Thứ Hai, 7 tháng 11, 2022

Rà soát lại Chiến lược Giữ lại các Quyền - Lộ trình hướng tới Truy cập Mở rộng hơn?

Reviewing the Rights Retention Strategy – A pathway to wider Open Access?

31/10/2022

Theo: https://www.coalition-s.org/blog/reviewing-the-rights-retention-strategy-a-pathway-to-wider-open-access/

Bài được đưa lên Internet ngày: 31/10/2022

Bài báo sau đây ban đầu được xuất bản trên LSE Impact Blog vào ngày 26/10/2022

***

Được Liên minh S (một nhóm quốc tế các nhà cấp vốn nghiên cứu) khởi xướng vào năm 2021, Chiến lược Giữ lại các Quyền – RRS (Rights Retention Strategy) nhằm đảm bảo rằng các nhà nghiên cứu được các tổ chức đó cấp vốn giữ lại các quyền cho tác phẩm của họ. Khi phản ánh về việc triển khai chiến lược này một năm sau khi khởi xướng, Đại sứ của Liên minh S Sally Rumsey, đưa ra các mục tiêu của RRS, sự thành công của nó cho tới nay và tiềm năng ứng dụng rộng rãi hơn của RRS xuyên khắp các cơ sở khác.

***

Chiến lược Giữ lại các Quyền (RRS) của Liên minh S có hiệu lực đối với “những người áp dụng sớm” của nó vào tháng 1/2021. RRS đảm bảo rằng các tác giả áp dụng một giấy phép CC BY cho Bản thảo được Tác giả Chấp nhận để gửi đi. Giấy phép đó công bố vào lúc gửi có quyền ưu tiên trước một cách hợp pháp so với bất kỳ thỏa thuận cấp phép nào sau này của nhà xuất bản. Nó cho phép các tác giả giữ lại đủ các quyền đối với các bài báo của họ, làm cho có khả năng đối với tác giả để sử dụng lại tác phẩm của họ khi cần thiết, và để tạo bản sao bài báo được xuất bản của họ sẵn sàng tức thì trong một cái kho. Bằng cách này, các tác giả được Liên minh S cấp tiền có thể đáp ứng được các yêu cầu truy cập mở - OA (Open Access) của nhà cấp vốn của họ. RRS được gói trong các thỏa thuận trợ cấp nghiên cứu của Liên minh S. Nó nhằm mục đích phá vỡ các điều kiện hạn chế về giấy phép mà nhà xuất bản áp đặt đối với các tác giả trong các thỏa thuận xuất bản.

Bây giờ có vô số các ví dụ về các tác giả đã sử dụng RRS và đã làm cho bài báo của họ sẵn sàng tự do không mất tiền trong một cái kho trong khi phiên bản của nhà xuất bản vẫn nằm sau một bức tường thanh toán (Ví dụ: Bản thảo được Tác giả Chấp nhận – AAM (Author’s Accepted Manuscrip) và phiên bản của Nhà xuất bản).

Tuy nhiên, vẫn còn những khó khăn và rào cản đối với các tác giả. Dù RRS thiết lập được đủ bản quyền đối với AAM, vài nhà xuất bản phản đối nó theo luật hợp đồng. Họ làm như vậy bất chấp việc đã được thông báo trước về RRS và nhận thức được đầy đủ việc các yêu cầu được nhúng vào trong các hợp đồng trợ cấp của các tác giả.

Các nhà cấp vốn của Liên minh S chỉ có thể gây tác động tới các nhà nghiên cứu nào mà nghiên cứu của họ được Liên minh S cấp vốn và nhà cấp vốn không là một phần trong thỏa thuận giữa tác giả và nhà xuất bản. Một sự thay đổi trong các luật quốc gia có thể phá vỡ nút thắt mà các nhà xuất bản nắm giữ đối với các quyền của các nhà nghiên cứu, như một động thái như vậy có thể là mất thời gian. Vậy là, các cơ sở có thể hỗ trợ cho các nhân viên của họ để giữ lại các quyền của họ ngay bây giờ. Hiện thời hầu hết các cơ sở thiếu nhận thức rằng các nhà nghiên cứu của họ đang tự do cho đi bản quyền của họ, gây bất lợi cho cá nhân nhà nghiên cứu, tổ chức và công chúng. Việc chuyển giao những quyền đó một cách thiếu suy nghĩ được cho là một hình thức bóc lột học thuật.

Rất may, các cơ sở đang trở nên khôn ngoan trước sự bất thường này và ngày càng có nhiều trường đại học đang áp dụng các chính sách giữ lại các quyền tác giả của cơ sở địa phương (IARRP). Điều này cho phép các nhà nghiên cứu của họ giữ lại việc sở hữu các quyền và nội dung trong các tác phẩm họ sáng tạo ra.

IARRPs không chỉ là ‘tốt để có’. Chúng là công cụ chính sách cơ bản để hỗ trợ cho các nhà nghiên cứu song hành với các quy định kiểm tra, tuyển dụng & phát triển sự nghiệp, và các chính sách về sức khỏe & an toàn.

IARRP phần lớn gồm các yếu tố sau:

  • Các nhà nghiên cứu (các tác giả) giữ lại quyền như một chức năng của các quy định của cơ sở của họ. Nó hỗ trợ cho tất cả các nhà nghiên cứu, không chỉ các nhà nghiên cứu được cấp vốn.

