Hiển thị các bài đăng có nhãn gov. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn gov. Hiển thị tất cả bài đăng

Thứ Ba, 29 tháng 7, 2025

Nhà Trắng công bố Kế hoạch hành động AI của Hoa Kỳ


White House Unveils America’s AI Action Plan

The White House; July 23, 2025

Theo: https://www.whitehouse.gov/articles/2025/07/white-house-unveils-americas-ai-action-plan/

Bài được đưa lên Internet ngày: 23/07/2025

Hôm nay, Nhà Trắng đã công bố “Chiến thắng trong Cuộc đua AI: Kế hoạch Hành động AI của Hoa Kỳ”, theo sắc lệnh hành pháp của Tổng thống Trump ban hành vào tháng 1 về việc Xóa bỏ Rào cản đối với Vị thế Lãnh đạo của Hoa Kỳ trong lĩnh vực AI. Chiến thắng trong cuộc đua AI sẽ mở ra một kỷ nguyên vàng son mới cho sự phát triển của con người, khả năng cạnh tranh kinh tế và an ninh quốc gia cho người dân Hoa Kỳ.

Kế hoạch xác định hơn 90 hành động chính sách của Liên bang trên ba trụ cột – Tăng tốc Đổi mới, Xây dựng Cơ sở hạ tầng AI của Hoa Kỳ và Dẫn đầu trong Ngoại giao và An ninh Quốc tế – mà Chính quyền Trump sẽ thực hiện trong những tuần và tháng tới.

Các chính sách chính trong Kế hoạch Hành động AI bao gồm:

  • Xuất khẩu AI của Hoa Kỳ: Bộ Thương mại và Bộ Ngoại giao sẽ hợp tác với ngành công nghiệp để cung cấp các gói xuất khẩu AI an toàn, đầy đủ – bao gồm phần cứng, mô hình, phần mềm, ứng dụng và tiêu chuẩn – cho bạn bè và đồng minh của Hoa Kỳ trên toàn thế giới.

  • Thúc đẩy Xây dựng Nhanh chóng các Trung tâm Dữ liệu: Đẩy nhanh và hiện đại hóa giấy phép cho các trung tâm dữ liệu và nhà máy sản xuất chất bán dẫn, cũng như tạo ra các sáng kiến quốc gia mới để tăng cường các ngành nghề có nhu cầu cao như thợ điện và kỹ thuật viên HVAC.

  • Thúc đẩy Đổi mới và Áp dụng: Loại bỏ các quy định Liên bang nặng nề cản trở sự phát triển và triển khai AI, đồng thời tìm kiếm ý kiến đóng góp từ khu vực tư nhân về các quy tắc cần loại bỏ.

  • Duy trì Tự do Ngôn luận trong các Mô hình Tiên phong: Cập nhật các hướng dẫn mua sắm của Liên bang để đảm bảo rằng chính phủ chỉ ký hợp đồng với các nhà phát triển mô hình ngôn ngữ lớn tiên phong, những người đảm bảo rằng hệ thống của họ khách quan và không có định kiến tư tưởng từ trên xuống.

“Kế hoạch Hành động AI của Hoa Kỳ vạch ra một lộ trình quyết định nhằm củng cố vị thế thống trị của Hoa Kỳ trong lĩnh vực trí tuệ nhân tạo. Tổng thống Trump đã ưu tiên AI như một nền tảng cho sự đổi mới của Hoa Kỳ, thúc đẩy một kỷ nguyên mới về sự lãnh đạo của Hoa Kỳ trong khoa học, công nghệ và ảnh hưởng toàn cầu. Kế hoạch này thúc đẩy các nỗ lực của Liên bang nhằm tăng cường năng lực đổi mới, xây dựng cơ sở hạ tầng tiên tiến và dẫn đầu toàn cầu, đảm bảo rằng người lao động và các gia đình Hoa Kỳ phát triển thịnh vượng trong kỷ nguyên AI. Chúng tôi đang hành động khẩn trương để biến tầm nhìn này thành hiện thực”, Giám đốc Văn phòng Chính sách Khoa học và Công nghệ Nhà Trắng Michael Kratsios cho biết.

“Trí tuệ nhân tạo là một công nghệ mang tính cách mạng với tiềm năng chuyển đổi nền kinh tế toàn cầu và thay đổi cán cân quyền lực trên thế giới. Để duy trì vị thế cường quốc kinh tế và quân sự hàng đầu, Hoa Kỳ phải chiến thắng trong cuộc đua AI. Nhận thức được điều này, Tổng thống Trump đã chỉ đạo chúng tôi xây dựng Kế hoạch Hành động này. Để chiến thắng trong cuộc đua AI, Hoa Kỳ phải dẫn đầu về đổi mới sáng tạo, cơ sở hạ tầng và quan hệ đối tác toàn cầu. Đồng thời, chúng ta phải tập trung vào người lao động Mỹ và tránh việc sử dụng AI theo kiểu Orwellian. Kế hoạch Hành động này cung cấp một lộ trình để thực hiện điều đó”, David Sacks, ông trùm AI và Crypto, phát biểu.

“Chiến thắng trong cuộc đua AI là điều không thể thương lượng. Hoa Kỳ phải tiếp tục là thế lực thống trị về trí tuệ nhân tạo để thúc đẩy thịnh vượng và bảo vệ an ninh kinh tế và quốc gia của chúng ta. Tổng thống Trump đã nhận ra điều này ngay từ đầu nhiệm kỳ của mình và đã hành động quyết đoán bằng cách ủy quyền cho Kế hoạch Hành động AI này. Những mục tiêu chính sách rõ ràng này đặt ra kỳ vọng cho Chính phủ Liên bang nhằm đảm bảo Hoa Kỳ thiết lập tiêu chuẩn vàng về công nghệ trên toàn thế giới và thế giới tiếp tục vận hành dựa trên công nghệ của Hoa Kỳ”, Ngoại trưởng kiêm Quyền Cố vấn An ninh Quốc gia Marco Rubio cho biết.

Tìm hiểu thêm tại AI.Gov.

The White House today released “Winning the AI Race: America’s AI Action Plan”, in accordance with President Trump’s January executive order on Removing Barriers to American Leadership in AI. Winning the AI race will usher in a new golden age of human flourishing, economic competitiveness, and national security for the American people.

The Plan identifies over 90 Federal policy actions across three pillars – Accelerating Innovation, Building American AI Infrastructure, and Leading in International Diplomacy and Security – that the Trump Administration will take in the coming weeks and months.

Key policies in the AI Action Plan include:

  • Exporting American AI: The Commerce and State Departments will partner with industry to deliver secure, full-stack AI export packages – including hardware, models, software, applications, and standards – to America’s friends and allies around the world.

  • Promoting Rapid Buildout of Data Centers: Expediting and modernizing permits for data centers and semiconductor fabs, as well as creating new national initiatives to increase high-demand occupations like electricians and HVAC technicians.

  • Enabling Innovation and Adoption: Removing onerous Federal regulations that hinder AI development and deployment, and seek private sector input on rules to remove.

  • Upholding Free Speech in Frontier Models: Updating Federal procurement guidelines to ensure that the government only contracts with frontier large language model developers who ensure that their systems are objective and free from top-down ideological bias.

“America’s AI Action Plan charts a decisive course to cement U.S. dominance in artificial intelligence. President Trump has prioritized AI as a cornerstone of American innovation, powering a new age of American leadership in science, technology, and global influence. This plan galvanizes Federal efforts to turbocharge our innovation capacity, build cutting-edge infrastructure, and lead globally, ensuring that American workers and families thrive in the AI era. We are moving with urgency to make this vision a reality,” said White House Office of Science and Technology Policy Director Michael Kratsios.

“Artificial intelligence is a revolutionary technology with the potential to transform the global economy and alter the balance of power in the world. To remain the leading economic and military power, the United States must win the AI race. Recognizing this, President Trump directed us to produce this Action Plan. To win the AI race, the U.S. must lead in innovation, infrastructure, and global partnerships. At the same time, we must center American workers and avoid Orwellian uses of AI. This Action Plan provides a roadmap for doing that,” said AI and Crypto Czar David Sacks.

“Winning the AI Race is non-negotiable. America must continue to be the dominant force in artificial intelligence to promote prosperity and protect our economic and national security. President Trump recognized this at the beginning of his administration and took decisive action by commissioning this AI Action Plan. These clear-cut policy goals set expectations for the Federal Government to ensure America sets the technological gold standard worldwide, and that the world continues to run on American technology,” said Secretary of State and Acting National Security Advisor Marco Rubio.

Learn more at AI.Gov.

Dịch: Lê Trung Nghĩa

letrungnghia.foss@gmail.com

Thứ Hai, 7 tháng 7, 2025

Khung AI mới của Vương quốc Anh (UK) đặt văn hóa lên trước mã

Credit: Shutterstock

UK’s new AI framework puts culture before code

Jun 5, 2025

Theo: https://www.computerworld.com/article/4002450/uks-new-ai-framework-puts-culture-before-code.html

Bài được đưa lên Internet ngày: 05/06/2025

Hướng dẫn do chính phủ Anh hậu thuẫn khuyến khích các doanh nghiệp ưu tiên sự sẵn sàng về mặt hành vi và tổ chức hơn là các giải pháp kỹ thuật khi triển khai AI tạo sinh.

Credit: Shutterstock

Chính phủ Anh muốn các doanh nghiệp ngừng coi việc áp dụng AI là một thách thức về công nghệ và bắt đầu coi đó là vấn đề của con người. Trong nỗ lực mới nhất nhằm áp dụng AI tạo sinh có trách nhiệm, chính phủ đã đưa ra một khung tự nguyện kêu gọi các doanh nghiệp nhìn xa hơn mã và tập trung vào văn hóa, hành vi và các quyết định hàng ngày của con người.

Cốt lõi của cách tiếp cận này là hai công cụ thiết thực — “Yếu tố con người” và “Giảm thiểu rủi ro AI tiềm ẩn” — được thiết kế để giúp các tổ chức giải quyết các vấn đề thường bị che giấu dưới sự cường điệu — sự tự tin thái quá vào tự động hóa, sự phán xét của con người bị xói mòn và sự phản kháng thầm lặng từ người dùng. Chính phủ cho biết những rủi ro này cũng nguy hiểm như các mô hình có thiên vị hoặc các chatbot ảo giác.

Được xây dựng xung quanh mô hình Áp dụng, Duy trì, Tối ưu hóa - ASO (Adopt, Sustain, Optimize), hướng dẫn chuyển trọng tâm từ quy định, chẳng hạn như Đạo luật AI của EU, sang tính sẵn sàng, quản trị nội bộ và khả năng sử dụng trong thế giới thực. Hướng dẫn này hướng đến các CIO, nhà lãnh đạo kỹ thuật số và người đứng đầu bộ phận quản trị được giao nhiệm vụ mở rộng AI mà không mất đi sự giám sát của con người.

Mặc dù về mặt kỹ thuật, khung này không mang tính ràng buộc, nhưng nó không mang tính tùy chọn, và bổ sung cho Sổ tay AI dành cho Chính phủ Vương quốc Anh và Tiêu chuẩn dịch vụ của Chính phủ Vương quốc Anh. Với 34 tỷ đô la (25 tỷ bảng Anh) đã cam kết cho các trung tâm dữ liệu của Vương quốc Anh và 19 tỷ đô la khác (14 tỷ bảng Anh) nhằm thúc đẩy việc áp dụng AI trong các ngành, rõ ràng đây là một phần trong chiến lược quốc gia của Vương quốc Anh.

