Chủ Nhật, 6 tháng 4, 2014

Lễ ký kết Pha 3 dự án OpenRoad tại Hải Phòng


Lễ ký kết Biên bản ghi nhớ Pha 3 hợp tác thử nghiệm triển khai hệ thống nền tảng cộng tác mở (OpenRoad) tích hợp với các hệ thống ứng dụng phần mềm tự do nguồn mở cơ bản tại Thành phố Hải Phòng, ngày 04 tháng 04 năm 2014.
Trong khuôn khổ hợp tác giữa Bộ Khoa học và Công nghệ (Văn phòng Công nghệ thông tin) với trường Đại học Carnegie Mellon Úc (Trung tâm Công nghệ mở OTF - Open Technology Foundation) về công nghệ mở, Văn phòng Công nghệ thông tin đã nhận chuyển giao từ phía Trung tâm OTF hệ thống phần mềm nguồn mở nền tảng cộng tác mở, được bản địa hóa với tên là OpenRoad.
Về nền tảng OpenRoad: OpenRoad là hệ thống nền tảng nguồn mở được phía Việt Nam nhận chuyển giao công nghệ và bản địa hóa từ nền tảng gốc OpenRay do Trung tâm OTF phát triển tùy biến vào tháng 6/2012 dựa trên nền tảng Joinup, được Ủy ban châu Âu phát triển thông qua Chương trình các Giải pháp tương hợp cho các nền Hành chính Nhà nước (ISA). Nền tảng này tuân thủ theo giấy phép nguồn mở GNU GPLv2, cho phép tạo các cộng đồng sử dụng, phát triển mã nguồn cũng như cung cấp thông tin. Triển khai thử nghiệm OpenRoad, ngoài ý nghĩa là một dự án tiềm năng cho việc xây dựng một cổng chia sẻ mọi thông tin về các dự án phần mềm tự do nguồn mở tại Việt Nam, đây còn là dự án đầu tiên tại Việt Nam có sự tham gia đầy đủ của 4 thành phần: nhà nước, doanh nghiệp, viện – trường đại học và cộng đồng các lập trình viên, có thiện chí cùng phát triển với cộng đồng quốc tế theo đúng mô hình phát triển của phần mềm tự do nguồn mở (PMTDNM) thế giới.
Ngày 17/12/2012, tại Đại học Hoa Sen, thành phố Hồ Chí Minh, các bên tham gia trong Pha 1 của dự án OpenRoad đã ký kết Biên bản ghi nhớ để tiến hành công việc nhận chuyển giao công nghệ từ phía Úc sang phía Việt Nam, gồm:
  1. Bộ Khoa học và Công nghệ (Văn phòng Công nghệ thông tin).
  2. Công ty cổ phần Tin học Lạc Tiên, thành viên của Câu lạc bộ PMTDNM Việt Nam, gọi tắt và VFOSSA.
  3. Công ty Cổ phần NetNam, thành viên của VFOSSA.
  4. Đại học Hoa Sen TP. Hồ Chí Minh (Khoa Khoa học và Công nghệ)
Tiếp đến, ngày 03/06/2013, cũng tại Đại học Hoa Sen, các bên tham gia dự án OpenRoad Pha 1 đã thống nhất đánh dấu hoàn thành việc chuyển giao công nghệ và bản địa hóa OpenRoad, và mở ra Pha 2 của Dự án với việc bổ sung thêm (1) Hệ thống quản lý tài liệu - DMS (Document Management System); (2) Hệ thống thư điện tử; và (3) các hệ thống đó cùng với phần mềm gốc của OpenRoad được tích hợp với OpenLDAP để tạo ra một hệ thống tổng thể có khả năng đăng nhập duy nhất – SSO (Single Sign On). Ngoài 4 đơn vị đã tham gia Pha 1 của Dự án, các đơn vị tham gia Pha 2 gồm:
  1. Công ty cổ phần EcoIT, thành viên của VFOSSA.
  2. Công ty Cổ phần Giải pháp thông tin iWay, thành viên của VFOSSA.
  3. Đại học Duy Tân, Thành phố Đà Nẵng.
  4. Đại học Dân lập Hải Phòng.
  5. Đại học Thăng Long, Thành phố Hà Nội.
Sau 2 Pha đầu, dự án OpenRoad đã có 9 đơn vị tham gia, trong đó có 1 đơn vị của Bộ KHCN, 4 trường đại học và 4 công ty đều là các thành viên của CLB Phần mềm Tự do Nguồn mở Việt Nam (VFOSSA).
Hôm nay, ngày 04/04/2014, tại Đại học Dân lập Hải Phòng, các bên tham gia dự án OpenRoad đã thống nhất đánh dấu hoàn thành bước đầu các công việc tích hợp các thành phần của Dự án ở Pha 2, và mở ra Pha 3 của Dự án với việc bổ sung thêm (1) Hệ thống tích hợp thư viện điện tử KOHA và Dspace; (2) Hệ thống học tập điện tử Moodle; và (3) Hạ tầng khóa công khai - PKI (Public Key Infrastructure) với khả năng sử dụng các thẻ an ninh để xác thực toàn bộ hệ thống và ký điện tử cho một số thành phần trong hệ thống tổng thể OpenRoad. Cả 3 hệ thống mới này cũng đều sẽ được tích hợp với OpenLDAP, cùng với các thành phần khác đã được tích hợp trước đó trong Pha 2 để giữ cho toàn bộ hệ thống OpenRoad tổng thể vẫn có được khả năng đăng nhập duy nhất – SSO. Các đơn vị tham gia trong Pha 3 của Dự án gồm:
  1. Liên Chi hội Thư viện Đại học Khu vực Phía Bắc – (NALA). Liên Chi hội hiện có hơn 60 đơn vị thành viên các tỉnh phía Bắc (từ Huế trở ra).
  2. Công ty Cổ phần Tư vấn và Tích hợp Công nghệ D&L (gọi tắt là D&L), thành viên của Câu lạc bộ PMTDNM Việt Nam (VFOSSA).
  3. Trường Đại học Đại Nam
  4. Công ty cổ phần phát triển nguồn mở Việt Nam (VINADES.JSC hay công ty VINADES), thành viên Câu lạc bộ PMTDNM Việt Nam (VFOSSA).
  5. Viện Đại học Mở Hà Nội
  6. Công ty Cổ phần Công nghệ Thẻ Nacencomm, thành viên của Câu lạc bộ PMTDNM Việt Nam (VFOSSA).
  7. Trường Đại học Công nghệ thông tin và Truyền thông, trực thuộc Đại học Thái Nguyên.
Như vậy là trong Pha 3 dự án OpenRoad có tổng cộng 16 đơn vị tham gia, trong đó có 1 đơn vị của Bộ KHCN, 7 trường đại học, 7 công ty đều là các thành viên của CLB Phần mềm Tự do Nguồn mở Việt Nam (VFOSSA) và Liên Chi hội Thư viện Đại học Khu vực Phía Bắc.
Các Bên đồng ý ký kết Biên Bản Ghi Nhớ với các nội dung như sau:
  1. Văn phòng Công nghệ thông tin, Bộ Khoa học và Công nghệ là đầu mối hợp tác với đại học Carnegie Mellon Úc, chịu trách nhiệm làm đầu mối liên hệ với Trung tâm OTF thuộc trường đại học Carnegie Mellon Úc và thương thuyết với Trung tâm OTF về các hỗ trợ kỹ thuật và chuyên gia có liên quan trong quá trình thử nghiệm tích hợp và khai thác OpenRoad tại Việt Nam;
  2. Tất cả các bên tham gia OpenRoad trong tất cả các Pha đều thống nhất rằng, để đơn giản hóa thủ tục ký kết Biên Bản Ghi Nhớ lần này, tám (08) đơn vị tham gia ký kết Biên Bản Ghi Nhớ với Bộ Khoa học và Công nghệ ngày 03/06/2013 tại Đại học Hoa Sen, như được nêu ở trên, vẫn sẽ tiếp tục tham gia trong dự án OpenRoad với đầy đủ các nghĩa vụ, quyền hạn và phạm vi như được thể hiện trong Biên Bản Ghi Nhớ đã được ký kết đó.