  • Các nhà nghiên cứu đồng ý trao cho nhà cho trường Đại học một giấy phép không độc quyền, không thể thu hồi, hiệu lực toàn cầu để làm cho các bản thảo của bài báo là sáng số công khai theo các điều khoản (thường là) của giấy phép Creative Commons Attribution (CC BY).

  • Các nhà nghiên cứu cung cấp cho trường đại học một bản sao các tác phẩm của họ để ký gửi vào một kho của cơ sở.

  • Trường đại học sẽ tạo một bản sao tác phẩm đó sẵn sàng tự do không mất tiền và tức thì.

  • Chính sách này thường áp dụng cho các bài báo nghiên cứu và kỷ yếu hội nghị.

IARRP không phải là mới: Harvard đã áp dụng một chính sách vào năm 2008 và nhiều trường đại học khác đã đi theo. Một làn sóng áp dụng đang diễn ra, vài nơi được khuyến khích triển khai chính sách giữ lại các quyền (RRS) của Liên minh S. Những nơi áp dụng gần đây bao gồm các trường đại học Tromsø, Edinburgh, Sheffield Hallam, và Đại học Khoa học và Công nghệ Nauy (NTNU). Có một thí điểm dài cả năm ở Cambridge và một thí điểm sẽ bắt đầu ở Đại học Oxford vào năm 2023.

Những nơi áp dụng gần đây thừa nhận công việc trước đó của Harvard và các trường khác, và công việc chuẩn bị về Giấy phép Truyền thông Học thuật của Vương quốc Anh - UKSCL (UK Scholarly Communications Licence). Họ lưu ý là tham vấn với các trường khác là hữu ích.

Các trường đại học với IARRP đã xem xét những điều sau:

  • IARRP làm cho họ giữ được thích hợp trong một môi trường đang thay đổi, và cho sự linh hoạt trong tương lai.

  • Các nhân viên hàn lâm khắp tất cả các ngành phải tham gia vào, và các nhân viên trong các phòng ban hỗ trợ có liên quan. Sự quen thuộc với cấu trúc ủy ban nội bộ là chìa khóa.

  • IARRP có thể cung cấp một lựa chọn thay thế thực tế khi thương thảo các hợp động tạp chí (các cân nhắc về ngân sách).

  • IARRP đơn giản hóa các thủ tục cho phép bản quyền đối với các nhà nghiên cứu.

  • IARRPs hỗ trợ lựa chọn xuất bản cho các tác giả và xoa dịu nỗi lo về hành động pháp lý từ các nhà xuất bản (“Các nhà nghiên cứu của chúng tôi không phải thông báo cho nhà xuất bản và có thể thoải mái vì NTNU sẽ chịu trách nhiệm pháp lý”.

  • IARRP làm giảm thiểu gánh nặng hành chính lên các nhân viên hỗ trợ (ví dụ bằng việc loại bỏ nhu cầu quản lý các cấm vận)

  • IARRP thừa nhận ‘quyền sở hữu việc thể hiện ý tưởng của các nhà nghiên cứu’

Các chính sách như vậy thừa nhận vai trò trung tâm và tầm quan trọng của một kho cơ sở như là kho tài nguyên các xuất bản phẩm của các thành viên của trường đại học, và để bảo tồn, tối đa hóa tính trực quan, và phổ biến các kết quả nghiên cứu.

Gần đây 2 cơ sở, Edinburgh và Cambridge, đã xuất bản các báo cáo tiến bộ về các triển khai chính sách của họ.

Các điểm nổi bật bao gồm:

  • Vài nhà xuất bản tiếp tục nói rằng việc giữ lại các quyền – RR (Right Retention) là ‘không được phép’ và họ yêu cầu một giai đoạn cấm vận.

  • Một số tác giả Cambridge đã từ chối cúi đầu trước các yêu cầu của nhà xuất bản về việc chiếm đoạt quyền của họ hoặc chuyển sang một lựa chọn trả phí, và gửi bài báo của họ đi nơi khác.

    Cả các cơ sở đã trải nghiệm sự gia tăng số lượng các hạng mục khắp sự đa dạng các nhà xuất bản đã ký gửi vào kho của họ bằng việc sử dụng chính sách RR. Dù tỷ lệ đáng kể các bài báo của Edinburgh là mở qua các con đường Truy cập Mở hải trả tiền (ví dụ qua các Thỏa thuận Chuyển đổi quá độ), chính sách RR đã cho phép ‘giữ lại 27% sẽ được xuất bản qua con đường Truy cập Mở Xanh của kho và hầu hết không có cấm vận’.

  • Thậm chí nếu việc bao gồm tuyên bố RR là không cần thiết về mặt kỹ thuật vì bài báo được xuất bản Truy cập Mở, vài nhà xuất bản nhất quyết loại bỏ nó. Sam Moore ở Cambridge phỏng đoán rằng điều này là do họ không muốn thêm bất kỳ sự công khai nào cho sáng kiến này.

  • Các nhà nghiên cứu yêu cầu hỗ trợ. Họ không luôn nhận thức được rằng chính sách có ở đó để giúp họ.

Rất quan trọng Edinburgh nêu rằng “vài nhà xuất bản thậm chí khẳng định rằng các điều khoản cấp phép của họ sẽ thay thế bất kỳ thỏa thuận nào khác trước đó. Chúng tôi tranh chấp điều này và nếu bị thách thức, trường đại học sẽ có thể đưa ra khiếu nại pháp lý chống lại nhà xuất bản vì họ đã sẵn sàng mua lại hành vi vi phạm hợp đồng đối với các quyền hiện có trước rồi của chúng tôi".