Prabhat Mishra, nhà phân tích tại QKS Group cho biết: "Các khung này đã tạo ra tính toàn vẹn về mặt cấu trúc cần thiết để áp dụng AI có trách nhiệm trên toàn doanh nghiệp". Mishra tuyên bố rằng các khung tự nguyện và mô hình quản trị nội bộ đang được đưa vào vận hành, không chỉ là lý thuyết.

Điều đó đã diễn ra trong chính phủ. Dịch vụ truyền thông của Vương quốc Anh đã sử dụng khung này để xây dựng và mở rộng quy mô "Assist" (Trợ giúp), một công cụ AI tạo sinh nội địa hiện đang được sử dụng trên 200 sở ban ngành và cơ quan công, với tỷ lệ áp dụng 70% và đang tăng lên. Đối với nhiều tổ chức, nghiên cứu điển hình đó có thể khiến ASO không còn giống như hướng dẫn mà giống như một sổ tay hướng dẫn hơn.

Cốt lõi lấy con người làm trung tâm của mô hình ASO

Phương pháp tiếp cận ba giai đoạn của khung — Áp dụng, Duy trì, Tối ưu hóa — giải quyết các khía cạnh con người của quá trình tích hợp AI. Trong giai đoạn Áp dụng, các tổ chức phải đối mặt trực tiếp với các rào cản áp dụng, với các giao thức cụ thể để xác định và giải quyết sự hoài nghi của nhân viên.

"Việc triển khai AI không thể chỉ tập trung vào công nghệ", khung này khẳng định. "Nó phải xem xét những người liên quan, nhu cầu của họ và các rào cản mà họ có thể gặp phải khi áp dụng và sử dụng AI một cách hiệu quả và an toàn, để đảm bảo rằng các lợi ích có thể được hiện thực hóa".

Nghiên cứu được trích dẫn trong các tài liệu cho thấy một khoảng cách đáng kể về lòng tin, với 50% người lớn ở Vương quốc Anh báo cáo không sử dụng AI hàng ngày, chỉ có 5% là người dùng thường xuyên. Mô hình này tìm cách thu hẹp khoảng cách này bằng cách làm cho AI dễ tiếp cận, không gây sợ hãi.

"Duy trì" chuyển trọng tâm sang các thách thức quản trị dài hạn, quy định các chế độ đào tạo liên tục và các cấu trúc hỗ trợ. Hướng dẫn nhấn mạnh rằng việc triển khai kỹ thuật chỉ là một thành phần. Việc áp dụng thành công đòi hỏi sự chú ý ngang nhau đến việc thích ứng hành vi và thiết kế lại quy trình.

Giai đoạn “Tối ưu hóa” cuối cùng giới thiệu các cơ chế để tinh chỉnh liên tục, bao gồm giám sát sự thiên vị và các biện pháp bảo vệ chống lại sự phụ thuộc quá mức. Bộ công cụ Giảm thiểu Rủi ro AI Ẩn trang bị cho các nhóm các công cụ như Sổ đăng ký Rủi ro Ẩn để phát hiện và giải quyết các vấn đề tinh vi, bao gồm cả các thiên vị không mong muốn len lỏi vào quá trình ra quyết định.

Mô hình ASO cũng dựa trên công trình trước đó của chính phủ, đặc biệt là báo cáo tháng 1/2025 — Hướng dẫn mới để Đánh giá Tác động của Công cụ AI — nêu ra các phương pháp đánh giá các tác động kinh tế, xã hội và môi trường rộng hơn của AI.

Xử lý các rủi ro vô hình khi áp dụng AI

Khung đưa ra lời chỉ trích nghiêm khắc về các biện pháp an toàn AI hiện tại. Báo cáo nêu rõ: “Không có phương pháp tiếp cận nào hiện có — chủ yếu là kỹ thuật — đối với an toàn AI được trang bị để xử lý những rủi ro 'ẩn' này”.

Trong khi sự lo lắng của công chúng tập trung vào những thất bại nghiêm trọng của AI — lừa đảo deepfake, thuật toán tuyển dụng thiên vị hoặc chatbot bịa đặt thông tin — thì Bộ công cụ Rủi ro Ẩn cho thấy thói quen thường ngày ở nơi làm việc thường gây ra nhiều thiệt hại hơn.

Bộ công cụ này lập bản đồ sáu loại lỗ hổng như vậy, bao gồm hành vi của người dùng, văn hóa nơi làm việc, khoảng cách trách nhiệm, và sự mệt mỏi khi ra quyết định. Đó là sự thay đổi trong tư duy từ việc xây dựng các thuật toán thông minh hơn sang thiết kế các hệ thống sử dụng an toàn hơn.

Sự thay đổi hành vi này phản ánh những thay đổi trong khu vực tư nhân. Mishra cho biết: "Khung tự nguyện của Vương quốc Anh là một bước đi chu đáo". "Các công ty như Tech Mahindra đang áp dụng các mô hình AI có Chủ quyền tôn trọng dữ liệu cục bộ, chuẩn mực văn hóa và giới hạn pháp lý — mà không ảnh hưởng đến quy mô". Những nỗ lực tương tự đang được tiến hành tại TCS với các LLM được phân định địa lý dành cho khách hàng tài chính và tại Capgemini, nơi 'AI có trách nhiệm theo thiết kế' đang được điều chỉnh để đáp ứng các yêu cầu của Đạo luật AI của EU, theo Mishra.

Nhưng khi triển khai AI tăng tốc, thì rủi ro cũng tăng theo. "Đối với các doanh nghiệp đang chạy đua để mở rộng quy mô AI, các rào cản không còn là tùy chọn nữa", Abhishek Ks Gupta, đối tác và là người đứng đầu ngành này của quốc gia tại KPMG Ấn Độ, cảnh báo. "Những gì từng là về giảm thiểu rủi ro giờ đây đã trở thành hiện thực".

Rào cản triển khai ASO

Phương pháp tiếp cận lấy con người làm trung tâm của mô hình ASO đánh dấu một bước tiến lớn trong quản trị AI, nhưng việc áp dụng trong thế giới thực phải đối mặt với những rào cản đáng kể. Các ngành công nghiệp truyền thống, như sản xuất, phải vật lộn với các cuộc kiểm toán an toàn tâm lý trong các nền văn hóa phân cấp, nơi nhân viên có thể ngần ngại chỉ trích các hệ thống AI.

Đối với các công ty đa quốc gia, khung này làm tăng thêm tính phức tạp cho bối cảnh quản lý vốn đã phân mảnh. Mishra cho biết: "Việc cân bằng các quy tắc AI theo từng quốc gia là không bền vững". "Đó là lý do tại sao các tiêu chuẩn như ISO 42001 và Nguyên tắc AI của OECD lại rất quan trọng - chúng cho phép các công ty xây dựng một nền tảng quản trị cho nhiều khu vực pháp lý". Mishra cho biết mặc dù mang tính sáng tạo, nhưng nó có nguy cơ trở thành một silo khác trừ khi phù hợp với các chuẩn mực toàn cầu. "Sự khác biệt có thể cản trở việc áp dụng quốc tế".

Tuy nhiên, khung này xuất hiện vào thời điểm quan trọng trong quá trình trưởng thành của quản trị AI. Mishra cho biết: "Chúng tôi đã vượt ra ngoài việc coi AI có trách nhiệm là một tiện ích bổ sung tùy chọn". "Các tổ chức hàng đầu hiện đang tích hợp khả năng giải thích, khả năng kiểm toán và phát hiện thiên vị ngay từ giai đoạn thiết kế ban đầu, và đây không phải là những suy nghĩ sau này mà là các yêu cầu cốt lõi".

Mishra nhấn mạnh rằng thành công của khung này phụ thuộc vào sự thống nhất toàn cầu. Với các tiêu chuẩn chung và các công cụ trực quan, ASO có thể hướng dẫn các công ty áp dụng AI một cách có trách nhiệm, không chỉ vội vàng triển khai.

Các câu trả lời thông minh của Computerworld

Học hỏi thêm

Khám phá các câu hỏi liên quan

The UK government-backed guidance urges businesses to prioritize behavioral and organizational readiness over technical fixes when deploying generative AI.

The UK government wants businesses to stop thinking of AI adoption as a tech challenge and start treating it as a people problem. In its latest push for adopting responsible generative AI, it has introduced a voluntary framework urging enterprises to look beyond code and focus on culture, behavior, and day-to-day human decisions.

At the core of this approach are two practical tools — “The People Factor” and “Mitigating Hidden AI Risks”— that are designed to help organizations tackle issues often buried under the hype — overconfidence in automation, eroded human judgment, and silent resistance from users. These risks, the government said, are just as dangerous as biased models or hallucinating chatbots.

Structured around an Adopt, Sustain, Optimize(ASO) model, the guidance shifts emphasis from regulation, such as the EU’s AI Act, to readiness, internal governance, and real-world usability. It’s aimed at CIOs, digital leaders, and governance heads tasked with scaling AI without losing sight of human oversight.

While the framework is technically non-binding, it doesn’t feel optional, and complements the AI Playbook for the UK Government and the UK Government’s Service Standard. With $34 billion (£25 billion) already committed to UK data centers and another $19 billion (£14 billion) aimed at driving AI adoption across industries, it’s clear that it’s part of the UK’s national strategy.

“These frameworks have created the structural integrity needed for responsible, enterprise-wide AI adoption,” said Prabhat Mishra, Analyst at QKS Group. Voluntary frameworks and internal governance models are being operationalized, not just theorized, stated Mishra.

That’s already playing out inside the government. The UK’s own Communication Service used the framework to build and scale “Assist,” a homegrown generative AI tool now in use across 200 departments and public bodies, with a 70% adoption rate and rising. For many organizations, that case study may make ASO feel less like guidance and more like a playbook.

The human-centric core of the ASO model

The framework’s three-phase approach — Adopt, Sustain, Optimize — addresses the human dimensions of AI integration. In the Adopt phase, organizations confront adoption barriers head-on, with specific protocols for identifying and addressing employee skepticism.

“AI implementation can’t be solely techno-centric,” asserted the framework. “It must consider the people involved, their needs, and the barriers they may experience in adopting and using AI effectively and safely, to ensure that the benefits can be realised.”

Research cited in the documents reveals a significant trust gap, with 50% of UK adults reporting no daily AI use, with only 5% being frequent users. The model seeks to bridge this gap by making AI approachable, not intimidating.

“Sustain” shifts focus to long-term governance challenges, prescribing continuous training regimens and support structures. The guidance emphasizes that technical implementation represents just one component. Successful adoption requires equal attention to behavioral adaptation and process redesign.

The final “Optimize” phase introduces mechanisms for ongoing refinement, including bias monitoring and over-reliance safeguards. The Mitigating Hidden AI Risks Toolkit equips teams with tools like the Hidden Risks Register to spot and tackle subtle issues, including unintended biases that creep into decision-making.

The ASO model also builds on earlier government work, especially its January 2025 report — New Guidance for Evaluating the Impact of AI Tools — which laid out methods to assess AI’s broader economic, societal, and environmental implications.

Tackling the invisible risks of AI adoption

The framework delivers a sobering critique of current AI safety measures. “None of the existing — predominantly technical — approaches to AI safety are equipped to handle these ‘hidden’ risks,’” the report stated bluntly.

While public anxiety focuses on dramatic AI failures — deepfake scams, biased hiring algorithms, or chatbots fabricating information — the Hidden Risks Toolkit reveals how mundane workplace habits often prove more damaging.

The toolkit maps six categories of such vulnerabilities, spanning user behavior, workplace culture, accountability gaps, and decision fatigue. It’s a shift in mindset from building smarter algorithms to designing safer systems of use.

