of Publications

The contentment of this page is available under CC-BY-SA IGO 3.0.
Dịch: Lê Trung Nghĩa

Thứ Hai, 23 tháng 2, 2015

Nói cho Lenovo: hãy tôn trọng quyền tự do của người sử dụng và ngăn chặn Superfish trong tương lai



Tell Lenovo: respect user freedom and prevent future Superfishes
by Zak Rogoff — Published on Feb 20, 2015 03:55 PM
Bài được đưa lên Internet ngày: 20/02/2015
Lời người dịch: Nhân việc “Các chuyên gia về an toàn đã phát hiện một chỗ bị tổn thương đe dọa cao trong phần mềm được cài đặt sẵn trên một số máy tính Windows do Lenovo sản xuất trong tháng 01/2015”, Quỹ Phần mềm Tự do đã lên tiếng phản đối, trong đó có đoạn mà rất đáng chú ý sau: “Các chỗ bị tổn thương về an toàn mức cao gần đây trong PMTD, như HeartbleedPOODLE, đã được tạo ra khi các lập trình viên có ý định tốt đã mắc các sai lầm mà đã khó để dò tìm ra. Nhưng điều đó là khác - Lenovo và Superfish đã gây ra một lỗ hổng về an toàn khổng lồ vì lợi ích của động cơ tạo doanh thu cho quảng cáo”. Đáng tiếc là ở Việt Nam ít người phân biệt được điều này, hoặc cũng có thể, nhiều người thích xuyên tạc điều này.

Các chuyên gia về an toàn đã phát hiện một chỗ bị tổn thương đe dọa cao trong phần mềm được cài đặt sẵn trên một số máy tính Windows do Lenovo sản xuất trong tháng 01/2015. Sự cẩu thả cực kỳ ở phía Lenovo và việc lập trình vô lương tâm của đối tác phần mềm quảng cáo Superfish của nó dường như đã gây ra chỗ bị tổn thương đó.

Điều cơ bản của vấn đề là một chương trình của Superfish được thiết kế để tiêm vào các quảng cáo trong trình duyệt web của người sử dụng. Điều đó đang gia tăng, mà nó ngày một tệ hơn. Superfish cũng cài đặt một chứng thực mà chặn giao thông Web và đánh què khả năng của máy tính sử dụng HTTPS để kiểm tra hợp lệ xác thực các website. Điều này để lại một cửa hậu cho những kẻ tấn công sử dụng các phiên bản giả mạo của các site đáng ra là có an toàn - giống như các website ngân hàng - để ăn cắp thông tin cá nhân. Bạn có thể đọc được nhiều hơn về chỗ bị tổn thương này ở Ars Technica.

Bất kể khi nào sử dụng các phần mềm sở hữu độc quyền như Windows hoặc Superfish, đúng, có thể tin, an toàn có thể xác minh luôn không đạt được. Vì mã sở hữu độc quyền không thể thanh tra được một cách công khai, không có cách gì để kiểm tra hợp lệ an toàn của nó được. Những người sử dụng phải tin rằng mã đó là an toàn và các công việc như được quảng cáo. Vì mã sở hữu độc quyền chỉ có thể được sửa đổi bởi các lập trình viên mà yêu sách để sở hữu nó, những người sử dụng bất lực phải chọn cách trong đó các lỗi về an toàn được sửa. Với các phần mềm sở hữu độc quyền, an toàn của người sử dụng là đứng sau sự kiểm soát của lập trình viên.

Các chỗ bị tổn thương về an toàn mức cao gần đây trong PMTD, như HeartbleedPOODLE, đã được tạo ra khi các lập trình viên có ý định tốt đã mắc các sai lầm mà đã khó để dò tìm ra. Nhưng điều đó là khác - Lenovo và Superfish đã gây ra một lỗ hổng về an toàn khổng lồ vì lợi ích của động cơ tạo doanh thu cho quảng cáo.

Các công ty đó đã chỉ ra sự coi thường trắng trợn đối với lòng tin của công chúng mà họ sẽ phải làm việc cật lực để khôi phục nó. Lenovo nên làm việc với bên thứ 3 cam kết vì lợi ích của công chúng - như Quỹ Phần mềm Tự do - để tạo ra và bán các máy tính xách tay được chứng thực tôn trọng sự tự do của người sử dụng và đi với một hệ điều hành tự do được cài đặt sẵn. Hãy ra nhập với chúng tôi trong việc kêu gọi vì sự thay đổi này trên các mạng xã hội (xem khuyến cáo của chúng tôi về các nền tảng phương tiện xã hội).

Security experts have discovered a highly threatening vulnerability in software preinstalled on some Windows computers manufactured by Lenovo through January 2015. Extreme negligence on the part of Lenovo and unscrupulous programming by its adware partner Superfish seem to have caused the vulnerability.
The basis of the problem is a program by Superfish that is designed to interject advertisements into users' Web browsing. That's irritating, but it gets worse. Superfish also installs a certificate that intercepts Web traffic and cripples the host computer's ability to use HTTPS to validate the authenticity of Web sites. This leaves an open door for attackers to use fake versions of sites that should be secure -- like bank Web sites -- to steal personal information. You can read more about the vulnerability at Ars Technica.
Whenever you use proprietary software like Windows or Superfish, true, trustable, verifiable security is always out of reach. Because proprietary code can't be publicly inspected, there's no way to validate its security. Users have to trust that the code is safe and works as advertised. Since proprietary code can only be modified by the developers who claim to own it, users are powerless to choose the manner in which security bugs are fixed. With proprietary software, user security is secondary to developer control.
Recent high-profile security vulnerabilities in free software, like Heartbleed and POODLE, were created when well-intentioned developers made mistakes that were difficult to detect. But this is different -- Lenovo and Superfish caused a massive security breach for the sake of expedience in generating ad revenue.
These companies have shown such blatant disregard for the public trust that they will have to work hard to restore it. Lenovo should work with a third party committed to the public interest -- like the Free Software Foundation -- to create and sell laptops that are certified to respect user freedom and come with a preinstalled free operating system. Join us in calling for this change on social media (see our recommendations for social media platforms).
Dịch: Lê Trung Nghĩa

Thứ Tư, 4 tháng 9, 2013

Cuối cùng, đây có phải là Năm Nguồn Mở … tại Trung Quốc?