  3. Liên Chi hội Thư viện Đại học Khu vực Phía Bắc với sự hỗ trợ của các nhân sự kỹ thuật từ công ty D&L và Đại học Đại Nam - được nêu bên dưới: (a) xây dựng, duy trì và phát triển cộng đồng các lập trình viên cho các phần mềm tự do nguồn mở chuyên dụng cho thư viện KOHA và Dspace; (b) Xây dựng và mở rộng cộng đồng những người sử dụng, trước hết là các phần mềm tự do nguồn mở chuyên dụng cho thư viện KOHA và Dspace, và các phần mềm khác theo nhu cầu trong dự án OpenRoad, tại các đơn vị thành viên của Liên chi hội Thư viện Đại học Khu vực phía Bắc.
  4. Các trường Đại học Đại Nam, Viện Đại học Mở và Đại học Công nghệ thông tin và Truyền thông với sự hỗ trợ của các nhân sự kỹ thuật từ các công ty tin học D&L, VINADES và Nacencomm tương ứng sẽ xây dựng, duy trì và phát triển các cộng đồng các lập trình viên cho các ứng dụng:
    1. Hệ thống thư viện tích hợp KOHA và thư viện điện tử Dspace.
    2. Hệ thống học tập điện tử Moodle
    3. Hạ tầng khóa công khai - PKI và thẻ an ninh sử dụng cho các thành phần trong hệ thống OpenRoad để thực hiện các công việc như xác thực, ký điện tử và mã hóa - giải mã dữ liệu.
  5. Các cộng đồng lập trình viên tại các đại học được nêu ở trên bao gồm:
    1. Các lập trình viên cốt lõi: triển khai, cải tiến, duy trì mã nguồn của nền tảng OpenRoad và các ứng dụng PMTDNM cơ bản được tích hợp vào OpenRoad theo đúng mô hình phát triển của PMTDNM, luôn hướng tới việc ngược lên dòng trên về các dự án PMTDNM dòng chính thống gốc ban đầu.
    2. Các lập trình viên mở rộng: cùng phát triển với đội cốt lõi, xây dựng hoặc tổng hợp theo các PMTDNM chung của dự án; tiến hành việc mở rộng, xây dựng các trình cài cắm (Plug-ins); bản địa hóa và phân phối các phiên bản của dự án.
    3. Các lập trình viên triển khai cho người sử dụng. Tiến hành việc cài đặt, triển khai, thiết lập cấu hình và tùy biến khi triển khai.
  6. Tất cả các bên tham gia cam kết xây dựng và duy trì hệ thống tư liệu (tài liệu văn bản, hình ảnh, âm thanh, đa phương tiện) cho toàn bộ hệ thống nền tảng OpenRoad và các ứng dụng PMTDNM cơ bản thành phần được tích hợp vào OpenRoad với các giấy phép tư liệu mở Creative Commons với các lựa chọn CC BY và/hoặc CC BY-SA để những người sử dụng có đủ các quyền tự do đối với các tư liệu mở của dự án.
  7. Các công ty cộng tác với các trường đại học và các bên liên quan khác trong việc tìm kiếm, xây dựng, khai thác và mở rộng cộng đồng những người sử dụng các sản phẩm, giải pháp của dự án, cả trong khu vực nhà nước, khu vực giáo dục và khu vực các doanh nghiệp. Các đơn vị thành viên của Liên Chi hội Thư viện Đại học Khu vực Phía Bắc là hạt nhân của cộng đồng người sử dụng OpenRoad như một hệ thống tổng thể, cũng như các thành phần của nó.
  8. Ngoài trách nhiệm cụ thể được nêu trong văn bản này, các bên tham gia dự án OpenRoad được khuyến khích trao đổi và chia sẻ các nguồn lực giữa các dự án thành phần với nhau, bao gồm cả nguồn nhân lực - các lập trình viên, miễn là các cặp chủ thể công ty - đại học đồng thuận với nhau về việc chia sẻ đó. Bằng cách này, các lập trình viên của một trường đại học có thể cùng một lúc tham gia trong không chỉ một dự án thành phần của OpenRoad.
Dự kiến Pha 3 của dự án sẽ được triển khai trong khoảng 6 tháng và sau đó Pha 4 sẽ bắt đầu vào Quý IV/2014 với việc tiếp tục bổ sung thêm các công ty cũng như các trường đại học, chủ yếu theo 2 lĩnh vực chính mà dự án đã lựa chọn là: Giáo dục và An ninh thông tin.
Cập nhật: Trình tự lễ ký kết được mô tả đầy đủ trên trang tin của Đại học Dân lập Hải Phòng.
Blogger: Lê Trung Nghĩa

Các bài trình bày nhân Lễ ký kết Pha 3 dự án OpenRoad tại Hải Phòng ngày 04/04/2014


Các bài trình bày nhân Lễ ký kết Pha 3 dự án OpenRoad tại Hải Phòng ngày 04/04/2014
Các bài trình bày nhân Lễ ký kết Pha 3 dự án triển khai thí điểm hệ thống nền tảng nguồn mở OpenRoad tại Đại học Dân lập Hải phòng ngày 04/04/2014 gồm:
1. Giới thiệu dự án OpenRoad
2. Danh sách tham chiếu các phần mềm tự do nguồn mở trong 2 lĩnh vực giáo dục và an ninh
***
DANH SÁCH 82 PMTDNM SỬ DỤNG TRONG GIÁO DỤC ĐÀO TẠO NƯỚC ANH
Bản cập nhật ngày 03/01/2014: http://oss-watch.ac.uk/resources/ossoptionseducation
Hãy nhấn vào các đường liên kết để đi tới các trang chủ của các dự án tương ứng!
1. E-Learning: Moodle, Sakai CLE, Apereo OAE, Canvas, Gibbon.
2. Chụp bài giảng/Podcast: OpenCast Matterhorn, CamStudio, Audacity.
3. Giảng trực tuyến/Webinar/dự ở xa: OpenMeetings, BigBlueButton.
4. Dòng Video: MediaGoblin, Plumi, Kaltura.
5. Tạo nội dung tương tác: Xerte.
6. Tác giả sách điện tử: Apache OpenOffice, LibreOffice, NeoOffice, Sigil, TeX và các tùy biến.
7. Quản lý sách điện tử: Calibre.
8. Tác giả cộng tác: Etherpad, Gobby, Owncloud Documents.
9. Đánh giá cao cấp: Rogō (trước kia là TouchStone).
10. Hồ sơ điện tử: Mahara.
11. Phần mềm bảng trắng tương tác: OpenSankoré.
12. Quản lý lớp học: iTALC.
13. Hệ thống thư viện tích hợp: Koha, LibLime Koha, OpenBiblio.
14. Đọc danh sách: LORLS.
15. Quản lý bộ sưu tập số: Islandora.
16. Ứng dụng di động cho sinh viên: Molly.