This behavioral shift mirrors changes in the private sector. “The UK’s voluntary framework is a thoughtful step,” said Mishra. “Firms like Tech Mahindra are adopting Sovereign AI models that respect local data, cultural norms, and legal limits — without sacrificing scale.” Similar efforts are underway at TCS with geo-fenced LLMs for financial clients, and at Capgemini, where ‘Responsible AI by Design’ is being tailored to meet EU AI Act requirements, according to Mishra.

But as AI deployments accelerate, so do the stakes. “For enterprises racing to scale AI, guardrails are no longer optional,” warned Abhishek Ks Gupta, partner and national sector leader at KPMG India. “What was once about risk mitigation is now existential.”

ASO’s implementation barriers

The ASO model’s human-centric approach marks a major advance in AI governance, but real-world adoption faces significant hurdles. Traditional industries, like manufacturing, struggle with psychological safety audits in hierarchical cultures where employees may hesitate to critique AI systems.

For multinationals, the framework adds complexity to an already fragmented regulatory landscape. “Juggling country-specific AI rules isn’t sustainable,” Mishra said. “That’s why standards like ISO 42001 and the OECD AI Principles are critical—they let companies build one governance foundation for multiple jurisdictions.” While innovative, it risks becoming another silo unless aligned with global norms, said Mishra. “Divergence could hinder international adoption.”

However, the framework arrives at a pivotal moment in AI governance maturity. “We’ve moved beyond treating responsible AI as an optional add-on,” Mishra said. “Leading organizations now bake in explainability, audit capabilities, and bias detection from the initial design phase, and these aren’t afterthoughts but core requirements.”

Mishra stressed that the framework’s success rests on global alignment. With shared standards and intuitive tools, ASO could guide firms to embrace AI responsibly, not just rush its rollout.

Computerworld Smart Answers

Learn more

Explore related questions

Dịch: Lê Trung Nghĩa

letrungnghia.foss@gmail.com

Chủ Nhật, 19 tháng 1, 2025

Hội nghị Tài nguyên Giáo dục Mở Thế giới lần 3: Định hình tương lai việc học tập và quyền truy cập tới tri thức

Third UNESCO World OER Congress: Shaping the future of learning and access to knowledge

24 December 2024

Theo: https://www.unesco.org/en/articles/third-unesco-world-oer-congress-shaping-future-learning-and-access-knowledge?hub=785

Bài được đưa lên Internet ngày: 24/12/2024

Hội nghị Tài nguyên Giáo dục Mở (TNGDM) - OER (Open Educational Resources), đã diễn ra tại Dubai, Tiểu vương quốc Ả rập Thống nhất (UAE) đã tập hợp hơn 400 nhà lãnh đạo, nhà giáo dục và nhà đổi mới trên toàn cầu để thảo luận cách để các giải pháp mở & trí tuệ nhân tạo (AI) có thể thúc đẩy quyền truy cập tới tri thức như thế nào.

UNESCO

Sự kiện này với chủ đề “Hàng hóa Công cộng kỹ thuật số - DPG (Digital Public Goods): Các Giải pháp Mở và AI vì Quyền truy cập Toàn diện tới Tri thức”, đã đưa ra Tuyên bố Dubai về TNGDM (bản dịch sang tiếng Việt), tăng cường các nỗ lực để làm cho việc học tập truy cập được nhiều hơn, công bằng và toàn diện hơn. Hội nghị TNGDM Thế giới lần 3 của UNESCO đã xem xét các cơ chế tối ưu hóa nội dung học tập được cấp phép mở để giải quyết các thách thức và cơ hội do các công nghệ mới nổi lên và AI đặt ra.

Cam kết mạnh mẽ về Tài nguyên Giáo dục Mở

Điện hạ Sheikha Latifa bint Mohammed bin Rashid Al Maktoum, Chủ tịch Cơ quan Văn hóa và Nghệ thuật Dubai, đã khai mạc Hội nghị TNGDM Thế giới lần 3 của UNESCO tại Trung tâm Thương mại Thế giới Dubai.

Trong bài phát biểu của mình, Điện hạ Sheikha Latifa đã nhấn mạnh vai trò then chốt của Hội nghị trong việc mở khóa tiềm năng của TNGDM để nâng cao quyền truy cập tới kiến thức và thúc đẩy cộng tác trong giáo dục kỹ thuật số. Điện hạ đã nêu bật tầm quan trọng của việc điều chỉnh các nỗ lực toàn cầu để thúc đẩy việc học tập chia sẻ và tận dụng công nghệ để giải quyết các thách thức toàn cầu.

UNESCO

“Khi chúng ta đối mặt với sự tiến bộ công nghệ nhanh, là thiết yếu chúng ta phát triển các chương trình được cấp phép để cung cấp thông tin tin cậy, đảm bảo nền tảng vững chắc cho tương lai giáo dục trên toàn thế giới”.

Điện hạ Sheikha Latifa

Hội nghị TNGDM Thế giới lần 3 đã chứng kiến sự tham gia của các quan chức chính phủ, các nhà giáo dục và các nhà đổi mới công nghệ từ khắp nơi trên thế giới, tất cả đã thống nhất về sứ mệnh nâng cao quyền truy cập tới giáo dục thông qua TNGDM. Trong vòng 2 ngày, sự kiện đã chỉ ra những phát triển mới nhất trong các sáng kiến TNGDM và đã khám phá cách để các giải pháp mở, bao gồm trí tuệ nhân tạo (AI), có thể giúp mở rộng quyền truy cập tới giáo dục chất lượng cho tất cả mọi người.

Hội nghị đã có Phiên nhóm dành cho các Bộ trưởng: Định hình Tương lai Giáo dục, do Bà Louise Haxthausen, Giám đốc UNESCO Nairobi chủ tọa. Những người tham gia đã thảo luận các cách tiếp cận quốc gia có tính đổi mới nhằm thúc đẩy hòa nhập thông qua TNGDM.

Tâm điểm của hội nghị là thảo luận về nhu cầu về một hệ sinh thái TNGDM toàn cầu mạnh mẽ tạo thuận lợi cho sự cộng tác và hỗ trợ cho các mô hình bền vững TNGDM. Chủ đề trọng tâm xuyên suốt hội nghị là vai trò của hàng hóa công cộng kỹ thuật số (DPG) - tài nguyên giáo dục mở (TNGDM) truy cập được miễn phí và có thể được tùy chỉnh hoặc tái mục đích nhằm đáp ứng các nhu cầu của địa phương - để cải thiện các hệ thống giáo dục trên toàn cầu.

Hội nghị đã tập trung vào cách để trí tuệ nhân tạo (AI) có thể bổ sung cho các nỗ lực TNGDM, đặc biệt về các khía cạnh cá nhân hóa việc học tập và tạo lập nội dung toàn diện. Các thảo luận và bài trình chiếu của phiên này đã nêu bật các ứng dụng AI khác nhau, từ việc tạo lập nội dung được tự động hóa cho đến phân tích dữ liệu có thể giúp cho các nhà giáo dục hiểu các nhu cầu của sinh viên và nâng cao kết quả giáo dục.

UNESCO

“Chúng ta có cơ hội độc nhất vô nhị để định hình lại bối cảnh giáo dục bằng cách thúc đẩy văn hóa của tính mở và cộng tác. TNGDM không chỉ là các công cụ giáo dục - chúng là chìa khóa nhằm đảm bảo giáo dục vẫn là truy cập được, toàn diện và tùy chỉnh được cho các nhu cầu của các cộng đồng khác nhau”.

UNESCO

Tawfik Jelassi

Trợ lý Tổng Giám đốc về Truyền thông và Thông tin, UNESCO

Khám phá tính hiện đại của TNGDM và AI

Phiên thảo luận đầy suy nghĩ, ‘Khai thác TNGDM và AI Tạo sinh vì sự Hòa nhập Kỹ thuật số’, đã khám phá cách để AI và TNGDM có thể giải quyết các thách thức chính toàn cầu, từ bất bình đẳng giới trong giáo dục cho tới tính hòa nhập trong không gian kỹ thuật số. TS. Colin de la Higuera, Chủ tịch UNESCO về Tài nguyên giáo dục mở tại Đại học Nantes, Pháp, đã chủ trì phiên họp.

Một phiên khác, ‘Đề xuất Giá trị cho nội dung học tập được cấp phép mở’, đã nêu bật các thực hành tốt nhất trên toàn cầu và các ứng dụng đổi mới của TNGDM. TS. Tawfik Jelassi đã thảo luận về Khuyến nghị TNGDM 2019 của UNESCO và tầm nhìn của nó cho tương lai, trong khi Bà Anna Tumadóttir, CEO của Creative Commons, Iceland, đã nhấn mạnh vai trò quan trọng của việc cấp phép mở trong việc định hình tương lai của giáo dục. Hai phiên thảo luận đã tập trung vào việc triển khai Khuyến nghị TNGDM 2019, phù hợp với tầm nhìn của UNESCO nhằm tăng cường việc xây dựng năng lực và phát triển chính sách cho TNGDM. Lĩnh vực Hành động 1 đã tập trung vào việc xây dựng năng lực thông qua các kho và đào tạo TNGDM, trong khi Lĩnh vực Hành động 2 đã khám phá sự tạo lập các chính sách để hỗ trợ áp dụng TNGDM, giải quyết các vấn đề quan trọng như bảo vệ và quyền riêng tư của dữ liệu.

Lĩnh vực Hành động 3 và 4 đã tập trung vào việ nâng cao chất lượng, khả năng tiếp cận và tính bền vững của TNGDM. Các thảo luận đã tập trung vào việc thúc đẩy bình đẳng giới và giải quyết các nhu cầu đặc thù của các nhóm dễ bị tổn thương, chẳng hạn như thanh niên, các cộng đồng người bản địa, và các quốc đảo nhỏ đang phát triển (SIDS).

Cộng tác nằm trong tâm của sự thay đổi

Một trong những thành quả nổi bật của hội nghị là sự nhất mạnh vào cộng tác xuyên biên giới. Những người tham gia từ các quốc gia thành viên, xã hội dân sự và khu vực tư nhân đã thảo luận về chiến lược tạo lập và duy trì các hệ sinh thái TNGDM bền vững. Được xây dựng dựa trên Hội nghị TNGDM Thế giới lần 2 đã diễn ra ở Slovenia, TS. Maja Zalaznik, nguyên Bộ trưởng Giáo dục và Thể thao, Phó Chủ tịch Ủy ban Quốc gia Slovenia, đã chia sẻ các kiến thức chuyên sâu có giá trị trong các sáng kiến TNGDM quốc gia của Slovenia, điều rất quan trọng trong việc thúc đẩy áp dụng rộng khắp TNGDM khắp châu Âu.

Hội nghị cũng đã đề cập tới các vấn đề chẳng hạn như phân cách số và nhu cầu về các khung chính sách khuyến khích phát triển và áp dụng TNGDM. Các chuyên gia đã nêu bật tầm quan trọng của việc tạo lập các chính sách TNGDM quốc gia phù hợp với Khuyến nghị 2019, đảm bảo rằng TNGDM được tích hợp vào trong các hệ thống giáo dục chính quy.

Lời kêu gọi hành động của Dubai: Một cột mốc trong ủng hộ TNGDM

Tuyên bố Dubai về TNGDM đã được chính thức thông qua vào ngày 20/11/2024. Tài liệu này sẽ phục vụ như là lộ trình cho các chính phủ, cơ sở và các bên liên quan khác để củng cố cam kết của họ về TNGDM và để đảm bảo rằng các hàng hóa công cộng kỹ thuật số (DPG) là trọng tâm nhằm đạt được các Mục tiêu Phát triển Bền vững trong Chương trình nghị sự 2030.

