Chủ Nhật, 8 tháng 4, 2018

Giáo dục mở là gì?

What is open education?
Giáo dục mở là triết học về cách thức mọi người nên sản xuất, chia sẻ, và xây dựng dựa vào tri thức.
Những người đề xuất giáo dục mở tin tưởng từng người trên thế giới nên có sự truy cập tới các kinh nghiệm và tài nguyên giáo dục chất lượng cao, và họ làm việc để loại trừ các rào cản tới mục tiêu này. Những rào cản như vậy có thể bao gồm các chi phí tiền bạc cao, các tư liệu không được cập nhật hoặc lỗi thời, và các cơ chế pháp lý ngăn cản sự cộng tác giữa các học giả và các nhà giáo dục.
Thúc đẩy sự cộng tác là tâm điểm đối với giáo dục mở. Như Nhóm Giáo dục Mở (Open Education Consortium) nêu: “chia sẻ có lẽ là đặc tính cơ bản nhất của giáo dục: giáo dục là chia sẻ tri thức, sự thấu hiểu và thông tin với những người khác, dựa vào đó tri thức, các kỹ năng, các ý tưởng và sự hiểu biết mới có thể được xây dựng”.
Tài nguyên giáo dục mở là gì?
Tài nguyên giáo dục mở - OER (Open Educational Resources) là các tư liệu học tập có thể được sửa đổi và cải thiện vì những người sáng tạo ra chúng đã trao cho những người khác sự cho phép để làm thế. Các cá nhân hoặc các tổ chức tạo ra các OER - chúng có thể gồm các tư liệu như các slide trình chiếu, các podcast, đề cương bài giảng, các hình ảnh, các kế hoạch bài học, các video bài giảng, các bản đồ, các bảng tính, và thậm chí toàn bộ các cuốn sách giáo khoa – từ bỏ vài (nếu không phải là tất cả) bản quyền có liên quan với các tác phẩm của họ, thường qua các công cụ pháp lý như các giấy phép Creative Commons, vì thế những người khác có thể tự do truy cập, sử dụng lại, dịch, và sửa đổi chúng.
Vì sao tài nguyên giáo dục mở là có lợi?
Việc áp dụng các giấy phép cho các tư liệu giáo dục cho phép các nhà giáo dục cộng tác khi xây dựng các tư liệu đặc biệt được chuyên biệt hóa cho các sinh viên của họ. Ví dụ, giảng viên toán có thể có những điều khó hiểu đối với câu chữ được cấp phép mở cho các sinh viên của cô ta, nhưng cô viết lại các bài tập đó để đưa vào ngôn ngữ đặc thù hơn về địa lý hoặc thích hợp hơn về nhân chủng học. Tới lượt mình, cô có thể chia sẻ những điều khó hiểu đó với những người khác, những ai có lẽ muốn sử dụng chúng.
Cùng lúc, việc cộng tác về OER cho phép các nhà giáo dục làm việc cùng nhau khi đảm bảo sự nhất quán giữa các tư liệu của họ. Các giảng viên các trường công ở nước Mỹ, ví dụ, có lẽ muốn chia sẻ các tài nguyên họ đã phát triển để gắn vào các tiêu chuẩn giáo dục bắt buộc của chính phủ, như các Tiêu chuẩn Bang Cốt lõi chung (Common Core State Standards).
Vài nhà giáo dục gợi ý các OER có thể giúp giảm các chi phí có liên quan tới việc sản xuất và phân phối các tư liệu khóa học ở các các cơ sở giáo dục tiểu và trung học. Các giảng viên có thể tải về các tư liệu đó - thường với các chi phí thấp - để sử dụng trong các lớp học của họ, giữ cho nội dung được đúng lúc, phù hợp, và chính xác. Theo cách này, họ không cần chờ các công ty sách giáo khoa phát hành toàn bộ các ấn bản mới các tư liệu học tập của họ (có bản quyền theo truyền thống).
Các sinh viên cũng hưởng lợi từ các tài nguyên giáo dục mở khi họ truy cập được các tư liệu đó để bổ sung cho giáo dục họ có lẽ nhận được ở lớp học. Vài sinh viên không có truy cập tới giáo dục chất lượng cao, nhưng bằng việc sử dụng các OER cho họ các cơ hội cải thiện tri thức của họ một cách độc lập - bất kể các rào cản ngăn họ khỏi việc giành được tri thức và các kỹ năng họ tìm kiếm.
Tài nguyên giáo dục mở là hữu dụng nhất khi các nhà giáo dục phân phối chúng ở các định dạng mở, sao cho các giảng viên và các sinh viên có thể sử dụng các tài nguyên đó bất kể các nền tảng kỹ thuật đặc biệt nào các trường của họ đã áp dụng. Các dự án như OER Commons hành động như các kho cho các tài nguyên giáo dục mở chất lượng cao.
Các MOOC là gì?
Các khóa học trực tuyến mở đại chúng - MOOC (Massive Open Online Courses) là các khóa học trên trực tuyến truy cập được tới bất kỳ ai với máy tính và truy cập tới Internet. Mọi người gọi các khóa học đó là “đại chúng” vì sự tuyển mộ của chúng là mở cho nhiều sinh viên hơn so với các cơ sở giáo dục truyền thống có thể cho phép - ngụ ý là hàng trăm (thậm chí hàng ngàn) sinh viên có thể tham gia trong một MOOC cụ thể. Ngày nay, nhiều trường cao đẳng và đại học đã ra nhập các tổ chức cam kết cung cấp giáo dục chất lượng cao qua các MOOC.
Một ví dụ là edX, một quan hệ đối tác giáo dục phi lợi nhuận trong năm 2012 đã phát triển từ sự cộng tác giữa MIT và Harvard (Stanford đã ra nhập nỗ lực đó vào năm 2013, và bây giờ vài tá các trường cao đẳng và đại học từ khắp nơi trên thế giới cũng đã ra nhập). edX chào cho các sinh viên các cơ hội không mất học phí để tham gia vào các khóa học về nhiều chủ đề khác nhau từ những người chỉ dẫn khắp trên thế giới. Các sinh viên đăng ký, dự khán, và hoán thành các lớp học của họ trên trực tuyến. Vào năm 2013, edX đã phát hành mã nguồn cho nền tảng học tập trên trực tuyến của họ, vì thế các lập trình viên có thể tải về và giúp cải tiến nó. Những người khác thậm chí có thể sử dụng nó để xây dựng các nền tảng giáo dục của riêng họ.