Trong trường hợp những người đã nhận trợ cấp, việc giữ lại các quyền thường bị đe dọa như một vấn đề về tuân thủ. Điều này bỏ qua việc thừa nhận giữ lại các quyền như một yếu tố cốt lõi trong việc kiểm soát và sở hữu trong học thuật mở hiện đại. Kiểm soát khi nào, như thế nào, và đối với các phát hiện nghiên cứu của ai sẽ được phổ biến, và sở hữu nội dung đó, không nên được trao cho một nhà cung cấp dịch vụ bên thứ 3, nghĩa là một nhà xuất bản. Một nhà cung cấp dịch vụ cần được trả tiền cho các dịch vụ - chứ không phải nắm quyền kiểm soát và sở hữu nội dung.

RR cho phép quyền sở hữu và kiểm soát nội dung trí tuệ nằm lại ở nơi mà nó thuộc về - bên trong giới học thuật. Thật đáng mừng là nguyên tắc cơ bản này đang được công nhận và các tổ chức đang đẩy mạnh hỗ trợ các nhà nghiên cứu của họ thông qua việc áp dụng IARRP ngày càng tăng. Người ta cũng hy vọng rằng các nhà cấp vốn liên bang ở Hoa Kỳ hoạt động theo các hướng dẫn gần đây của OSTP sẽ quan tâm đến việc áp dụng các chính sách tương tự.

The following article was originally published on the LSE Impact Blog on October 26, 2022 

***

Launched in 2021 by cOAlition S (an international consortium of research funders) the Rights Retention Strategy (RRS) aims to ensure that researchers funded by these organisations retain the rights to their work. Reflecting on the implementation of the strategy a year after its launch, cOAlition S Ambassador Sally Rumsey, outlines the aims of the RRS its success to date and the potential for the wider application of the RRS across other institutions.

***

The cOalition S Rights Retention Strategy (RRS) came into force for its “early adopters” in January 2021. The RRS ensures that authors apply a CC BY licence to the Author Accepted Manuscript of their submissions. That licence declared at submission has legal precedence over any later publisher’s licensing agreement. It enables authors to retain sufficient rights on their articles, making it possible for the author to reuse their work as they see fit, and to make a copy of their published article immediately available in a repository. In this way, cOAlition S funded authors can meet their funder’s open access (OA) requirements. The RRS is encapsulated in cOAlition S research grant agreements. It is intended to circumvent the restrictive conditions publishers impose on authors in licence to publish agreements.

There are now numerous examples of authors who have used the RRS and made their article freely available in a repository whilst the publisher’s version remains behind a paywall (For example: Author’s Accepted Manuscript (AAM) and Publisher’s Version).

However, there are still difficulties and barriers for authors. Although the RRS establishes sufficient copyrights over the AAM, some publishers counter it under contract law. They do so despite, having been previously informed about the RRS and fully aware that requirements are embedded in authors’ grant contracts.

cOAlition S funders can only influence those researchers whose research they fund and the funder plays no part in the agreement between author and publisher. A change in national laws could break the stranglehold publishers hold over researchers’ rights, but such a move would take time. This being said, institutions can support their staff to retain their rights now. Currently most institutions lack awareness that their researchers are freely giving away their copyrights, to the detriment of the individual researcher, the institution, and the general public. Thoughtlessly handing over those rights is arguably a form of academic exploitation.

Thankfully, institutions are becoming wise to this anomaly, and a growing band of universities is adopting local institutional author rights retention policies (IARRP). This enables their researchers to retain ownership of rights and content in the works they create.

IARRPs are not just ‘nice to have.’ They are an essential policy instrument to support researchers on a par with examination regulations, employment & career development, and health & safety policies.

An IARRP largely consists of the following elements:

  • Researchers (i.e. authors) retain copyright as a function of their institution’s regulations. It supports all researchers, not just funded ones.

  • Researchers agree to grant the University a non‐exclusive, irrevocable, worldwide licence to make article manuscripts publicly available under the terms of a (typically) Creative Commons Attribution (CC BY) licence.

  • Researchers provide the university with a copy of their works for deposit in the institution’s repository.

  • The university will make the copy of the work freely and immediately available.

  • The policy typically applies to research articles and conference proceedings.

IARRPs are not new: Harvard adopted a policy in 2008 and many others followed. A new wave of adoptions is underway, some encouraged by the implementation of the cOAlition S RRS. Recent adopters include the universities of Tromsø, Edinburgh, Sheffield Hallam, and the Norwegian University of Science and Technology (NTNU). There’s a year-long pilot at Cambridge and a pilot starting at the University of Oxford in 2023.

Recent adopters acknowledge the previous work of Harvard and others, and the preparatory work on the UKSCL (UK Scholarly Communications Licence). They note that consultation with other adopters is helpful.

Universities’ with IARRPs have considered the following:

  • IARRPs enable them to remain relevant in a changing environment, and for future flexibility.

  • Academics across all disciplines must be involved, and staff in relevant support departments. Familiarity with internal committee structure is key.

  • IARRPs can provide a realistic alternative when negotiating journal deals (budgetary considerations).

  • IARRP simplify copyright permission procedures for researchers

  • IARRPs support publication choice for authors and allay fears of legal action from publishers (“Our researchers do not have to inform the publisher and can be at ease as NTNU will take legal responsibility.”

  • IARRPs reduce administrative burden on support staff (for example by removing the need to manage embargoes)

  • IARRPs recognise ‘ownership of expression of ideas by researchers’

Such policies recognise the central role and importance of the institutional repository as the corpus of the university’s members’ publications, and for preserving, maximising visibility, and disseminating research outputs.

