1.
GIỚI THIỆU
Xuất bản phẩm mới
này giới thiệu Khung Năng lực Số cho Công dân phiên bản
2.2. Nó cũng hành động như là tư liệu tham chiếu hoàn
chỉnh cho khung DigComp củng cố cho các xuất bản phẩm và
các hướng dẫn sử dụng được phát hành trước đó.
Năng
lực số là một trong những Năng
lực Chính cho Học tập Suốt đời. Lần đầu tiên
nó được định nghĩa vào năm 2006, và sau đó một bản
cập nhật của Khuyến nghị của Hội đồng châu Âu vào
năm 2018, nó nêu như sau:
“Năng
lực số liên quan tới sử
dụng tự tin, nghiêm túc và có trách nhiệm của, và tham
gia với, các công nghệ số cho việc học tập, làm việc,
và tham gia trong xã hội. Nó
bao gồm sáng thông tin và dữ liệu, truyền thông và cộng
tác, sáng phương tiện, tạo lập nội
dung số (bao gồm việc lập
trình), an toàn (bao gồm phúc lợi số và các năng
lực liên quan tới an ninh
không gian mạng), các câu hỏi có liên quan tới sở hữu
trí tuệ, giải quyết vấn đề và tư duy phản biện”
(Khuyến
nghị của
Hội đồng về các Năng lực Chính cho Học tập Suốt
đời, 22/05/2018, ST 9009 2018 INIT).
Các năng lực là sự kết hợp cả kiến
thức, kỹ năng và thái độ, nói cách khác, chúng được
tạo nên từ các khái niệm và sự kiện (nghĩa là, kiến
thức), mô tả các kỹ năng (nghĩa là, khả năng triển
khai các quy trình) và thái độ (nghĩa là, sự định
hướng, tư duy để hành động) (xem HỘP 1). Các
năng lực chính được phát triển qua cuộc sống.
Công việc về vận hành năng lực số bám
theo Khuyến nghị của Hội đồng năm 2006, bắt đầu vào
năm 2010. Vào năm 2013, Khung tham chiếu DigComp đầu tiên
được ban hành xác định năng lực số như là sự kết
hợp của 21 năng lực được nhóm vào 5 lĩnh vực chính
(Hình 1). Kể từ 2016, 5 lĩnh vực là Sáng thông tin
và dữ liệu; Truyền thông và cộng tác; Tạo lập nội
dung số; An toàn; và Giải quyết vấn đề (Hình 3).
Các chi tiết xa hơn về phương pháp luận được mô tả
trong Phụ lục 1.
HỘP 1. Chiều số 4 của khung
DigComp phác thảo các ví dụ về kiến thức, kỹ năng
và thái độ theo một cách thức không vét cạn.
KIẾN THỨC
Nó ngụ ý kết quả đầu ra của sự
đồng hóa thông tin qua việc học tập. Kiến thức là
tập hợp các sự kiện, nguyên tắc, lý thuyết và thực
hành có liên quan tới một lĩnh vực công việc hoặc
nghiên cứu.
→
Trong DigComp 2.2, các ví dụ về kiến thức bám
theo cách diễn đạt của:
Nhận thức về…,
Biết về…, Hiểu rằng…,
.v.v.
CÁC KỸ NĂNG
Chúng là khả năng áp dụng kiến thức
và sử dụng bí quyết đề hoàn thành các nhiệm vụ
và giải quyết các vấn đề. Trong ngữ cảnh của
Khung Trình độ châu Âu – EQF (European Qualifications
Framework), các kỹ năng được mô tả như là nhận thức
(liên quan tới sử dụng tư duy logic, trực quan và phản
biện) hoặc thực hành (liên quan tới sự khéo léo thủ
công và sử dụng các phương pháp, nguyên vật liệu,
công cụ và dụng cụ).