Các dự án giáo dục tương tự như vậy trên trực tuyến gồm Khan AcademyCoursera. Mức độ ở đó các MOOC khác nhau cấp phép cho các tư liệu khóa học của chúng để pha trộn và sử dụng lại là khác nhau from từ cơ sở này cho tới cơ sở khác.
Các nguyên tắc giáo dục mở áp dụng như thế nào cho nghiên cứu hàn lâm?
Những người đề xuất giáo dục mở đã soi xét kỹ và chỉ trích cả quy trình xuất bản hàn lâm và giới công nghiệp xuất bản hàn lâm.
Họ gợi ý rà soát lại ngang hàng hàn lâm - quy trình theo đó các nhà sản xuất tri thức chuyên nghiệp đánh giá tác phẩm của nhau, thường nặc danh - trở nên minh bạch hơn, vì thế các độc giả có thể hiểu tốt hơn làm thế nào và vì sao, ví dụ, các nhà khoa học đã coi một nghiên cứu nhất định là phù hợp để xuất bản trên một tạp chí hàn lâm, hoặc bắt các lỗi trong các phương pháp hoặc các kết luận của họ. Sự minh bạch trong rà soát lại ngang hàng hàn lâm cũng đảm bảo rằng động lực của những người rà soát lại ngang hàng khi đánh giá nghiên cứu được bày ra trần trụi.
Các nguyên tắc giáo dục mở cũng tác động tới giới công nghiệp xuất bản hàn lâm qua các phong trào "truy cập mở". Thông thường, các nhà nghiên cứu phải từ bỏ các bản quyền họ nắm giữ đối với tác phẩm của họ khi họ đồng ý để các tạp chí xuất bản nó. Các nhà xuất bản tạp chí sau đó lấy tiền phí riêng rẽ của các độc giả và các thư viện để truy cập tới các tư liệu hàn lâm đó. Các khoản phí đó thường rất cao; nhiều nhà nghiên cứu và các thủ thư kêu ca họ giới hạn sự truy cập tới nghiên cứu quan trọng chỉ tới những người có khả năng thanh toán cho nó. Hệ quả là, các nhà khoa học và các nhà nghiên cứu khác của trường đại học không thể truy cập các tư liệu họ cần - để học về các phát triển mới trong các lĩnh vực của họ, hoặc để đọc, nhân bản, và thẩm định các phát hiện của những người khác.
Sự không thỏa mãn với các hạn chế truy cập tới nghiên cứu đã thúc đẩy các phong trào "truy cập mở" trong giáo dục đại học. Vài cơ sở đã áp dụng các chính sách truy cập mở để trao sự truy cập công khai tới các tư liệu nghiên cứu. Dự án Tri thức Công khai (Public Knowledge Project) duy trì nền tảng xuất bản nguồn mở có tên gọi là Hệ thống Tạp chí Mở (Open Journal Systems), các đội biên tập của nó có thể sử dụng để làm trọng tài và xuất bản (phần lớn truy cập mở) các tạp chí hàn lâm ngoài hệ thống xuất bản truyền thống. Ở nước Mỹ, các bang như California đã đề xuất luật yêu cầu nghiên cứu được rà soát lại ngang hàng được những người đóng thuế cấp tiền phải là truy cập được tới bất kỳ ai muốn đọc nó. Nhà Trắng cũng đã chỉ thị rằng nó hỗ trợ truy cập mở tới nghiên cứu hàn lâm.
Tôi có thể học được nhiều hơn về giáo dục mở ở đâu?
Chúng tôi khuyến cáo khai thác các tài nguyên có sẵn từ Open Education Consortium, Open Education Europa, OER Commons, và Opensource.com.
Open education is a philosophy about the way people should produce, share, and build on knowledge.
Proponents of open education believe everyone in the world should have access to high-quality educational experiences and resources, and they work to eliminate barriers to this goal. Such barriers might include high monetary costs, outdated or obsolete materials, and legal mechanisms that prevent collaboration among scholars and educators.
Promoting collaboration is central to open education. As the Open Education Consortium says: "sharing is probably the most basic characteristic of education: education is sharing knowledge, insights and information with others, upon which new knowledge, skills, ideas and understanding can be built."
What are open educational resources?
Open educational resources (OERs) are learning materials that can be modified and enhanced because their creators have given others permission to do so. The individuals or organizations that create OERs—which can include materials like presentation slides, podcasts, syllabi, images, lesson plans, lecture videos, maps, worksheets, and even entire textbooks—waive some (if not all) of the copyright associated with their works, typically via legal tools like Creative Commons licenses, so others can freely access, reuse, translate, and modify them.
Why are open educational resources beneficial?
Applying open licenses to educational materials allows educators to collaborate when building materials specifically differentiated for their students. For example, a mathematics teacher might acquire openly-licensed word problems for her students, but re-write the exercises to include language that is more geographically specific or demographically relevant. In turn, she can share her modified problems with others who may wish to use them.
At the same time, collaborating on OERs allows educators to work together when ensuring consistency among their materials. Public school teachers in the United States, for instance, may wish to share resources they've developed in order to adhere to government-mandated educational standards, like the Common Core State Standards.