Recently two institutions, Edinburgh and Cambridge, published progress reports on their policy implementations.

Notable points include:

  • Some publishers continue to state that RR (rights retention) is not ‘permitted’ and that they require an embargo period.

  • Some Cambridge authors refused to bow to publishers’ demands for appropriation of their rights or swapping to a paid option, and submitted their papers elsewhere.

  • Both institutions experienced an increase in the numbers of items across a variety of publishers deposited in their repository using the RR policy. Although a significant proportion of Edinburgh’s articles are open via paid OA routes (for example via Transformative Agreements), the RR policy enabled ‘the remaining 27% to be published via the repository Green OA route mostly without embargo.’

  • Even if inclusion of the RR statement is technically unnecessary because the article is published OA, some publishers insisted on removing it. Sam Moore at Cambridge surmises that this is because they do not want any additional publicity for the initiative.

  • Researchers require support. They are not always aware that the policy is there to help them.

Most importantly Edinburgh reports that “some publishers even assert that their licensing terms will supersede any other prior agreements. We dispute this and if challenged the University will be able to bring a legal claim against the publisher as they have willingly procured a breach of contract against our pre-existing rights.”

In the case of funded grantees, rights retention is often treated as a compliance matter. This misses recognition of rights retention as a core factor in control and ownership within modern open scholarship. Control of when, how, and to whom research findings are disseminated, and ownership of the content, should not be handed over to a 3rd party service provider, i.e. a publisher. A service provider should be paid for services – not take control and ownership of content.

RR enables ownership and control of intellectual content to remain where it belongs – within academia. It is heartening that this fundamental principle is being recognised, and institutions are stepping up to support their researchers via the growing adoption of IARRPs. It is hoped, too, that federal funders in the US operating under the recent OSTP guidelines will be keen to adopt similar policies.

Dịch: Lê Trung Nghĩa

letrungnghia.foss@gmail.com

Chủ Nhật, 6 tháng 11, 2022

Tập hợp hiểu biết về bản quyền và truy cập mở ở các cơ sở hàn lâm châu Âu

Gathering insights on copyright and open access at Europe academic institutions

20th October 2022News, Open Access, Open Science

Theo: https://sparceurope.org/gathering-insights-on-copyright-and-open-access-at-europe-academic-institutions/

Bài được đưa lên Internet ngày: 20/10/2022

Tại Liên minh Xuất bản Học thuật và Tài nguyên Hàn lâm châu Âu (SPARC Europe), chúng tôi mong muốn hiểu rõ hơn chủ đề bản quyền cho Truy cập Mở ở các cơ sở nghiên cứu khắp châu Âu.

Chúng tôi vì thế đang kêu gọi các cơ sở hàn lâm châu Âu hoàn thành khảo sát mới nhất của chúng tôi nhằm có được sự hiểu thấu về chủ đề này, bao gồm các lĩnh vực chính sau đây tác động tới các nhà nghiên cứu:

  • Bản quyền của các xuất bản phẩm khoa học - sở hữu trí tuệ bảo vệ các tác phẩm gốc về quyền tác giả apsd ụng như thế nào cho các kết quả nghiên cứu được viết ra. Đặc biệt:

    • Liệu quyền sở hữu bản quyền ban đầu có được gắn với các tác giả hay tổ chức thuê họ làm hay không;

    • Các quyền nào được chuyển giao từ các tác giả tới nhà xuất bản;

  • Giữ lại các quyền tác giả - mức độ ở đó các nhà nghiên cứu giữ lại thay vì chuyển giao sự kiểm soát nghiên cứu được xuất bản của họ.

  • Việc cấp phép mở - khuyến khích các giấy phép trao quyền để truy cập, sử dụng lại, và phân phối lại.

  • Sử dụng lại các xuất bản phẩm khoa học - đảm bảo rằng các kết quả nghiên cứu được viết ra có thể được toàn bộ cộng đồng sử dụng lại, bao gồm cả tác giả gốc ban đầu trong các bối cảnh mới.

Khảo sát mất 15 phút để hoàn thành và có thời hạn chót để gửi vào ngày thứ sáu, 11/11/2022. Bằng việc gửi nó, bạn sẽ giúp chúng tôi xây dựng bức tranh hỗ trợ bản quyền hiện hành và chào chính sách cho Truy cập Mở ở các cơ sở hàn lâm ở châu Âu.

Lưu ý là khảo sát này tạo thành một phần công việc được hoàn thành như một phần của Dự án Giữ lại (Project Retain), một dự án dài 1 năm do SPARC Europe dẫn dắt như một phần của Chương trình các Quyền Tri thức 21 (KR21), nó nhằm thúc đẩy sự thay đổi bản quyền ở châu Âu và hỗ trợ cho Truy cập Mở. Dự án này được Quỹ Arcadia Fun cấp tiền.

Nhấn vào đây để hoàn thành khảo sát. Chúng tôi rất biết ơn bạn!

Nếu bạn có bất kỳ câu hỏi nào, vui òng liên hệ với Vanessa Proudman qua email: survey@sparceurope.org

At SPARC Europe, we are keen to better understand the topic of copyright for Open Access at research institutions across Europe. 

We are therefore calling for European academic institutions to complete our latest survey, which aims to gain insight into this topic, including the following key areas affecting researchers:

  • Copyright of scientific publications – how intellectual property that protects original works of authorship applies to the written outputs of research. Specifically:

    • Whether the initial ownership of copyright is with authors or their employing organisation;

    • What rights are transferred from authors to the publisher.