→
Trong DigComp 2.2, các ví dụ về kỹ năng
bám theo cách diễn đạt của:
Biết làm thế
nào…, Có khả năng làm…, Tìm
kiếm …, .v.v.
THÁI ĐỘ
Chúng được thừa nhận như là các
động lực thực thi, cơ sở để tiếp tục thực thi
có năng lực. Chúng bao gồm các giá trị, nguyện vọng
và các ưu tiên.
→
Trong DigComp 2.2, các ví dụ về thái độ
bám theo cách diễn đạt của:
Mở tới…,
Tò mò về…, Cân nhắc các lợi ích
và rủi ro
…, .v.v.
|
Các khung tham
chiếu như khung DigComp tạo ra một tầm nhìn đồng thuận
về những gì cần thiết đối với các năng lực để
vượt qua các thách thức phát sinh từ số hóa trong hầu
hết tất cả các khía cạnh của cuộc sống hiện đại.
Mục tiêu của chúng là để tạo ra sự hiểu biết chung
bằng việc sử dụng một từ vựng được đồng thuận
sau đó có thể được áp dụng nhất quán trong tất cả
các nhiệm vụ từ việc hình thành chính sách và nhằm
thiết lập kế hoạch chỉ dẫn, đánh giá và giám sát.
Rốt cuộc, điều đó tùy thuộc vào những người sử
dụng, các cơ sở, các bên trung gian hoặc các nhà phát
triển các sáng kiến để tùy chỉnh khung tham chiếu cho
các nhu cầu của họ khi sửa đổi các can thiệp (nghĩa
là phát triển chương trình giảng dạy) cho phù hợp với
các nhu cầu đặc thù của các nhóm mục tiêu. Để đọc
thêm về sử dụng DigComp, xem PHẦN 3.
ĐIỀU GÌ MỚI TRONG
BẢN CẬP NHẬT?
Bản cập nhật 2.2 tập trung vào “Các
ví dụ về kiến thức, kỹ năng và thái độ
áp dụng được cho từng năng lực” (Chiều 4).
Đối với từng trong số 21 năng lực, 10-15 tuyên bố được
đưa ra để minh họa kịp thời và các ví dụ được cập
nhật nhấn mạnh các chủ đề đương thời. Bằng cách
đó, bản cập nhật này không sửa các trình mô tả của
mô hình tham chiếu khái niệm (Hình 1) và nó không
làm thay đổi cách thức các mức thông thạo được nêu
(Chiều 3). Hơn nữa, các kịch bản sử dụng được trình
bày trong Chiều 5 vẫn được giữ nguyên không đổi.
Khung DigComp được tích hợp ở phiên bản 2.2 là sẵn có
ở PHẦN 2.

Hơn 250 ví dụ nhấn mạnh cho các chủ đề
mới và đang nổi lên kể từ bản cập nhật mới nhất
trước đó. Các ví dụ mới đó sẽ trở thành hữu dụng,
ví dụ, cho những ai có trách nhiệm lên kế hoạch và cập
nhật chương trình giảng dạy, và cho những ai đang phát
triển giáo trình đào tạo hoặc nội dung khóa học về
DigComp. Họ có thể sử dụng các ví dụ đó để đề
cập các chủ đề có liên quan trong xã hội ngày nay, vài
trong số đó như sau:
thông tin sai lệnh hoặc thông
tin xuyên tạc trên các trang phương tiện xã hội
và tin tức (như, kiểm tra nhanh thông tin và các nguồn
của nó, các tin giả, các tin giả sâu) được kết nối
với sáng thông tin và phương tiện
xu thế dữ liệu hóa các dịch vụ
và ứng dụng Internet (như, tập trung vào cách dữ
liệu cá nhân được khai thác như thế nào)
tương tác của công dân với các
hệ thống trí tuệ nhân tạo (bao gồm các kỹ
năng dữ liệu có liên quan, bảo vệ dữ liệu và quyền
riêng tư, nhưng còn cả các cân nhắc về đạo đức
nữa)
các công nghệ đang nổi lên như
Internet của Vạn vật - IoT (Internet of Things)
các lo ngại về tính bền vững của
môi trường (như các tài nguyên được CNTT-TT tiêu
dùng)
các bối cảnh mới và đang nổi lên
(như làm việc từ xa và công việc lai [hybrid])
Vì bản thân khái niệm “ví dụ” tự
nó giải thích rồi, các tuyên bố mới đó không đại
diện cho danh sách vét cạn của những gì bản thân năng
lực đó kéo theo. Vì thế, là quan trọng để nhấn mạnh
rằng các ví dụ mới của DigComp về kiến thức, kỹ
năng và thái độ không nên được coi như là bộ các kết
quả đầu ra học tập được kỳ vọng từ tất cả các
công dân. Tuy nhiên, là có khả năng sử dụng chúng như
là cơ sở để phát triển các mô tả rõ ràng các mục
đích học tập, nội dung, các kinh nghiệm học tập và
đánh giá của chúng, dù điều này đòi hỏi việc lên kế
hoạch và triển khai chỉ dẫn nhiều hơn.
Thứ hai, các ví dụ không được phát
triển theo các mức thông thạo. Thậm chí nếu bạn có
thể quan sát thấy vài sự không nhất quán và khác biệt
theo mức độ phức tạp của chúng (vài ví dụ của điều
này có thể tập trung vào mức độ kiện thức mới rất
thô sơ trong khi vài ví dụ khác có thể minh họa các
nhiệm vụ phức tạp hơn nhiều), điều này không có
nghĩa chúng là công cụ để đo đếm sự tiến bộ. Đối
với từng năng lực, Chiều 3 đưa ra 8 mức thông thạo.
Cuối cùng, các ví dụ mới về kiến
thức, kỹ năng và thái độ không được chào như một
công cụ đánh giá hoặc như một công cụ tự đánh giá
về phát triển năng lực của một con người. Để có
thêm thông tin về công cụ tự đánh giá được thẩm
định, xem PHẦN 3.1.
MỐI
LIÊN KẾT LẪN NHAU GIỮA CÁC
NĂNG LỰC CHÍNH
Khuyến nghị về các Năng lực Chính cho
Học tập Suốt đời (Key Competences for Lifelong Learning) xác
định các năng lực chính là cơ bản cho các công dân để
làm tròn bổn phận cá nhân, vì một lối sống lành mạnh
và bền vững, có khả năng làm việc, quyền công dân
tích cực và hòa nhập xã hội (Hình 2).
Tất cả các năng lực chính là bổ sung
và kết nối lẫn nhau. Nói cách khác, các năng lực cơ
bản cho lĩnh vực này sẽ hỗ trợ phát triển năng lực
trong lĩnh vực khác. Điều này cũng là đúng giữa năng
lực Số và các năng lực chính khác. Vài sự kết nối
lẫn nhau quan trọng được nhấn mạnh bên dưới, dù
chúng không là vét cạn, ý định của chúng là tập trung
nhiều hơn vào cách để bản chất tự nhiên bổ sung này
có thể xảy ra được trong các môi trường số.
Ví dụ, các khía cạnh của năng lực
Trình độ học vấn (Literacy competence) là cần
thiết khi đọc tài liệu hoặc đọc trên màn hình. Theo
khuyến nghị các Năng lực Chính cho Học tập Suốt đời,
năng lực Sáng bao gồm, ví dụ, “khả năng phân biệt
và sử dụng các dạng nguồn khác nhau, để tìm kiếm,
thu thập và xử lý thông tin”. Các kỹ năng đó
được triệu gọi khi đánh giá nội dung và các nguồn
của nó trên trực tuyến, một năng lực tạo thành một
phần không thể thiếu của sáng Thông tin trong môi trường
giàu phương tiện ngày nay (năng lực 1.2 của DigComp).
Mặt khác, một năng lực của DigComp xác
định việc tham gia trong quyền công dân (Citizenship) thông
qua các công nghệ số (năng lực 2.3 của DigComp). Bản
thân năng lực quyền công dân (citizenship
competence) được xác định trong các Năng lực Chính như
là “khả năng hành động như các công dân có trách
nhiệm và tham gia đầy đủ trong cuộc sống dân sự và
xã hội”. Các ví dụ mới có ý họa minh họa mối
liên kết lẫn nhau này bằng việc nhấn mạnh kiến thức,
kỹ năng và thái độ là bổ sung cho cả các chủ đề
đó.
Ngoài ra, năng lực Quyền công dân cũng
liên kết với sáng phương tiện, nêu “khả năng
truy cập, có hiểu biết nghiêm túc về, và tương tác với
cả các dạng phương tiện truyền thống và mới và hiểu
rõ vai trò và các chức năng của các phương tiện trong
các xã hội dân chủ”. Vì thế, có thể nói rằng
sáng Phương tiện, nó là chủ đề mới được bổ sung
cho định nghĩa năng lực số năm 2018, nằm trong mối liên
kết lẫn nhau giữa các năng lực quyền
công dân và năng lực số. Để
đọc nhiều hơn về sự bổ sung giữa DigComp và Sáng
Phương tiện và Thông tin, xem PHẦN 4.1.
Các tham chiếu tới năng lực Cá nhân,
xã hội và học để học hỏi
cũng nhiều trong bản cập nhật DigComp này, ví dụ trong
lĩnh vực quản lý học tập và sự nghiệp của một
người (năng lực 5.4 của DigComp) và hỗ trợ cho phúc lợi
vật chất và tinh thần của một người (năng lực 4.3
của DigComp).
Năng lực tinh thần doanh nhân
(Entrepreneurship competence) nhằm tạo ra giá trị trong thế
giới ngày nay. Ghép nối nó với năng lực Số, và đặc
biệt với việc sử dụng sáng tạo các công nghệ số
(năng lực 5.3 của DigComp), có thể giúp biến các ý tưởng
thành giá trị cho bản thân và cho những người khác. Quy
tắc hành xử trên mạng – Netiquette (năng lực 2.5 của
DigComp), mặt khác, dựa trên năng lực chính về nhận
thức và thể hiện văn hóa, nhưng cũng về năng lực
đa ngôn ngữ (sự cùng tồn tại của các ngôn
ngữ khác nhau ở mức xã hội hoặc cá nhân) và chủ
nghĩa đa ngôn ngữ (kho ngôn ngữ năng động và phát triển
của một cá nhân người sử dụng/người học) phân biệt
được trong Khung Tham chiếu Chung của châu Âu về Ngôn
ngữ (Common European Framework of Reference for Languages).
Các ví dụ mới được trình bày trong bản
cập nhật này có ý định tập trung hơn vào cách để
các kết nối lẫn nhau đó có thể diễn ra trong các môi
trường số (các kết nối lẫn nhau được nhấn mạnh ở
trên là không vét cạn). Thông tin nhiều hơn về các khung
của Liên minh châu Âu cho các năng lực Chính được thấy
trong PHẦN 4.2.
Thừa
nhận:
Vuorikari,
R., Kluzer, S. and Punie, Y., DigComp 2.2: Khung Năng lực số cho
Công dân, EUR 31006 EN, Văn phòng Xuất bản của Liên minh
châu Âu, Luxembourg, 2022, ISBN 978-92-76-48882-8,
doi:10.2760/115376, JRC128415.
Vuorikari,
R., Kluzer, S. and Punie, Y., DigComp 2.2: The Digital Competence
Framework for Citizens, EUR 31006 EN, Publications Office of the
European Union, Luxembourg, 2022, ISBN 978-92-76-48882-8,
doi:10.2760/115376, JRC128415
Quay về
Mục lục