Some educators suggest that OERs might help reduce costs associated with producing and distributing course materials in both primary and secondary educational institutions. Teachers can download these materials—often at low costs—for use in their classrooms, but they can also update these materials and share their contributions with others, keeping content timely, relevant, and accurate. In this way, they needn't wait for textbook companies to issue entirely new editions of their (traditionally copyrighted) learning materials.
Students also benefit from open educational resources when they access these materials to supplement the education they might receive in a classroom. Some students do not have access to a high-quality education, but using OERs affords them opportunities to enhance their knowledge independently—in spite of the barriers preventing them from acquiring the knowledge and skills they seek.
Open educational resources are most useful when educators distribute them in open formats, so teachers and students can use those resources regardless of the particular technical platforms their schools have adopted. Projects like the OER Commons act as repositories for high-quality open educational resources.
What are MOOCs?
Massive open online courses (MOOCs) are online courses accessible to anyone with a computer and access to the Internet. People call these courses "massive" because their enrollment is open to more students than traditional educational institutions might permit—meaning that hundreds (even thousands) of students might participate in a particular MOOC. Today, many colleges and universities have joined organizations committed to providing high-quality education through MOOCs.
One example is edX, a non-profit education partnership that in 2012 grew from a collaboration between MIT and Harvard (Stanford joined the effort in 2013, and now several dozen colleges and universities from around the world have, too). edX offers students tuition-free opportunities to enroll in courses on a variety of subjects from instructors across the globe. Students register, attend, and complete their classes online. In 2013, edX released the source code for its online learning platform, so programmers could download and help improve it. Others could even use it to build their own education platforms.
Similar online educational ventures include Khan Academy and Coursera. The extent to which various MOOCs license their course materials for remixing and reusing differs from one institution to another.
How do open education principles apply to academic research?
Proponents of open education have scrutinized and criticized both the academic publishing process and the academic publishing industry.
They suggest that academic peer review—the process by which professional knowledge producers evaluate one another's work, often anonymously—become more transparent, so readers can better understand how and why, for example, scientists have deemed a certain study suitable for publication in an academic journal, or spot flaws in their methods or conclusions. Transparency in academic peer review also ensures that reviewers' motives when evaluating research are laid bare.
Open education principles are also impacting the academic publishing industry through "open access" movements. Often, researchers must relinquish the copyrights they hold on their work when they agree to let journals publish it. Journal publishers then charge individual readers and libraries fees for access to these scholarly materials. These fees are typically very high; many researchers and librarians claim they limit access to important research to people capable of paying for it. Consequently, scientists and other university researchers cannot access the materials they need—to learn about new developments in their fields, or to read, replicate, and verify others' findings.
Dissatisfaction with limitations on access to research has spurred various "open access" movements in higher education. Some institutions have adopted open access policies to grant the public access to research materials. The Public Knowledge Project maintains an open source publishing platform called Open Journal Systems, which editorial teams can use to referee and publish (largely open access) academic journals outside the traditional publishing system. In the United States, states like California have proposed legislation requiring peer-reviewed research funded by taxpayer money to be made accessible to anyone who wishes to read it. The White House has also indicated that it supports open access to academic research.
Where can I learn more about open education?
We recommend exploring resources available from the Open Education Consortium, Open Education Europa, the OER Commons, and Opensource.com.