Is This Finally the Year of Open Source...in China?
By Glyn Moody, Published 10:43, 07 August 13
Bài được đưa lên Internet ngày: 07/08/2013
Lời người dịch: Vào các ngày 28-29/06, Hội nghị Thượng đỉnh Thế giới Nguồn Mở - Nguồn Mở Trung Quốc lần thứ 8, do Liên đoàn Thúc đẩy PMNM Trung Quốc (COPU) bảo trợ, đã diễn ra ở Đại học Beihang ở Bắc Kinh. Chủ đề chính là UbuntuKylin và thế giới di động nguồn mở. “UbuntuKylin là câu chuyện của hội nghị. Dự án UbuntuKylin là một nỗ lực cộng tác giữa CSIP, Canonical và NUDT. Ban đầu được phát hành vào tháng 04/2013, UbuntuKylin là một phát hành Ubuntu đặc biệt mà sẽ tuân theo chu kỳ phát hành 6 tháng của Ubuntu”. Đây là các chủ đề chính của Hội nghị: (1) Xây dựng nền tảng mở như thế nào; (2) Làm thế nào để phát triển nền công nghiệp Internet di động đang nổi lên; (3) Mở rộng các ứng dụng Internet di động. Ngoài ra, còn có các diễn đàn nhỏ khác, tập trung vào công nghệ và ứng dụng mới của PMNM như (a) Sự phát triển của PMNM và di động; (b) PMNM và điện toán đám mây và (c) Hệ sinh thái PMNM; (d) Phần cứng nguồn mở. Xem thêm: Trung Quốc khai thác Ubuntu cho hệ điều hành quốc gia.
Một trong những chuyện cười có từ lâu trong thế giới phần mềm tự do là năm nay cuối cùng sẽ là năm của nguồn mở trên máy tính để bàn - giống hệt nó từng là năm ngoái, và năm kia. Nhờ sự nổi lên đáng kinh ngạc của Android, mọi người bây giờ nhận thức được rằng máy tính để bàn là nền tảng của thập kỷ trước, và rằng di động - các điện thoại di động và máy tính bảng - là của tương lai. Nhưng tôi muốn tranh luận rằng có thứ gì đó thậm chí còn quan trọng hơn chúng, và sự phát triển nguồn mở đang lan rộng ở Trung Quốc.
Vì sao ở đây. Trung quốc là nền kinh tế số 2 thế giới, và sẽ trở thành số 1 nếu các xu thế hiện nay tiếp tục. Đây là xưởng số của thế giới, nơi mà các thiết bị điện tử tiêu dùng hàng đầu được làm ra. Và, cuối cùng nhưng không phải tất cả, có một số công ty như HuaweiZTE có khả năng trở thành Apple và Samsung mới một lúc nào đó trong tương lai gần. Đối với tất cả những lý do đó, điều cấp bách rầng nguồn mở trở thành chuẩn ở Trung Quốc, nó sau đó sẽ đẩy tới phần còn lại của thế giới vì sự ích kỷ thuần túy, các lý do kinh doanh (và không sai với điều đó).
Điều đó đã dẫn tôi tới việc xem xét những dấu hiệu cho năm nguồn mở ở Trung Quốc. Điều đó là khó vì thực tế là Trung Quốc thực sự là một thế giới khác, phần lớn vì hệ thống ngôn ngữ và chữ viết của nó là khác với phương Tây. Vì thế tôi phải lấy những gì tôi có, giống như đi theo thông cáo báo chí gây ngạc nhiên từ Canonical:
Vào các ngày 28-29/06, Hội nghị Thượng đỉnh Thế giới Nguồn Mở - Nguồn Mở Trung Quốc lần thứ 8, do Liên đoàn Thúc đẩy PMNM Trung Quốc (COPU) bảo trợ, đã diễn ra ở Đại học Beihang ở Bắc Kinh.
UbuntuKylin là câu chuyện của hội nghị. Dự án UbuntuKylin là một nỗ lực cộng tác giữa CSIP, Canonical và NUDT. Ban đầu được phát hành vào tháng 04/2013, UbuntuKylin là một phát hành Ubuntu đặc biệt mà sẽ tuân theo chu kỳ phát hành 6 tháng của Ubuntu.
UbuntuKylin từng được trao giải Dự án Nguồn Mở Số 1 Trung Quốc cho năm nay.
Nếu, như tôi được biết, bạn sẽ tò mò thích thú với ý tưởng về một phiên bản Ubuntu Trung Quốc, thì bạn có thể tìm nhiều về UbuntuKylin, bao gồm cả các ảnh chụp màn hình, trên site này (bằng tiếng Anh).
Tiếng Anh - là một phiên bản phái sinh của phiên bản chính thức theo Ubuntu, mục tiêu của nó là để tạo ra một phiên bản Ubuntu, phù hợp hơn với những người sử dụng tiếng Trung. Dự án được bản địa hóa cho môi trường để bàn và phát triển các phần mềm ứng dụng theo các yêu cầu đặc thù để đáp ứng đa số những người sử dụng Trung Quốc để cung cấp kinh nghiệm tiếng Trung đúng.
Nghiên cứu UbuntuKylin có được sự ủng hộ của Phòng thí nghiệm Chung CCN về đổi mới nguồn mở, và sự hỗ trợ từ những người nhiệt tình nguồn mở ở trong và ngoài nước. Tất cả những người đóng góp đều nằm trong danh sách các đội lập trình viên của UbuntuKylin; Tất cả mã nguồn mở đều nằm trong nền tảng phát triển Ubuntu, mà bất kỳ ai cũng có thể tải về và kiểm tra nó.
Chắc chắn điều đó giống như việc Ubuntu đang bắt đầu tạo dấu ấn ở Trung Quốc. Thông cáo báo chí cho Hội nghị Thượng đỉnh Thế giới Nguồn Mở Trung Quốc Nguồn Mở gồm một số lời bóng gió về những gì đang diễn ra ở đó:
Các chủ đề
1. Xây dựng nền tảng mở như thế nào
Nền tảng mở đang thúc đẩy sự phát triển của nền công nghiệp máy đầu cuối Internet đang nổi lên (bao gồm cả các điện thoại thông minh, các máy tính bảng, TV thông minh, …), và thúc đẩy sự tăng trưởng của điện toán đám mây, mạng xã hội, Weixin/Webchat, và các nghiệp vụ mới khác của Internet. Chúng tôi sẽ thảo luận về sự cạnh tranh giữa nền tảng mở và nền tảng đóng, nghiên cứu rủi ro của việc dựa vào quá mức vào một nền tảng và quan sát sự nổi lên của một số nền tảng mở đang nổi lên.
2. Làm thế nào để phát triển nền công nghiệp Internet di động đang nổi lên
Chúng ta sẽ chú ý nhiều tới việc phát triển các cách thức của nền công nghiệp đang nổi lên, thảo luận sự biến đổi từ máy tính cá nhân (PC) truyền thống tới nền công nghiệp Internet di động đang nổi lên, nghiên cứu về các phương pháp sản xuất được thay đổi, và giao tiếp với các vấn đề sau: sự trỗi dạy của Trung Quốc, sự cạnh tranh của các sản phẩm dòng chính, kinh nghiệm của người sử dụng và các mô hình phát triển, và xây dựng hệ sinh thái.
3. Mở rộng các ứng dụng Internet di động
Chúng ta sẽ tập trung vào các ứng dụng địa phương (như “kho ứng dụng”), các ứng dụng mạng thông qua trình duyệt hoặc liên nền tảng, mở rộng tính tương thích của các ứng dụng và sự tích hợp của 3 màn hình (TV, PC và điện thoại cầm tay)
Các diễn đàn con
Tập trung vào công nghệ và ứng dụng mới của PMNM
Sự phát triển của PMNM và di động (nửa ngày): Từ hệ điều hành cho tới các công cụ phát triển, cách mà PMNM cải thiện tính hiệu quả của sự phát triển ứng dụng di động và cũng như mang lại những ý tưởng mới cho nó?
PMNM và điện toán đám mây (nửa ngày): Làm thế nào để xây dựng ứng dụng hiệu năng cao và cung cấp các giải pháp điện toán đám mấy hoàn chỉnh từ PMNM?