Tài liệu kết quả này kêu gọi các hành động cụ thể nhằm mở rộng sử dụng TNGDM trong các hệ thống giáo dục, nhấn mạnh tầm quan trọng của việc sử dụng AI vì sự hòa nhập, công bằng và tính bền vững nhiều hơn nữa. Nó cũng đưa ra các bước nhằm nâng cao chất lượng nội dung của TNGDM, xây dựng năng lực các bên liên quan, và thúc đẩy hợp tác quốc tế trong tạo lập và phổ biến TNGDM.

Hội nghị TNGDM Thế giới lần 3 của UNESCO đã kết thúc với một lưu ý hy vọng, tái khẳng định tiềm năng biến đổi của TNGDM và các hàng hóa công cộng kỹ thuật số trong việc định hình tương lai của giáo dục. Khi các nhà lãnh đạo và nhà giáo dục toàn cầu cam kết thực hiện các hành động được nêu trong Tuyên bố Dubai, con đường phía trước có vẻ đầy hứa hẹn, với TNGDM sẵn sàng đóng vai trò trung tâm trong việc đạt được nền giáo dục toàn diện và công bằng cho tất cả mọi người.

UNESCO

UNESCO’s 3rd World Open Educational Resources (OER) Congress, held in Dubai, United Arab Emirates (UAE) brought together more than 400 global leaders, educators and innovators to discuss how open solutions and artificial intelligence (AI) can foster inclusive access to knowledge.

The event, themed “Digital Public Goods: Open Solutions and AI for Inclusive Access to Knowledge,” produced the Dubai Declaration on OER, accelerating efforts to make learning more accessible, equitable and inclusive. This 3rd UNESCO World OER Congress examined mechanisms for optimizing openly licensed learning content to address the challenges and opportunities posed by emerging technologies and AI. 

A Strong Commitment to Open Educational Resources

Her Highness Sheikha Latifa bint Mohammed bin Rashid Al Maktoum, Chairperson of Dubai Culture and Arts Authority, inaugurated the 3rd UNESCO World OER Congress at the Dubai World Trade Centre. 

In her opening speech, Her Highness Sheikha Latifa emphasized the pivotal role of the Congress in unlocking the potential of OER to enhance access to knowledge and foster collaboration in digital education. Her Highness highlighted the importance of aligning global efforts to promote shared learning and to leverage technology to address global challenges.

“As we face rapid technological progress, it is essential that we develop licensed programs that provide reliable information, ensuring a solid foundation for the future of education worldwide.”

Her Highness Sheikha Latifa

The 3rd World OER Congress witnessed participation of government officials, educators and technology innovators from across the globe, all united in the mission to enhance access to education through OER. Over two days, the event showcased the latest developments in OER initiatives and explored how digital solutions, including artificial intelligence (AI), can help expand access to quality education for all.

The Congress featured a Ministerial Panel: Shaping the Future of Education, chaired by Ms Louise Haxthausen, Director of UNESCO Nairobi.  The panelists discussed   innovative national approaches to fostering inclusion through OER.

At the heart of the congress was a discussion on the need for a robust global OER ecosystem that facilitates collaboration and supports sustainable models of OER. A central theme throughout the congress was the role of digital public goods—open educational resources that are freely accessible and can be adapted or repurposed to meet local needs—in enhancing education systems worldwide.

The congress focused on how artificial intelligence (AI) can complement OER efforts, particularly in terms of personalizing learning and creating inclusive content. Panel discussions and presentations highlighted various AI applications, from automated content creation to data analytics that can help educators understand student needs and improve educational outcomes.

“We have a unique opportunity to reshape the educational landscape by fostering a culture of openness and collaboration. OER are not just educational tools—they are key to ensuring that education remains accessible, inclusive and adaptive to the needs of diverse communities.”

Tawfik Jelassi

Assistant Director-General for Communication and Information, UNESCO

Exploring the Cutting-Edge of OER and AI

A thought-provoking session, 'Harnessing OER and Generative AI for Digital Inclusion,' explored how AI and OER can address key global challenges, from gender parity in education to inclusivity in digital spaces. Dr Colin de la Higuera, UNESCO Chair in Open Educational Resources at Université of Nantes, France, chaired the session.

Another session, ‘The Value Proposition for Openly Licensed Learning Content,’ highlighted global best practices and innovative applications of OER. Dr. Tawfik Jelassi discussed the 2019 UNESCO Recommendation on OER and its vision for the future, while Ms Anna Tumadóttir, CEO of Creative Commons, Iceland, underscored the critical role of open licensing in shaping the future of education. Two breakout sessions focused on implementing the 2019 Recommendation on OER, aligning with UNESCO’s vision to strengthen capacity building and policy development for OER. Action Area 1 focused on building capacity through OER repositories and training, while Action Area 2 explored the creation of policies to support OER adoption, addressing critical issues like data protection and privacy.

Action Areas 3 and 4 focused on enhancing the quality, accessibility and sustainability of OER. Discussions centered on promoting gender equality and addressing the unique needs of vulnerable groups such as youth, indigenous communities, and small island developing states (SIDS). 

Collaboration at the Heart of Change

One of the standout achievements of the congress was the emphasis on cross-border collaboration. Participants from Member States, civil society and the private sector discussed strategies for creating and maintaining sustainable OER ecosystems. Building on the 2nd World OER Congress held in Slovenia, Dr. Maja Zalaznik, former Minister of Education and Sports, Vice President of the Slovenian National Commission, shared valuable insights into Slovenian national OER initiatives, which have been crucial in promoting the widespread adoption of OER across Europe. 

The congress also addressed critical issues such as the digital divide and the need for policy frameworks that encourage the development and adoption of OER. Experts highlighted the importance of creating national OER policies that align with 2019 Recommendation, ensuring that OER are integrated into formal education systems.

The Dubai Call for Action: A Milestone in OER Advocacy

The Dubai Declaration on OER was formally adopted on 20 November 2024. This document will serve as a roadmap for governments, institutions and other stakeholders to strengthen their commitments to OER and to ensure that digital public goods are central to achieving the 2030 Agenda for Sustainable Development Goals. 

This outcome document calls for concrete actions to expand the use of OER in educational systems, emphasizing the importance of using AI for more inclusivity, equity and sustainability. It also outlines steps for enhancing the quality of OER content, building the capacity of stakeholders, and fostering international cooperation in the creation and dissemination of OER.

The 3rd UNESCO World OER Congress concluded on a hopeful note, reaffirming the transformative potential of OER and digital public goods in shaping the future of education. As global leaders and educators commit to the actions outlined in the Dubai Declaration, the path forward looks promising, with OER poised to play a central role in achieving inclusive and equitable education for all.

Dịch: Lê Trung Nghĩa

letrungnghia.foss@gmail.com

Thứ Tư, 18 tháng 12, 2024

Phong trào Bình dân học vụ số: Mục tiêu, đối tượng, nội dung, nguồn lực, phương thức tổ chức thực hiện


Lê Trung Nghĩa, ORCID iD: https://orcid.org/0009-0007-7683-7703

Viện Nghiên cứu, Đào tạo và Phát triển Tài nguyên Giáo dục Mở (InOER)

Hiệp hội các trường đại học cao đẳng Việt Nam (AVU&C)


Giấy phép nội dung: CC BY 4.0 Quốc tế


----------------------------------------------------

Tóm tắt: Bình dân học vụ số là một nhiệm vụ mới và cấp bách hiện nay, đã được Tổng Bí thư Tô Lâm giao cho Ban Tuyên Giáo Trung ương phối hợp với Bộ Giáo dục và Đào tạo nghiên cứu để sớm triển khai. Theo đề xuất của Ban Tuyên Giáo Trung ương cho Hiệp hội các trường đại học cao đẳng Việt Nam, bài viết này trình bày mục tiêu, đối tượng, nội dung, nguồn lực, phương thức tổ chức thực hiện của Phong trào bình dân học vụ số dưới góc nhìn năng lực số cho công dân dựa trên hàng hóa công cộng số và các giải pháp mở nhằm xóa mù số cho toàn dân hiệu quả và bền vững.

Từ khóa: bình dân học vụ số, xóa mù số, khung năng lực số cho công dân, hàng hóa công cộng số, giải pháp mở

----------------------------------------------------

Phong trào Bình dân học vụ ra đời (1945) là nhằm giải quyết việc diệt "giặc dốt" - một trong các vấn đề cấp bách nhất để xóa nạn mù chữ cho nhân dân, trong bối cảnh ngay sau khi Việt Nam giành được độc lập vào năm 1945, có tới 95% dân số mù chữ và ngân sách dành cho giáo dục rất thiếu thốn, dựa vào sức dân là chính1.

Trong kỷ nguyên số ngày nay, việc xóa mù số cho toàn dân cũng là nhiệm vụ cấp bách, như ‘Phát biểu của Tổng Bí thư Tô Lâm tại buổi gặp mặt đại diện nhà giáo, cán bộ quản lý giáo dục nhân Ngày Nhà giáo Việt Nam 20/11’2 nêu một trong những việc cần làm ngay là: “(ii) Phát động thực hiện phong trào "bình dân học vụ số". Thực tế hiện nay, còn tỷ lệ lớn người dân, kể cả cán bộ trong cơ quan nhà nước chưa nắm vững về chuyển đổi số; trong khi đó, Bộ Chính trị đã bàn và quyết định sẽ ban hành Nghị quyết về chuyển đổi số quốc gia. Để thực hiện thành công Nghị quyết này, yêu cầu nhanh chóng phổ cập tri thức cơ bản về chuyển đổi số cho toàn dân đang đặt ra cấp thiết.”

1. Mục tiêu

Mục tiêu của phong trào bình dân học vụ số là xóa mù số cho toàn dân thông qua việc phổ cập tri thức cơ bản về chuyển đổi số cho toàn dân để góp phần đạt được “mục tiêu kép là vừa phát triển chính phủ số, kinh tế số, xã hội số, vừa hình thành các doanh nghiệp công nghệ số Việt Nam có năng lực đi ra toàn cầu, như mục tiêu cơ bản được nêu trong Quyết định 749/QĐ-TTg3 ngày 03/06/2020 của Thủ tướng Chính phủ: Phê duyệt "Chương trình Chuyển đổi số quốc gia đến năm 2025, định hướng đến năm 2030".

Định nghĩa chuyển đổi số:

Chuyển đổi số là quá trình thay đổi tổng thể và toàn diện của cá nhân, tổ chức về cách sống, cách làm việc và phương thức sản xuất dựa trên các công nghệ số.

Cẩm nang chuyển đổi số (2021, trang 21)4

2. Đối tượng

Đối tượng của phong trào bình dân học vụ số là bất kỳ công dân Việt Nam nào, vì, như Tổng Bí thư Tô Lâm đã nêu ở trên ‘Thực tế hiện nay, còn tỷ lệ lớn người dân, kể cả cán bộ trong cơ quan nhà nước chưa nắm vững về chuyển đổi số’. Khi nói bất kỳ công dân Việt Nam nào, là bao gồm cả tất cả những người có chuyên môn về công nghệ thông tin và truyền thông (CNTT-TT) và/hoặc đang làm việc trong chuyên ngành CNTT-TT.

3. Nội dung

Khác biệt cơ bản giữa việc xóa mù chữ trong phong trào bình dân học vụ thời kỳ 1945 với việc xóa mù số trong phong trào bình dân học vụ số ngày nay nằm ở chỗ là việc xóa mù chữ đòi hỏi mọi người dân phải biết đọc biết viết chữ quốc ngữ, còn việc xóa mù số đòi hỏi mọi người dân phải có năng lực kỹ thuật số, hay, năng lực số.