Dịch: Lê Trung Nghĩa

Thứ Năm, 5 tháng 4, 2018

Phỏng vấn với Bruce Schneier về Internet của Vạn vật, giám sát toàn cầu, và an ninh không gian mạng

An interview with Bruce Schneier on the Internet of Things, global surveillance, and cybersecurity
By Jamie – October 24, 2017
Bài được đưa lên Internet ngày: 24/10/2017
Bruce Schneier on IoT
Bruce Schneier là nhà mật mã học và nhà công nghệ an ninh nổi tiếng thế giới, người được tờ Economist coi là "siêu cao thủ an ninh Internet". Schneier là tác giả của hàng tá cuốn sách kể từ 1993, với cuốn sách tiếp theo của ông - Nhấn vào đây để Giết từng người: Nguy hiểm và Lời hứa trong Thế giới Ảo Được kết nối - dự kiến sẽ phát hành vào tháng 9/2018, và sẽ đề cập tới các xu thế đang bùng nổ của tội phạm không gian mạng, giám sát của các tập đoàn lớn, và cách để giảm nhẹ các rủi ro thảm họa từ các thiết bị không an toàn.
Đầu năm nay, Schneier đã viết bài báo gây ớn lạnh trên tạp chí New York Magazine chi tiết hóa các mối nguy hiểm đầy áp lực của các thiết bị Internet của Vạn vật (IoT) không an toàn và, gần đây hơn, đã tư vấn luật của cả 2 đảng để đảm bảo các thiết bị được chính phủ Mỹ mua đáp ứng được các tiêu chuẩn an toàn đặc thù.
Trên tất cả, Schneier thường xuyên viết blogs trên Internet và các vấn đề an toàn và quản lý thư tin hàng tháng, ‘Crypto-gram,’ đã tích lũy hơn 250.000 thư tin - nên chúng tôi nghĩ ông là tuyệt vời cho phần Hỏi - Đáp về an toàn không gian mạng của ExpressVPN.
Chúng tôi đã hỏi Bruce Schneier ông nghĩ thế nào về gốc gác các vấn đề để có thể cải thiện các thực hành an toàn không gian mạng của chúng.
1. Trước hết, cảm ơn ông nhiều vì nói cho chúng tôi! Chúng tôi đánh giá cao vì ông rất bận, vì thế hãy trực tiếp về nó - vì sao vấn đề các công nghệ không an toàn tồn tại trước hết?
An toàn được nghĩ sau khi thiết kế sản phẩm và không phải là thứ gì đó được xem xét đủ nghiêm túc. Các công ty được thưởng vì các tính năng, giá thành, và thời gian đưa ra thị trường. Là dễ dàng để vứt bỏ an toàn vì nó không rõ ràng ngay bạn đã làm thế.
2. Trước đó ông đã kêu gọi giám sát “mô hình kinh doanh trên Internet”. Điều này ngụ ý gì đối với người sử dụng thông thường Internet?
Nó ngụ ý là họ bị gián điệp 24x7. Họ bị gián điệp khi họ lướt web. Họ bị gián điệp khi họ gửi thư điện tử. Họ bị gián điệp bất kỳ khi nào họ sử dụng các điện thoại thông minh của họ. Các công ty như Facebook là các tổ chức giám sát lớn nhất trên trái đất, và họ cần phải được thừa nhận như vậy.
3. Vì sao có ít ưu đãi thị trường để cung cấp an toàn nếu điều này là thứ gì đó những người tiêu dùng đòi hỏi trong các sản phẩm của họ?
Các khách hàng không biết cách để làm cho các quyết định mua sắm dựa vào an toàn vì các chi tiết là phức tạp và chuyên dụng, nên có tối thiệu ưu đãi cho các công ty để cung cấp nó. Họ được thưởng vì giá thành, các tính năng, và thời gian đưa ra thị trường - là khôn ngoan hơn đối với họ để có cơ hội với an toàn.
Điều này là không khác gì với bất kỳ nền công nghiệp nào khác. Chúng ta không có các cải tiến về an toàn hoặc an ninh mà không có sự can thiệp của chính phủ. Là đúng đối với các ô tô, các máy bay, các thiết bị y tế, dược phẩm, an toàn nơi làm việc, vệ sinh các nhà hàng, an toàn thực phẩm, an toàn nhà máy điện hạt nhân, và - gần đây nhất - an toàn của các công cụ tài chính.
4. Nếu các công ty thiếu ưu đãi để làm điều đó, dạng sự kiện đại chúng nào ông nghĩ có thể thúc ép tri thức tốt hơn về an toàn không gian mạng đối với công chúng nói chung?
Tôi không biết. Tôi quen nghĩ đó từng là bất kỳ lỗ hổng dữ liệu không lồ nào trên báo chí, nhưng tôi đã từ bỏ điều đó rồi. Tôi sợ là sẽ có sự kiện an toàn có liên quan tới Internet-of-Things (IoT) giết chết mọi người mà sẽ làm thức tỉnh mọi người về các mối nguy hiểm đó. Miễn là sự kiện đó không liên quan tới súng, chúng ta có lẽ sau đó có cuộc trò chuyện lành mạnh và hợp lý về quy định của chính phủ.
5, Nói về quy định của chính phủ, ông gần đây đã tư vấn về luật được các Thượng Nghị sỹ Warner và Gardner đề xuất để cải thiện an toàn không gian mạng các thiết bị IoT năm nay - ông hy vọng gì về bước đầu này sẽ hoàn thành?
Các bước đầu, là rất tối thiểu. Nó không ép buộc bất kỳ quy định an toàn vào lên bất kỳ ai. Tất cả điều nó nói là các thiết bị IoT được chính phủ liên bang mua đáp ứng vài tiêu chuẩn an toàn cơ bản. Và thậm chí cải thiện khiêm tốn nhất còn chưa có ở bất cứ đâu.