Hệ sinh thái PMNM (nửa ngày): các cộng đồng PMNM, các nền tảng mở và các ứng dụng Internet khác nhau.
Phần cứng nguồn mở (nửa ngày): Làm thế nào để sử dụng phần cứng nguồn mở để bắt đầu việc triển khai và thay đổi Internet di động.
Như điều đó làm rõ ràng một cách thừa thãi, chủ đề trọng tâm của hội nghị là di động - các nhà sản xuất Trung Quốc biết cũng như bất kỳ ai rằng đây là nơi mà sự tăng trưởng sẽ có trong thị trường số. Điều đó giải thích vì sao thật phấn khích để thấy quá nhiều sự quan tâm trong nguồn mở ở lĩnh vực này, như biểu thị các bài nói ở Hội nghị Thượng đỉnh Thế giới Nguồn Mở Trung Quốc Nguồn Mở lần thứ 8. Hãy hy vọng nó chuyển thành khá nhiều hàng hóa, các sản phẩm dựa vào nguồn mở đi ra từ Trung Quốc - có thể thậm chí ít hơn cho máy tính để bàn...
One of the long-running jokes in the free software world is that this year will finally be the year of open source on the desktop - just like it was last year, and the year before that. Thanks to the astounding rise of Android, people now realise that the desktop is last decade's platform, and that mobile - smartphones and tablets - are the future. But I'd argue that there is something even more important these, and that is the widespread deployment of open source in China.
Here's why. China is already the number two economy in the world, and will become number one if current trends continue. It is the digital workshop of the world, where leading consumer electronics devices are made. And, last but not least, there are a number of companies like Huawei and ZTE that are likely to become the new Apples and Samsungs sometime in the near future. For all these reasons, it is imperative that open source become the norm in China, which will then push it out to the rest of the world for purely selfish, business reasons (and nothing wrong with that.)
That has led me to be on the look-out for signs for the year of open source in China. That's made hard by the fact that China is a really another world, largely because its language and writing system are so different from the West's. So I have to take what I get, like the following fascinating press release from Canonical:
On 28-29 June, the eighth Open Source China - Open Source World Summit, sponsored by China OSS Promotion Union (COPU), occurred in Beijing at Beihang University.
UbuntuKylin was the talk of the conference. The UbuntuKylin project is a collaborative effort between CSIP, Canonical and NUDT. Initially released in April 2013, UbuntuKylin is an official Ubuntu flavour that will follow the Ubuntu six-monthly release cycle.
UbuntuKylin was awarded the Number 1 China Open Source Project for the year.
If, as I was, you are intrigued by the idea of a Chinese version of Ubuntu, you can find out more about UbuntuKylin, including screenshots, on this (English-language) site:
UK---- is the Derivative version of official under the Ubuntu, Its purpose is to create a Chinese variant of Ubuntu, more suitable for Chinese users. The project through make localized desktop environment and develop specific requirements application software to meet the majority of Chinese users to provide exquisite Chinese experience.
UbuntuKylin’s research get CCN Joint Laboratory of open-source innovation’s support, and the support from the domestic and foreign open-source enthusiasts. All contributors are in UbuntuKylin developer team list; All the open source code are in the Ubuntu development platform, that anyone can download and check on it.
That certainly sounds like Ubuntu is beginning to make its mark in China. The press release for the 8th Open Source China Open Source World Summit contains some more hints about what is going on there:
Themes
1.How to construct open platform
Open platform is promoting the development of emerging internet terminal industry (including smart phones, tablets, smart TV, etc.), and boosting the growth of cloud computing, social network, Weixin/Wechat, and other new internet business. We will discuss the competition between open platform and close platform, study the risk of over-reliance on one platform and observe the rise of a number of emerging open platforms.
2.How to develop the emerging mobile internet industry
We will pay great attention to the developing modes of emerging industry, discuss the transformation from traditional PC to emerging mobile internet industry, research on the changed production methods, and communicate the following issues: the rising of China, competition of mainstream products, grassroots’ counter attack, developing environment of software and hardware, developing mechanism, users experience and developing modes, and ecosystem construction.
3.Expand the mobile internet applications
We will focus on local applications (like “App store”), network applications via browser or cross-platform, application compatibility expansion and three-screen (TV, PC and cell phone) integration.
Sub-Forums
Focus on OSS new technology and application
OSS and mobile development (0.5 day): From operating system to developing tools, how does OSS enhance the efficiency of mobile application development and bring new ideas for it as well?
OSS and cloud computing (0.5 day): How to construct high-performance application and provide complete cloud computing solutions by OSS?
OSS ecosystem (0.5 day): OSS communities, open platforms and varied internet applications.
OSS hardware (0.5 day): How to use OSS hardware to start an undertaking and change mobile internet.
As that makes abundantly clear, the central theme of the conference was mobile - Chinese manufacturers know as well as anyone that this is where the growth will be in the digital market. That's why it's heartening to see so much interest in open source in this area, as manifest by the talks at the 8th Open Source China Open Source World Summit. Let's hope that translates into plenty of good, open source-based products coming out of China - maybe even a few for the desktop....
Dịch: Lê Trung Nghĩa