Định nghĩa năng lực số và các thành phần của nó5

Năng lực số được định nghĩa là: việc sử dụng tự tin, nghiêm túc và có trách nhiệm và tham gia với các công nghệ số để học tập, làm việc, và tham gia trong xã hội; Năng lực số được xây dựng dựa vào: (1) Kiến thức; (2) Kỹ năng; và (3) Thái độ; trong đó:

  • Kiến thức: kết quả của sự hấp thụ thông tin lý thuyết hoặc thực tế bằng cách học. Kiến thức là tập hợp các sự kiện, nguyên tắc, lý thuyết và thực hành có liên quan đến lĩnh vực công việc/nghiên cứu.

  • Kỹ năng: khả năng áp dụng kiến thức và sử dụng hiểu biết để hoàn thành các nhiệm vụ và giải quyết vấn đề. Có thể: kỹ năng nhận thức/thực hành.

  • Thái độ: động cơ thúc đẩy sự thực thi, gồm: (1) các giá trị; (2) cảm hứng; và (3) ưu tiên.

3.1 Khung năng lực số và sự cần thiết của nó

Để biết một cá nhân hay tổ chức bất kỳ nào có năng lực số hay không, và ở mức thông thạo nào, chúng ta sẽ cần tới các Khung năng lực số.

Trên thế giới có nhiều khung năng lực số khác nhau cho nhiều đối tượng khác nhau, ví dụ, châu Âu có hàng loạt các Khung năng lực số, chẳng hạn như: Khung năng lực số cho tổ chức giáo dục; Khung năng lực số cho nhà giáo dục; Khung năng lực cho khởi nghiệp/doanh nghiệp; Khung năng lực số cho người tiêu dùng; Khung năng lực số cho học tập suốt đời; Khung năng lực số cho công dân, trong đó, Khung năng lực số cho công dân là Khung cơ bản nhất với lập luận rằng, bất kể bạn là ai, trước hết bạn phải là một công dân.

Bên cạnh các Khung năng lực số mục đích chung nêu trên, còn có các khung năng lực số dành riêng cho các lĩnh vực/ngành khác nhau, ví dụ như Khung năng lực số cho y tế, du lịch, v.v.

Nhiều Khung năng lực số nêu trên đã được dịch sang tiếng Việt6, bao gồm cả Khung năng lực số cho công dân phiên bản mới nhất v2.2 của Ủy ban châu Âu, và bất kỳ ai cũng có thể tải xuống các tệp tài liệu đó.

Nói ngắn gọn, Khung năng lực số là không thể thiếu, vì nó trả lời cho câu hỏi: Ai, tổ chức nào có năng lực số, và nếu có, thì ở mức thông thạo nào.

Thành phần của Khung năng lực số

Khung năng lực số định nghĩa và mô tả các năng lực số quan trọng nhất trong một lĩnh vực nhất định, thường đi kèm với các thành phần sau:

  1. Lĩnh vực năng lực với một mô tả ngắn gọn cho lĩnh vực đó;

  2. (Các) Năng lực trong một Lĩnh vực năng lực cụ thể & mô tả cho từng năng lực;

  3. Mức thông thạo đối với từng năng lực cụ thể. Ví dụ, theo Khung Trình độ châu Âu (EQF) có 4 mức thông thạo cơ bản, gồm: Cơ bản, Trung bình, Cao, và Chuyên gia (Cao đặc biệt). Mỗi mức này lại được chia thành 2 mức nhỏ, vì thế tổng cộng sẽ có 8 mức thông thạo. Các giáo viên/giảng viên phải có mức thông thạo Cao chứ không thể ở mức Cơ bản hay Trung bình. Theo tài liệu được Ủy ban châu Âu xuất bản năm 2016 thì “khoảng 85% tất cả các việc làm ở Liên minh châu Âu cần ít nhất mức kỹ năng số cơ bản”7 trong khi một cuộc khảo sát năm 2017 cho thấy 43% dân số của Liên minh châu Âu không có đủ mức kỹ năng số (không có kỹ năng hoặc có nhưng thấp) và 10% lực lượng lao động không có kỹ năng số. Tại Việt Nam chưa có khảo sát nào tương tự như vậy.

  4. Các ví dụ về kiến thức, kỹ năng, và thái độ đối với từng năng lực số.

  5. Kịch bản sử dụng: thường có 2 kịch bản: (1) cho giáo dục; và (2) cho việc làm. Theo cách tiếp cận về Khung năng lực số của châu Âu, thì một công dân cần có năng lực số để: (1) có khả năng được tuyển dụng để có việc làm; (2) để có việc làm tươm tất hơn; và (3) để tự khởi nghiệp. Các kịch bản giải thích cho các nhu cầu về năng lực số của công dân.


Hình 1. Khung năng lực số cho công dân (DigComp) của Ủy ban châu Âu

Khung năng lực số cần phải được triển khai trong thực tế và cập nhật liên tục

Khung năng lực số chỉ là Khung lý thuyết. Để sử dụng tốt Khung năng lực số, quốc gia và/hoặc tổ chức cần đưa nó vào thực tế cuộc sống bằng việc tùy chỉnh nó cho phù hợp với bối cảnh của quốc gia/tổ chức của mình. Các quốc gia thành viên của Liên minh châu Âu và nhiều tổ chức ở đó, cả công và tư, đều đã và đang tùy chỉnh các Khung năng lực số mục đích chung được nêu ở trên cho phù hợp với bối cảnh của từng quốc gia/tổ chức của mình. Điều này gợi ý rằng, Việt Nam cũng có thể thực hiện việc tùy chỉnh tương tự, chứ không cần phải ‘làm lại cái bánh xe’ từ đầu.

Trường hợp điển hình về các tổ chức nhà nước, cơ sở giáo dục và công ty triển khai Khung năng lực số cho công dân (DigComp) trong thực tế tại các quốc gia trong và ngoài châu Âu được ghi lại thành sách là: DigComp at Work và DigComp in Action.

Việc nhiều tổ chức nhà nước, cơ sở giáo dục và công ty tùy chỉnh Khung năng lực số vào thực tế cuộc sống giúp cho Khung năng lực số có thể được cập nhật liên tục qua thời gian cho sát với thực tế cuộc sống hơn sau khi nhận được phản hồi từ các triển khai thực tế đó, nhất là khi các công nghệ CNTT-TT phát triển rất nhanh và liên tục thay đổi. Điều này được thể hiện thông qua sự cập nhật liên tục, ví dụ, của Khung năng lực số cho công dân (DigComp) các phiên bản khác nhau qua thời gian: v1.0 năm 2013; v2.0 năm 2016; v2.1 năm 2017; và v2.2 năm 2022.

Phiên bản gần đây nhất của Khung năng lực số cho công dân là DigComp v2.2 năm 2022 có 259 ví dụ8, trong đó có 35 ví dụ liên quan đến trí tuệ nhân tạo (AI), chiếm 13,5% tổng số các ví dụ. Điều này gợi ý rằng, hoàn toàn có thể sử dụng Khung năng lực số cho công dân v2.2 của châu Âu và tùy chỉnh cho phù hợp với bối cảnh của Việt Nam với trí tuệ nhân tạo (AI) đã được tích hợp đầy đủ sẵn trong Khung.

Khung năng lực số không đi một mình

Để có thể đánh giá được một cách định lượng xem ai, tổ chức nào có năng lực số và với mức thông thạo nào, thì Khung năng lực số không thể chỉ đi một mình, mà cần có bộ các sản phẩm sau đây:

  1. Khung năng lực số, để biết ai hoặc tổ chức nào thực sự có năng lực số và ở mức thông thạo nào.

  2. Công cụ đánh giá năng lực số. Công cụ này thường được tạo thành từ 2 thành tố: (1) phần mềm dựa vào công nghệ web; (2) ngân hàng các câu hỏi với càng nhiều câu hỏi càng tốt để có thể có được nhiều đề bài khác nhau cho cùng một mức thông thạo của cùng một năng lực cho các lần tự đánh giá khác nhau. Công cụ này giúp đánh giá từng năng lực, từng lĩnh vực năng lực một cách định lượng dựa vào việc tính điểm và xếp hạng mức thông thạo thông qua việc trả lời các câu hỏi trong ngân hàng câu hỏi. Công cụ này cũng cung cấp vài cách đánh giá năng lực, một trong số đó là bất kỳ ai cũng có thể tự đánh giá và tự đánh giá lại năng lực số của mình, tương tự như công cụ tự đánh giá Khung năng lực số PIX tại địa chỉ https://app.pix.org/inscription. Hình 2 chỉ ra kết quả tự đánh giá năng lực số PIX của một người, gồm có điểm số (41), mức thông thạo (mức 5/8) của một trong số các năng lực số PIX, cùng với gợi ý các chủ đề và liệt kê các nội dung của từng chủ đề để người tự đánh giá có thể học để nâng cao điểm số và mức thông thạo của năng lực số đó trong lần tự đánh giá tiếp sau nếu người đó muốn. Một địa chỉ khác để tự đánh giá năng lực số là: https://digital-skills-jobs.europa.eu/digitalskills/screen/home. Cả hai công cụ tự đánh giá được nêu ở đây đều chưa làm được bằng tiếng Việt.


Hình 2. Kết quả tự đánh giá một năng lực theo Khung năng lực số PIX.

  1. Chương trình đào tạo để có được từng năng lực trong Khung năng lực số. Việc xây dựng chương trình đào tạo có thể có vài cách, một trong số đó là dựa vào các tiêu chuẩn đầu ra của từng năng lực số trong Khung năng lực số được chọn. Hình 3 là ví dụ về chương trình đào tạo năng lực số tương ứng với Khung năng lực số cho công dân (DigComp) của Ủy ban châu Âu của trường Đại học Anglia Ruskin với 2 cột đầu tương ứng với Khung năng lực số cho công dân (DigComp), còn cột 3 tiếp sau là chương trình đào tạo để có được từng năng lực số của Khung đó.


Hình 3. Chương trình đào tạo năng lực số của trường Đại học Anglia Ruskin

  1. Chứng nhận năng lực số. Người dùng cần có khả năng tự đánh giá và tự đánh giá lại năng lực số và mức độ thông thạo năng lực số của mình bất kỳ khi nào, bất cứ ở đâu, nhằm đáp ứng nhu cầu của mình đối với các yêu cầu của các nhà tuyển dụng việc làm và/hoặc tự khởi nghiệp. Việc chứng nhận năng lực số có thể thông qua một chương trình phần mềm dựa vào công nghệ web hệt như công cụ đánh giá năng lực số như được nêu ở trên. Sau khi trải qua quá trình tự đánh giá, người dùng có thể có được chứng nhận năng lực số ở dạng chứng chỉ số cho đầy đủ toàn bộ các năng lực số, hoặc chứng chỉ số vi mô cho từng năng lực số hoặc từng lĩnh vực năng lực số của Khung năng lực số tương ứng.

Khung năng lực số cho công dân ở Việt Nam

Ngày 18/10/2024, UBND thành phố Đà Nẵng đã ra Quyết định số 2242/QĐ-UBND9 Ban hành Khung năng lực số cho Công dân trên địa bàn thành phố Đà Nẵng. Đây là Khung năng lực số cho công dân đầu tiên ở Việt Nam. Khung này dựa chủ yếu vào Khung năng lực số cho công dân (DigComp) của Liên minh châu Âu và gồm 5 lĩnh vực: (1) Thông tin và dữ liệu; (2) Truyền thông và cộng tác; (3) Tạo lập nội dung số; (4) Bảo vệ và An toàn; và (5) Môi trường kỹ thuật số; cùng với 17 năng lực số thành phần và 173 tiêu chí đánh giá theo các mức thông thạo khác nhau.