  • Author rights retention – the extent to which researchers retain rather than transfer control of their published research.

  • Open licensing – the promotion of licences which grant permission to access, reuse, and redistribute.

  • Reuse of scientific publications – ensuring that the written outputs of research can be reused by the community as a whole but also by the original author in new contexts.

The survey takes 15 minutes to complete and should be filled in by end of Friday, 11 November 2022. By filling it in, you will help us build a picture of the current copyright support and policy offering for Open Access at academic institutions in Europe.

Note that this survey forms part of the work done as part of ​​Project Retain, a one-year project led by SPARC Europe as part of The Knowledge Rights 21 (KR21) Programme, which aims to promote change in European copyright and support Open Access. The project is funded by the Arcadia Fund.

Click here to complete the survey. We are very grateful to you!

For any questions, please contact Vanessa Proudman via email at: survey@sparceurope.org

Dịch: Lê Trung Nghĩa

letrungnghia.foss@gmail.com

Thứ Bảy, 5 tháng 11, 2022

Khóa thực hành khai thác Tài nguyên Giáo dục Mở với trường đại học Nam Cần Thơ - cập nhật 06/11/2022


Khóa thực hành khai thác Tài nguyên Giáo dục Mở với trường đại học Nam Cần Thơ được thực hiện trên trực tuyến theo một loạt các buổi học thường kỳ diễn ra vào các buổi sáng chủ nhật hàng tuần, bắt đầu từ ngày 02/10/2022.

Chi tiết nội dung của buổi học đầu tiên, ngày 02/10.2022. Phần A. Lý thuyết:

  1. Triết lý của nguồn mở

  2. Khái niệm cơ bản về Tài nguyên Giáo dục Mở (OER)

  3. Hệ thống giấy phép của thế giới nguồn mở

Chi tiết nội dung của buổi học thứ hai, ngày 09/10/2022. Phần A. Lý thuyết:

  1. Khai thác Tài nguyên Giáo dục Mở (OER)

  2. Khía cạnh tài chính và mô hình kinh doanh của nguồn mở

  3. Chính sách OER và Khoa học Mở trên thế giới

  4. Chính sách và hoạt động OER ở Việt Nam

  5. Kịch bản giả tưởng cho giáo dục Việt Nam

  6. Tài liệu tham khảo

Chi tiết nội dung của buổi học thứ ba, ngày 16/10/2022. Phần B. Thực hành:

  1. Sử dụng công cụ chọn/sinh giấy phép CC để: (1) cấp phép mở cho tài liệu bạn muốn nó trở thành Tài nguyên Giáo dục Mở (TNGDM); (2) gợi ý cho người sử dụng thừa nhận ghi công tác giả; và (3) pha trộn 2 hoặc nhiều TNGDM với các giấy phép Creative Commons khác nhau.

  2. Thừa nhận ghi công tác giả khi sử dụng/trích dẫn các TNGDM.

  3. Giới thiệu Mạng các công cụ học tập cá nhân & tạo lập Google Blog

  4. Khai thác TNGDM

    1. Tìm kiếm và sử dụng TNGDM: Các nguyên tắc tìm kiếm

      • Tìm kiếm hình ảnh: công cụ của CC, Google, và dự án Noun Project

Chi tiết nội dung của buổi học thứ ba, ngày 23/10/2022. Phần B. Thực hành:

      • Tìm kiếm video: trên YouTube và Vimeo Creative Commons

      • Tìm kiếm âm thanh: trên YouTube, MusOpen, và ccMixter

      • Tìm kiếm văn bản

      • Tìm kiếm phần cứng mở

Chi tiết nội dung của buổi học thứ ba, ngày 30/10/2022. Phần B. Thực hành:

      • Tìm kiếm dữ liệu mở

    1. Tạo lập, pha trộn và tùy chỉnh TNGDM bằng các phần mềm nguồn mở

      • Làm sách điện tử .epub bằng LibreOffice Writer và Writer2epub

      • Chụp màn hình bằng Screenshot

      • Ghi hình màn hình bằng Kazam và Vokoscreen

Chi tiết nội dung của buổi học thứ ba, ngày 06/11/2022. Phần B. Thực hành:

      • Soạn thảo âm thanh bằng Audacity

      • Soạn thảo video bằng OpenShot

      • Demo lồng tiếng Việt cho video tiếng nước ngoài bằng việc kết hợp cả Audacity & OpenShot



Tự do tải về tài liệu phần lý thuyết của khóa thực hành tại địa chỉ: https://www.dropbox.com/s/xkfdt09yk9nw61q/OER-Basics_2022.pdf?dl=0


Tự do tải về tài liệu phần thực hành của khóa thực hành tại địa chỉ:

https://www.dropbox.com/s/blavag3e6chisyx/OER_Practice_H1_2022.pdf?dl=0


Tweet: https://twitter.com/nghiafoss/status/1589131005847564288


Xem thêm:

 

Blogger: Lê Trung Nghĩa

letrungnghia.foss@gmail.com

Thứ Năm, 3 tháng 11, 2022

Tại Hội nghị thượng đỉnh Khoa học G20, UNESCO kêu gọi đầu tư dài hạn vào nghiên cứu khoa học và khoa học mở

At G20 Science Summit, UNESCO calls for long-term investment in scientific research and open science

29 September 2022

Theo: https://www.unesco.org/en/articles/g20-science-summit-unesco-calls-long-term-investment-scientific-research-and-open-science?hub=686

Bài được đưa lên Internet ngày: 29/09/2022

Hàng năm, nước chủ nhà của G20 tổ chức Hội nghị thượng đỉnh Khoa học trong các tuần trước sự kiện. Năm nay, S20, Hội nghị thượng định Khoa học, đã diễn ra vào ngày 20/09 và đã được Chính phủ Indonesia tổ chức. Trợ lý Tổng Giám đốc UNESCO về Khoa học Tự nhiên, Shamila Nair-Bedouelle, đã sử dụng cơ hội này để kêu gọi đầu tư dài hạn vào nghiên cứu khoa học và khoa học mở.