Thứ Năm, 15 tháng 8, 2013

Vòng đời các mối đe dọa thường trực cao cấp


Thời gian gần đây, chúng ta thường được nghe nhiều hơn về các mối đe dọa thường trực cao cấp - APT (Advanced Persistent Threat), gắn liền với các cuộc tấn công bất tận trên không gian mạng để gián điệp thông tin, ăn cắp thông tin - dữ liệu và hoặc phá hoại các cơ sở hạ tầng của các quốc gia.
Tạp chí Tin học và Đời sống số tháng 03/2012 đã “Giới thiệu sơ lược mô hình độ chín an ninh không gian mạng”, đề cập tới 4 đặc trưng của các phần mềm độc hại cao cấp và 5 mức độ đối phó đối với các cuộc tấn công không gian mạng (ANKGM) để đánh giá khả năng phòng thủ tích cực mạng máy tính của một quốc gia trước các cuộc tấn công không gian mạng (KGM) ngày nay. Khái niệm phần mềm độc hại cao cấp được nêu ở đây chính là phần cốt lõi của các APT, khi được kết hợp với một chu trình vòng đời có tính toán, sẽ có khả năng để bằng mọi cách, thường trong một khoảng thời gian dài hoặc đủ dài, để đạt được mục đích cuối cùng là ăn cắp bằng được các thông tin - dữ liệu và/hoặc phá hoại bằng được các cơ sở hạ tầng bị ngắm đích của các nạn nhân.
Mandiant, một công ty về an ninh thông tin, cuối tháng 02/2013 đã đưa ra báo cáo “APT1 - Phát hiện một trong các đơn vị gián điệp không gian mạng của Trung Quốc”, đã tiết lộ hàng loạt các thông tin liên quan tới các hoạt động và kho vũ khí của 1 trong số 20 đơn vị APT mà Mandiant đang điều tra cùng với mô hình các mối đe dọa thường trực cao cấp mà các đơn vị APT đó thường xuyên tiến hành hiện nay đối với các hệ thống thông tin của các nạn nhân bị ngắm đích. Tin học và Đời sống sẽ đề cập tới đơn vị bị phát hiện đó, APT1 hay Đơn vị 61398 của Quân Giải phóng Nhân dân Trung Hoa vào một dịp khác, dù cái tên APT1 sẽ luôn được nhắc tới trong bài viết này.
Mô hình vòng đời tấn công của Mandiant gồm có 7 bước như trong hình vẽ, bao gồm:
Bước 1: Tổn thương ban đầu
Tổn thương ban đầu đại diện cho các phương pháp mà những kẻ thâm nhập trái phép sử dụng để trước hết thâm nhập được vào mạng của một tổ chức đích. Như với hầu hết các nhóm APT, làm phishing xiên cắm (spear phishing) là kỹ thuật được sử dụng phổ biến nhất của APT1. Các thư điện tử phishing xiên cắm hoặc có chứa tệp gắn kèm độc hại hoặc một đường siêu liên kết tới một tệp độc hại. Dù chủ đề và văn bản trong thân của thư điện tử thường là phù hợp với người nhận, APT1 cũng tạo ra các tài khoản webmail bằng việc sử dụng các tên người có thật - các tên mà quen với người nhận, như một đồng nghiệp, lãnh đạo công ty, và nhân viên phòng CNTT, hoặc cố vấn của công ty - và sử dụng các tài khoản đó để gửi đi các thư điện tử. Như là một ví dụ của thế giới thực, đây là một thư điện tử phishing xiên cắm mà APT1 đã gửi đi cho các nhân viên của Mandiant:
Date: Wed, 18 Apr 2012 06:31:41 -0700
From: Kevin Mandia
Subject: Internal Discussion on the Press Release
Hello,
Shall we schedule a time to meet next week?
We need to finalize the press release.
Details click here.
Kevin Mandia
Ngày tháng: Thứ tư, ngày 18/04/2012 06:31:41 -0700
Từ: Kevin Mandia
Chủ đề: Thảo luận Nội bộ về Thông cáo báo chí
Hello,
Liệu chúng ta có đặt lịch được về thời gian gặp gỡ vào tuần sau được không?
Chúng ta cần hoàn tất thông cáo báo chí.
Các chi tiết hãy nháy vào đây.
Kevin Mandia
Mới nhìn thoáng qua, thư điện tử đó dường như là từ CEO của Mandiant, Kevin Mandia. Tuy nhiên, soi xét kỹ hơn chỉ ra rằng thư điện tử đó không phải được gửi đi từ một tài khoản thư điện tử của Mandiant, mà từ “kevin.mandia@rocketmail.com”. Rocketmail là một dịch vụ webmail tự do. Tài khoản “kevin.mandia@rocketmail.com” không thuộc về ông Mandia. Thay vào đó, một tác nhân của APT1 có khả năng đã ký cho tài khoản đó một cách đặc biệt cho sự kiện phishing xiên cắm này. Nếu ai đó đã nháy vào đường liên kết vào ngày đó (mà đã không ai làm thế, may thay), thì máy tính của họ có thể đã tải về Internal_Discussion_Press_Release_In_Next_Week8.zip”, là tên của một tệp ZIP độc hại. Tệp độc hại này có khả năng thực thi được, cài một cửa hậu tùy biến của APT1 được gọi là WEBC2-TABLE.
Dù các tệp mà các tác nhân của APT1 gắn vào hoặc liên kết tới các thư điện tử phishing xiên cắm không phải luôn ở định dạng ZIP, thì điều này là xu thế vượt trội đã được quan sát thấy trong vài năm gần đây. Bên dưới là ví dụ các tên tệp mà APT1 đã sử dụng với các tệp ZIP độc hại:
2012ChinaUSAviationSymposium.zip
Employee-Benefit-and-Overhead-Adjustment-Keys.zip
MARKET-COMMENT-Europe-Ends-Sharply-Lower-On-Data-Yields-Jump.zip
Negative_Reports_Of_Turkey.zip
New_Technology_For_FPGA_And_Its_Developing_Trend.zip
North_Korean_launch.zip
Oil-Field-Services-Analysis-And-Outlook.zip
POWER_GEN_2012.zip
Proactive_Investors_One2One_Energy_Investor_Forum.zip
Social-Security-Reform.zip
South_China_Sea_Security_Assessment_Report.zip
Telephonics_Supplier_Manual_v3.zip
The_Latest_Syria_Security_Assessment_Report.zip
Updated_Office_Contact_v1.zip
Updated_Office_Contact_v2.zip
Welfare_Reform_and_Benefits_Development_Plan.zip