6. Cảm ơn một lần nữa vì nói với chúng tôi. Cuối cùng đâu là thực hành tốt nhất an toàn không gian mạng tốt chúng tôi tất cả có thể bắt đầu làm ngay từ bây giờ?
Hãy kích hoạt xác thực 2 yếu tố bất kỳ ở đâu có thể. Và duy trì các bản sao lưu tốt.
Nếu bạn muốn đọc nhiều hơn về các suy nghĩ của Bruce Schneier về an toàn không gian mạng, hãy tới blog của ông và đăng ký vào thư tin của ông!
Bruce Schneier is a world-renowned cryptographer and security technologist whom the Economist has dubbed an “internet-security guru.” Schneier has authored a dozen books since 1993, with his next book—Click Here to Kill Everybody: Peril and Promise in a Hyper-Connected World—due for release in September 2018, and set to tackle the burgeoning trends of cybercrime, corporate surveillance, and how to mitigate the catastrophic risks from unsecured devices.
Earlier this year, Schneier wrote a chilling article in New York Magazine detailing the pressing dangers of unsecured IoT devices and, more recently, consulted on bipartisan legislation that will ensure devices purchased by the U.S. government meet specific security standards.
On top of all that, Schneier frequently blogs on internet and security matters and runs a monthly newsletter, ‘Crypto-gram,’ that has amassed a following exceeding 250,000—so we thought he’d be perfect for an ExpressVPN cybersecurity Q+A.
We asked Bruce Schneier what his thoughts were on the origin of the problems that permeate improve their cybersecurity practices.
1. Firstly, thank you so much for talking to us! We appreciate you have a busy schedule, so let’s get straight to it—why does the problem of unsecured technologies exist in the first place?
Security is an afterthought in product design and not something that’s taken seriously enough. Companies are rewarded for features, price, and time-to-market. It’s easy to slough off security because it’s not immediately obvious that you’ve done so.
2. You’ve previously called surveillance “the business model of the internet.” What does this mean to the average internet user?
It means that they are spied on 24×7. They’re spied on when they surf the web. They’re spied on when they send e-mail. They’re spied on whenever they use their smartphones. Companies like Facebook are the largest surveillance organizations on the planet, and they need to be recognized as such.
3. Why is there such little market incentive to provide security if this is something consumers demand in their products?
Customers don’t know how to make buying decisions based on security because the details are complex and specialized, so there’s minimal incentive for companies to provide it. They’re rewarded for price, features, and time to market—it’s smarter for them to take the chance with security.
This is no different from any other industry. We don’t get safety or security improvements without government intervention. It’s true for cars, planes, medical devices, pharmaceuticals, workplace safety, restaurant sanitation, food safety, nuclear power plant safety, and—most recently—the safety of financial instruments.
4. If companies lack the incentive to do it, what type of mass event do you think could force a better knowledge of cybersecurity onto the general public?
I have no idea. I used to think that it was whatever massive data breach was in the news, but I’ve given up on that. I’m afraid that it’s going to be a security event involving the Internet-of-Things killing people that will wake people up to the dangers. As long as that event doesn’t involve guns, we might then have a sane and reasoned conversation about government regulation.
5. Speaking of government regulation, you recently consulted on legislation proposed by Senators Warner and Gardner to improve IoT cybersecurity this year—what do you hope this first step will accomplish?
As first steps, it’s very minimal. It doesn’t impose any security regulations on anybody. All it says is that IoT devices purchased by the federal government meet some basic security standards. And even this modest improvement isn’t going anywhere.
6. Thanks again for speaking to us. Finally, what’s a good cybersecurity best practice we can all start doing right away?
Enable two-factor authentication wherever possible. And maintain good backups.
If you want to read more of Bruce Schneier’s thoughts on cybersecurity, check out his blog and sign up to his newsletter!
Dịch: Lê Trung Nghĩa