Thông cáo của S20 năm nay kêu gọi các chính phủ G20 xây dựng cấp bách các hệ thống y tế có khả năng phục hồi và thúc đẩy khoa học đa ngành và công nghệ để chuẩn bị cho chúng ta trước sự biến đổi khí hậu và các đại dịch trong tương lai. Nó cũng kêu gọi các chính phủ G20 tăng cường mối liên hệ giữa dữ liệu, nghiên cứu, chính sách và thực hành.

‘Thông cáo cộng hưởng mạnh với UNESCO’, Trợ lý Tổng Giám đốc của UNESCO về Khoa học Tự nhiên, Shamila Nair-Bedouelle, đã quan sát thấy, tại hội nghị đã được tổ chức trên trực tuyến.

Xóa mù khoa học quan trọng hơn bao giờ hết

‘UNESCO bị/được thuyết phục rằng khoa học và công nghệ phải dẫn dắt sự thay đổi và chuẩn bị cho thế giới đối với các trường hợp khẩn cấp toàn cầu trong tương lai’, bà nói. Tuy nhiên, để khoa học và công nghệ thực hiện được vai trò này, là cơ bản rằng việc hiểu biết khoa học cơ bản không bị giới hạn đối với thế giới khoa học. Đại dịch đã chỉ cho chúng ta rằng xóa mù khoa học bây giờ là quan trọng hơn bao giờ hết.

Bà Nair-Bedouelle nhớ lại rằng, dù các nhà khoa học và kiến thức khoa học từng ‘được tán dương rộng rãi cho việc phát triển các vắc xin mới trong thời gian kỷ lục và giúp giữ cho các xã hội và nền kinh tế của chúng ta tiếp tục hoạt động, đại dịch cũng đã hé lộ - và đã làm trầm trọng thêm - các yếu tố của sự hoài nghi của công chúng và sự không tin tưởng đối với khoa học và các nhà khoa học’.

Bà khẳng định rằng việc phát hiện ra các giải pháp đổi mới sáng tạo để đặt loài người trên con đường phát triển bền vững hơn có thể đòi hỏi một nỗ lực khoa học cường tráng không chỉ từ cộng đồng khoa học, mà còn từ xã hội như một tổng thể.

Khoa học mở có thể thu hút xã hội vào phát hiện các giải pháp đổi mới sáng tạo

Bà đã gợi ý rằng thực hành khoa học mở rộng rãi hơn có thể giúp thu hút xã hội như một tổng thể vào việc phát hiện các giải pháp đổi mới sáng tạo vì sự phát triển bền vững hơn. Quan điểm này được chia sẻ rộng rãi, nó giải thích vì sao 193 quốc gia thành viên của UNESCO đã thông qua Khuyến nghị Khoa học Mở của UNESCO vào tháng 11 năm ngoái. Nó nhằm giảm thiểu các bất bình đẳng trong khoa học và công nghệ bằng việc đảm bảo rằng các phát hiện nghiên cứu là truy cập được tới tất cả mọi người. Sự thông qua của nó chỉ ra rằng thế giới đã sẵn sàng dịch chuyển vượt ra khỏi việc đơn giản mở ra quyền truy cập tới các kết quả đầu ra của khoa học, rằng nó mong muốn tiến bộ hướng tới sự tham gia mở với xã hội, đối thoại mở với các hệ thống kiến thức khác và sự đồng tạo lập mở hạ tầng và các công cụ được sử dụng để tiến hành khoa học. Tất cả điều này là cấp bách hơn, trong bối cảnh đại dịch đã làm lộ ra các khoảng trống về năng lực và hạ tầng khoa học ở nhiều phần của thế giới, nơi mà sự tham gia bị hạn chế hoặc không tồn tại trong việc tạo lập và áp dụng các giải pháp khoa học đối với COVID-19 đã làm cho các công dân bị tổn thương nhiều hơn đối với cuộc khủng hoảng. Sự đại diện không đủ của phụ nữ trong khoa học đánh dấu sự thiếu hụt đáng kể tiềm lực con người, ví dụ: chỉ 1 trong số 3 nhà nghiên cứu là phụ nữ, theo Báo cáo Khoa học của UNESCO (2021).

Khuyến nghị đó xác định các giá trị và các nguyên tắc chung cho khoa học mở để đảm bảo rằng mọi người có thể tham gia vào khoa học và hưởng lợi từ tiến bộ khoa học.

Nhu cầu đầu tư dài hạn vào nghiên cứu khoa học và khoa học mở

‘Chúng tôi yêu cầu rất nhiều khoa học’, Trợ lý Tổng Giám đốc đã thấy. ‘Chúng tôi yêu cầu nó để hỗ trợ cho nền kinh tế toàn cầu, để dẫn dắt sự thay đổi xã hội một cách tích cực, để thúc đẩy và cải thiện hệ thống y tế, để xử lý các khủng hoảng môi trường và để cải thiện năng lực của chúng ta để thích nghi với tác động của biến đổi khí hậu’.