Các tên tệp, ví dụ, bao gồm các chủ đề quân sự, kinh tế và ngoại giao, gợi ý dải rộng lớn các nền công nghiệp mà APT1 ngắm tới. Một số tên cũng là chung (như, “updated_office_contact_v1.zip”) và có thể được sử dụng cho các mục tiêu trong bất kỳ nền công nghiệp nào. Trong một số trường hợp, những người nhận thư điện tử mà không có nghi ngờ gì đã trả lời các thông điệp phishing xuyên cắm, tin tưởng họ đang giao tiếp với những người quen của họ. Có trường hợp một người đã trả lời, “Tôi không chắc liệu điều này có là hợp pháp, nên tôi đã không mở nó”. Trong vòng 20 phút, ai đó tại APT1 đã trả lời với một thư điện tử súc tích: “Nó là hợp pháp” (“It's legit”).
Một số tác nhân APT1 đã tạo ra các phần mềm độc hại bên trong các tệp ZIP của họ trông giống như các tệp PDF của Adobe bên dưới. Đây là một ví dụ:
Đây không phải là một tệp PDF. Nó trông giống như tên tệp có phần mở rộng PDF nhưng tên tệp thực sự bao gồm 119 khoảng trống sau “.pdf” đi theo sau cùng là “.exe” - phần mở rộng thực sự của tệp đó. APT1 đã làm cho biểu tượng của tệp thực thi thành biểu tượng của Adobe để hoàn tất mưu mẹo đó. Tuy nhiên, tệp này thực sự là một mẹo chèo kéo tới một cửa hậu mà APT1 tùy biến được gọi là WEBC2-QBP.
Bước 2: Thiết lập chỗ đứng
Việc thiết lập chỗ đứng có liên quan tới các hành động đảm bảo sự kiểm soát các hệ thống mạng đích từ bên ngoài mạng đó. APT1 thiết lập một chỗ đứng một khi những người nhận thư điện tử mở một tệp độc hại và một cửa hậu được cài đặt vào sau đó. Một cửa hậu là phần mềm mà cho phép một kẻ thâm nhập trái phép gửi đi các lệnh tới hệ thống đó từ ở xa. Trong hầu hết các trường hợp, các cửa hậu APT khởi tạo các kết nối đi ra ngoài tới máy chủ “chỉ huy và kiểm soát” - C2 (Command and Control) của kẻ thâm nhập trái phép. Những kẻ thâm nhập trái phép của APT sử dụng chiến thuật này vì trong khi các tường lửa mạng thường giỏi trong việc giữ cho các phần mềm độc hại bên ngoài mạng không khởi xướng được sự giao tiếp với các hệ thống bên trong mạng, thì lại ít tin cậy hơn trong việc giữ cho phần mềm độc hại đã nằm sẵn ở bên trong mạng rồi không giao tiếp được với các hệ thống bên ngoài.
Trong khi những kẻ thâm nhập trái phép của APT1 thỉnh thoảng sử dụng các cửa hậu có sẵn một cách công khai như Poison Ivy và Gh0st RAT, thì đa số lớn các lần chúng sử dụng những gì dường như là các cửa hậu tùy biến của riêng chúng. Mandiant đã ghi lại 42 họ các cửa hậu trong kho vũ khí phần mềm độc hại mà chỉ riêng một mình nhóm APT1 đã sử dụng một cách giấu giếm trong các cuộc tấn công của nhóm. Cùng với chúng là 1.007 hàm băm MD5 có liên quan tới phần mềm độc hại của APT1. Dưới đây là mô tả các cửa hậu của APT1 trong 2 chủng loại: “Các cửa hậu đầu cầu đổ bộ” và “Các cửa hậu tiêu chuẩn”.
Các cửa hậu đầu cầu đổ bộ
Các cửa hậu đầu cầu đổ bộ thường có các đặc trưng tối thiểu. Chúng đưa ra cho kẻ tấn công một nơi đặt chân để thực hiện các tác vụ đơn giản như truy xuất các tệp, thu thập thông tin hệ thống cơ bản và làm bật dậy nhanh sự thực thi của các khả năng đáng kể khác hơn so với một cửa hậu tiêu chuẩn.
Các cửa hậu đầu cầu đổ bộ của APT1 thường là những gì được gọi là cửa hậu WEBC2. Các cửa hậu WEBC2 là dạng cửa hậu của APT1 có lẽ được biết tới nhiều nhất, và là lý do vì sao một số công ty an ninh tham chiếu tới APT1 như là “Comment Crew” (Đội chú giải). Một cửa hậu WEBC2 được thiết kế để trích xuất một trang web từ một máy chủ C2. Nó mong đợi trang web đó có chứa các thẻ HTML đặc biệt; cửa hậu đó sẽ cố gắng dịch các dữ liệu giữa các thẻ như là các lệnh. Các phiên bản cũ hơn của WEBC2 đọc các dữ liệu giữa các chú giải HTML, dù qua thời gian thì các biến thể WEBC2 đã tiến hóa để đọc được cả các dữ liệu có bên trong các dạng thẻ khác. Từ sự quan sát trực tiếp, có thể khẳng định rằng APT1 từng sử dụng các cửa hậu WEBC2 từ tháng 07/2006. Tuy nhiên, thời gian biên dịch đầu tiên có được đối với WEBC2-KT3 là 23/01/2004, gợi ý là APT1 từng tạo ra các cửa hậu WEBC2 từ đầu năm 2004. Dựa vào hơn 400 mẫu các biến thể WEBC2 đã được tích cóp, dường như là APT1 có sự truy cập trực tiếp tới các lập trình viên mà đã thường xuyên phát hành các biến thể WEBC2 mới hơn 6 năm qua.
Ví dụ, 2 đường dẫn được xây dựng ở đây, đã bị phát hiện trong các ví dụ WEBC2-TABLE, giúp minh họa cách mà APT1 đã và đang xây dựng rồi các biến thể WEBC2 mới như một phần của một qui trình được phát triển liên tục:
Ví dụ mẫu A
MD5: d7aa32b7465f55c368230bb52d52d885
Ngày biên dịch: 23/02/2012
\work\code\2008-7-8muma\mywork\winInet_ winApplication2009-8-7\mywork\ aaaaaaa2012-2-23\Release\aaaaaaa.pdb
Ví dụ mẫu B
MD5: c1393e77773a48b1eea117a302138554
Ngày biên dịch: 07/08/2009
D:\work\code\2008-7-8muma\mywork\winInet_ winApplication2009-8-7\mywork\aaaaaaa\ Release\aaaaaaa.pdb
Các họ WEBC2
WEBC2-AUSOV WEBC2-KT3
WEBC2-ADSPACE WEBC2-QBP
WEBC2-BOLID WEBC2-RAVE
WEBC2-CLOVER WEBC2-TABLE
WEBC2-CSON WEBC2-TOCK
WEBC2-DIV WEBC2-UGX
WEBC2-GREENCAT WEBC2-YAHOO
WEBC2-HEAD WEBC2-Y21K