17. Kiến trúc chuyên nghiệp: Archi.
18. Hệ thống thông tin quản lý/Hồ sơ sinh viên: A1 Academia, SchoolTool, OpenStudent.
20. Sản xuất phim/truyền thông: KDEnlive, PiTiVi, Blender, Avidemux, OpenShot, Cinerella-cv.
21. Sân khấu/Kịch: Q Light Controller, Soundboard, Celtx, Fountain.
22. Nghệ thuật/Nhiếp ảnh: The GIMP, Darktable, UFRaw, Inkscape.
23. Thiết kế và công nghệ: Scribus, Blender, QCAD, LibreCAD, FreeCAD.
25. Tâm lý học: PsyScope, PEBL.
26. Các chủ đề về địa lý: gvSIG Educa, GRASS GIS, JUMP GIS.
27. Thiết kế kỹ thuật: Open Circuit Design.
28. Nghiên cứu tín ngưỡng: The SWORD Project, Zekr Qur’an.
29. Thống kê toán học: R Commander, SageMath (http://oss.ly/5b, http://oss.ly/5c, http://oss.ly/5d).
***
DANH SÁCH 75 PMTDNM SỬ DỤNG LÀM CÔNG CỤ AN NINH THÔNG TIN:
Hoặc
Hãy nhấn vào các đường liên kết để đi tới các trang chủ của các dự án tương ứng!
2. Chống virus: ClamAV, ClamTK, ClamWin Free Antivirus.
4. Trình duyệt: Chromium, Firefox, Tor.
5. Bổ sung cho trình duyệt: Web of Trust (WOT), PasswordMaker.
6. Xóa dữ liệu: BleachBit, Eraser, Wipe, Darik's Boot and Nuke.
7. Chống mất dữ liệu: OpenDLP, MyDLP.
10. Điều tra pháp lý: The Sleuth Kit/ Autopsy Browser.
11. Gateway / Thiết bị quản lý các mối đe dọa thống nhất: Untangle Lite, ClearOS, Endian Firewall Community, Sophos UTM Home Edition.
12. Dò tìm thâm nhập trái phép: Open Source Tripwire, AFICK.
14. Giám sát mạng: Wireshark, Tcpdump/ libpcap, WinDump/WinPcap.
15. Phá mật khẩu: Ophcrack, John the Ripper, PDFCrack.
16. Quản lý mật khẩu: KeePass Password Safe, KeePassX, Password Safe, WinSCP, FileZilla.
17. Xác thực người sử dụng: WiKID.
18. Lọc web: DansGuardian.
19. Trình khóa phần mềm gián điệp: Nixory.
Blogger: Lê Trung Nghĩa

Thứ Tư, 2 tháng 4, 2014

Những tiết lộ của NSA 'làm thay đổi cách các doanh nghiệp lưu trữ các dữ liệu nhạy cảm'


NSA revelations 'changing how businesses store sensitive data'
Khảo sát gợi ý nhiều hãng đang chọn các dạng lưu trữ an ninh hơn so với 'điện toán đám mây' dưới ánh sáng của các tiết lộ của Snowden
Survey suggests many firms choosing more secure forms of storage over 'cloud computing' in light of Snowden's disclosures
By Matthew Taylor, The Guardian, Monday 31 March 2014
Bài được đưa lên Internet ngày: 31/03/2014
Các chuyên gia tin tưởng khảo sát vén lên một mức lo ngại đáng kể giữa các lãnh đạo doanh nghiệp về an toàn dữ liệu. Ảnh: Lasse Kristensen /Alamy
Experts believe the survey reveals a significant level of concern among business leaders regarding the safety of data. Photograph: Lasse Kristensen /Alamy
Lời người dịch: Một số trích dẫn: “Các tiết lộ của Snowden đã dẫn tới một sự thay đổi mô hình trong cách mà những người ra quyết định về CNTT mua công nghệ”, ông nói. “Bây giờ các công ty không chỉ đang cạnh tranh về giá và chất lượng, họ cũng đang cạnh tranh về địa lý. Đây có thể là chiếc đinh cuối cùng đóng vào cỗ quan tài về tầm nhìn toàn cầu, không biên giới của Internet”. Khảo sát 1.000 người ra quyết định CNTT-TT từ Pháp, Đức, Hong Kong, Anh và Mỹ từng triển khai từ NTT Communications. Nó đã thấy rằng, sau các tiết lộ của Snowden, hầu như 90% đã thay đổi cách mà họ sử dụng đám mây - một dịch vụ lưu trữ cho phép các dữ liệu truy cập được từ bất kỳ chỗ nào trên thế giới nhưng đáng ngờ hơn đối với giám sát trực tuyến. Nghiên cứu cũng thấy rằng hầu hết 1/3 những người nghi ngờ đã chuyển các dữ liệu công ty của họ vào các địa điểm nơi mà họ “biết nó sẽ là an toàn”, và 16% nói họ đã hoãn hoặc chậm lại các hợp đồng với các nhà cung cấp dịch vụ đám mây. Xem thêm: 'Chương trình gián điệp PRISM trên không gian mạng'.
Phạm vi rộng lớn giám sát trực tuyến bị Edward Snowden tiết lộ đang làm thay đổi cách mà các doanh nghiệp lưu trữ các dữ liêu nhạy cảm một cách thương mại, với các hậu quả tiềm tàng bi đát cho tương lai của Internet, theo một nghiên cứu mới.
Một khảo sát 1.000 lãnh đạo doanh nghiệp từ khắp thế giới đã thấy rằng nhiều người đang nghi ngờ sự dựa dẫm của họ vào 'điện toán đám mây' (ĐTĐM) để tìm các dạng lưu trữ dữ liệu an ninh hơn khi các tiết lộ của người thổi cói tiếp tục phản chiếu lại.
Các động thái của các doanh nghiệp soi các nỗ lực theo các nước riêng rẽ, như Brazil và Đức, họ đang khuyến khích giao thông trực tuyến khu vực sẽ được định tuyến cục bộ hơn là đi qua Mỹ, trong một động thái có thể có một tác động lớn lên các công ty công nghệ Mỹ như Facebook và Google.
Daniel Castro, một nhà phân tích cao cấp ở Quỹ CNTT và Đổi mới, nói nghiên cứu đã khẳng định “bằng chứng tiếu lâm gợi ý các công ty công nghệ Mỹ đang bị đánh mạnh trong các năm tới vì sự phản xung toàn cầu chống lại công nghệ 'sản xuất tại Mỹ'”.
“Các tiết lộ của Snowden đã dẫn tới một sự thay đổi mô hình trong cách mà những người ra quyết định về CNTT mua công nghệ”, ông nói. “Bây giờ các công ty không chỉ đang cạnh tranh về giá và chất lượng, họ cũng đang cạnh tranh về địa lý. Đây có thể là chiếc đinh cuối cùng đóng vào cỗ quan tài về tầm nhìn toàn cầu, không biên giới của Internet”.
Ian Brown, từ Viện Internet của Oxford, nói cuộc khảo sát đã tiết lộ một mức lo ngại đáng kể giữa các lãnh đạo doanh nghiệp: “Chúng tôi sẽ phải xem trong những năm tới có bao nhiêu tác động dạng phản ứng này có lên các công ty công nghệ Mỹ, mà nó sẽ trao cho họ thậm chí nhiều khuyến khích hơn để đặt áp lực lên chính quyền Obama và Quốc hội Mỹ cho cải cách đáng kể giám sát”.
Khảo sát 1.000 người ra quyết định CNTT-TT từ Pháp, Đức, Hong Kong, Anh và Mỹ từng triển khai từ NTT Communications. Nó đã thấy rằng, sau các tiết lộ của Snowden, hầu như 90% đã thay đổi cách mà họ sử dụng đám mây - một dịch vụ lưu trữ cho phép các dữ liệu truy cập được từ bất kỳ chỗ nào trên thế giới nhưng đáng ngờ hơn đối với giám sát trực tuyến.
Nghiên cứu cũng thấy rằng hầu hết 1/3 những người nghi ngờ đã chuyển các dữ liệu công ty của họ vào các địa điểm nơi mà họ “biết nó sẽ là an toàn”, và 16% nói họ đã hoãn hoặc chậm lại các hợp đồng với các nhà cung cấp dịch vụ đám mây.