Hình 4. Khung năng lực số cho công dân trên địa bàn thành phố Đà Nẵng

3.2 Không chỉ năng lực số, mà còn cả văn hóa số và các giải pháp mở

3.2.1 Văn hóa số

Đã có nghiên cứu chỉ ra rằng, văn hóa là rào cản đáng kể nhất đối với quá trình chuyển đổi số, đứng trên nhiều yếu tố có liên quan khác như trên Hình 5.


Hình 5. Văn hóa là rào cản lớn nhất đối với chuyển đổi số

Một ví dụ nhỏ sau đây cho thấy văn hóa số với việc cộng tác và chia sẻ mở sẽ giúp cho đặc tính nhân bản số có chi phí xấp xỉ bằng không (0) (có thể chỉ cần kết nối Internet) thăng hoa trong chuyển đổi số, làm lợi cho tất cả mọi người và cho xã hội:

Giả sử, một cuốn sách giáo khoa về toán học được sử dụng trong chương trình giáo dục cơ bản của tất cả các trường đại học và cao đẳng trong cả nước. Nếu cuốn sách đó ở dạng giấy, thư viện của từng trường cần có 1 hoặc nhiều cuốn sách giáo khoa để có thể phục vụ cho sinh viên. Bất kể số lượng nhiều bao nhiêu, có một thực tế là cùng một lúc, không thể có 2 sinh viên cùng mượn và cùng đọc một cuốn sách đó. Nhưng nếu cuốn sách đó được số hóa (cấp độ đầu tiên của chuyển đổi số) thành một tệp dạng số, ví dụ, một tệp .PDF, rồi được đưa lên mạng Internet sau khi được cấp phép mở để trao quyền trước cho người dùng, thì cùng một lúc, có thể hàng vạn sinh viên ở nhiều trường khác nhau, bất kể trong hay ngoài nước, đều có thể cùng một lúc đọc được cuốn sách đó. Đấy là chưa kể sách giáo khoa (kỹ thuật) số có thể có các tính năng mà bất kỳ cuốn sách giáo khoa truyền thống nào - gồm chỉ dạng văn bản và hình ảnh tĩnh trong không gian 2 chiều - cũng không thể có được, như các tính năng đa phương tiện (âm thanh và video), hình ảnh động trong không gian 3 chiều, các mô phỏng tương tác, và nhiều tính năng tiên tiến khác, được nhúng trong các sách giáo khoa số.

Ngược lại, nếu không tận dụng được các tính năng đặc thù này của (kỹ thuật) số và không áp dụng văn hóa số, ví dụ như nếu tất cả các trường đều số hóa cùng một cuốn sách giáo khoa mà họ đều cần để phục vụ cho sinh viên của mình, thì sẽ gây ra sự tốn kém và lãng phí nhiều tiền bạc, thời gian, công sức của rất nhiều người. Một khi không có sự cộng tác và chia sẻ mở, chuyển đổi số sau vài năm có thể tạo ra hàng chục ngàn, thậm chí hàng trăm ngàn ốc đảo số, và điều này có thể trở thành thảm họa quốc gia.

Tài liệu từ Diễn đàn kinh tế thế giới, tháng 6/2021 chỉ ra 4 trụ cột của văn hóa số như trên Hình 6, gồm: (1) Cộng tác; (2) Dữ liệu dẫn dắt; (3) Hướng tới khách hàng; và (4) Đổi mới sáng tạo.

Chính phủ rất nên có chính sách cấp phép mở rõ ràng, yêu cầu rằng tất cả các tài nguyên/dữ liệu được tạo ra từ tiền ngân sách nhà nước/tiền từ những người đóng thuế, thông qua các đề tài, chương trình, dự án của nhà nước thì bắt buộc phải cấp phép mở để mọi người đóng thuế/người dân đều có thể sử dụng và chia sẻ chúng hợp pháp, miễn là các tài nguyên/dữ liệu đó không thuộc về các vấn đề bí mật/an ninh quốc gia, quyền riêng tư của công dân và/hoặc bất kỳ điều cấm kỵ nào khác được pháp luật nêu rõ ràng. Bằng cách này, các trụ cột của văn hóa số như trên Hình 6 đều sẽ được thúc đẩy. Việc tôn trọng bản quyền và cấp phép/giấy phép cho các tài nguyên/dữ liệu được tạo ra bằng việc số hóa cũng là một trong các năng lực số mà bất kỳ công dân nào cũng cần có trong chuyển đổi số, như trong Khung năng lực số cho công dân (DigComp) ở Hình 1.


Hình 6. Các trụ cột của văn hóa số

3.2.2 Các giải pháp mở

Cũng tương tự như phong trào bình dân học vụ thời kỳ 1945, phong trào bình dân học vụ số diễn ra trong bối cảnh Việt Nam nói chung, giáo dục Việt Nam nói riêng còn có nhiều khó khăn, trong khi “Đầu tư từ ngân sách nhà nước cho giáo dục đào tạo chưa tương xứng với yêu cầu đổi mới và phát triển giáo dục, trong khi xã hội hóa các nguồn lực đầu tư còn gặp nhiều khó khăn” (trích Phát biểu của TBT Tô Lâm2), thì các giải pháp mở là cần thiết hơn bao giờ hết đối với Việt Nam.

Theo UNESCO định nghĩa trong tài liệu10 gần đây của mình, “Các giải pháp mở, chúng là các hàng hóa công cộng kỹ thuật số - DPG (Digital Public Goods) có sẵn dựa vào một giấy phép bản quyền mở đã trở thành thiết yếu trong hàng loạt các lĩnh vực, bao gồm việc học tập (tài nguyên giáo dục mở), phần mềm (phần mềm tự do nguồn mở), khoa học (truy cập mở), và chính phủ (dữ liệu mở). Các giải pháp mở, nhờ vào chế độ sở hữu trí tuệ của chúng, cho phép tính linh hoạt, khả năng mở rộng, và tính tương hợp để thúc đẩy việc chia sẻ kiến thức và quyền truy cập tới thông tin”.

Trong cùng tài liệu này, UNESCO giải nghĩa: “Giấy phép bản quyền mở: các giấy phép mở là các giấy phép tôn trọng các quyền sở hữu trí tuệ của chủ sở hữu bản quyền và cung cấp sự cho phép trao cho công chúng các quyền để truy cập, sử dụng lại, tái mục đích, tùy chỉnh và phân phối lại các tài liệu thông tin. Các loại giấy phép mở được sử dụng khác nhau tùy theo giải pháp mở. Giấy phép mở phổ biến nhất là Creative Commons (CC)”.

Trong một tài liệu khác gần đây của UNESCO ‘Dự thảo Tuyên bố Dubai về Tài nguyên Giáo dục Mở: Hàng hóa công cộng kỹ thuật số (DPG) và các công nghệ mới nổi lên vì quyền truy cập công bằng và toàn diện tới tri thức’11, Hàng hóa công cộng kỹ thuật số (DPG) được Lộ trình Hợp tác Kỹ thuật số của Tổng Thư ký Liên hiệp quốc định nghĩa như là “phần mềm nguồn mở, dữ liệu mở, các mô hình AI mở, các tiêu chuẩn mở và nội dung mở mà gắn với quyền riêng tư và các luật hiện hành khác và các thực hành tốt nhất, không gây hại, và giúp đạt được các mục tiêu phát triển bền vững (SDG)” và “Các DPG sẵn có với giấy phép bản quyền mở đã trở thành thiết yếu trong nhiều lĩnh vực bao gồm giáo dục, với Tài nguyên Giáo dục Mở”.

Tất cả những điều nêu trên cho thấy, Phong trào bình dân học vụ số, với mục tiêu xóa mù số cho toàn dân, cần phải dựa trên các giải pháp mở, đặc biệt là Tài nguyên Giáo dục Mở (TNGDM) trong lĩnh vực giáo dục.


Hình 7. TNGDM (OER) trong Khung năng lực số cho các cơ sở giáo dục13

Cũng cần bổ sung thêm rằng các giải pháp mở luôn được tích hợp trong các khung năng lực số của Ủy ban châu Âu, nổi bật nhất là thông qua Tài nguyên Giáo dục Mở và việc cấp phép mở12, chẳng hạn như trong: Khung năng lực số cho công dân (DigComp), Khung năng lực số cho nhà giáo dục (DigCompEdu), và đặc biệt được nêu bật trong Khung năng lực số cho tổ chức giáo dục (DigCompOrg) như được minh họa trên Hình 7 (Yếu tố phụ ‘Nội dung số và TNGDM được thúc đẩy - Digital content & OER are promoted’ nằm trong yếu tố chính ‘Nội dung và chương trình giảng dạy - Content & curricula’).

Điều quan trọng của các giải pháp mở là các hàng hóa công cộng kỹ thuật số – DPG (Digital Public Goods), bao gồm phần mềm nguồn mở, dữ liệu mở, các mô hình AI mở, các tiêu chuẩn mở và nội dung mở, bao gồm cả tài nguyên giáo dục mở, là những hàng hóa kỹ thuật số mà bất kỳ ai cũng có quyền không mất tiền để truy cập, sử dụng lại, tái mục đích, tùy chỉnh và phân phối lại chúng, bất kể tình trạng xuất thân của họ về tài chính, mức giáo dục, giới tính, dân tộc, quốc tịch, tôn giáo, ngôn ngữ hay văn hóa, nơi sinh sống v.v., điều mà Phong trào bình dân học vụ số cần triệt để sử dụng để có thể tạo nên chính sách “cưỡng bức học năng lực số không mất tiền” tương tự như chính sách “cưỡng bức học chữ quốc ngữ không mất tiền” của phong trào bình dân học vụ gần 80 năm trước, được nhắc đến trong bài phát biểu của Tổng Bí thư Tô Lâm được nêu ở trên.

Điều này không đồng nghĩa với việc ứng dụng và phát triển các giải pháp mở là hoàn toàn miễn phí. Ví dụ, trong trường hợp của tài nguyên giáo dục mở (TNGDM), các nhà giáo dục vừa đóng vai trò là người sử dụng, vừa đóng vai trò là người thiết kế/tạo lập TNGDM. Khi nhà giáo dục là người sử dụng, thì họ sẽ “không mất tiền để truy cập, sử dụng lại, tái mục đích, tùy chỉnh, và phân phối lại” TNGDM; nhưng khi nhà giáo dục là người thiết kế/tạo lập TNGDM, thì để “đầu tư vào việc phát triển các khóa học và các tư liệu, tìm ra TNGDM thích hợp, tùy chỉnh TNGDM đang có sẵn”, thì họ lại rất cần có đủ các nguồn lực, có thể bao gồm cả công sức, tiền bạc và thời gian, để thực hiện, và vì thế họ cần phải được đền bù xứng đáng. Ví dụ khác, cũng cần phải có tiền để duy trì hệ thống hạ tầng lưu trữ các TNGDM để mọi người có thể không mất tiền để truy cập, sử dụng lại, tái mục đích, tùy chỉnh, và phân phối lại chúng; tuy nhiên, tiền hay chi phí người sử dụng trong trường hợp này có thể phải chi trả là để duy trì hệ thống, chứ không phải là để mua TNGDM - điều hoàn toàn trái với định nghĩa của TNGDM. Cả 2 ví dụ nêu ở đây đều áp dụng được tương tự cho tất cả các thành phần còn lại của giải pháp mở. Có thể nói ngắn gọn rằng, ứng dụng các giải pháp mở thì không mất tiền, nhưng phát triển chúng thì cần có tiền.