và nhiều họ vẫn còn chưa được phân loại
Một “đường dẫn được xây dựng” mở ra thư mục từ đó lập trình viên xây dựng và biên dịch mã nguồn của anh ta. Các ví dụ đó, được biên soạn hơn 2.5 năm, đã được biên soạn trong một thư mục có tên là “work\code\...\mywork”. Các trường hợp “làm việc” gợi ý rằng làm việc trong WEBC2 là công việc hàng ngày của ai đó và không phải là dự án phụ hoặc sở thích riêng. Hơn nữa, chuỗi được xây dựng trong Mẫu A bao gồm “2012-2-23” (ngày 23/02/2012) - nó khớp với ngày tháng biên soạn của Mẫu A. Chuỗi được xây dựng trong Mẫu B thiếu “2012-2-23” nhưng bao gồm “2009-8-7” (ngày 07/08/2009) - nó cũng khớp với ngày tháng biên soạn của Mẫu B. Điều này gợi ý rằng mã được sử dụng để biên soạn Mẫu A từng được sửa đổi từ mã mà đã được sử dụng để biên soạn Mẫu B từ 2.5 năm trước đó. Sự tồn tại của “2008-7-8” (Ngày 08/07/2008) gợi ý rằng mã cho cả 2 mẫu từng được sửa đổi từ một phiên bản đã tồn tại vào tháng 07/2008, một năm trước khi Mẫu B được tạo ra. Loạt ngày tháng này chỉ ra rằng việc phát triển và sửa đổi cửa hậu WEBC2 là qui trình dài hạn và được lặp đi lặp lại.
Các cửa hậu WEBC2 thường trao cho những kẻ tấn công của APT1 một tập hợp ngắn gọn và sơ bộ các lệnh để phát tới các hệ thống của nạn nhân, bao gồm: (1) Mở một trình biên dịch shell lệnh tương tác (thường là cmd.exe của Windows); (2) Tải về và thực thi một tệp; (3) Ngủ (như, giữ là không tích cực) trong một khoảng thời gian được chỉ định cho các cửa hậu WEBC2 thường được đóng gói với các thư điện tử phishing xiên cắm.
Một khi được cài đặt, những kẻ thâm nhập trái phép của APT1 có lựa chọn để nói cho các hệ thống nạn nhân để tải về và thực thi các phần mềm độc hại bổ sung theo lựa chọn của họ. Các cửa hậu WEBC2 làm việc vì mục tiêu được kỳ vọng của chúng, nhưng chúng thường có ít các tính năng hơn so với “Các cửa hậu tiêu chuẩn” được mô tả bên dưới.
Các cửa hậu tiêu chuẩn
Cửa hậu tiêu chuẩn, không phải như WEBC2 của APT1 thường giao tiếp bằng việc sử dụng giao thức HTTP (để trộn với giao thông web hợp pháp) hoặc một giao thức tùy biến mà các tác giả của phần mềm độc hại đã tự họ thiết kế. Các cửa hậu đó trao cho những kẻ thâm nhập trái phép của APT một danh sách các cách thức trà đi xát lại để kiểm soát các hệ thống của nạn nhân, bao gồm: (1) Tạo/sửa/xóa/thực thi các chương trình; (2) Tải về/tải lên các tệp; (3) Tạo/xóa các thư mục; (4) Liệt kê/khởi tạo/dừng các qui trình; (5) Sửa đổi đăng ký hệ thống; (6) Chụp các ảnh màn hình của người sử dụng; (7) Chộp các gõ bàn phím; (8) Chộp chuyển động của chuột; (9) Khởi tạo một trình biên dịch lệnh shell tương tác; (10) Tạo một giao diện (như, đồ họa) cho Remote Desktop; (11) Thu thập các mật khẩu; (12) Đếm những người sử dụng; (13) Đếm các hệ thống khác trong mạng; (14) Ngủ (như, không tích cực) trong một khoảng thời gian được chỉ định; (15) Đăng xuất cho người sử dụng hiện hành; (16) Tắt hệ thống
Các chức năng đó là đặc tính của hầu hết các cửa hậu, và không có hạn chế đối với APT1 hoặc thậm chí APT. Ví dụ, bất kỳ ai mà muốn kiểm soát một hệ thống từ xa có khả năng sẽ đặt ra các chức năng như “Tải lên/tải về các tệp” vào trong một cửa hậu.
Các giao tiếp giấu giếm
Một số cửa hậu của APT cố bắt chước giao thông hợp pháp của Internet khác với giao thức HTTP. APT1 đã tạo ra một số giao thức đó, bao gồm: (1) MACROMAIL bắt chước MSN Messenger; (2) GLOOXMAIL bắt chước Jabber/XMPP; (3) CALENDAR bắt chước Gmail Calendar.
Khi những người phòng thủ mạng thấy các giao tiếp giữa các cửa hậu đó và các máy chủ C2 của chúng, họ có thể dễ dàng bỏ qua chúng như là các giao thông mạng hợp pháp. Hơn nữa, nhiều cửa hậu của APT1 sử dụng mã hóa SSL sao cho các giao tiếp được ẩn dấu trong một đường hầm SSL được mã hóa. Các chứng thực SSL công khai của APT1 cũng được đưa ra trong một tài liệu khác để mọi người có thể kết hợp chúng vào các chữ ký mạng của họ, không là trọng tâm của bài viết này.
Bước 3. Leo thang quyền ưu tiên
Việc leo thang các quyền ưu tiên có liên quan tới việc có được các khoản (hầu hết thường là các tên người sử dụng và các mật khẩu) mà sẽ cho phép truy cập tới các tài nguyên nhiều hơn bên trong mạng. Trong giai đoạn này và 2 giai đoạn tiếp sau, APT1 không khác nhiều so với những kẻ thâm nhập trái phép của APT khác (hoặc những kẻ thâm nhập trái phép nói chung). APT1 sử dụng áp đảo các công cụ sẵn sàng một cách công khai để gạt bỏ các hàm băm mật khẩu khỏi các hệ thống của nạn nhân để giành lấy các ủy quyền của người sử dụng hợp pháp.
APT1 đã sử dụng các công cụ leo thang quyền ưu tiên sau:
Công cụ
Mô tả
Website
cachedump
Chương trình này trích tách các hàm băm mật khẩu được lưu lại từ một đăng ký hệ thống
Hiện được đóng gói với fgdump (bên dưới)
fgdump
Trình loại bỏ hàm băm mật khẩu của Windows
http://www.foofus.net/fizzgig/fgdump/
gsecdump
Giành lấy hàm băm mật khẩu từ đăng ký của Windows, bao gồm cả tệp SAM, các ủy quyền miền được lưu giữ tạm và các bí mật LSA
http://www.truesec.se
lslsass
Loại bỏ các hàm băm mật khẩu phiên đăng nhập tích cực khỏi qui trình lsass
http://www.truesec.se
mimikatz