Len Padilla, từ NTT Communications ở châu Âu, nói: “Những phát hiện của chúng tôi chỉ ra rằng những lý lẽ của NSA đã làm khó cho thái độ của những người ra quyết định về CNTT-TT đối với ĐTĐM, liệu nó có đang sửa đổi các chính sách mua sắm hay không, soi xét tỉ mỉ các nhà cung cấp tiềm tàng hoặc quan tâm cao độ trong việc liệu dữ liệu của họ được lưu trữ thế nào”.
Các hãng công nghệ Mỹ đã lặp đi lặp lại dấy lên các mối lo ngại về tác động của các tiết lộ của NSA về khả năng của họ vận hành khắp thế giới, và đầu tháng này nhà sáng lập Facebook, Mark Zuckerberg, và Eric Schmidt, chủ tịch điều hành của Google, đã gặp Tổng thống Barack Obama, để lên tiếng về những lo ngại của họ về tác động thương mại của các chương trình giám sát của chính phủ.
Nhưng Castro đã cảnh báo rằng không chỉ các hãng toàn cầu đang bị ảnh hưởng ở Mỹ. “Đây không phải là điều gì đó mà chỉ các tay chơi lớn phải lo lắng, chính các công ty khởi nghiệp và các công ty cỡ trung bình cũng lo - khắp ban lãnh đạo sự phản xung này đang làm tổn hại cho lợi ích của họ”.
Và Brown nói rằng sức ép bây giờ có khả năng cảm nhận được đối với các chính phủ khác khi nhiều doanh nghiệp hơn cố gắng bảo vệ các dữ liệu của họ.
“Khi Mỹ hạn chế các chương trình giám sát ồ ạt của riêng nó, các công ty Mỹ không nghi ngờ gì sẽ được yêu cầu chỉ ra các câu hỏi về các hoạt động giám sát liên tục của châu Âu và các chính phủ khác”, ông nói.
The vast scale of online surveillance revealed by Edward Snowden is changing how businesses store commercially sensitive data, with potentially dramatic consequences for the future of the internet, according to a new study.
A survey of 1,000 business leaders from around the world has found that many are questioning their reliance on "cloud computing" in favour of more secure forms of data storage as the whistleblower's revelations continue to reverberate.
The moves by businesses mirror efforts by individual countries, such as Brazil and Germany, which are encouraging regional online traffic to be routed locally rather than through the US, in a move that could have a big impact on US technology companies such as Facebook and Google.
Daniel Castro, a senior analyst at the Information Technology and Innovation Foundation, said the study confirmed "anecdotal evidence that suggests US tech firms are going to be hit hard in the coming years by a global backlash against technology 'made in America'".
"The Snowden revelations have led to a paradigm shift in how IT decision-makers buy technology," he said. "Now companies are not just competing on price and quality, they are also competing on geography. This might be the final nail in the coffin for the vision of a global, borderless internet."
Ian Brown, from the Oxford Internet Institute, said the survey revealed a significant level of concern among business leaders: "We'll have to see over the next year how much impact this type of reaction has on the bottom line of US tech companies, but it will give them even more incentive to put pressure on the Obama administration and US Congress for significant surveillance reform."
The survey of 1,000 information and communications technology decision-makers from France, Germany, Hong Kong, the UK and the US was carried out by NTT Communications. It found that, following the Snowden revelations, almost 90% had changed the way they use the cloud – a storage service that allows data to be accessed from anywhere in the world but which is more susceptible to online surveillance.
The study also found that almost a third of those questioned were moving their company's data to locations where they "know it will be safe", and 16% said they had delayed or cancelled their contracts with cloud service providers.
Len Padilla, from NTT Communications in Europe, said: "Our findings show that the NSA allegations have hardened ICT decision-makers' attitudes towards cloud computing, whether it is modifying procurement policies, scrutinising potential suppliers or taking a heightened interest in where their data is stored."
US technology firms have repeatedly raised concerns about the impact of the NSA revelations on their ability to operate around the world, and earlier this month Facebook's founder, Mark Zuckerberg, and Eric Schmidt, executive chairman of Google, met President Barack Obama to voice their concerns about the commercial impact of government surveillance programmes.
But Castro warned that it was not just the global firms that are being affected in the US. "This isn't something that just the big players have to worry about, it's the start-ups and mid-size companies too – across the board this backlash is going to hurt their bottom line."
And Brown said that pressure is now likely to be felt by the other governments as more businesses attempt to protect their data.
"As the US limits its own mass surveillance programmes, US firms will no doubt be asking pointed questions about the continuing surveillance activities of European and other governments," he said.
Dịch: Lê Trung Nghĩa

Quỹ Phần mềm Tự do đưa ra hội thảo về ép tuân thủ GPL và đạo đức pháp lý


Free Software Foundation to offer seminar on GPL enforcement and legal ethics
Posted 12 Mar 2014 by Richard Fontana
Bài được đưa lên Internet ngày: 12/03/2014
Lời người dịch: Thế giới phần mềm tự do nguồn mở có hệ thống pháp lý bản quyền của nó và hệ thống này là rất khác với hệ thống bản quyền của thế giới phần mềm nguồn đóng. “Quỹ Phần mềm Tự do sẽ đưa ra hội thảo pháp lý nửa ngày với đầu đề “Ép tuân thủ GPL và Đạo đức Pháp lý”, diễn ra hôm thứ hai, 24/03 ở Trường Luật của Đại học Suffolk ở Boston. Bất kỳ ai cũng có thể đăng ký tham dự hội thảo đó, dù nó đặc biệt nhằm vào các luật sư hoạt động thực tiễn và các sinh viên luật. Đối với các luật sư hoạt động thực tiễn ở Mỹ, tin cậy vào việc tiếp tục giáo dục pháp lý (CLE) được kỳ vọng sẽ sẵn sàng đối với nhiều bang”. Tại Việt Nam có lẽ không có luật sư nào hiểu biết về các vấn đề bản quyền của thế giới phần mềm tự do nguồn mở.
Quỹ Phần mềm Tự do sẽ đưa ra hội thảo pháp lý nửa ngày với đầu đề “Ép tuân thủ GPL và Đạo đức Pháp lý”, diễn ra hôm thứ hai, 24/03 ở Trường Luật của Đại học Suffolk ở Boston. Bất kỳ ai cũng có thể đăng ký tham dự hội thảo đó, dù nó đặc biệt nhằm vào các luật sư hoạt động thực tiễn và các sinh viên luật. Đối với các luật sư hoạt động thực tiễn ở Mỹ, tin cậy vào việc tiếp tục giáo dục pháp lý (CLE) được kỳ vọng sẽ sẵn sàng đối với nhiều bang.
Hội thảo sẽ bao gồm 3 phiên, đề cập tới “copyleft và các khái niệm quan trọng khác trong [GPL]; các thực tiễn tốt nhất trong qui trình ép tuân thủ việc cấp phép phần mềm tự do; và các xem xét về đạo đức quan trọng với bất kỳ luật sư nào đang cố vấn cho những người sử dụng và các lập trình viên của phần mềm tự do”. Những người chỉ dẫn là các bạn tôi gồm Karen Sandler, Giám đốc Điều hành của Quỹ GNOME; Donald R. Robertson III, Bộ phận về Bản quyền và Cấp phép của FSF; và Bradley M. Kuhn, President of the Software Freedom Conservancy and board member of the FSF. Joshua Gay, Quản lý Cấp phép và Tuân thủ của FSF, đang tổ chức hội thảo này.