Thứ Tư, 4 tháng 4, 2018

‘Lộ trình triển khai Đám mây Khoa học Mở châu Âu’ - bản dịch sang tiếng Việt

Là tài liệu làm việc của các nhân viên của Ủy ban châu Âu vừa được xuất bản ngày 14/03/2018 nhằm để triển khai Đám mây Khoa học Mở châu Âu - EOSC (European Open Science Cloud) vào thực tế cuộc sống từ nay tới năm 2020 và chuẩn bị cho các năm sau 2020 với rất nhiều dự án cụ thể và dự kiến kinh phí cụ thể và triển khai theo 6 dòng hành động: (1) Kiến trúc; (2) Dữ liệu; (3) Các dịch vụ; (4) Truy cập và các giao diện; (5) Các quy định; và (6) Điều hành.


Bản dịch sang tiếng Việt có 60 trang, có thể tải về tự do tại địa chỉ:




Blogger: Lê Trung Nghĩa



Thứ Ba, 3 tháng 4, 2018

Triển khai Lộ trình cho Đám mây Khoa học Mở châu Âu


Implementation Roadmap for the European Open Science Cloud
Ủy ban châu Âu đã phê chuẩn hôm 14/03/2018 Lộ trình Triển khai Đám mây Khoa học Mở châu Âu - EOSC (European Open Science Cloud) (SWD(2018)83).
Tổng thể, tài liệu trình bày các kết quả và bằng chứng sẵn sàng từ quy trình tư vấn mở rộng và toàn diện bắt đầu bằng xuất bản Thông báo: sáng kiến Đám mây châu Âu (COM(2016)178) vào tháng 04/2016.
Tư vấn đó tán thành logic can thiệp được trình bày trong thông báo đó, để tạo ra sự phù hợp vì mục đích mà liên đoàn các hạ tầng dữ liệu nghiên cứu liên châu Âu, với quan điểm dịch chuyển từ sự phân tán hiện hành sang tình trạng nơi dữ liệu sẽ dễ dàng lưu trữ, tìm kiếm, chia sẻ và sử dụng lại.
Trên cơ sở của tư vấn đó, Lộ trình triển khai đưa ra và tổng quan 6 con đường hành động để triển khai EOSC:
a) kiến trúc, b) dữ liệu, c) các dịch vụ, d) truy cập & các giao diện, e) các quy tắc và f) điều hành.
Đặc biệt đối với trường hợp sau, Lộ trình đưa ra khung điều hành và cấu trúc điều hành nổi lên từ tư vấn, như là cơ sở cho thảo luận tiếp với các quốc gia thành viên. Điều này đã được thông báo thấy trước rõ ràng.
Tài liệu mô tả các biện pháp được triển khai theo các Chương trình Làm việc của Horizon 2020 để bắt đầu triển khai EOSC. Việc cấp tiền của EOSC được đảm bảo cho tới năm 2020 thông qua Chương trình Làm việc Horizon 2020 (gồm 300 triệu € để hỗ trợ phát triển thí điểm dữ liệu mở theo FAIR và cốt lõi liên đoàn EOSC), và dựa vào các cam kết bổ sung thêm của các bên tham gia đóng góp đáp lại Tuyên bố Thượng đỉnh EOSC.
Tài liệu cũng chỉ định liên kết tới hạ tầng Dữ liệu châu Âu, chống trụ cho các giải pháp đám mây năng lực cao với năng lực siêu tính toán, cũng như việc mở rộng EOSC bằng việc mở dần dần kho người sử dụng của nó tới khu vực nhà nước và giới công nghiệp.
Hôm này, tài liệu được trình bày và được thảo luận với Bên Làm Nghiên cứu của Hội đồng, với quan điểm kết thúc khung điều hành cho sáng kiến một cách nghiêm túc.
Tổng thể, tài liệu sẽ phục vụ như là cơ sở cho tư vấn xa hơn với các quốc gia thành viên, Nghị viện châu Âu và các bên tham gia đóng góp thích hợp khác về các bước tiếp theo sẽ triển khai. EOSC đã nổi lên như là ưu tiên chính sách rõ ràng cho nghiên cứu và cách tân của châu Âu. Nó đã được cộng đồng khoa học châu Âu ủng hộ mạnh mẽ trong Hội nghị thượng định EOSCTuyên bố EOSC, bởi Hội đồng trong các Kết luận của Hộ đồng (tháng 05/2016) và bởi Nghị quyết của Nghị viện châu Âu (tháng 01/2017). Nó cũng nhận được các ý kiến tán hành từ Ủy ban Kinh tế và Xã hội (tháng 09/2016) và từ Ủy ban các Vùng (tháng 10/2016).
The Commission adopted on 14 March 2018 the Implementation Roadmap for the European Science Cloud  PDF icon 987 KB (SWD(2018)83).
Overall, the document presents the results and available evidence from an extensive and conclusive consultation process that started with the publication of the Communication: European Cloud initiative (COM(2016)178) in April 2016.
The consultation upheld the intervention logic presented in the Communication, to create a fit for purpose pan-European federation of research data infrastructures, with a view to moving from the current fragmentation to a situation where data is easy to store, find, share and re-use.
On the basis of the consultation, the implementation Roadmap gives and overview of six actions lines for the implementation of the EOSC:
a) architecture, b) data, c) services, d) access & interfaces, e) rules and f) governance.
Specifically regarding the latter, the Roadmap presents a governance framework and a governance structure that emerged from the consultation, as a basis for further discussion with Member States. This was foreseen explicitly by the Communication.
The document describes the measures taken under Horizon 2020 Work Programmes to start implementing the EOSC. The financing of the EOSC is secured until 2020 through the Horizon 2020 Work Programme (including €300 million to support the development of the EOSC federating core and open FAIR data pilot), and based on the additional commitments of stakeholders responding to the EOSC Summit Declaration.
The document also specifies the link to the European Data Infrastructure, underpinning high-capacity cloud solutions with super-computing capacity, as well as widening the EOSC by gradually opening up its user base to the public sector and industry.
Today, the document is presented and discussed with the Research Working Party of the Council, with a view of finalising the governance framework for the initiative in the earnest.
Overall, the document will serve as a basis for further consultation with Member States, the European Parliament and other relevant stakeholders on the next steps to take. The EOSC has emerged as a clear policy priority for European research and innovation. It has been strongly supported by the European scientific community in the EOSC Summit and Declaration, by the Council in Council Conclusions (May 2016) and by a European Parliament Resolution (January 2017). It also received favourable opinions from the Economic and Social Committee (September 2016) and from the Committee of the Regions (October 2016).
Dịch: Lê Trung Nghĩa