4. Nguồn lực và các mô hình bền vững

Chuyển đổi số là một quá trình phức tạp, đòi hỏi sự đầu tư vào nhiều loại nguồn lực khác nhau. Một mặt, với giả thiết tổ chức chịu trách nhiệm quản lý và điều hành phong trào bình dân học vụ số vận hành như một doanh nghiệp công ích, thì dưới đây là một số nguồn lực chính thường được sử dụng trong quá trình chuyển đổi số của một doanh nghiệp mà Phong trào bình dân học vụ số có thể tính tới:

  1. Nguồn lực vật chất:

    1. Hạ tầng & nền tảng công nghệ: phần cứng, phần mềm, các thiết bị kết nối.

    2. Hạ tầng & nền tảng dữ liệu: lưu trữ và xử lý dữ liệu; nên theo hướng mở14 15.

  2. Nguồn lực tài chính:

    1. Đầu tư ban đầu: mua sắm thiết bị, xây dựng cơ sở hạ tầng và triển khai dự án.

    2. Chi phí vận hành: bảo trì, nâng cấp hệ thống, đào tạo nhân viên và khác.

    3. Ngân sách cho nghiên cứu và phát triển: phát triển các sản phẩm, dịch vụ và giải pháp công nghệ mới.

  3. Nguồn lực con người:

    1. Nhân lực chuyên môn: chuyên gia công nghệ thông tin, nhà khoa học dữ liệu, kỹ sư phần mềm, chuyên gia bảo mật, và chuyên gia các lĩnh vực khác.

    2. Nhân lực quản lý: Đảm bảo thực hiện chiến lược chuyển đổi số hiệu quả.

    3. Nhân viên tuyến đầu: Được đào tạo để sử dụng các công cụ và ứng dụng mới.

  4. Nguồn lực thông tin:

    1. Dữ liệu/tài nguyên số: tài sản quý giá nhất trong chuyển đổi số, nên là mở.

    2. Kiến thức: ưu tiên kiến thức về công nghệ, thị trường, khách hàng theo hướng mở, dựa vào các mô hình cung cấp dịch vụ.

  5. Nguồn lực cộng đồng: dựa vào các quan hệ đối tác theo mô hình cộng đồng mở.

Lưu ý: Việc đầu tư vào các nguồn lực này cần được cân nhắc kỹ lưỡng để đảm bảo hiệu quả và tối ưu hóa chi phí. Ngoài ra, tổ chức quản lý điều hành phong trào cũng cần xây dựng một chiến lược chuyển đổi số rõ ràng và cụ thể để định hướng cho quá trình này.

Mặt khác, vì phong trào bình dân học vụ số nên triệt để sử dụng các giải pháp mở, nó có thể sẽ triển khai một số mô hình sinh doanh thu có tính bền vững của phần mềm nguồn mở16 và/hoặc TNGDM17, thường dựa vào việc bán các dịch vụ xung quanh các sản phẩm của chung cộng đồng, chứ không bán các sản phẩm của chung cộng đồng.

Có nhiều mô hình bền vững cho TNGDM18 và không có mô hình nào là vừa cho tất cả các bên liên quan. Các mô hình bền vững TNGDM không nên chỉ tập trung vào khía cạnh sinh doanh thu, mà còn cần phải tập trung vào khía cạnh thu hồi các chi phí để tạo lập, tùy chỉnh và duy trì dài hạn TNGDM, bao gồm cả chi phí duy trì, mở rộng quy mô mạng và hạ tầng cho TNGDM. Trên hết tất cả, các “Mô hình bền vững TNGDM phải tính đến giá trị TNGDM tạo ra để làm cho nó có thể hoàn thành các tầm nhìn, mục tiêu và mục đích đa dạng của giáo dục”, như được nêu trong mục tiêu phát triển bền vững 4 (SDG4) về giáo dục của Liên hiệp quốc đến năm 2030: “Đảm bảo giáo dục có chất lượng, công bằng và toàn diện, đồng thời thúc đẩy cơ hội học tập suốt đời cho tất cả mọi người”, chứ không chỉ tính tới duy nhất giá trị về kinh tế - tài chính. Phong trào bình dân học vụ số có thể áp dụng nguyên tắc này nhằm đạt được mục tiêu tối thượng là xóa mù số cho tất cả mọi người. Theo Paul Stacey, công thức về tính bền vững của TNGDM được minh họa như trên Hình 8 với lưu ý: “Công thức đơn giản này khẳng định rằng tính bền vững liên quan tới việc kết hợp các nguồn lực để sinh ra lợi ích xã hội với việc kết nối con người. Các tổ chức theo đuổi chiến lược này có mục tiêu nhằm cung cấp giá trị và xây dựng mối quan hệ trước. Một khi những điều đó đã sẵn sàng, có thể tạo ra giá trị tương hỗ có đi có lại giữa tất cả những người tham gia, từ đó hình thành một mô hình bền vững. Nếu không có 1 trong 3 thành phần trên, thì công việc cần phải làm để biến không thành có trước khi một mô hình bền vững có thể được tạo ra”.


Hình 8. Công thức về tính bền vững cho TNGDM của Paul Stacy

5. Phương thức tổ chức thực hiện

Có thể coi việc triển khai bình dân học vụ số như một dự án dịch vụ công sử dụng các giải pháp mở với sự tham gia của toàn xã hội.

Để các giải pháp mở có thể thành công, trước hết cần tập hợp được nguồn lực từ các bên liên quan đến chúng, và tại Việt Nam, trước hết là Câu lạc bộ Phần mềm Tự do Nguồn Mở (VFOSSA)19, một đơn vị trực thuộc Hội Tin học Việt Nam (VAIP), nơi tập hợp các thực thể và cá nhân, cả công ty CNTT-TT, trường đại học, và cá nhân với các hoạt động tập trung vào phần mềm nguồn mở và các giải pháp mở. Thứ hai, là Vụ Giáo dục Đại học và các trường đại học hiện đang triển khai các nội dung của Quyết định số 1117/QĐ-TTg20 ngày 25/09/2023 của Thủ tướng Chính phủ Phê duyệt Chương trình xây dựng mô hình nguồn tài nguyên giáo dục mở trong giáo dục đại học cho đến năm 2030. Thứ ba là toàn bộ hệ thống giáo dục, bao gồm toàn bộ các Trung tâm Giáo dục Thường xuyên và Giáo dục Nghề nghiệp trên cả nước, cùng các bên liên quan khác, như các Hiệp hội giáo dục, các tổ chức đoàn thanh niên, phụ nữ, các Hội/Hiệp hội nghề nghiệp và các tổ chức đoàn thể khác. Việc đào tạo năng lực số nên theo cách đào tạo người đi đào tạo trước, rồi sau đó mới tiến hành đào tạo người dùng đầu cuối theo các đối tượng khác nhau.

Về lý thuyết, có thể có nhiều cách để tổ chức và triển khai một dự án dịch vụ công thành công, dưới đây gợi ý về một cách như vậy với 6 bước cụ thể sau:

Việc tổ chức và triển khai một dự án dịch vụ công thành công đòi hỏi phải có kế hoạch cẩn thận, thực hiện hiệu quả và cam kết mạnh mẽ với dịch vụ công đó. Sau đây là hướng dẫn từng bước để giúp bạn điều hướng quy trình:

  1. Xác định vấn đề và đặt mục tiêu rõ ràng:

    1. Xác định nhu cầu: Nêu rõ vấn đề hoặc thách thức mà dự án hướng đến.

    2. Đặt mục tiêu: Thiết lập các mục tiêu cụ thể, có thể đo lường được, có thể đạt được, có liên quan và có thời hạn.

    3. Hiểu đối tượng mục tiêu: Xác định nhóm người cụ thể mà dự án sẽ mang lại lợi ích cho họ.

  2. Tiến hành nghiên cứu và phân tích kỹ lưỡng:

    1. Thu thập thông tin: Thu thập dữ liệu và thông tin chi tiết liên quan đến vấn đề, bao gồm các giải pháp hiện có, các thách thức tiềm ẩn và các biện pháp thực hành tốt nhất.

    2. Phân tích dữ liệu: Sử dụng các kỹ thuật phân tích dữ liệu để xác định các mô hình, xu hướng và các giải pháp tiềm năng.

    3. Xác định các bên liên quan chính: Xác định những ai sẽ bị ảnh hưởng bởi dự án và những ai có thể đóng góp vào sự thành công của dự án.

  3. Phát triển kế hoạch dự án toàn diện:

    1. Phân chia công việc: Chia nhỏ dự án thành các nhiệm vụ nhỏ hơn, dễ quản lý hơn.

    2. Phát triển khung thời gian: Thiết lập khung thời gian thực tế cho từng nhiệm vụ và toàn bộ dự án.

    3. Phân bổ nguồn lực: Phân công trách nhiệm, lập kế hoạch ngân sách và phân bổ các nguồn lực cần thiết.

    4. Đánh giá rủi ro: Xác định rủi ro tiềm ẩn và phát triển chiến lược giảm thiểu.

  4. Thu hút các bên liên quan và xây dựng quan hệ đối tác:

    1. Giao tiếp hiệu quả: Chia sẻ thông tin với các bên liên quan, giữ cho họ được thông tin và tham gia.

    2. Xây dựng các mối quan hệ: Nuôi dưỡng mối quan hệ bền chặt với các bên liên quan chính để có được sự hỗ trợ và đồng thuận.

    3. Hợp tác với các đối tác: Làm việc với các tổ chức hoặc cơ quan khác để tận dụng các nguồn lực và chuyên môn.

  5. Triển khai dự án:

    1. Thực hiện kế hoạch dự án: Tuân thủ mốc thời gian của dự án và phân bổ nguồn lực theo kế hoạch.

    2. Theo dõi tiến độ: Theo dõi tiến độ thường xuyên và điều chỉnh khi cần thiết.

    3. Giải quyết vấn đề: Chủ động xác định và giải quyết mọi vấn đề phát sinh.

    4. Thích ứng với thay đổi: Linh hoạt và sẵn sàng điều chỉnh kế hoạch khi hoàn cảnh thay đổi.

  6. Đánh giá và đo lường tác động:

    1. Thu thập dữ liệu: Thu thập dữ liệu về kết quả và tác động của dự án.

    2. Phân tích kết quả: Đánh giá hiệu quả của dự án trong việc đạt được các mục tiêu của nó.

    3. Rút kinh nghiệm: Xác định các bài học kinh nghiệm và áp dụng chúng vào các dự án trong tương lai.

    4. Chia sẻ kết quả: Truyền đạt những thành công và thách thức của dự án cho các bên liên quan và cho công chúng.

Các gợi ý bổ sung để thành công:

  • Chấp nhận sự đổi mới: Cởi mở với những ý tưởng và cách tiếp cận mới.

  • Ưu tiên tính bền vững: Thiết kế các dự án có tác động lâu dài.

  • Tập trung vào công bằng: Đảm bảo rằng dự án mang lại lợi ích cho tất cả mọi người, bất kể xuất thân hay hoàn cảnh.

  • Tìm kiếm phản hồi: Chủ động thu thập ý kiến đóng góp từ các bên liên quan để cải thiện dự án.

  • Tôn vinh thành công: Ghi nhận và khen thưởng những đóng góp của các thành viên trong nhóm và các đối tác.

Lưu ý: Dù áp dụng phương thức tổ chức thực hiện nào, cũng nên định hướng theo công thức về tính bền vững cho TNGDM như trên Hình 8.