FSF và cố vấn của nó đã tiến hành vài hội thảo giáo dục về GPL trong các năm giữa 2000. Chúng từng có nhiều thông tin và có ảnh hưởng trong những ngày đó (tôi nhớ là các tư liệu của CLE về các vấn đề pháp lý nguồn mở thường trích các tài liệu được FSF xuất bản cho các hội thảo đó). Là tốt để thấy FSF trở về thực tế tiếp cận cộng đồng giáo dục tích cực này đối với cộng đồng pháp lý.
Hội thảo sẽ được tổ chức một ngày sau kết luật của LibrePlanet, hội nghị cuối tuần thường niên cho những người nhiệt thành của phần mềm tự do được FSF bảo trợ. Tôi khuyến khích bất kỳ ai cân nhắc tham dự cả LibrePlanet và hội thảo pháp lý. Các luật sư có quan tâm trong các vấn đề của phần mềm tự do nguồn mở sẽ thấy hội thảo đặc biệt đáng giá.
The Free Software Foundation will be providing a half-day legal seminar titled "GPL Enforcement and Legal Ethics", taking place on Monday, March 24 at Suffolk University Law School in Boston. Anyone can register to attend the seminar, though it is aimed particularly at practicing lawyers and law students. For practicing lawyers in the US, continuing legal education (CLE) credits are expected to be available for many states.
The seminar will consist of three sessions, covering "copyleft and other important concepts in the [GPL]; best practices in the free software licensing enforcement process; and ethical considerations important to any lawyer that is advising free software users and developers." The instructors are my friends Karen Sandler, Executive Director of the GNOME Foundation; Donald R. Robertson III, the FSF's Copyright and Licensing Associate; and Bradley M. Kuhn, President of the Software Freedom Conservancy and board member of the FSF. Joshua Gay, the FSF's Licensing and Compliance Manager, is organizing the seminar.
The FSF and its counsel conducted several educational seminars on the GPL during the mid-2000s. These were quite informative and influential in their day (I recall that CLE materials on open source legal issues commonly cited documents produced by the FSF for these seminars). It is good to see the FSF returning to this practice of active educational outreach to the legal community.
The seminar will be held the day after the conclusion of LibrePlanet, the annual weekend conference for free software enthusiasts sponsored by the FSF. I encourage everyone to consider attending both LibrePlanet and the legal seminar. Lawyers interested in free software and open source issues will find the seminar particularly  worthwhile.
Dịch: Lê Trung Nghĩa

Thứ Ba, 1 tháng 4, 2014

USTR bắt đầu hoảng về lời kêu gọi bỏ chủ quyền tập đoàn ra khỏi TAFTA/TTIP


USTR Starts To Panic Over Calls To Take Corporate Sovereignty Out Of TAFTA/TTIP
by Glyn Moody, Mon, Mar 31st 2014
Bài được đưa lên Internet ngày: 31/03/2014
from the is-that-the-best-you've-got? dept
Lời người dịch: Các hiệp định khác nhau là khác nhau, TTP của các nước châu Á - Thái bình dường sẽ khác với TAFTA/TTIP của châu Âu, nhưng có thể có những khía cạnh và TPP có thể học được từ TAFTA/TTIP và ngược lại. Bài phân tích này chỉ ra rằng, dàn xếp tranh chấp đầu tư nhà nước – ISDS (Investor-State Dispute Settlement), mà theo đó nhấn mạnh tới chủ quyền tập đoàn (Corporate Sovereignty), theo đó các tập đoàn có thể kiện các chính phủ, là khó được châu Âu chấp nhận. “Như ở trên chỉ ra, sự phòng thủ chủ quyền tập đoàn của USTR là yếu trong sự cùng cực. Nếu các “sự việc” đó là tốt nhất mà nó có được, thì dễ thấy vì sao ISDS đang trong lo ngại như vậy và có khả năng sẽ bị bỏ khỏi TAFTA/TTIP”. Liệu điều này TPP có học được chăng?. Xem thêm: TPP, ACTA, bằng sáng chế phần mềm và hơn thế nữa.
Sức ép thực sự đang xây trong lòng nước Mỹ và EU về các điều khoản chủ quyền tập đoàn trong TAFTA/TTIP. Như chúng tôi đã nêu từ hồi tháng 1, Ủy ban châu Âu đã treo các đàm phán về chương dàn xếp tranh chấp đầu tư nhà nước – ISDS (Investor-State Dispute Settlement) trong khi nó tiến hành một tư vấn công khai về chủ đề này. USTR dường như đang cố gắng đẩy nó ra, nhưng cuối cùng nó đã rạn nứt và đã đưa ra những gì nó gọi là “Các sự kiện về dàn xếp tranh chấp tình trạng của các nhà đầu tư: Bảo vệ lợi ích Nhà nước và bảo vệ các nhà đầu tư” trong một nỗ lực thúc đẩy sự hỗ trợ cho ý tưởng đó. Chỉ là sự tồn tại của nó chỉ ra rằng USTR lo lắng về việc mất lý lẽ ISDS ở tòa án ý kiến công chúng, và các câu trả lời, nhiều trong số đó gây nhầm lẫn hoặc sai lệch hoàn toàn, khẳng định điều này. Đây là lý do tung ra tài liệu:
Có nhiều huyền thoại ở ngoài đó gợi ý rằng ISDS hơi hạn chế khả năng của chúng ta - hoặc khả năng của các đối tác của chúng ta - để điều tiết theo lợi ích của sự ổn định tài chính, bảo vệ môi trường, hoặc y tế công. Một số thậm chí đã gợi ý rằng một công ty có thể kiện một chính phủ chỉ trên nền tảng công ty đó không kiếm được nhiều lợi nhuận như nó muốn.
Những khẳng định đó là sai
USTR đưa ra một số ngữ cảnh cho các điều khoản chủ quyền tập đoàn:
Trong 50 năm qua, gần 3.200 hiệp định đầu tư và thương mại giữa 180 quốc gia đã đưa vào các điều khoản đầu tư, và đa số các hiệp định đó đã đưa vào một số dạng của ISDS. Nước Mỹ đã đưa vào hiệp ước đầu tư song phương (BIT) đầu tiên vào năm 1982, và là bên của 50 hiệp định hiện có hiệu lực với các điều khoản ISDS.
Dù điều đó tìm cách tạo ấn tượng rằng chủ quyền tập đoàn tuyệt đối là tiêu chuẩn và không lo lắng gì, thì những gì nó không đề cập tới là đa số lớn trong số 3.200 hiệp định từng là một phía: chúng từng là về việc các quốc gia giàu có, phương Tây đầu tư vào các quốc gia nghèo đang phát triển. Như vậy, ISDS từng là một biện pháp cho các tập đoàn các nước giàu để bắt nạt các nước nghèo, những nước bất lực phải tuân theo, vì họ đang tuyệt vọng đối với đầu tư nước ngoài, và phải chấp nhận các điều khoản do các nước giàu đặt ra.
Ngược lại điều này với TAFTA/TTIP. Lần đầu tiên, một hiệp định thương mại giữa 2 sức mạnh kinh tế khổng lồ sẽ tham gia vào chủ quyền tập đoàn. Điều đó có nghĩa là các tập đoàn của Mỹ sẽ có khả năng kiện EU và các quốc gia thành viên, nhưng cũng là các tập đoàn EU sẽ có khả năng kiện Mỹ. Phạm vi của mối đe dọa đó là chưa từng có: có 75.000 công ty đăng ký chéo với các đơn vị trực thuộc ở cả EU và Mỹ mà có thể tung ra các cuộc tấn công ISDS dưới TTIP. Điều này hoàn toàn không giống bất kỳ trong số 2.300 hiệp định thương mại mà USTR nhắc tới.
Sau đó đi theo 8 “vụ việc bạn nên biết về các điều khoản ISDS theo các hiệp định thương mại của Mỹ”. theo USTR thì đó là:
1. Đưa ra các bảo vệ pháp lý cơ bản cho các công ty Mỹ ở nước ngoài mà dựa vào cùng các bảo hiểm mà nước Mỹ đưa ra trong nước.
Bảo vệ đầu tư có ý định để ngăn chặn sự phân biệt đối xử, thoái thác các hợp đồng, và tước quyền tài sản mà không theo quy trình pháp luận và đền bù phù hợp. Chúng là các dạng bảo vệ y hệt được đưa vào luật Mỹ. Nhưng không phải tất cả các chính phủ bảo vệ các quyền cơ bản ở mức độ y hệt nhau như nước Mỹ. Bảo vệ đầu tư có ý định đề cập thực tế đó.
Vì thế bằng sự khăng khăng của mình về ISDS trong TAFTA/TTIP, liệu Mỹ có đang nói rằng EU không đưa ra “cùng các dạng bảo vệ được đưa vào trong luật Mỹ hay không”? Nghiêm túc chứ?
2. Bảo vệ quyền của các chính phủ để điều chỉnh theo lợi ích nhà nước
Nước Mỹ có lẽ không đàm phán bỏ quyền của nó để điều chỉnh theo lợi ích tốt nhất của các công dân của mình, và chúng ta không yêu cầu các nước khác cũng phải làm thế. Các qui tắc đầu tư của chúng ta giữ lại quyền để điều chỉnh để bảo vệ y tế và an toàn nhà nước, khu vực tài chính, môi trường, và bất kỳ lĩnh vực nào khác nơi mà các chính phủ tìm cách điều chỉnh. Các hiệp định thương mại của Mỹ không đòi hỏi các nước hạ thấp các mức điều chỉnh của họ.
Vâng, một số người có thể cầu xin khác biệt về yêu sách đầu tiên ở đó, nhưng để điều đó qua một bên, yêu sách thứ 2 dễ bị bác bỏ. Như Techdirt đã nêu hồi tháng 10 năm ngoái, chính quyền vùng Quebec ở Canada đang bị kiện về một lệnh hoãn quá trình khoan mà nước này đưa vào để cho phép có thời gian cho các nghiên cứu khoa học về tác động tiềm năng. Điều đó là theo Hiệp định Thương mại Tự do Bắc Mỹ - NAFTA (North American Free Trade Agreement), nó bao gồm ISDS, và là một trường hợp rõ ràng về bảo vệ môi trường đang bị chủ quyền tập đoàn đe dọa.
3. Không đụng chạm khả năng các chính phủ liên bang, bang và địa phương sẽ duy trì (hoặc tùy biến thích nghi) bất kỳ biện pháp nào họ coi là cần thiết.
Theo các điều khoản đầu tư của chúng ta, không chính phủ nào có thể bị ép buộc phải thay đổi các luật hoặc qui định của nó, thậm chí trong các trường hợp nơi mà một bên tư nhân có yêu sách hợp pháp rằng các quyền cơ bản của nó đang bị vi phạm và kéo theo sau sự đền bù.
Dù điều đó là đúng, thì nó là không trúng, nó chỉ là mối đe dạo bị kiện theo các lý do ISDS mà các chính phủ sẽ bỏ quyền lập pháp trước khi nó thậm chí được giới thiệu. Ở đây, ví dụ, là những gì đã xảy ra ở Canada theo NAFTA theo lưu ý này:
Carla Hills, Đại diện Thương mại Mỹ đã giám sát các cuộc đàm phán NAFTA cho Bush I và bây giờ lãnh đạo hãn tư vấn thương mại của riêng bà, từng nằm trong số những người đầu tiên chơi trò chơi đe dọa động tới - và - chạy này. Các khách hàng tập đoàn của bà bao gồm các công ty thuốc lá lớn – R.J. Reynolds và Philip Morris. 16 tháng sau khi rời nhiệm sở, Hills cử Julius Katz, cựu phó lãnh đạo của bà ở USTR, đi cảnh báo Ottawa để quay lại với luật được đề xuất của nó để yêu cầu đóng gói đơn giản cho thuốc lá. Nếu nó không làm, Katz nói, thì Canada có thể phải bồi thường cho các khách hàng của ông ta theo NAFTA và học thuyết pháp lý mới mà ông ta và Hills đã giúp tạo ra [ISDS]. “Không nhà sản xuất thuốc lá đa quốc gia Mỹ nào hoặc những người vận động hành lang của nó sẽ áp đặt chính sách y tế ở nước này được”, bộ trưởng y tế Canada đã thề. Canada dù vậy, đã quay lại.
Một cựu quan chức chính phủ ở Ottawa đã nói cho tôi: “Tôi đã thấy các bức thư từ New York và các hãng luật DC tới gặp chính phủ Canada hầu như mỗi qui định và đề xuất mới về môi trường trong vòng 5 năm qua. Họ đã liên quan tới hóa chất giặt khô, dược phẩm, thuốc trừ sâu, luật về bằng sáng chế. Hầu hết tất cả các sáng kiến mới đã được ngắm và hầu hết chúng không bao giờ thấy được ánh sáng ban ngày”.
A former government official in Ottawa told me: "I've seen the letters from the New York and DC law firms coming up to the Canadian government on virtually every new environmental regulation and proposition in the last five years. They involved dry-cleaning chemicals, pharmaceuticals, pesticides, patent law. Virtually all of the new initiatives were targeted and most of them never saw the light of day."
The "facts" continue:
Các “sự kiện” tiếp tục:
4. Không tiết lộ cho các chính phủ bang hoặc địa phương về các trách nhiệm mới.
Theo Hiến pháp và các luật, các nhà đầu tư thường thực thi các quyền của họ trong các tòa án Mỹ. Ví dụ, trong những năm gần đây, chính phủ Mỹ đã bảo vệ hàng trăm vụ kiện ở các tòa án Mỹ theo “lấy các điều khoản” của Hiến pháp, nó đòi hỏi sự đền bù cho sự sung công. Các chính phủ bang và địa phương vả chăng đã bảo vệ nhiều yêu sách như vậy. Đối nghịch lại, nước Mỹ chỉ bị kiện 17 lần theo bất kỳ hiệp định đầu tư nào của Mỹ và chưa từng bao giờ thua một vụ kiện nào.
Cũng như việc khẳng định rằng các tòa án ISDS khá là không cần thiết, vì các tòa án Mỹ có thể được sử dụng thay vào đó, điều này nhìn ra thực tế rằng Mỹ chưa bao giờ có các điều khoản ISDS trong các hiệp định với các quốc gia nơi mà số lượng lớn các tập đoàn có tài nguyên tốt từng có khả năng tận dụng ưu thế của họ. EU có hàng ngày công ty có thể - và sẽ - kiện một khi họ có cơ hội.
5. Cung cấp cơ sở pháp lý để thách thức các luật chỉ vì họ làm tổn thương lợi nhuận của một công ty.
Các qui định đầu tư của chúng ta không theo cách gì đảm bảo các quyền của một công ty về bất kỳ lợi nhuận nào hoặc về bất kỳ kết quả đầu ra tài chính được đưa ra nào của nó.
Năm ngoái, chúng tôi đã viết về Eli Lilly kiện Canada theo NAFTA về “tước quyền sở hữu gián tiếp” lợi nhuận trong tương lai. Vụ đó còn chưa được xét xử, nhưng rõ ràng các luật sư của một số công ty nghĩ NAFTA quả thực cho phép thách thức chỉ vì chịu kết quả đầu ra tài chính.
6. Đưa vào bảo vệ mạnh để phòng ngừa các thách thức tầm phào để hợp pháp hóa các biện pháp lợi ích nhà nước.