Tiện ích trước hết được sử dụng cho việc loại bỏ các hàm băm mật khẩu
http://blog.gentilkiwi.com/mimikatz
Bộ công cụ truyền hàm băm
Cho phép một kẻ thâm nhập trái phép “truyền” một hàm băm mật khẩu (không biết mật khẩu gốc ban đầu) để đăng nhập vào các hệ thống
http://oss.coresecurity.com/projects/pshtoolkit.htm
pwdump7
Loại bỏ các hàm băm mật khẩu khỏi đăng ký của Windows
http://www.tarasco.org/security/pwdump_7/
pwdumpX
Loại bỏ các hàm băm mật khẩu khỏi đăng ký của Windows
Công cụ nói gốc ở http://reedarvin.thearvins.com/,
nhưng site lại không đưa ra phần mềm này vào ngày báo cáo này được viết
Bước 4: Trinh sát nội bộ
Trong giai đoạn trinh sát nội bộ, kẻ thâm nhập trái phép thu thập thông tin về môi trường của nạn nhân. Giống như hầu hết những kẻ thâm nhập trái phép APT (và không APT), APT1 trước hết sử dụng các lệnh có sẵn của hệ điều hành để khai thác một hệ thống bị tổn thương và môi trường được kết nối mạng của nó. Dù chúng thường đơn giản gõ các lệnh đó vào một trình biên dịch lệnh shell, đôi khi những kẻ thâm nhập trái phép có thể sử dụng các bó script để tăng tốc qui trình đó. Bên dưới chỉ các nội dung của bó script mà APT1 đã sử dụng ít nhất ở các mạng của 4 nạn nhân.
@echo off
ipconfig /all>>”C:\WINNT\Debug\1.txt”
net start>>”C:\WINNT\Debug\1.txt”
tasklist /v>>”C:\WINNT\Debug\1.txt”
net user >>”C:\WINNT\Debug\1.txt”
net localgroup administrators>>”C:\WINNT\Debug\1.txt”
netstat -ano>>”C:\WINNT\Debug\1.txt”
net use>>”C:\WINNT\Debug\1.txt”
net view>>”C:\WINNT\Debug\1.txt”
net view /domain>>”C:\WINNT\Debug\1.txt”
net group /domain>>”C:\WINNT\Debug\1.txt”
net group “domain users” /domain>>”C:\WINNT\Debug\1.txt”
net group “domain admins” /domain>>”C:\WINNT\Debug\1.txt”
net group “domain controllers” /domain>>”C:\WINNT\Debug\1.txt”
net group “exchange domain servers” /domain>>”C:\WINNT\Debug\1.txt”
net group “exchange servers” /domain>>”C:\WINNT\Debug\1.txt”
net group “domain computers” /domain>>”C:\WINNT\Debug\1.txt”
Script này thực hiện các chức năng sau và lưu các kết quả vào một tệp văn bản: (1) Hiển thị thông tin cấu hình mạng của nạn nhân; (2) Liệt kê các dịch vụ đã bắt đầu trong hệ thống của nạn nhân; (3) Liệt kê các tiến trình hiện đang chạy; (4) Liệt kê các tài khoản trong hệ thống; (5) Liệt kê các tài khoản với các quyền ưu tiên của người quản trị; (6) Liệt kê các kết nối mạng hiện hành; (7) Liệt kê các chia sẻ mạng được kết nối hiện hành; (8) Liệt kê các hệ thống khác trong mạng; (9) Liệt kê các máy tính các tài khoản mạng theo nhóm (“các trình kiểm soát miền - domain controllers”, “những người sử dụng của miền - domain users”, “các quản trị viên của miền - domain admins”, …)
Bước 5: Dịch chuyển biên
Một khi một kẻ thâm nhập trái phép của APT có một chỗ đứng bên trong mạng và một tập hợp các ủy quyền hợp pháp, thì đơn giản đối với kẻ thâm nhập trái phép đó để di chuyển xung quanh mạng đó mà không bị dò tìm ra: (1) Chúng có thể kết nối tới các tài nguyên được chia sẻ trong các hệ thống khác; (2) Chúng có thể thực thi các lệnh trong các hệ thống có sử dụng công cụ “psexec” sẵn có một cách công khai từ Microsoft Sysinternals hoặc Task Scheduler được xây dựng sẵn trong Windows (“at.exe”).
Các hành động đó là khó để dò tìm ra vì những người quản trị hệ thống hợp pháp cũng sử dụng các kỹ thuật đó để thực hiện các hành động xung quanh mạng.
Bước 6: Duy trì sự hiện diện
Trong giai đoạn này, kẻ thâm nhập trái phép thực hiện các hành động để đảm bảo sự kiểm soát liên tục, dài hạn đối với các hệ thống chủ chốt trong môi trường mạng nằm bên ngoài mạng đó. APT1 làm điều này theo 3 cách.
  • Cài đặt các cửa hậu mới vào nhiều hệ thống. Thông qua việc nằm lại của chúng trong mạng (mà có thể hàng năm trời), APT1 thường cài đặt các cửa hậu mới khi chúng có quyền khai thác được nhiều hệ thống hơn trong môi trường đó. Sau đó, nếu một cửa hậu bị phát hiện và bị xóa, thì chúng vẫn còn có các cửa hậu khác mà chúng có thể sử dụng. Thường được dò tìm ra nhiều họ cửa hậu của APT1 nằm rải rác xung quanh mạng của một nạn nhân khi APT1 từng hiện diện trong thời gian nhiều hơn vài tuần.
  • Sử dụng các ủy quyền VPN hợp pháp. Các tác nhân và các tin tặc của APT nói chung luôn tìm kiếm các ủy quyền hợp lệ để thủ vai một người sử dụng hợp lệ. Được quan sát thấy APT1 sử dụng các tên người sử dụng và mật khẩu ăn cắp được để đăng nhập các mạng riêng ảo (VPN) của các nạn nhân khi các VPN chỉ được bảo vệ bằng một yếu tố duy nhất. Từ đó chúng có khả năng truy cập bất kỳ thứ gì mà những người sử dụng được thủ vai được phép truy cập bên trong mạng đó.
  • Đăng nhập vào các cổng web. Một khi được trang bị với các ủy quyền ăn cắp được, những kẻ thâm nhập trái phép của APT1 cũng cố gắng để đăng nhập vào các cổng web mà mạng đưa ra. Điều này bao gồm không chỉ các website có giới hạn, mà còn cả các hệ thống thư điện tử dựa trên web như Microsoft Outlook Web Access.
Bước 7: Hoàn tất nhiệm vụ
Tương tự như các nhóm APT đang bị theo dõi, một khi APT1 tìm được các tệp cần quan tâm thì họ sẽ nén chúng thành các tệp lưu trữ trước khi ăn cắp chúng. Những kẻ thâm nhập trái phép của APT hầu hết thường sử dụng tiện ích nén RAR cho tác vụ này và đảm bảo rằng các lưu trữ được bảo vệ bằng mật khẩu. Một số kẻ thâm nhập trái phép của APT1 đôi khi sử dụng các bó script để hỗ trợ chúng trong tiến trình đó, như được minh họa bên dưới. (Các vị trí của “XXXXXXXX” làm mù đi văn bản mà từng có trong bó script thực tế đó).
Sau khi tạo ra các tệp nén bằng RAR, những kẻ tấn công của APT1 sẽ truyền các tệp ra khỏi mạng theo các cách thức nhất quán với các nhóm APT khác, bao gồm cả việc sử dụng Giao thức Truyền Tệp – FTP (File Transfer Protocol) hoặc các cửa hậu đang tồn tại. Nhiều lần các tệp RAR của chúng là quá lớn nên những kẻ tấn công chia chúng thành các phần nhỏ trước khi truyền chúng đi. Đoạn script bên dưới chỉ ra một lệnh của RAR với lựa chọn “-v200”, nó có nghĩa là tệp RAR sẽ được chia nhỏ thành các phần nhỏ hơn 200MB.
@echo off
cd /d c:\windows\tasks
rar.log a XXXXXXXX.rar -v200m “C:\Documents and Settings\Place\My
Documents\XXXXXXXX” -hpsmy123!@#
del *.vbs
del %0
Không giống như hầu hết các nhóm APT khác đang bị theo dõi, APT1 sử dụng 2 tiện ích ăn cắp thư điện tử được tin tưởng là độc nhất vô nhị đối với APT1. Cái đầu, GETMAIL, đã được thiết kế đặc biệt để trích xuất các thông điệp thư điện tử, các tệp gắn kèm và các thư mục trong các tệp lưu trữ (“PST”) của Microsoft Outlook.
Các tệp lưu trữ của Microsoft Outlook có thể là lớn, thường lưu trữ các thư điện tử đáng giá hàng năm. Chúng có thể quá lớn để truyền ra khỏi mạng một cách nhanh chóng, và kẻ thâm nhập trái phép có thể không quan tâm về việc ăn cắp mọi thư điện tử. Tiện ích GETMAIL cho phép những kẻ thâm nhập trái phép của APT1 tính mềm dẻo để lấy chỉ các thư điện tử nào giữa những ngày tháng mà chúng lựa chọn. Trong một trường hợp, đã được quan sát thấy một kẻ thâm nhập trái phép của APT1 quay lại một máy bị tổn thương 1 lần trong mỗi tuần trong vòng 4 tuần để ăn cắp chỉ các thư điện tử của tuần trước đó.
Trong khi GETMAIL ăn cắp thư điện tử trong các tệp lưu trữ của Microsoft Outlook, thì tiện ích thứ 2, MAPIGET, từng được thiết kế đặc biệt để ăn cắp thư điện tử mà còn chưa được lưu trữ và vẫn nằm trong một Microsoft Exchange Server (Máy chủ thư điện tử Exchange của Microsoft). Để vận hành thành công, MAPIGET yêu cầu tổ hợp tên người sử dụng/mật khẩu (username/password) mà máy chủ Exchange sẽ chấp nhận. MAPIGET trích xuất thư điện tử từ các tài khoản được chỉ định vào các tệp văn bản (đối với phần thân của thư điện tử) và tách bạch các tệp gắn kèm, nếu có.
Một số lưu ý từ mô hình độ chín an ninh không gian mạng
Vì mô hình vòng đời các mối đe dọa thường trực cao cấp có liên quan tới mô hình độ chín ANKGM mà đã được nhắc tới ở đầu bài viết này, cụ thể là liên quan chặt chẽ tới tính tương hợp của hệ thống thông tin và các tiêu chuẩn trao đổi dữ liệu về nhận thức tình huống bảo an thông tin ở mức C của mô hình độ chín ANKGM, bài viết này sẽ nhắc lại một vài lưu ý chính được rút ra từ 5 mức độ đối phó đối với các cuộc tấn công KGM từ mô hình độ chín ANKGM đó như sau:
  • Để có được những thông tin kịp thời, chính xác nhằm đối phó với sự việc mất an ninh theo một cách thống nhất giữa tất cả các bên tham gia trong việc đảm bảo an toàn an ninh các hệ thống thông tin, thì tính tương hợp và các tiêu chuẩn dựa vào sự trao đổi dữ liệu về nhận thức tình huống bảo an thông tin là một yếu tố sống còn.
  • Việc không đạt được tính tương hợp dựa vào các tiêu chuẩn trao đổi dữ liệu về nhận thức tình huống bảo an thông tin ở mức C thì sẽ không thể tiến tới các mức cao hơn B và A trong mô hình độ chín ANKGM được. Nói cách khác, nếu không đạt được tính tương hợp thì hệ thống thông tin không bao giờ đạt được mức C trong mô hình độ chín ANKGM được.
  • Khi xây dựng các hệ thống thông tin hướng tới chính phủ điện tử (CPĐT), nên kết hợp với mô hình độ chín ANKGM, đặc biệt đối với các bên có trách nhiệm tham gia trong việc đảm bảo an toàn an ninh các hệ thống thông tin, để vừa đạt được các mục tiêu về giải quyết các vấn đề nghiệp vụ cũng như các mục tiêu về an ninh của toàn bộ hệ thống thông qua việc đảm bảo tính tương hợp cho các thông tin - dữ liệu dựa vào các tiêu chuẩn mở.
  • Nếu chỉ đạt tới mức C trong mô hình này, mà không với tới được các mức B và A, có nghĩa là hệ thống chỉ có khả năng chế ngự được những mối đe dọa thông thường, mà không có khả năng chế ngự được các mối đe dọa thường trực cao cấp (APT) và các mối đe dọa từ các nhà nước quốc gia.
Thay cho lời kết
Việc nắm rõ được các bước tiến hành trong mô hình vòng đời các mối đe dọa thường trực cao cấp, cùng với sự triển khai những gợi ý cần thiết từ mô hình độ chín ANKGM sẽ giúp cho các chuyên gia và các nhà chuyên môn về an ninh thông tin có được các thông tin cần thiết cơ bản nhất để có được các bước chuẩn bị cho các kế hoạch đối phó với APT một cách có hiệu quả nhất, một công việc thực sự khó khăn đối với các hệ thống thông tin của các cơ quan nhà nước Việt Nam hiện nay.
Trần Lê
Bài đăng trên tạp chí Tin học & Đời sống, số tháng 08/2013, trang 42-47.