Thứ Hai, 2 tháng 4, 2018

Các tài liệu dịch sang tiếng Việt trong Quý I năm 2018


A. Tài liệu về khoa học mở - truy cập mở và dữ liệu mở - dữ liệu mở liên kết
  1. Ghi chú thông tin hướng tới nền tảng Horizon 2020 cho truy cập mở’ - bản dịch sang tiếng Việt, là tài liệu của Ủy ban châu Âu xuất bản ngày 21/12/2017 đưa ra các ghi chú thông tin để chuẩn bị cho phiên bản mới của nền tảng Horizon 2020 hiện nay. Phiên bản mới nổi bật nhất sẽ được tích hợp tính năng rà soát lại ngang hàng mở - Open Peer Review - một trong các thành phần không thể thiếu của Khoa học Mở - góp phần làm gia tăng chất lượng của các xuất bản phẩm và các dữ liệu nghiên cứu được cấp vốn nhà nước từ chương trình Horizon 2020 của Ủy ban châu Âu. Nội dung tài liệu còn cho thấy bên cạnh nền tảng Horizon 2020, còn có các nền tảng khác phục vụ các các mục đích khác nhau của Khoa học Mở của châu Âu, như OpenAIRE và Zenodo. Bản dịch tiếng Việt có 9 trang. Tải về:
  1. IPR, chuyển giao công nghệ và Khoa học Mở - Các thách thức và cơ hội’ - bản dịch sang tiếng Việt, là tài liệu do Ủy ban châu Âu xuất bản năm 2017. Tài liệu là kết quả của hội thảo khoa học do Trung tâm Nghiên cứu Chung – JRC (Joint Research Centre) của Ủy ban châu Âu và Ban Tổng Giám đốc Nghiên cứu và Cách tân (DG Research and Innovation) tổ chức. Tài liệu đưa ra 3 kết luận và 5 phát hiện chính quan trọng. Bản dịch tiếng Việt có 28 trang. Tải về:
  1. Cung cấp cho các nhà nghiên cứu các kỹ năng và năng lực họ cần để thực hành Khoa học Mở‘ - bản dịch sang tiếng Việt, là Báo cáo của Nhóm Làm việc về các Kỹ năng Khoa học Mở của Ủy ban châu Âu xuất bản tháng 07/2017. “Báo cáo cung cấp các kết quả khảo sát giữa các nhà nghiên cứu ở châu Âu về nhận thức của họ về các chính sách và thực hành Khoa học Mở và sau đó tập trung vào các kỹ năng đặc thù các nhà nghiên cứu cần cho Khoa học Mở. Báo cáo kết luận với các khuyến cáo chính sách cho các bên tham gia đóng góp ở mức châu Âu, quốc gia, và cơ sở để nâng cao nhận thức, huấn luyện, hỗ trợ, và khuyến khích các nhà nghiên cứu theo Khoa học Mở”. Bản dịch tiếng Việt có 68 trang. Tải về:
  1. Đánh giá sự nghiệp nghiên cứu bằng việc thừa nhận đầy đủ các thực hành Khoa học Mở – Thưởng,ưu đãi và/hoặc thừa nhận việc thực hành khoa học mở của các nhà nghiên cứu’ - bản dịch sang tiếng Việt, là tài liệu do Nhóm làm việc về Thưởng cho Khoa học Mở của Ban Tổng Giám đốc về Nghiên cứu và Cách tân của Ủy ban châu Âu viết, được xuất bản vào tháng 07/2017. Báo cáo đưa ra thông tin nền tảng về Khoa học Mở có liên quan tới chính sách ERA, đánh giá các nhà nghiên cứu và khung sự nghiệp. Nó cũng mô tả các khía cạnh khác nhau của Khoa học Mở, bao gồm Dữ liệu Mở, Rà soát lại Ngang hàng Mở và Khoa học Công dân. Những hạn chế của các quy trình thừa nhận và thưởng hiện hành được trình bày, với các gợi ý về cách làm nhẹ bớt chúng và cách các hệ biến hóa mới có thể được hình dung và được triển khai”. Bản dịch tiếng Việt có 65 trang. Tải về:
  1. Danh sách hành động của Tuyên bố EOSC’ - bản dịch sang tiếng Việt, là tài liệu của Ủy ban châu Âu xuất bản ngày 26/10/2017, đi kèm với Tuyên bố EOSC cũng được phát hành trong cùng ngày. Danh sách liệt kê các hành động cụ thể để thực hiện các mục tiêu trong Tuyên bố EOSC thời gian tới, với những đơn vị cụ thể của châu Âu cam kết cấp kinh phí và thực hiện các hành động cụ thể để đáp ứng các mục tiêu đó. Cũng qua danh sách này, bạn có thể thấy được các hành động cụ thể để biến các dữ liệu nghiên cứu được cấp vốn nhà nước thành dữ liệu tìm thấy được, truy cập được, tương hợp được và sử dụng lại được – FAIR (Findable, Accessible, Interoperable, Re-usable). Bản dịch tiếng Việt có 5 trang. Tải về:
  1. Tuyên bố EOSC’ - bản dịch sang tiếng Việt, là tài liệu của Ủy ban châu Âu, Tuyên bố EOSC ngày 26/10/2017 tại Brussels, thủ đô nước Bỉ, về việc chính thức khởi xướng Đám mây Khoa học Mở châu Âu - EOSC (European Open Science Cloud) để mở ra các cơ hội mới về nghiên cứu và cách tân trong khoa học không chỉ dành riêng cho các nhà khoa học của châu Âu, mà toàn thế giới. EOSC khẳng định sẽ làm cho tất cả các dữ liệu nghiên cứu khoa học sử dụng tiền từ khu vực nhà nước sẽ ‘mở mặc định’ theo các nguyên tắc: có khả năng tìm thấy được, có khả năng truy cập được, tương hợp được và có khả năng sử dụng lại được - FAIR (Findable, Accessible, Interoperable, Re-usable). Bản dịch tiếng Việt có 13 trang. Tải về:
  1. Con đường tới và từ Tuyên bố EOSC’ - bản dịch sang tiếng Việt, là tài liệu Hội nghị thượng đỉnh Đám mây Khoa học Mở châu Âu - EOSC (European Open Science Cloud) của Ủy ban châu Âu diễn ra vào ngày 12/06/2017, được phát hành vào ngày 26/10/2017 nói về các cam kết của các bên tham gia đóng góp của các quốc gia thành viên EC và các quốc gia có liên quan trong việc hiện thực hóa EOSC tới năm 2020. Đây cũng là tài liệu chuẩn bị cho việc ra Tuyên bố EOSC một cách chính thức của EC sau ngày này. Bản dịch tiếng Việt có 7 trang. Tải về:
  1. KHOA HỌC MỞ’ - bản dịch sang tiếng Việt từ trang web của Tổ chức Hợp tác và Phát triển Kinh tế - OECD (Organisation for Economic Co-operation and Development)OECD chuyên nói về Khoa học Mở. Tài liệu có bảng liệt kê các biện pháp chính sách gần đây để thúc đẩy khoa học mở của các quốc gia OECD. Bản dịch tiếng Việt có 5 trang. Tải về:
  1. Thông cáo của các Bộ trưởng Khoa học các nước G7’ - bản dịch sang tiếng Việt, là tài liệu cuộc họp các Bộ trưởng Khoa học các nước G7 tại Turin, nước Ý vào ngày 28/09/2017, trong đó có các nước Canada, Pháp, Đức, Ý, Nhật, Vương quốc Anh, Mỹ và Ủy viên châu Âu về Nghiên cứu, Khoa học và Cách tân. Họ bàn cách tận dụng các cơ hội và vượt qua các thách thức của cuộc Cách mạng Sản xuất Tiếp theo – NPR (Next Production Revolution). Tài liệu có nội dung về Khoa học Mở, được nêu trong các đoạn 19 và 20. Bản dịch tiếng Việt có 11 trang. Tải về:
  1. Chúng ta có thể cải thiện nông nghiệp, thực phẩm và dinh dưỡng với dữ liệu mở như thế nào?’ - bản dịch sang tiếng Việt, là tài liệu của Viện Dữ liệu Mở - ODI (Open Data Institute) và tổ chức Dữ liệu Mở Toàn cầu về Nông nghiệp và Dinh dưỡng - GODAN (Global Open Data for Agriculture and Nutrition) xuất bản năm 2015. Tài liệu “nhấn mạnh 3 cách thức đặc thù dữ liệu mở có thể giúp giải quyết các vấn đề thực tế trong các lĩnh vực nông nghiệp và dinh dưỡng: (1) Xúc tác cho việc ra quyết định hiệu lực và hiệu quả hơn; (2) Nuôi dưỡng sự cách tân để làm lợi cho mọi người; (3) Dẫn lái sự thay đổi tổ chức và lĩnh vực qua sự minh bạch”. Bản dịch tiếng Việt có 44 trang. Tải về:
  1. Các bài học hỗ trợ lãnh đạo dữ liệu mở khu vực nhà nước‘ - bản dịch sang tiếng Việt, là tài liệu của các tác giả Fiona Smith và Liz Carolan, Viện Dữ liệu Mở - ODI (Open Data Institute), Viện do các ngài Tim Berners-Lee và Nigel Shadbolt thành lập vào năm 2012 và có trụ sở chính ở Luân Đôn, Vương quốc Anh, xuất bản tháng 04/2016. Tài liệu đưa ra phương pháp luận và các bài học thực tế từ thí điểm với khóa học dành cho các lãnh đạo dữ liệu mở ở 3 quốc gia là Macedonia, Tanzania và Burkiana Faso. Bản dịch tiếng Việt có 51 trang. Tải về:
  1. Hỗ trợ phát triển bền vững bằng dữ liệu mở’ - bản dịch sang tiếng Việt, là tài liệu sách trắng do Viện Dữ liệu Mở - ODI (Open Data Institute) và Đối tác Dữ liệu Mở - POD (Parternership for Open Data) xuất bản năm 2015. Tài liệu chỉ ra 12 ví dụ điển hình ứng dụng dữ liệu mở ở các quốc gia khác nhau trên thế giới trong thời gian vừa qua để giải quyết các vấn đề tại các quốc gia, cả về kinh tế, xã hội và môi trường. Tài liệu cũng cho thấy: “các chính phủ, các nhà tài trợ và các NGO (quốc tế) - với sự hỗ trợ của các nhà nghiên cứu, xã hội dân sự và giới công nghiệp - có thể áp dụng dữ liệu mở để giúp làm cho các SDG thành hiện thực”. Bản dịch tiếng Việt có 40 trang. Tải về:
  1. Cách để hỗ trợ năng lực các sáng kiến dữ liệu mở bằng các công cụ đánh giá’ - bản dịch sang tiếng Việt, là tài liệu báo cáo phương pháp của Viện Dữ liệu Mở - ODI (Open Data Institute) xuất bản năm 2016. “Tài liệu này rà soát lại các công cụ đánh giá dữ liệu mở đang có, để hỗ trợ các tổ chức, các nhà nghiên cứu, các nhà lãnh đạo dữ liệu mở, và các nhà thực hành phát triển toàn cầu trong việc tiến hành các đánh giá để xây dựng năng lực các sáng kiến dữ liệu mở. Bản dịch tiếng Việt có 33 trang. Tải về:
  1. Doanh nghiệp mở: 3 doanh nghiệp lớn tạo giá trị với cách tân mở như thế nào’ - bản dịch sang tiếng Việt, là tài liệu của Viện Dữ liệu Mở - ODI (Open Data Institute) xuất bản năm 2016. “Khi các doanh nghiệp trở nên lớn hơn, thì cách tân và lanh lẹ là một thách thức. Báo cáo này khai thác 3 doanh nghiệp hàng đầu đã ôm lấy tiếp cận mở - nguồn mở, các tiêu chuẩn mở, dữ liệu mở, cách tân mở - để giúp giữ được lợi thế cạnh tranh”. Bản dịch tiếng Việt có 32 trang. Tải về:
  1. Dữ liệu mở trong chính phủ: cách để mang tới sự thay đổi’ - bản dịch sang tiếng Việt, là tài liệu dạng sách trắng do Viện Dữ liệu Mở - ODI (Open Data Institute) và Đối tác Dữ liệu Mở - POD (Partnership for Open Data) xuất bản năm 2015. Tài liệu đưa ra 10 nguyên tắc quản lý thay đổi được kiểm thử qua các cuộc phỏng vấn với các công chức chính phủ ở 7 quốc gia. Dựa vào các nguyên tắc và các cuộc phỏng vấn đó, tài liệu đã đưa ra 12 khuyến cáo giúp các chính phủ duy trì sự thay đổi dữ liệu mở và hiện thực hóa tác động của nó. Bản dịch tiếng Việt có 51 trang. Tải về:
  1. Ai sở hữu hạ tầng dữ liệu của chúng ta?’ - bản dịch sang tiếng Việt, là tài liệu do Viện Dữ liệu Mở - ODI (Open Data Institute) xuất bản tháng 5/2015. Bản dịch tiếng Việt có 16 trang. Tải về:


B. Khoảng 230 đầu sách, tài liệu dịch đã được đưa lên Internet cho tới hết năm 2017 trở về trước ở các đường liên kết:


Hà Nội, ngày 03/04/2018
Blogger: Lê Trung Nghĩa