Nước Mỹ đã đề xuất các bảo vệ bổ sung mà bao gồm các định nghĩa khắt khe hơn so với thực tế trong hầu hết các hiệp định đầu tư của những gì được yêu cầu cho những yêu sách thành công, cũng như các cơ chế cho việc rà soát và bãi bỏ nhanh chóng các yêu sách tầm phào, thanh toán phí luật sư, củng cố các vụ trùng lặp, và sự minh bạch.
Nếu Mỹ nghĩ các ý tưởng của mình là quá tốt, thì nó nên xuất bản chúng. Sau tất cả, không có gì bí mật ở đó - lý do có khả năng nào có để thảo luận chúng đằng sau những cánh cửa đóng nhỉ?
7. Đảm bảo các quy trình pháp lý minh bạch, không thiên vị và công bằng
Nước Mỹ cam kết đảm bảo các mức độ minh bạch cao nhất trong tất cả các thủ tục đầu tư nhà nước.
8. Đảm bảo trọng tài độc lập và vô tư
Trọng tài trong đầu tư nhà nước được thiết kế để đưa ra một nền tảng công bằng, trung lập để giải quyết các tranh chấp.
Chúng là nguyện vọng nhiều hơn là “sự việc”. Thực tế là rất khác, như là bằng chứng từ báo cáo chính thức của Hội nghị của Liên hiệp quốc về Thương mại và Phát triển (UNCTAD) về tái định hình các chương chủ quyền tập đoàn, được xuất bản vào tháng 6 năm ngoái, nó xung đột với những khẳng định của USTR rằng mọi điều chỉ là tốt bằng việc lưu ý:
Các lo ngại với hệ thống ISDS hiện hành có liên quan, trong số những điều khác, về một sự thiếu hụt được thừa nhận sự minh bạch và tính hợp pháp; các mâu thuẫn giữa các quyết định của trọng tài; các khó khăn trong việc làm cho đúng các quyết định sai của trọng tài; các câu hỏi về sự độc lập và tính công bằng của các trọng tài viên, và các lo ngại liên quan tới các chi phí và thời gian của các thủ tục trọng tài.
Như ở trên chỉ ra, sự phòng thủ chủ quyền tập đoàn của USTR là yếu trong sự cùng cực. Nếu các “sự việc” đó là tốt nhất mà nó có được, thì dễ thấy vì sao ISDS đang trong lo ngại như vậy và có khả năng sẽ bị bỏ khỏi TAFTA/TTIP.
The pressure is really building on the US and EU over the corporate sovereignty provisions in TAFTA/TTIP. As we reported back in January, the European Commission has put on hold the negotiations for the investor-state dispute settlement (ISDS) chapter while it conducts a public consultation on the subject. The USTR seemed to be trying to tough it out, but it has finally cracked and released what it calls "The Facts on Investor-State Dispute Settlement: Safeguarding the Public Interest and Protecting Investors" in an attempt to bolster support for the idea. Its mere existence shows that the USTR is worried about losing the ISDS argument in the court of public opinion, and the answers, many of which are misleading or downright wrong, confirm this. Here's the rationale for releasing the document:
There are a lot of myths out there suggesting that ISDS somehow limits our ability -- or our partners' ability -- to regulate in the interest of financial stability, environmental protection, or public health. Some have even suggested that a company could sue a government just on the grounds that the company isn't earning as much profit as it wants.
These assertions are false.
The USTR gives some context for corporate sovereignty provisions:
Over the last 50 years, nearly 3,200 trade and investment agreements among 180 countries have included investment provisions, and the vast majority of these agreements have included some form of ISDS. The United States entered its first bilateral investment treaty (BIT) in 1982, and is party to 50 agreements currently in force with ISDS provisions.
Although that seeks to give the impression that corporate sovereignty is absolutely standard and nothing to worry about, what it omits to mention is that the vast majority of those 3,200 trade agreements have been one-sided: they have been about rich, Western nations investing in poor developing ones. As such, ISDS has been a means for the former's corporations to bully the latter, who are powerless to object, since they are desperate for foreign investment, and must accept the terms imposed on them.
Contrast this with TAFTA/TTIP. For the first time, a trade agreement between two massive economic powerhouses will involve corporate sovereignty. That means that US corporations will be able to sue the EU and its member states, but also that EU corporations will be able to sue the US. The scale of the threat is unprecedented: there are 75,000 cross-registered companies with subsidiaries in both the EU and the US that could launch ISDS attacks under TTIP. This is totally unlike any of those 3,200 trade agreements the USTR mentions.
There then follow the eight "facts you should know about ISDS provisions under U.S. trade agreements". According to the USTR these:
1. Provide basic legal protections for American companies abroad that are based on the same assurances the United States provides at home.
Investment protections are intended to prevent discrimination, repudiation of contracts, and expropriation of property without due process of law and appropriate compensation. These are the same kinds of protections that are included in U.S. law. But not all governments protect basic rights at the same level as the United States. Investment protections are intended to address that fact.
So by its insistence on ISDS in TAFTA/TTIP, is the US saying that the EU does not offer "the same kinds of protections that are included in U.S. law"? Seriously?
2. Protect the right of governments to regulate in the public interest.
The United States wouldn't negotiate away its right to regulate in the best interest of its citizens, and we don’t ask other countries to do so either. Our investment rules preserve the right to regulate to protect public health and safety, the financial sector, the environment, and any other area where governments seek to regulate. U.S. trade agreements do not require countries to lower their levels of regulation.
Well, some people might beg to differ on the first claim there, but leaving that aside, the second claim is easily refuted. As Techdirt reported in October last year, the provincial government of Quebec in Canada is being sued over a moratorium on fracking it brought in to allow time for scientific studies of the potential impact. That was under the North American Free Trade Agreement (NAFTA), which includes ISDS, and is a clear case of environmental protection being threatened by corporate sovereignty.
3. Do not impinge on the ability of federal, state, and local governments to maintain (or adopt) any measure that they deem necessary.
Under our investment provisions, no government can be compelled to change its laws or regulations, even in cases where a private party has a legitimate claim that its basic rights are being violated and it is entitled to compensation.
Although that's true, it misses the point, which is that the mere threat of being sued under ISDS causes governments to drop legislation before it is even introduced. Here, for example, is what happened in Canada under NAFTA in this regard:
Carla Hills, the US Trade Representative who oversaw the NAFTA negotiations for Bush I and now heads her own trade-consulting firm, was among the very first to play this game of bump-and-run intimidation. Her corporate clients include big tobacco--R.J. Reynolds and Philip Morris. Sixteen months after leaving office, Hills dispatched Julius Katz, her former chief deputy at USTR, to warn Ottawa to back off its proposed law to require plain packaging for cigarettes. If it didn't, Katz said, Canada would have to compensate his clients under NAFTA and the new legal doctrine he and Hills had helped create [ISDS]. "No US multinational tobacco manufacturer or its lobbyists are going to dictate health policy in this country," the Canadian health minister vowed. Canada backed off, nevertheless.
4. Do not expose state or local governments to new liabilities.
Under our Constitution and laws, investors frequently exercise their rights in U.S. courts. For example, in recent years, the U.S. government has defended hundreds of cases in U.S. courts under the Constitution's "takings clause," which requires compensation for expropriations. State and local governments have likewise defended many such claims. By contrast, the United States has only been sued 17 times under any U.S. investment agreement and has never once lost a case.
As well as confirming that ISDS tribunals are quite unnecessary, since US courts can be used instead, this overlooks the fact that the US has never had ISDS clauses in agreements with nations where large numbers of well-resourced corporations were able to take advantage of them. The EU has thousands of companies who can -- and will -- sue once they get the opportunity.
5. Provide no legal basis to challenge laws just because they hurt a company' profits.
Our investment rules do not in any way guarantee a firm’s rights to any profits or to its projected financial outcomes.
A year ago, we wrote about Eli Lilly suing Canada under NAFTA for "indirect expropriation" of future profits. That case hasn't been adjudicated yet, but obviously some company lawyers think NAFTA does indeed allow challenges just because projected financial outcomes suffer.