6. Kết luận và gợi ý

Phong trào bình dân học vụ số với mục đích xóa mù số cho toàn dân thông qua việc phổ cập tri thức cơ bản về chuyển đổi số cho đối tượng là toàn dân là một nhiệm vụ quan trọng và cấp bách hiện nay. Để có thể hoàn thành được nhiệm vụ này, về mặt nội dung, cần phải xây dựng một khung năng lực số cho công dân, có thể trên cơ sở tùy chỉnh khung năng lực số cho công dân có sẵn rồi của nước ngoài cho phù hợp với bối cảnh và các điều kiện của Việt Nam. Đà Nẵng là thành phố đầu tiên của Việt Nam đã ban hành Khung năng lực số cho công dân trên địa bàn thành phố theo cách này và có thể là điểm tham chiếu tốt cho Phong trào bình dân học vụ số. Khung năng lực số không đi một mình, mà đi cùng với công cụ đánh giá năng lực số, chương trình đào tạo năng lực số và việc chứng thực năng lực số.

Để có thể ‘cưỡng bức học năng lực số không mất tiền’ cho đối tượng là toàn dân, Phong trào bình dân học vụ số, về mặt nội dung, cần dựa trên các giải pháp mở và hàng hóa công cộng kỹ thuật số vì đó là các tài nguyên mà bất kỳ ai cũng có quyền hợp pháp không mất tiền để truy cập, sử dụng lại, tái mục đích, tùy chỉnh và phân phối lại chúng, miễn là người dùng biết cách thừa nhận ghi công đúng cho các tác giả gốc ban đầu và tuân theo các điều khoản và điều kiện của giấy phép mở được gắn với từng tài nguyên đó.

Bên cạnh việc giáo dục năng lực số và sử dụng các giải pháp mở, Phong trào bình dân học vụ số cũng cần chú trọng việc giáo dục văn hóa số cho toàn dân.

Cần huy động và tận dụng mọi nguồn lực cần thiết để thực hiện được mục tiêu xóa mù số cho toàn dân, chú ý tới các mô hình bền vững của phần mềm nguồn mở và TNGDM, đặc biệt là việc xây dựng 3 thành phần của công thức về tính bền vững của TNGDM (Hình 8) và áp dụng nó cho tất cả các giải pháp mở.

Phương thức tổ chức thực hiện được nêu trong bài viết có thể là một lựa chọn để xem xét, bên cạnh nhiều lựa chọn lý thuyết và/hoặc thực hành có thể khác. Tuy nhiên, dù bất kỳ phương thức tổ chức thực hiện nào được lựa chọn, thì Phong trào bình dân học vụ số cũng rất nên tập hợp tất cả các bên liên quan, đặc biệt là các bên liên quan đến các giải pháp mở, vốn dĩ rất ít và hiếm ở Việt Nam hiện nay.

Tài liệu tham khảo

  1. giaodục.net.vn: Bình dân học vụ, bài học làm cách mạng giáo dục hiệu quả mà không tốn kém: https://giaoduc.net.vn/binh-dan-hoc-vu-bai-hoc-lam-cach-mang-giao-duc-hieu-qua-ma-khong-ton-kem-post179534.gd

  2. Báo điện tử Chính phủ: Phát biểu của Tổng Bí thư Tô Lâm tại buổi gặp mặt đại diện nhà giáo, cán bộ quản lý giáo dục nhân Ngày Nhà giáo Việt Nam 20/11: https://baochinhphu.vn/phat-bieu-cua-tong-bi-thu-to-lam-tai-buoi-gap-mat-dai-dien-nha-giao-can-bo-quan-ly-giao-duc-nhan-ngay-nha-giao-viet-nam-20-11-102241118120459874.htm

  3. Trang thông tin điện tử Chính phủ: Quyết định số 749/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ: Phê duyệt "Chương trình Chuyển đổi số quốc gia đến năm 2025, định hướng đến năm 2030": https://vanban.chinhphu.vn/?pageid=27160&docid=200163

  4. Bộ Thông tin và Truyền thông: Cẩm nang chuyển đổi số: https://dx.mic.gov.vn/doc-truc-tuyen/cam-nang-chuyen-doi-so/pdf/cam-nang-chuyen-doi-so.pdf, trang 21.

  5. Bianchi, G., Pisiotis, U., Cabrera Giraldez, M. GreenComp – The European sustainability competence framework. Bacigalupo, M., Punie, Y. (editors), EUR 30955 EN, Publications Office of the European Union, Luxembourg, 2022; ISBN 978-92-76-46485-3, doi:10.2760/13286, JRC128040: https://publications.jrc.ec.europa.eu/repository/handle/JRC128040, pp. 34-35. Bản dịch sang tiếng Việt: https://www.dropbox.com/scl/fi/jge8bcypxyhfhwcik9vsn/jrc128040_greencomp_f2_Vi-16082022.pdf?rlkey=3vnpg2cb7jv2jacy9k6ar0z8x&dl=0, trang 54-55.

  6. Trang Giáo dục Mở - Tài nguyên Giáo dục Mở của Hiệp hội các trường đại học cao đẳng Việt Nam: ‘Digcomp 2.2: Khung năng lực số cho công dân - với các ví dụ mới về kiến thức, kỹ năng và thái độ’, EC xuất bản năm 2022. Phần Xem thêm: các khung năng lực số và tài liệu liên quan đã được dịch sang tiếng Việt: https://giaoducmo.avnuc.vn/index.php/tai-lieu-dich/digcomp-2-2-khung-nang-luc-so-cho-cong-dan-voi-cac-vi-du-moi-ve-kien-thuc-ky-nang-va-thai-do-ec-xuat-ban-nam-2022-713.html

  7. Kluzer S., Centeno C. and O ́Keeffe, W., DigComp at Work, EUR 30166 EN, Publications Office of the European Union, Luxembourg, 2020, ISBN 978-92-76-22558-4, doi:10.2760/17763, JRC120376: https://publications.jrc.ec.europa.eu/repository/bitstream/JRC120376/digcomp_at_work_090720_1.pdf, p. 6. Bản dịch sang tiếng Việt: https://doi.org/10.5281/zenodo.10641467, trang 8.

  8. Xem bản dịch sang tiếng Việt phần về Khung năng lực số cho công dân v2.2 năm 2022 tại địa chỉ: https://www.dropbox.com/scl/fi/vi9hkz4w8ybg2186o5k6v/2.JRC128415_01_Vi-Chuong2_Landscape_Blog.pdf?rlkey=qf4oetkkpd4asmjnkedf2zxqf&dl=0

  9. Luật Việt Nam: Quyết định 2242/QĐ-UBND Đà Nẵng 2024 Khung năng lực số cho Công dân trên địa bàn TP: https://luatvietnam.vn/thong-tin/quyet-dinh-2242-qd-ubnd-da-nang-2024-khung-nang-luc-so-cho-cong-dan-tren-dia-ban-tp-369815-d2.html

  10. UNESCO (2024): CONCEPT NOTE. 3rd UNESCO World OER Congress 2024. Digital Public Goods: Open Solutions and AI for Inclusive Access to Knowledge: https://unesdoc.unesco.org/ark:/48223/pf0000391562, p.3. Bản dịch sang tiếng Việt: https://www.dropbox.com/scl/fi/rjjt7cjr7tocvcbppmi9g/391562eng_Vi-18102024.pdf?rlkey=tzuuh2st89u6546wkw32y32nw&st=iwljik32&dl=0, trang 5.

  11. UNESCO (2024): DRAFT DUBAI DECLARATION ON OER: DIGITAL PUBLIC GOODS AND EMERGING TECHNOLOGIES FOR EQUITABLE AND INCLUSIVE ACCESS TO KNOWLEDGE: https://oerdynamiccoalition.org/sites/default/files/documents/2024/09/Draft%20Dubai%20Declaration%20on%20OER%20%28ENG%29.pdf, p.3. Bản dịch sang tiếng Việt: https://www.dropbox.com/scl/fi/w0iy6qtbhlbtqxjgjizcs/Draft-Dubai-Declaration-on-OER_Vi-12102024.pdf?rlkey=fzmqlh7k6oni969qw0fh5nnwk&st=3t8zw7bw&dl=0, trang 4.

  12. Lê Trung Nghĩa (2021): Tính mở trong các khung năng lực số của châu Âu và vài gợi ý triển khai chương trình “Chuyển đổi số ngành thư viện đến năm 2025, định hướng đến năm 2030”: https://vnfoss.blogspot.com/2021/10/tinh-mo-trong-cac-khung-nang-luc-so-cua.html

  13. Kampylis, P., Punie, Y. & Devine, J. (2015); Promoting Effective Digital-AgeLearning - A European Framework for Digitally-Competent Educational Organisations; EUR 27599 EN; doi:10.2791/54070: https://publications.jrc.ec.europa.eu/repository/bitstream/JRC98209/jrc98209_r_digcomporg_final.pdf, p.5. Bản dịch sang tiếng Việt: https://www.dropbox.com/scl/fi/wg1k8bvn2xiz6tu5octn7/jrc98209_r_digcomporg_final_Vi-18032021.pdf?rlkey=rlaut5n5j8yjs83vx09yjq5zs&dl=0, trang 10.

  14. Lê Trung Nghĩa, 2022: Hạ tầng Khoa học Mở và gợi ý cho Việt Nam: https://giaoducmo.avnuc.vn/index.php/bai-viet-toan-van/ha-tang-khoa-hoc-mo-va-goi-y-cho-viet-nam-738.html

  15. Lê Trung Nghĩa, 2021: Cần một nền tảng mở cho chuyển đổi số trong giáo dục: https://giaoducmo.avnuc.vn/index.php/bai-viet-toan-van/can-mot-nen-tang-mo-cho-chuyen-doi-so-trong-giao-duc-504.html

  16. A. Albos Raya et al., 2010: Economic Aspects and Business Models of Free Software: https://ftacademy.org/files/archive/courses/05-economic-aspects-of-free-software/fta-m5-economic_models-PRELIMINARY.pdf. Bản dịch sang tiếng Việt: https://www.dropbox.com/s/0vs8e8zhvhpgx95/fta-m5-economic_models-Vi--26012015.pdf?dl=0

  17. Paul Stacey và Sarah Hinchliff Pearson, Creative Commons (2017): Made with Creative Commons: https://creativecommons.org/wp-content/uploads/2017/04/made-with-cc.pdf, CC BY-SA 4.0. Bản dịch sang tiếng Việt: https://www.dropbox.com/s/a6n50my7owufi6w/Made%20with%20Creative%20Commons_Vi-10022020.pdf?dl=0.

  18. Lê Trung Nghĩa (2024): Các mô hình bền vững Tài nguyên Giáo dục Mở: https://giaoducmo.avnuc.vn/index.php/bai-viet-toan-van/cac-mo-hinh-ben-vung-tai-nguyen-giao-duc-mo-1186.html

  19. Câu lạc bộ Phần mềm Tự do Nguồn Mở Việt Nam (VFOSS): https://vfossa.vn/

  20. Trang thông tin điện tử Chính phủ: Quyết định số 1117/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ: Phê duyệt Chương trình xây dựng mô hình nguồn tài nguyên giáo dục mở trong giáo dục đại học: https://chinhphu.vn/?pageid=27160&docid=208699

Bài viết cho Tọa đàm khoa học: Phong trào Bình dân học vụ số, tiền đề thực hiện thắng lợi Cách mạng về chuyển đổi số trong kỷ nguyên vươn mình của dân tộc, do Ban Tuyên giáo Trung ương tổ chức ngày 18/12/2024 tại Hà Nội. Bài viết có trong tài liệu Tọa đàm.

Tự do tải về bài viết định dạng PDF ở địa chỉ DOI: 10.5281/zenodo.14515376

Xem thêm: