Chủ Nhật, 18 tháng 9, 2022

Khoa học và quyền con người: nhu cầu về một khái niệm thống nhất

Science as a human right: the need of a unified concept

30/11/2018

Theo: https://en.unesco.org/news/science-human-right-need-unified-concept

Bài được đưa lên Internet ngày: 30/11/2018

Mặc dù đã được ghi trong Tuyên ngôn Phổ quát về Quyền con người (UDHR), sự hiểu biết về khoa học như một quyền con người - và các nghĩa vụ phát sinh từ đó - vẫn chưa rõ ràng và chưa được phát triển. Đi đầu trong nỗ lực làm rõ quan điểm nhân quyền trong khoa học và khai thác sức mạnh chuyển đổi của nó, UNESCO đã mời các chuyên gia thảo luận về những thách thức và cơ hội chính trong bối cảnh Hội nghị Khoa học xã hội Mỹ Latinh và Caribe lần thứ 8 do Hội đồng Khoa học Xã hội Mỹ Latinh (CLACSO) tổ chức, tại Buenos Aires, Argentina, vào ngày 21 tháng 11 năm 2018.

“Là trách nhiệm của chúng ta để đảm bảo rằng khoa học và các ứng dụng của nó là hài hòa với tập hợp đầy đủ các tiêu chuẩn phổ quát. Tiếp cận quyền con người đối với khoa học phải nằm trong tâm của những gì chúng ta muốn vì một tương lai bền vững”, Nada Al-Nashif, Trợ lý Tổng Giám đốc của UNESCO về Khoa học Xã hội và Nhân văn. “Các bước chính là xác định nội dung chuẩn mực của nó, để làm sáng tỏ các nghĩa vụ nhà nước liên quan và cũng để xem xét các điều kiện cần thiết để triển khai nó”.

Mikel Mancisidor, Chủ tịch Viện Quốc tế về Quyền con người đối với Khoa học và Phó Chủ tịch Ủy ban về các Quyền Kinh tế, Xã hội và Văn hóa (CESCR) của Liên hiệp quốc, có trách nhiệm về việc phác thảo bình luận chung về quyền hưởng thụ những lợi ích của quy trình khoa học và các ứng dụng của nó như được nêu rõ ở Điều 15 của Công ước Quốc tế về các Quyền Kinh tế, Xã hội và Văn hóa (ICESCR). Ông đã nêu bật 2 thách thức chính tác động tới sự thừa nhận khoa học như một quyền con người. Thách thức đầu là sự hiểu biết chung về quyền đối với khoa học như truy cập tới của cải vật chất - chẳng hạn như một loại thuốc chữa được bệnh, ví dụ thế.

“Khoa học không chỉ là chiều kích vật chất, nó có nghĩa là quyền truy cập tới kiến thức. Nó không chỉ là công cụ để giành được những lợi ích vật chất, mà bản thân nó còn là một quyền văn hóa. Hơn cả quyền truy cập tới các ứng dụng của nó, khoa học ngụ ý sự tham gia và là cơ bản để xây dựng các xã hội dân chủ”, ông nói. Thách thức thứ hai là cách để thúc đẩy sự tham gia và biến khoa học như là một quyền con người trở thành hiện thực. “Khoa học cần phục vụ cho nhân loại. Chúng ta đã chứng kiến sự coi thường về kiến thức ngày càng tăng cùng với sự lan tràn của tin tức giả mạo. Trong bối cảnh này, sứ mệnh của giáo dục là thúc đẩy sự tôn trọng kiến thức ”, Mancisidor chỉ rõ.

Nhớ lại 70 năm kể từ khi UDHR được thông qua, được tổ chức vào năm nay, Mancisidor cũng nêu bật UNESCO đã có vai trò quan trọng trong việc chuyển sự hiểu biết về khoa học phục vụ sự tàn phá, như được nói rõ trong Chiến tranh thế giới lần hai, sang khoa học như một quyền văn hóa. mà cần phải hoạt động vì lợi ích của xã hội.

“Sự ra đời của UNESCO từng cực kỳ quan trọng trong bối cảnh đó. Phiên bản cuối cùng của Điều 27 khẳng định rằng mỗi người có quyền tham gia và hưởng lợi từ khoa học. Quan điểm này là chìa khóa để hiểu quyền đối với khoa học”, ông nói.

Bộ mặt của con người trong khoa học

Theo Margaret Vitullo, Phó Giám đốc Hiệp hội Xã hội học Mỹ (ASA), 3 công cụ cơ bản là cần thiết để làm cho truy cập liên tục tới khoa học: truy cập tới giáo dục ở mọi mức, truy cập tới thông tin và các công nghệ thông tin, và việc cấp vốn.

Trước sự mất uy tín của khoa học trong những năm vừa qua, Vitullo đã bảo vệ những cải tiến trong cách giảng dạy khoa học: “Từ thuở sơ khai, bài nói chuyện khoa học đã mang tính trừu tượng. Khi chúng ta kết nối khoa học với việc giải quyết các vấn đề xã hội, chúng ta có thể cải thiện sự hiểu biết tốt hơn về tầm quan trọng của khoa học. Chúng ta cần chỉ ra cách để vật lý học, hóa học và các công thức có giá trị để cải thiện kiến thức về cách để giải quyết các vấn đề”

Elisa Reis, Phó Chủ tịch của Hội đồng Khoa học Quốc tế (ISC), đã khai phá các mối quan hệ giữa kiến thức khoa học và việc hoạch định chính sách. “Để biến khoa học thành một quyền con người, chúng ta cần có góc nhìn 2 mặt: khoa học vì chính sách và chính sách vì khoa học. Hai mục tiêu này coi khoa học là quyền con người theo đúng nghĩa của nó, là lợi ích và là sự tham gia ”, cô nhận xét”.

Dành riêng cho lễ kỷ niệm 70 năm thành lập UDHR, cuộc thảo luận của phiên hội thảo “Khoa học, một Quyền con người” là bước tiếp nối của lễ kỷ niệm Ngày Khoa học Thế giới vì Hòa bình và Phát triển vào ngày 10 tháng 11.

Video: https://www.youtube.com/watch?v=jc5MADBGC5g

Although enshrined in the Universal Declaration of Human Rights (UDHR), the understanding of science as a human right – and the obligations arising therefrom – have remained unclear and underdeveloped. At the forefront of efforts to clarify the human rights perspective of science and to harness its transformative power, UNESCO invited experts to discuss main challenges and opportunities in the context of the 8th Latin American and Caribbean Conference on Social Sciences held by the Latin American Council of Social Sciences (CLACSO), in Buenos Aires, Argentina, on 21 November 2018.

“It is our responsibility to ensure that science and its applications are in harmony with the full set of universal standards. A human-rights approach to science must be at the heart of what we want to be a sustainable future,” said Nada Al-Nashif, UNESCO Assistant Director-General for Social and Human Sciences. “Key steps are to define its normative content, to elucidate the related state obligations and also to consider what are the necessary conditions for its implementation.”

Mikel Mancisidor, President of the International Institute for the Human Right to Science and Vice-Chairperson of the UN Committee on Economic, Social and Cultural Rights (CESCR), is responsible for the drafting of a general comment on the right to enjoy the benefits of scientific progress and its applications as articulated in Article 15 of the International Covenant on Economic, Social and Cultural Rights (ICESCR). He highlighted two main challenges that affect the recognition of science as a human right. The first is the general understanding of the right to science as access to material goods – a medicine that can cure a disease, for example.

“Science is more than a material dimension, it means access to knowledge. It is not only an instrument to achieve material benefits, but a cultural right in itself. More than access to its applications, science means participation and is essential to build democratic societies”, he said.
The second challenge is how to foster participation and make science as a human right a reality. “Science needs to be at the service of humanity. We have seen growing disregard about knowledge, with the spread of fake news. In this context, the mission of education is to promote respect for knowledge”, Mancisidor indicated.

Reminding the 70 years since the adoption of the UDHR, celebrated this year, Mancisidor also highlighted UNESCO has had a critical role in shifting the understanding of science at the service of destruction, as articulated during the Second World War, to science as a cultural right that needs to operate in the benefit of society.

“The birth of UNESCO was extremely important in that context. The final version of Article 27 asserts that everyone has the right to participate and benefit from science. This perspective is key to understand the right to science”, he said.

The human face of science

According to Margaret Vitullo, Deputy Director of the American Sociological Association (ASA), three essential tools are necessary to make for continuous access to science: access to education at every level, access to information and communication technologies, and funding.

In view of the loss of prestige of science in the last years, Vitullo defended improvements in the way science is taught: “Since early ages, the scientific talk has been abstract. When we connect science to social problem solving, we can enhance better understanding on the importance of science. We need to show how physics, chemistry and formulas have a value to improve knowledge on how to solve problems”

Elisa Reis, Vice-President of the International Science Council (ISC), explored the ties between scientific knowledge and policy-making. “To make science a human right, we need a twofold perspective: science for policy and policy for science. These two targets contemplate science as a human right in its full sense, as a benefit and as participation”, she observed.

Dedicated to the 70th anniversary of the UDHR, the panel discussion “Science, a Human Right” was a continuation step of the celebration of the World Science Day for Peace and Development on 10 November.  

Video: https://www.youtube.com/watch?v=jc5MADBGC5g

Dịch: Lê Trung Nghĩa

letrungnghia.foss@gmail.com

Thứ Sáu, 16 tháng 9, 2022

Ngày Hội Tự do cho Phần mềm 2022 - Software Freedom Day 2022

Ảnh: Jeff Lim and Maxus Media & Software Pte. Ltd. of Singapore and the SFD community, CC BY 3.0

Câu lạc bộ phần mềm tự do nguồn mở Việt Nam (VFOSSA) tổ chức Ngày hội Tự do cho Phần mềm 2022 – Software Freedom Day 2022 vào ngày 17/09/2022 trên trực tuyến tại 3 điểm cầu: Hà Nội, Đà Nẵng và Cần Thơ.



Xem lịch trình chi tiết Software Freedom Day 2022 tại: https://vfossa.vn/tin-tuc/lich-trinh-chi-tiet-software-freedom-day-2022-607.html


Một trong các bài trình bày trong chương trình cùa Ngày hội là: Khai thác Tài nguyên Giáo dục Mở. Tự do tải về bài trình bày tại địa chỉ: https://www.dropbox.com/s/mw7u8gass7gjwch/OER-Exploiting_SFD2022.pdf?dl=0


Blogger: Lê Trung Nghĩa

letrungnghia.foss@gmail.com

Thứ Năm, 15 tháng 9, 2022

‘Khoa học Mở’ (theo Ủy ban châu Âu) - bản dịch sang tiếng Việt


Là tài liệu do Ủy ban châu Âu xuất bản năm 2019, trước khi Khuyến nghị Khoa học Mở của UNESCO được xuất bản (bản dịch sang tiếng Việt).

Tài liệu đã đưa ra định nghĩa về Khoa học Mở và vạch ra 8 tham vọng cho khoa học mở ở châu Âu và toàn cầu.


Tự do tải về bản dịch sang tiếng Việt của tài liệu có 4 trang tại địa chỉ: https://www.dropbox.com/s/mncw4bte57w5cdj/ec_rtd_factsheet-open-science_2019_Vi-15092022.pdf?dl=0


Xem thêm:

Blogger: Lê Trung Nghĩa

letrungnghia.foss@gmail.com

Thứ Tư, 14 tháng 9, 2022

Khung Khoa học Mở đạt được 500.000 người sử dụng đăng ký khắp trên thế giới để làm tài liệu, lưu trữ, và chia sẻ nghiên cứu của họ

Open Science Framework Reaches 500,000 Registered Users Worldwide to Document, Archive, and Share Their Research

Aug. 30, 2022

Theo: https://www.cos.io/about/news/open-science-framework-reaches-500000-registered-users-worldwide

Bài được đưa lên Internet ngày: 30/08/2022

Charlottesville, VA – Khung Khoa học Mở - OSF (Open Science Framework), một nền tảng nguồn mở quản lý và cộng tác nghiên cứu để xúc tác cho các thực hành khoa học mở được Trung tâm Khoa học Mở - COS (Center for Open Science) phát triển và duy trì, đã đạt được 500.000 người sử dụng được đăng ký khắp trên thế giới.

“OSF tạo ra sự trao đổi cởi mở kiến thức bằng việc kết nối các nhà nghiên cứu và làm cho nó dễ dàng để làm tài liệu và chia sẻ tác phẩm của họ”, Nici Pfeifferm, Giám đốc Sản phẩm của COS, nói. “OSF cải thiện toàn bộ vòng đời nghiên cứu bằng việc trao quyền cho các cộng đồng đề áp dụng các thực hành cải thiện nghiên cứu tin cậy được và tái tạo lại được; và thúc đẩy sự dịch chuyển văn hóa hướng tới nghiên cứu mở hơn và khắt khe hơn”.

OSF đáp ứng được nhu cầu cần thiết cho các cộng đồng để áp dụng các thực hành mở xuyên khắp vòng đời nghiên cứu. OSF làm cho có khả năng để tiến hành các hành vi học thuật mở và làm cho nó dễ dàng để làm như vậy với các tiến trình hiệu quả và bằng việc tích hợp các dịch vụ mà các nhà nghiên cứu sử dụng. Cộng đồng OSF đại diện cho tất cả các ngành học thuật. Những người sử dụng đã đăng ký hơn 100.000 nghiên cứu và đã chia sẻ hàng triệu tệp dữ liệu và các nội dung nghiên cứu khác. OSF hỗ trợ cộng đồng và các tác phẩm nghiên cứu học thuật mở với các đối tác và các cơ quan liên bang để làm vho nghiên cứu Tìm thấy được, Truy cập được, Tương hợp được, và Sử dụng lại được - FAIR (Findable, Accessible, Interoperable, and Re-usable) nhiều hơn.

Trong năm 2021, những người sử dụng có đăng ký trên OSF đã đăng hơn 2,6 triệu tệp, dịch 7.985 tệp hàng ngày. Hơn nữa, những người tiêu dùng nghiên cứu đang truy cập và tải về nội dung với tỷ lệ cao, với hơn 10 triệu khách viếng thăm độc nhất trong năm 2021 tải về hơn 51 triệu tệp.

Những người sử dụng có đăng ký của OSF đang dẫn dắt bằng ví dụ trong việc cải thiện tính mở, liêm chính và khả năng tái tạo lại của nghiên cứu. Sự áp dụng của họ đang có hiệu ứng lan tỏa mạnh, như được chỉ ra bằng sự tăng trưởng không tuyến tính cùa OSF mỗi năm kể từ khi nó được khởi xướng vào tháng 11/2012. Phải mất 5 năm để đạt được 100.000 người sử dụng đầu tiên, hơn 2 năm sau để đạt được 200.000 người sử dụng, và một năm nữa để đạt được 400.000. Bây giờ, chỉ 7 tháng sau, đã có nửa triệu nhà nghiên cứu đang sử dụng OSF.

“10 năm trước, khoa học mở từng là một khái niệm không quen thuộc và chỉ các nhà thực hành từng là các nhà sáng tạo đang tìm cách làm khoa học theo một cách thức mới, khắt khe hơn, minh bạch, và toàn diện”, Brian Nosek, Giám đốc điều hành của COS, nói. “Cột mốc 500.000 người sử dụng đăng ký trên OSF chỉ ra rằng khoa học mở bây giờ là dòng chính thống. Khi mà hệ thống các chuẩn mực và khen thưởng tiếp tục dịch chuyển hướng tới các thực hành nghiên cứu mở và có khả năng tái tạo lại được, COS sẽ được chuẩn bị để tiếp tục mở rộng phạm vi cho hạ tầng để hỗ trợ cho các thực hành nghiên cứu mới đó để tăng tốc phát hiện kiến thức, các phương pháp điều trị và các giải pháp.”

###

Về Trung tâm Khoa học Mở:

Được thành lập năm 2013, COS là tổ chức thay đổi văn hóa không vì lợi nhuận với sứ mệnh làm gia tăng tính mở, liêm chính, và khả năng tái tạo lại nghiên cứu khoa học. COS theo đuổi sứ mệnh này bằng việc xây dựng các cộng đồng xung quanh các thực hành khoa học mở, hỗ trợ cho nghiên cứu siêu khoa học, và phát triển và duy trì các công cụ phần mềm tự do, nguồn mở, bao gồm Khung Khoa học Mở (OSF). Biết nhiều hơn tại cos.io.

Liên hệ: Alexis Rice

alexis@cos.io hoặc (434) 207-2229

Web: https://cos.io/
Twitter: @OSFramework

Charlottesville, VA – The Open Science Framework (OSF), an open-source research collaboration and management platform to enable open science practices that is developed and maintained by the Center for Open Science (COS), has reached 500,000 worldwide registered users.

“OSF creates open exchange of knowledge by connecting researchers and making it easy to document and share their work,” said Nici Pfeiffer, COS’s Chief Product Officer. “OSF enhances the entire research lifecycle by empowering communities to adopt practices that advance credible and reproducible research; and foster a culture shift toward more open and rigorous research.”

OSF meets a critical need for communities to adopt open practices across the research lifecycle. OSF makes it possible to conduct open scholarship behaviors and makes it easy to do so with efficient workflows and by integrating services that researchers use. The OSF community represents all domains of scholarship. Users have registered more than 100,000 studies and shared millions of data files and other research content. OSF supports the open scholarship research community and works with partners and federal agencies to make research more Findable, Accessible, Interoperable, and Re-usable (FAIR).

In 2021, OSF registered users posted more than 2.6M files, translating to 7,985 files daily. Moreover, research consumers are accessing and downloading content at high rates, with over 10M unique visitors in 2021 downloading more than 51M files.

OSF’s registered users are leading by example in improving research openness, integrity, and reproducibility. Their adoption is having a viral impact, as indicated by OSF’s non-linear growth every year since it launched in November 2012. It took five years to reach the first 100,000 users, two more years to reach 200,000, and one more year to reach 400,000. Now, just seven months later, half a million researchers are using OSF.

“Ten years ago, open science was an unfamiliar concept and the only practitioners were innovators seeking to do science in a new, more rigorous, transparent, and inclusive way,” said Brian Nosek, COS’s Executive Director. “The milestone of 500,000 registered users on OSF indicates that open science is now mainstream. As the norms and reward system continue to shift toward open and reproducible research practices, COS will be prepared to continue scaling the infrastructure to support these new research practices to accelerate discovery of knowledge, treatments, and solutions.”

###

About Center for Open Science:
Founded in 2013, COS is a nonprofit culture change organization with a mission to increase openness, integrity, and reproducibility of scientific research. COS pursues this mission by building communities around open science practices, supporting metascience research, and developing and maintaining free, open source software tools, including the Open Science Framework (OSF). Learn more at cos.io.

Contact: Alexis Rice

alexis@cos.io or (434) 207-2229

Web: https://cos.io/
Twitter: @OSFramework

Dịch: Lê Trung Nghĩa

letrungnghia.foss@gmail.com

Thứ Ba, 13 tháng 9, 2022

Hạ tầng Khoa học Mở và gợi ý cho Việt Nam

(Bài đăng trên Tạp chí Tia Sáng, số 17 năm 2022, xuất bản ngày 05/09/2022, các trang 19-21. Phiên bản điện tử có tại địa chỉ: https://drive.google.com/file/d/1IteaRSegdgqmSZGwUcnfQZD_7JRcubsO/view?usp=sharing và https://tiasang.com.vn/tin-noi-bat/tieu-diem/ha-tang-khoa-hoc-mo-va-goi-y-cho-viet-nam/

Lưu ý: Phiên bản trên blog có chút khác biệt với phiên bản được biên tập trên tạp chí!)


Khoa học Mở được phát triển dựa vào 4 trụ cột: (1) Kiến thức khoa học mở; (2) Hạ tầng khoa học mở; (3) Sự tham gia mở của các tác nhân trong xã hội; và (4) Đối thoại mở với các hệ thống kiến thức khác.


Hình 1. Hạ tầng, một trong bốn trụ cột của khoa học mở

Hạ tầng khoa học mở được định nghĩa là các cơ sở vật chất, để trao đổi học thuật và các dịch vụ tạo điều kiện cho cộng đồng khoa học thu thập, lưu trữ, sắp xếp, truy cập, chia sẻ và đánh giá nghiên cứu. Theo Khuyến nghị khoa học mở của UNESCO – một trong những tài liệu về khoa học mở quan trọng nhất hiện nay, Các hạ tầng khoa học mở thường là kết quả các nỗ lực xây dựng của cộng đồng. Và đóng góp của cộng đồng mang ý nghĩa sống còn đối với tính bền vững dài hạn của các hạ tầng khoa học mở. Vì thế, chúng phải hoạt động không vì lợi nhuận, được đảm bảo truy cập được thường xuyên và không có hạn chế cho tất cả công chúng ở mức độ lớn nhất có thể[1].

Để tạo điều kiện thuận lợi cho việc triển khai Khuyến nghị, UNESCO đã thành lập năm nhóm làm việc về khoa học mở mà trong đó một nhóm có nhiệm vụ phụ trách về Hạ tầng khoa học mở. Cuộc họp đầu tiên của nhóm này đã diễn ra vào 7/7 vừa qua[2], khơi mở những thảo luận đầu tiên về việc làm thế nào để các hạ tầng này có thể được duy trì và phát triển một cách bền vững và công bằng với tất cả mọi người trên toàn cầu.

Dù phong trào khoa học mở đang dâng cao, ngày càng nhiều hạ tầng khoa học mở xuất hiện. Tuy nhiên, rất nhiều trong số đó ra đời dựa vào các dự án ngắn hạn và không thể hoạt động một cách bền vững. Hơn nữa, nhiều tổ chức cấp vốn mới chỉ dừng ở mức hỗ trợ việc xây dựng hạ tầng mà quên đi chi phí vận hành. Một khảo sát các tổ chức ở Châu Âu cho thấy, nếu không được tài trợ, thì khoảng hơn một nửa hạ tầng khoa học mở không thể trụ nổi trong quá một năm. Sự đóng cửa của các hạ tầng khoa học mở, dẫn đến điều đáng tiếc nhất là sự tan rã của các nhóm nghiên cứu và cộng đồng khoa học mở.

Trước thực tế đó, đã có những nỗ lực vận động duy trì, đánh giá và liên kết các nền tảng khoa học mở lại với nhau. Chúng tạo điều điện để các kiến thức khoa học mở đến được với công chúng một cách rộng rãi. Trong buổi họp đầu tiên của nhóm làm việc của UNESCO về hạ tầng khoa học mở, người nghe được chứng kiến ba sáng kiến nổi bật nhất thế giới hiện nay.[3]

Liên minh Bền vững Toàn cầu về các Dịch vụ Khoa học Mở – SCOSS (Global Sustainability Coalition for Open Science Services)[4] là một mạng lưới các tổ chức có ảnh hưởng bao gồm các hiệp hội trường đại học trên khắp thế giới, các thư viện, cơ quan nhà nước về nghiên cứu và giáo dục, cùng cam kết hỗ trợ cho các dự án hạ tầng khoa học mở. Để các dự án hạ tầng khoa học mở có thể tồn tại dài hạn, bên cạnh cấp vốn, điều quan trọng hơn mà SCOSS làm đó là “ươm tạo” và phát triển cơ sở hạ tầng khoa học mở. Trong đó, họ đánh giá nhu cầu tài chính, đồng thời kêu gọi tài trợ từ cộng đồng để dự án có thể phát triển bền vững. Họ cũng nâng cao năng lực quản trị đối với các hạ tầng khoa học mở và định hướng các hạ tầng này phải minh bạch về chi phí hoạt động để tạo dựng niềm tin đối với cộng đồng. Hiện nay đã có 300 tổ chức từ 24 quốc gia cam kết đóng góp tài chính cho SCOSS với 4.8 triệu euros và họ đã lựa chọn được 10 cơ sở hạ tầng để hỗ trợ, trong số đó có arXiv, một kho truy cập mở với hơn hai triệu công bố khoa học ở cả dạng tiền xuất bản và hậu xuất bản (preprint & postprint) trong hầu hết các ngành khoa học tự nhiên và kinh tế.


Hình 2. Tham gia và đầu tư vào hạ tầng khoa học mở hiện hành

Liên đoàn các kho truy cập mở - COAR (Confederation of Open Access Repositories)[5] là một tổ chức có sứ mệnh kết nối các kho tư liệu truy cập mở trên thế giới, sao cho chúng có thể tương hợp được với nhau. Tức là về cơ bản, các kho tham gia COAR sẽ có cách sắp xếp, trình bày, đảm bảo chất lượng dữ liệu theo một khung tiêu chuẩn nhất định, cho phép ai cũng có thể truy cập, tìm kiếm, thu thập dữ liệu dễ dàng. Kho truy cập mở (Open repository) là một trong những loại hạ tầng truy cập mở quan trọng nhất. Sự bền vững của các kho truy cập mở phụ thuộc vào các đặc tính cơ bản của chúng: phân tán, tương hợp, mở, bao hàm toàn diện, và tin cậy. Tính đến 7/2022, COAR thống kê được gần 6.000 kho truy cập mở trên khắp thế giới.


Hình 3. Có ít nhất gần 6.000 kho truy cập mở trên thế giới tới tháng 7/2022

Tổ chức Đầu tư vào Hạ tầng Mở - IOI (Invest in Open Infrastructure)[6]: Khác với SCOSS được đề cập ở trên, IOI không cấp vốn cho các hạ tầng khoa học mở. Họ chỉ nghiên cứu các tiêu chí đánh giá thế nào là một hạ tầng khoa học mở tốt, đáng được đầu tư và các mô hình đầu tư cũng như thời gian đầu tư như thế nào là phù hợp. IOI tập trung vào ba khía cạnh để đánh giá một hạ tầng nguồn mở bao gồm: công nghệ đáng tin cậy, ưu tiên là công nghệ mở, không bị phụ thuộc vào một doanh nghiệp, tổ chức; người vận hành các hạ tầng này đáng tin cậy với lợi ích rõ ràng là vì cộng đồng, lấy lợi ích của cộng đồng làm trung tâm; hạ tầng này cung cấp dịch vụ một cách công bằng, bình đẳng cho mọi người. IOI cũng nỗ lực tăng cường sự hiểu biết của công chúng đối với hạ tầng khoa học mở bởi xét cho cùng, các hạ tầng này không mạng lại lợi nhuận tài chính cho các nhà đầu tư mà mang lại giá trị xã hội thông qua việc cung cấp tri thức cho cộng đồng. Trong bài trình bày của mình, họ có đưa ra năm mô hình đầu tư rất đáng tham khảo: Thứ nhất, là nhà cấp vốn sẽ tiếp tục đầu tư cho một hạ tầng khoa học mở nếu hạ tầng này duy trì được những giá trị hai bên đặt ra ban đầu (chẳng hạn như dự án phải thuộc sở hữu của cộng đồng, mã nguồn mở, phi lợi nhuận…). Thứ hai là phương thức đầu tư linh hoạt, tức là có thể không cấp tiền mà hỗ trợ về khía cạnh vận hành, phát triển sản phẩm, kết nối với cộng đồng…Thứ ba là phương thức đầu tư trong một thời gian giới hạn, chẳng hạn như chỉ đầu tư trong 3-5 năm, sau đó, hạ tầng này phải “tự bơi”, hoặc để bán cho các thực thể thương mại nếu không có khả tồn tại bền vững lâu dài nữa. Thứ tư là phương thức đầu tư hỗn hợp, dự án được phát triển sao cho phù hợp với mục đích của nhiều nhà cấp vốn, từ các quỹ từ thiện cho đến các quỹ tư nhân, quỹ của doanh nghiệp, chính phủ, viện – trường, dựa trên nguyên tắc có đi có lại. Cuối cùng là các hình thức duy trì nguồn lực bằng cách kết hợp, chia sẻ với các tổ chức, chương trình khác có cùng mục tiêu, sứ mệnh tương tự.

Bên cạnh đó, từ các bài trình bày và các cuộc thảo luận, có thể rút ra một số nguyên tắc để vận hành các hạ tầng khoa học mở. Theo đó, các hạ tầng khoa học mở nhất thiết phải do cộng đồng quản lý và dẫn dắt (đây cũng là điều được nhất mạnh trong Khuyến nghị Khoa học mở của UNESCO). Tính tương hợp là yếu tố cơ bản để các hạ tầng khoa học mở có thể hoạt động bền vững và phù hợp với mục tiêu phục vụ cộng đồng. Bất kì nơi nào cũng có thể tổ chức các hạ tầng khoa học mở, bao gồm cả hạ tầng ảo lẫn vật lý phù hợp với điều kiện và hoàn cảnh của mình, kể cả khi nguồn lực hạn chế. Như vậy, đưa ra tiêu chuẩn đánh giá các hạ tầng nguồn mở cũng cần tính đến bối cảnh địa phương và nhu cầu của các cộng đồng khác nhau. Cần thiết phải cấp vốn và hỗ trợ các hạ tầng khoa học mở dài hạn mặc dù hiện nay các trợ cấp ngắn hạn đang rất phổ biến. Các dịch vụ và thông tin mà hạ tầng khoa học mở cung cấp là “hàng hóa công cộng toàn cầu”, tuy nhiên, điều đó không có nghĩa là ai cũng đóng góp tài chính như nhau cho các hạ tầng đó. Có thể các nước phát triển sẽ đóng góp nhiều hơn các nước đang phát triển. .

Sau thảo luận, đại diện của UNESCO đã nêu các bước tiếp theo của nhóm làm việc về hạ tầng khoa học mở từ nay tới hết năm 2022 sẽ tập trung hoàn thành 2 sản phẩm bao gồm: Danh sách chọn/hướng dẫn về các hạ tầng khoa học mở phù hợp với Khuyến nghị Khoa học Mở của UNESCO; Mục lục các hạ tầng khoa học mở hỗ trợ cho việc chia sẻ kiến thức và thông tin trong các lĩnh vực ưu tiên của UNESCO, như đa dạng sinh học, nước, giảm thiểu nguy cơ thảm họa, khoa học gen, khoa học đại dương, biến đổi khí hậu, .v.v. Dự kiến 2 sản phẩm nêu trên sẽ được nhóm hoàn thành vào tháng 12/2022.

Kết luận và một vài gợi ý

UNESCO hiện đang dẫn dắt triển khai các nội dung của Khuyến nghị Khoa học Mở vào thực tế cuộc sống ở phạm vi toàn cầu thông qua các Nhóm làm việc về khoa học mở, trong đó có Nhóm Làm việc về Hạ tầng khoa học mở.

Nhận thấy việc xây dựng các hạ tầng khoa học mở do cộng đồng dẫn dắt và quản lý là quan trọng sống còn cho tính bền vững dài hạn, nhưng sẽ là một công việc vô cùng khó thực hiện và triển khai trong bối cảnh của Việt Nam hiện nay. Bởi vậy, rất cần chú ý tăng cường nâng cao nhận thức về khoa học mở và lợi ích to lớn của khoa học mở nói chung và của hạ tầng khoa học mở nói riêng, cho cộng đồng khoa học truyền thống, cho toàn xã hội và các bên liên quan khác, bao gồm cả cho những người làm chính sách và các nhà cấp vốn cho việc nghiên cứu, phát triển và triển khai khoa học nước nhà.

Các bài trình bày của các chuyên gia khách mời được lựa chọn được nêu ở trên, đặc biệt của IOI, là những bài học kinh nghiệm vô giá để cộng đồng khoa học và các bên liên quan của Việt Nam nghiên cứu và tham khảo trong việc xây dựng, quản lý, vận hành, khai thác và duy trì bền vững các hạ tầng và dịch vụ cho khoa học mở trong tương lai ở Việt Nam, biết rằng các hạ tầng khoa học mở ở Việt Nam hiện nay hầu như chưa tồn tại, trong khi khoa học mở đã trở thành một xu thể không thể đảo ngược của thế giới.

Để có thể xây dựng được các hạ tầng khoa học mở do cộng đồng dẫn dắt và quản lý, gợi ý từ năm 2023 trở đi, Việt Nam nên có các đề tài nghiên cứu về hạ tầng khoa học mở ở các mức quốc gia/cơ sở trước khi có bất kỳ ý định nào trong việc đầu tư nguồn lực để xây dựng hạ tầng khoa học mở ở Việt Nam. Cùng lúc, gợi ý Việt Nam cũng nên có các đề tài nghiên cứu khai thác các hạ tầng khoa học mở sẵn có của thế giới, đặc biệt là các dịch vụ khoa học mở cùng các nội dung, thông tin và dữ liệu có trên các hạ tầng đó.

Dự kiến Nhóm Làm việc về hạ tầng khoa học mở của UNESCO sẽ hoàn thành: (1) Danh sách chọn/hướng dẫn về hạ tầng khoa học mở phù hợp với Khuyến nghị Khoa học mở của UNESCO; và (2) Chỉ số hạ tầng khoa học mở hỗ trợ cho việc chia sẻ kiến thức và thông tin trong các lĩnh vực ưu tiên của UNESCO vào tháng 12/2022. Hy vọng Bộ KH&CN và các bộ – ngành cùng các viện nghiên cứu, trường đại học có liên quan tận dụng khai thác hiệu quả hai sản phẩm này để có thể giúp cho việc xây dựng, quản lý, vận hành, khai thác và duy trì bền vững hạ tầng khoa học mở vừa phù hợp cho Việt Nam trong tương lai cả ở mức quốc gia và tổ chức/cơ sở, vừa tuân thủ các chuẩn mực được thế giới thừa nhận.

Đây chắc chắn là cách tốt nhất để khoa học và giáo dục Việt Nam có khả năng bắt kịp với nhịp độ phát triển khoa học mở của thế giới.


Các chú giải

[1] UNESCO, 2021: UNESCO Recommendation on Open Science: https://unesdoc.unesco.org/ark:/48223/pf0000379949. Bản dịch sang tiếng Việt có tại: https://www.dropbox.com/s/l3q04t99nil5mgo/379949eng_Vi-25112021.pdf?dl=0, xem mục 9, các trang 13-14.

[2] UNESCO, 07/07/2022: First meeting of the UNESCO Working Group on Open Science Infrastructures: https://www.unesco.org/sites/default/files/medias/fichiers/2022/07/Objectives_of_the_WG_on_OS_infrastructure.pdf

[3] UNESCO, 07/07/2022: Presentations at the First meeting of the Working Group on Open Science Infrastructures: https://www.unesco.org/sites/default/files/medias/fichiers/2022/07/Presentations_on_the_Current_Landscape_of_OS_Infrastructures.pdf

[4] SCOSS: https://scoss.org/

[5] COAR: COAR Community Framework for Good Practices in Repositories: https://www.coar-repositories.org/coar-community-framework-for-good-practices-in-repositories/

[6] Invest in Open Infrastructure (IOI):https://investinopen.org/




 

Giấy phép nội dung: CC BY 4.0 Quốc tế

Lê Trung Nghĩa

Thứ Hai, 12 tháng 9, 2022

Nhóm các nhà cấp vốn nghiên cứu mở hoan nghênh hành động của Văn phòng Chính sách Khoa học và Công nghệ của Nhà Trắng (OSTP)

Open Research Funders Group Applauds Bold OSTP Action

August 29, 2022

Theo: https://www.orfg.org/news/2022/8/29/open-research-funders-group-applauds-bold-ostp-action

Bài được đưa lên Internet ngày: 29/08/2022

Nhóm các nhà cấp vốn nghiên cứu mở (ORFG) hết lòng ủng hộ bản ghi nhớ được phát hành gần đây về Gia tăng Truy cập Công bằng tới các Kết quả Nghiên cứu được Liên bang cấp vốn (bản dịch sang tiếng Việt). Hướng dẫn được làm lại này điều chỉnh phù hợp với sứ mệnh của Nhóm các Nhà cấp vốn Nghiên cứu Mở. Từ khi thành lập của chúng tôi vào năm 2016, ORFG đã phục vụ cho tiếng nói của các nhà từ thiện trong nỗ lực làm cho nghiên cứu được cấp vốn công bằng hơn, truy cập được hơn, minh bạch hơn, nhân bản được hơn, và tin cậy hơn. Tương tự như chính quyền liên bang, các thành viên của chúng tôi đang đầu tư vào nghiên cứu động chạm tới các thách thức lớn của xã hội, phục vụ cho việc xây dựng một tương lai tốt hơn. Tính mở là cơ bản cho những nỗ lực đó. Nó là đòn bẩy để mở rộng giới học thuật, mang lại nhiều tiếng nói hơn để thảo luận, thúc đẩy công bằng, cải thiện niềm tin của công chúng trong việc hoạch định chính sách, củng cố tính liêm chính của khoa học, đẩy nhanh tốc độ nghiên cứu và tận dụng những tiến bộ trong điện toán, khoa học dữ liệu và trí tuệ nhân tạo (AI) theo một cách mà khoa học đóng không thể chứng minh được.

Hướng dẫn chính sách mới cải thiện chính sách trước đó của liên bang theo một số cách thức có tác động:

  • Truy cập tức thì. Hướng dẫn mới này loại bỏ giai đoạn cấm vận 12 tháng trước đó khi chia sẻ bài báo, và chỉ thị cho các cơ quan liên bang phát triển các chính sách yêu cầu truy cập tới các xuất bản phẩm “không có bất kỳ cấm vận hay chậm trễ nào”. Như hướng dẫn khẳng định, việc chia sẻ kịp thời như vậy là chìa khóa để xúc tác cho các mục tiêu truy cập mở, bao gồm phát hiện khoa học được đẩy nhanh. Quan trọng, hướng dẫn không yêu cầu các tác giả xuất bản trên các tạp chí truy cập mở đầy đủ mà có thể phát sinh các chi phí, mà thay vào đó khuyến khích chia sẻ qua “các kho do cơ quan chỉ định”.

  • Chia sẻ dữ liệu. Tương tự như ở trên, hướng dẫn chỉ thị cho các cơ quan liên bang cập nhật các chính sách của họ về chia sẻ dữ liệu để xúc tác cho truy cập tức thì tới dữ liệu nằm bên dưới các nghiên cứu được xuất bản, nó khuyến khích các cơ quan suy nghĩ rộng hơn và “phát triển các tiếp cận và các khung thời gian” cho việc chia sẻ dữ liệu không có liên quan tới các xuất bản phẩm. Đó là các bước quan trọng để cải thiện khả năng thẩm định, tính liêm chính và khả năng tái tạo lại nghiên cứu do liên bang cấp vốn.

  • Trọng tâm rộng lớn hơn. Định nghĩa ‘các xuất bản phẩm’ được mở rộng để tiềm tàng bao trùm không chỉ các bài báo trên tạp chí, mà còn cả các chương sách được rà soát lại ngang hàng, các bài xã luận, và các kỷ yếu hội nghị. Điều này đại diện cho sự thừa nhận quan trọng sự đa dạng các kết quả đầu ra nghiên cứu, đặc biệt xuyên khắp các ngành khác nhau, và có thể giúp ưu đãi cho truyền thông học thuật rộng lớn hơn.

  • Công bằng về ngôn ngữ. Việc lấy công bằng làm nguyên tắc chỉ đạo sẽ khuyến khích các cơ quan suy nghĩ về các cách thức họ có thể tăng khả năng truy cập tới nghiên cứu mà không vô tình làm tăng thêm các rào cản. Đặc biệt, hướng dẫn yêu cầu các cơ quan đưa vào các kế hoạch của họ “Làm thế nào để tối đa hóa tầm với công bằng về quyền truy cập của công chúng tới các xuất bản phẩm học thuật được rà soát lại ngang hàng” và tiếp tục “cân nhắc các biện pháp làm giảm sự bất bình đẳng trong xuất bản của, và truy cập tới, nghiên cứu và dữ liệu được liên bang cấp vốn, đặc biệt giữa các cá nhân từ các xuất thân bị thiệt thòi và các nhà nghiên cứu sự nghiệp sớm”. Quan điểm này phù hợp tốt với Chương trình Cấp vốn Mô hình Mở và Công bằng (Open & Equitable Model Funding Program) của ORFG.

  • Khả năng sử dụng lại nghiên cứu. Hướng dẫn nhấn mạnh nhu cầu đối với các xuất bản phẩm được chia sẻ cả ở các định dạng máy đọc được và theo các điều khoản cho phép có “các quyền sử dụng và sử dụng lại”. Hướng dẫn cũng yêu cầu các cơ quan phát triển các chiến lược để làm cho “dữ liệu, và các kết quả đầu ra khác của nghiên cứu và siêu dữ liệu của chúng là tìm thấy được, truy cập được, tương hợp được, và sử dụng lại được” (nghĩa là theo FAIR). Điều này có thể cho phép các nhà nghiên cứu, các nhà khoa học công dân, hoặc giới công nghiệp xây dựng dựa vào các kết quả đầu ra được chia sẻ đó, cũng như tận dụng được các công nghệ đang nổi lên, như khai thác nội dung và trí tuệ nhân tạo, để sinh ra kiến thức mới.

  • Siêu dữ liệu và mã nhận diện thường trực (PID). Hướng dẫn kêu gọi các cơ quan chia sẻ siêu dữ liệu của xuất bản phẩm, bao gồm thông tin cấp vốn, và yêu cầu sử dụng các mã nhận diện thường trực (PID). Cả 2 điểm này phù hợp tốt với các khuyến nghị được Nhóm Làm việc Theo dõi Tuân thủ và Kết quả của ORFG đưa ra trong một thư ngỏ (bản dịch sang tiếng Việt) gần đây của chúng tôi, như một phần của các nỗ lực của chúng tôi để cải thiện việc theo dõi các kết quả nghiên cứu.

  • Tính kịp thời. Hướng dẫn đưa ra khung thời gian hứa hẹn vừa yêu cầu các cơ quan cập nhật nhanh các kế hoạch chính sách của họ, vừa trao cho họ nhiều thời gian để triển khai các thay đổi đó. Các cơ quan lớn được yêu cầu cập nhật các kế hoạch chính sách của họ trong 6 tháng, xuất bản các kế hoạch đến cuối năm 2024, và sau đó ban hành chính sách mới trong vòng 1 năm (đến cuối năm 2025). Các cơ quan nhỏ hơn không tuân thủ bản ghi nhớ 2013 sẽ có một năm để xây dựng các kế hoạch ban đầu của họ. Khung thời gian này nêu bật nhu cầu gia tăng phải nâng cao sự truy cập tới nghiên cứu càng sớm càng tốt, đặc biệt để đáp lại các cuộc khủng hoảng toàn cầu đang nổi lên như đại dịch COVID-19 và biến đổi khí hậu.

  • Bao trùm toàn diện. Trong khi chính sách trước đó chỉ được áp dụng cho các cơ quan liên bang nào với chi tiêu R&D từ 100 triệu USD trở lên, thì hướng dẫn mới này áp dụng cho tất cả các cơ quan và bộ của liên bang Mỹ - một bước nhảy từ 20 tới hơn 400 cơ quan liên bang. Điều này sẽ triệt để làm gia tăng tầm với chính sách, và rốt cuộc số lượng nghiên cứu truy cập mở và sử dụng lại được.

Bản ghi nhớ của OSTP đại diện cho một chương mới thú vị trong chính sách truy cập mở của liên bang Mỹ, và một lần nữa thể hiện xung lượng gia tăng trong hỗ trợ cho việc chia sẻ nghiên cứu. ORFG khen ngợi sự lãnh đạo của OSTP, sẽ thúc đẩy sự tiến bộ hướng tới việc chữa bệnh và giải quyết biến đổi khí hậu, tạo điều kiện thuận lợi hơn cho việc đưa ra quyết định sáng suốt hơn giữa bệnh nhân và bác sĩ, đồng thời giúp tạo ra mối liên kết bền vững hơn giữa khoa học và xã hội.

The Open Research Funders Group wholeheartedly supports the recently issued memorandum on Increasing Equitable Access to Federally Funded Research Results. The revised guidance aligns effectively with the mission of the Open Research Funders Group. Since our inception in 2016, the ORFG has served as philanthropies’ voice in efforts to make funded research more equitable, accessible, transparent, replicable, and trustworthy. Like the federal government, our members are investing in research that tackles big societal challenges, in service of building a better future. Openness is essential to these efforts. It is a lever to widen the circle of scholarship, bring more voices to the conversation, advance equity, improve public confidence in policymaking, strengthen scientific integrity, accelerate the pace of research, and take advantage of advances in computing, data science, and AI in a way that closed science demonstrably cannot.

The new policy guidance advances previous federal policy in a number of impactful ways: 

  • Immediate Access: The new guidance removes the previous 12-month embargo period on article sharing, and directs federal agencies to develop policies that would require access to publications “without any embargo or delay”. As the guidance affirms, such timely sharing is key to enabling the goals of open access, including accelerated scientific discovery. Importantly, the guidance would not require authors to publish in fully open access journals that may incur costs, but instead encourages sharing through “agency-designated repositories”.

  • Data Sharing: Similar to the above, the guidance directs federal agencies to update their policies on data sharing to enable immediate access to the data underlying published studies. In addition, it encourages agencies to think more expansively and “develop approaches and timelines” for the sharing of data not associated with publications. These are crucial steps for improving the verifiability, integrity, and reproducibility of federally funded research. 

  • Broader Focus: The definition of ‘publications’ is expanded to potentially cover not just journal articles, but also peer-reviewed book chapters, editorials, and conference proceedings. This represents an important recognition of the diversity of research outputs, especially across different disciplines, and could help incentivize broader scholarly communication. 

  • Equity Language: Centering equity as a guiding principle will encourage agencies to think about ways they can increase access to research without unintentionally raising additional barriers. Specifically, the guidance asks agencies to include in their plans, “How to maximize equitable reach of public access to peer-reviewed scholarly publications” and to further “consider measures to reduce inequities in publishing of, and access to, federally funded research and data, especially among individuals from underserved backgrounds and those who are early in their careers”. This perspective aligns well with the ORFG’s Open & Equitable Model Funding Program.

  • Research Reusability: The guidance emphasizes the need for publications to be shared in both machine-readable formats and under terms that allow for “use and re-use rights”. The guidance also asks agencies to develop strategies to make “data, and other such research outputs and their metadata are findable, accessible, interoperable, and re-useable” (i.e., FAIR). This would permit researchers, citizen scientists, or industries to build on these shared outputs, as well as take advantage of emerging technologies, like content mining and artificial intelligence, to generate new knowledge. 

  • Metadata and PIDs: The guidance calls for agencies to share publication metadata, including funding information, and to require the use of persistent identifiers (PIDs). Both of these points align well with the recommendations outlined by the ORFG’s Compliance & Output Tracking Working Group in our recent open letter, as part of our efforts to improve research output tracking.

  • Timeliness: The guidance outlines a promising timeline that both requires agencies to update their policy plans relatively quickly but also gives them ample time to roll out the changes. Larger agencies are asked to update their policy plans within six months, publish the plans by the end of 2024, and then enact the new policy within one year (by end of 2025). Smaller agencies not subject to the 2013 memo will have a year to devise their initial plans.This timeline highlights the growing need to increase access to research sooner rather than later, especially in response to emerging global crises like the COVID-19 pandemic and climate change.

  • Comprehensive Coverage: Whereas the previous policy applied only to federal agencies with $100M+ in R&D expenditures, the new guidance applies to all U.S. federal agencies and departments – a jump from 20 to over 400 federal bodies. This will dramatically increase policy reach, and eventually the volume of research openly accessible and reusable.

The OSTP memorandum represents an exciting new chapter in U.S. federal open access policy, and again demonstrates the growing momentum in support of research sharing. The results of this revised guidance will have tangible benefits for the public.  The Open Research Funders Group commends the OSTP for its leadership, which will accelerate progress toward curing disease and tackling climate change, facilitate more informed decision making between patients and doctors, and help to create a more durable bond between science and society.

Dịch: Lê Trung Nghĩa

letrungnghia.foss@gmail.com

Thứ Năm, 8 tháng 9, 2022

Dữ liệu Mở và việc bảo vệ dữ liệu cá nhân


Là bài trình chiếu tại Security Bootcamp 2022 với chủ đề Adaptive Security (tạm dịch: Bảo mật Thích ứng), do Cục An toàn thông tin – Bộ Thông tin & Truyền thông, Sở Thông tin và Truyền thông tỉnh Quảng Ninh, Hiệp hội Internet Việt Nam (VIA), và Cộng đồng chuyên gia Security Bootcamp đồng tổ chức tại thành phố Hạ Long, tỉnh Quảng Ninh trong các ngày 9-11/09/2022.


Bảo vệ dữ liệu cá nhân là vấn đề nóng và phức tạp. Làm thế nào để vừa bảo vệ được dữ liệu cá nhân, vừa phát triển được dữ liệu mở là thông điệp nội dung của bài trình chiếu.

 

Tự do tải về bài trình chiếu tại địa chỉ:

https://www.dropbox.com/s/46oiydetztge1xr/SBC2022_LTN.pdf?dl=0


Xem thêm:


Blogger: Lê Trung Nghĩa

letrungnghia.foss@gmail.com