6. Include strong safeguards to deter frivolous challenges to legitimate public interest measures.
The United States has proposed additional safeguards that include stricter definitions than are in most investment agreements of what is required for successful claims, as well as mechanisms for expedited review and dismissal of frivolous claims, payment of attorneys' fees, consolidation of duplicative cases, and transparency.
If the US thinks its ideas are so good, it should publish them. After all, there's nothing confidential there -- what possible reason is there to discuss them behind closed doors?
7. Ensure fair, unbiased, and transparent legal processes.
The United States is committed to ensuring the highest levels of transparency in all investor-state proceedings.
...
8. Ensure independent and impartial arbitration.
Investor-state arbitration is designed to provide a fair, neutral platform to resolve disputes.
These are more aspirations than "facts" The reality is very different, as is evident from the official United Nations Conference on Trade And Development (UNCTAD) report on the reforming corporate sovereignty chapters, published in June last year (pdf), which contradicts the USTR's assertions that everything is just fine by noting:
Concerns with the current ISDS system relate, among others things, to a perceived deficit of legitimacy and transparency; contradictions between arbitral awards; difficulties in correcting erroneous arbitral decisions; questions about the independence and impartiality of arbitrators, and concerns relating to the costs and time of arbitral procedures.
As the above indicates, the USTR's defense of corporate sovereignty is weak in the extreme. If these "facts" are the best it has got, it's easy to see why ISDS is in such trouble and likely to be dropped from TAFTA/TTIP.
Dịch: Lê Trung Nghĩa

Nhóm thương mại kêu gọi sân chơi bình đẳng, xuất bản chỉ dẫn mua sắm


Trade group calls for level playing field, publishes guideline on procurement
Submitted by Gijs Hillenius on March 19, 2014
Bài được đưa lên Internet ngày: 19/03/2014
Các cơ quan hành chính nhà nước nên trao một cơ hội bình đẳng cho nguồn mở khi mua sắm các giải pháp CNTT, Liên minh OSB, một nhóm thương mại của khoảng 90 nhà cung cấp dịch vụ CNTT-TT nguồn mở của Đức, Thụy Sỹ và Áo, nói. “Tất cả các điều khác mà bằng nhau, thì phần mềm nguồn mở nên được ưu tiên vì những lợi ích của nó”. Nhóm thương mại này đang phổ biến một sách chỉ dẫn để giúp các cơ quan hành chính nhà nước làm việc với các yêu cầu mua sắm của họ - để tính tới các giải pháp tự do và mở.
Public administrations should give a fair chance to open source when procuring IT solutions, says the OSB Alliance, a trade group for some ninety German, Swiss and Austrian open source ICT service providers. "All other things being equal, open source software should be preferred because of its benefits." The trade group is disseminating a manual to help public administrations tweak their procurement requests - to take into account free and open source solutions.
Chỉ dẫn này có nghĩa sẽ là hữu dụng cho cả các cơ quan mua sắm và các nhà cung cấp giải pháp. Các tài liệu giải thích nơi mà các mệnh đề hợp đồng thông thường không tương thích với phần mềm tự do nguồn mở, và chào các khắc phục cụ thể và các văn bản thay thế. Văn bản bao trùm 5 cái gọi là mẫu EVB-IT mà hành chính nhà nước Đức bắt buộc phải sử dung cho việc phác thảo các hợp đồng mua sắm CNTT và làm việc với việc cung ứng và các dịch vụ, phát triển, kiến trúc, duy trì.
Theo Liên minh OSB, các cơ quan hành chính nhà nước vẫn còn đang đấu tranh cho một sân chơi bình đẳng cho các giải pháp tự do nguồn mở. Họ nhận thức được những ưu thế có khả năng của phần mềm về chi phí và tính mềm dẻo và coi cách mà nó cho phép họ giữ được kiểm soát đối với thông tin, nhóm thương mại này viết. “Nhưng chính xác điều này đang đặt ra những thách thức mới cho các cơ quan hành chính nhà nước, vì họ cũng muốn các đảm bảo, duy trì và hỗ trợ tin cậy”.
In tốt
Tài liệu kiểm tra tất cả các đoạn phù hợp của các mẫu template EVB-IT. Nó đánh tín hiệu các vấn đề tiềm tàng giữa, ví dụ, các hạn chế theo luật định một cách mặc định trong trường hợp phát triển phần mềm và các mệnh đề trong GPL, giấy phép phần mềm tự do được sử dụng nhiều nhất, mà đưa ra các hạn chế như vậy. Trong trường hợp mua sắm các dịch vụ CNTT, chỉ dẫn đó trình bày các mẫu có thể được các quan chức mua sắm sử dụng để làm dấu hiệu rằng yêu cầu đó bao gồm chúng dựa vào phần mềm tự do. Văn bản đó cũng giúp các cơ quan hành chính nhà nước làm gì với những cải tiến mà họ phát triển, hoặc các lỗi mà họ sửa. Ở đây tài liệu thiết kế, ví dụ, trên các văn bản được thành phố Munich của Đức sử dụng, chỉ thị cho các nhà thầu của nó truyền đạt điều này chính xác cho các lập trình viên phát triển phần mềm 'ngược lên dòng trên'.
Những điều vụn vặt
Các chỉ dẫn đã được Till Jaeger, một luật sư chuyên trong các vấn đề pháp lý có liên quan tới phần mềm nguồn mở, viết. Tài liệu đx được trao tay tại hội chợ triển lãm CNTT-TT Cebit ở Hanover, tuần trước. Liên minh OSB cũng đang làm cho nó sẵn sàng trên website của nhóm thương mại này.
Tương tự, một năm trước, chương trình ISA (Các giải pháp tương hợp cho các nền hành chính nhà nước châu Âu) của Ủy ban châu Âu (EC) đã xuất bản 6 'mệnh đề hợp đồng' tiêu chuẩn, hữu dụng cho các cơ quan hành chính nhà nước mà muốn chắc chắn rằng các giải pháp CNTT mà họ đang mua sắm có thể được chia sẻ và sử dụng lại.
The guideline is meant to be useful to both the procuring agencies and the solution providers. The documents explains where the usual contract clauses become incompatible with free and open source software, and offers concrete workarounds and replacement texts. The text covers the five so-called EVB-IT templates that Germany's public administration are obliged to use for drafting IT procurement contracts and dealing with development, architecture, maintenance, services and provisioning.
According to the OSB Alliance, public administrations are still struggling to level the playing field for free and open source solutions. They recognise the software's 'considerable advantages in terms of cost and flexibility' and see how it allows them to keep control over their information, the trade group writes. "But exactly this is posing new challenges to public administrations, for they also want guarantees, maintenance and reliable support."
Fine print
The document checks all the relevant paragraphs of the EVB-IT templates. It signals potential problems between, for example, default statutory limitations in the case of software development and clauses in the GPL, the most-used free software licence, that rule out such restrictions. In the case of procuring IT services, the guideline presents forms that can be used by procurement officials to signal that their request includes those based on free software.
The text also helps public administrations what to do with enhancements that they develop, or bugs that they fix. Here the document draws for instance on texts used by the German city of Munich, instructing its contractors to communicate this correctly to the software developers 'upstream'.
Minutiae
The guidelines were written by Till Jaeger, a lawyer specialised in legal issues concerning open source software. The document was handed out at the Cebit ICT trade fair in Hannover, last week. The OSB Alliance is also making it available on the trade group's website.
Similarly, one year ago, the European Commission's ISA programme (Interoperability Solutions for European Public Administrations) published six standard 'contract clauses', useful to public administrations that want to make sure that IT solutions they are procuring can be shared and re-used.
Dịch: Lê Trung Nghĩa