Bà tiếp tục nói rằng, ‘để cho phép khoa học và công nghệ đáp ứng được tất cả các yêu cầu đó, UNESCO đang kêu gọi đầu tư dài hạn vào nghiên cứu khoa học và khoa học mở. Chúng ta phải đảm bảo rằng cộng tác khoa học quốc tế tiếp tục thịnh vượng và thông tin cho các chính sách quốc gia và toàn cầu. Điều đó sẽ đòi hỏi sự cam kết bền vững về chính trị và tài chính cho nỗ lực khoa học. Một cộng đồng khoa học lành mạnh là kết quả của sự cam kết bền vững, dài hạn’.

Vào năm 2015, các chính phủ đã cam kết nâng cao nỗ lực nghiên cứu của họ nhưng dữ liệu từ Viện Thống kê của UNESCO cho thấy, dù 32 quốc gia đã nâng chi tiêu nghiên cứu của họ ít nhất đến 0,1% GDP trong các năm đến 2018, nỗ lực nghiên cứu nội địa đã giảm ở 13 quốc gia khác, bao gồm vài quốc gia thuộc G20.

Được thành lập vào năm 2017, S20 là một trong các nhóm tham gia gần đây nhất của G20. Tương tự như với G20, nó có ban thư ký không thường trực xoay vòng và hoạt động như một diễn đàn thay vì một tổ chức. S20 hỗ trợ G20 bằng việc thúc đẩy đối thoại chính thức với cộng đồng khoa học. Từng đội đặc nhiệm của S20 tập trung vào việc xoay quanh một chủ đề có liên quan tới các nhà khoa học, các nhà hoạch định chính sách và xã hội.

Thông tin thêm

Every year, the country hosting the G20 organizes a Science Summit in the weeks preceding the event. This year, the S20, as the Science Summit is known, took place on 20 September and was hosted by the Government of Indonesia. UNESCO’s Assistant Director-General for Natural Sciences, Shamila Nair-Bedouelle, used this opportunity to appeal for long-term investment in scientific research and open science.

This year’s S20 Communique calls upon the governments of the G20 to build resilient health systems urgently and to bolster multidisciplinary science and technology to prepare us for climate change and the pandemics of the future. It also calls for G20 governments to strengthen the nexus between data, research, policy and practice.

‘The communiqué resonates strongly with UNESCO’, observed UNESCO’s Assistant Director-General for Natural Sciences, Shamila Nair-Bedouelle, at the summit, which was held virtually.

Scientific literacy more important than ever

‘UNESCO is convinced that science and technology must drive change and prepare the world for future global emergencies’, she added. However, for science and technology to take on this role, it is essential that basic scientific understanding not be limited to the world of science. The pandemic has shown us that scientific literacy is more important now than ever’.

Ms Nair-Bedouelle recalled that, although scientists and scientific knowledge had ‘been widely praised for developing new vaccines in record time and helping to keep our societies and the economy functioning, the pandemic had also revealed – and exacerbated – elements of public scepticism and mistrust towards science and scientists’.

She posited that finding innovative solutions to place humanity on a more sustainable development path would demand a vibrant scientific effort not only from the scientific community but from society as a whole.

Open science can engage society in finding innovative solutions

She suggested that a wider practice of open science could help to engage society as a whole in finding innovative solutions for more sustainable development. This view is widely shared, which is why UNESCO’s 193 Member States adopted the UNESCO Recommendation on Open Science in November last year. It aims to reduce inequalities in science and technology by ensuring that research findings are accessible to all. Its adoption shows that the world is ready to move beyond simply opening up access to the outputs of science, that it wishes to progress towards an open engagement with society, open dialogue with other knowledge systems and an open co-creation of the infrastructure and tools used to conduct science.
This is all the more urgent, in that the pandemic has exposed gaps in scientific capacity and infrastructure in many parts of the world, where a limited or non-existent participation in creating and adopting scientific solutions to COVID-19 has made citizens more vulnerable to the crisis. The underrepresentation of women in science marks a significant loss of human potential, for instance: just one researcher in three is a woman, according to the
UNESCO Science Report (2021).

The Recommendation defines shared values and principles for open science to ensure that everyone can participate in science and benefit from scientific progress.

A need for long-term investment in scientific research and open science

‘We ask a lot of science’, observed the Assistant Director-General. ‘We ask it to support the global economy, to drive positive societal change, to improve and enhance the health system, to tackle environmental crises and to improve our ability to adapt to the impact of climate change’.

She went on to say that, ‘in order to allow science and technology to respond to all these demands, UNESCO is calling for long-term investment in scientific research and open science. We must ensure that international scientific collaboration continues to thrive and inform national and global policies. That will require a sustained political and financial commitment to scientific endeavour. A healthy scientific community is the fruit of a sustained, long-term engagement’.

In 2015, governments committed to raising their research effort but data from the UNESCO Institute for Statistics shows that, although 32 countries raised their research spending by at least 0.1% of GDP in the years to 2018, the domestic research effort dropped in another 13 countries, including some G20 countries.

Established in 2017, the S20 is one of the most recent engagement groups of the G20. Analogous to the G20, it has a non-permanent rotating secretariat and operates like a forum rather than as an organization. The S20 supports the G20 by fostering an official dialogue with the scientific community. Each S20 task force focuses on one encompassing topic that is relevant to scientists, policymakers and society alike.

Dịch: Lê Trung Nghĩa

letrungnghia.foss@gmail.com

Thứ Tư, 2 tháng 11, 2022

Hành động tập thể - thành phần sống còn cho Truy cập Mở đơn giản hơn và rộng hơn

Collective action – a vital ingredient for simpler and wider Open Access

26/09/2022

Theo: https://www.coalition-s.org/blog/collective-action-a-vital-ingredient-for-simpler-and-wider-open-access/

Bài được đưa lên Internet ngày: 26/09/2022

Theo đuổi mục đích chung

Những ai tham gia tạo lập các kết quả đầu ra nghiên cứu đồng ý rằng Truy cập Mở (OA) làm lợi cho các nhà nghiên cứu, nghiên cứu, và xã hội nói chung. Các nhà xuất bản đã đáp lại bằng việc chào xuất bản Truy cập Mở trong một vài hoặc tất cả các tạp chí của họ. Sự đồng thuận này ngụ ý mục đích chung và chỉ ra sự dịch chuyển hướng tới môi trường Truy cập Mở rộng lớn hơn đã và đang diễn ra đôi lúc.

Thậm chí dù nhiều tiến bộ đã có hướng tới một thế giới Truy cập Mở đầy đủ, vẫn có con đường dài đáng kể phải đi trước khi Truy cập Mở trở nên phổ biến khắp toàn cầu. Đối với một thế giới Truy cập Mở đầy đủ, tôi ngụ ý một thế giới nơi tất cả các tài liệu nghiên cứu là mở đầy đủ.

Một số nhà cấp vốn, trở nên thiếu kiên nhẫn với nhịp độ của sự tiến bộ, đã tiến hành các bước để tăng tốc Truy cập Mở cho các bài báo bằng việc áp dụng các yêu cầu Truy cập Mở như là các điều kiện trao thưởng nghiên cứu của họ. Dù điều này đã tác động đáng kể tới sự tiến bộ trong Truy cập Mở thông qua các mô hình xuất bản pha trộn, ảnh hưởng của các nhà cấp vốn còn hạn chế. Để đạt được Truy cập Mở triệt để mà bền vững cho tất cả mọi người, và trong sự kiểm soát của cộng đồng nghiên cứu, trong một khung thời gian ngắn nhất có thể, hành động chiến lược rộng khắp hơn nữa là cần thiết đối với mọi người có liên quan. Ngắn gọn, mục đích chung đòi hỏi hành động tập thể.

Một yêu cầu chính sách đơn giản …

Như các tổ chức từ thiện hoặc người đóng thuế trả tiền, các nhà cấp vốn nghiên cứu muốn, và thậm chí có bổn phận, tối đa hóa tác động và tầm với của nghiên cứu họ cấp tiền. Mục tiêu này được phục vụ bằng việc đảm bảo Truy cập Mở tức thì tới các tài liệu là kết quả từ nghiên cứu như vậy. Chúng tôi có thể mô tả yêu cầu cùa nhà cấp vốn từ những người nhận trợ cấp của họ cực kỳ đơn giản:

Tất cả các tài liệu được rà soát lại ngang hàng từ nghiên cứu được <Nhà cấp vốn> cấp tiền phải được làm cho sẵn sàng tức thì (không có cấm vận) và tự do không mất tiền để sử dụng theo một giấy phép mở.

Ý thức rằng phổ biến là không mất chi phí, nhà cấp vốn thường cung cấp các nguồn tài chính để trang trải các chi phí xuất bản, với điều kiện là các tài nguyên đó phải được sử dụng một cách có trách nhiệm. Các nhà cấp vốn không hỗ trợ xuất bản Truy cập Mở với bất kỳ giá nào. Chính sách đó thường bao gồm mệnh đề có hiệu lực: <Nhà cấp vốn> sẽ trang trải các chi phí xuất bản/phổ biến Truy cập Mở hợp lý.

Điều đó thực sự là đơn giản. Một chính sách như vậy trang trải tất cả những gì cần thiết: tác phẩm có thể tức thì là mở, sử dụng được, và được trả tiền. Để kiểm tra, nhiều chính sách của các nhà cấp vốn nghiên cứu phù hợp với phác thảo đơn giản này.

… trong một hệ thống xuất bản phức tạp

Tuy nhiên, các tác giả và nhân viên hỗ trợ của họ phàn nàn về việc phải vật lộn với nhiều chính sách phức tạp. Tôi sẽ sử dụng chính sách Truy cập Mở của UKRI như một ví dụ. Đi xuống mức đơn giản nhất của nó, chính sách là như sau:

Tất cả các bài báo được rà soát lại ngang hàng là kết quả từ nghiên cứu được UKRI cấp tiền phải được làm cho sẵn sàng tức thì (không có cấm vận) hoặc trên các tạp chí/nền tảng Truy cập Mở đầy đủ hoặc trong một kho Truy cập Mở và tự do không mất tiền để sử dụng theo một giấy phép CC BY. Một khoản tài trợ được trao cho các tổ chức nghiên cứu hợp pháp để hỗ trợ triển khai chính sách này.

David Sweeney của Research England nêu rõ nó như thế này:

“Về cơ bản, đơn giản là ‘không có cấm vận, không thanh toán lai’”. 

Những gì các nhà cấp vốn yêu cầu là rõ ràng và có thể nắm bắt được trong một đoạn ngắn. Trong thế giới Truy cập Mở được mô tả trong giới thiệu của tôi, nơi tất cả đồng ý Truy cập Mở là ’điều tốt’, người ta có thể kỳ vọng rằng việc đáp ứng các yêu cầu đó có thể không khó, bất kể tạp chí một nhân viên hàn lâm muốn viết cho nó. Tuy nhiên, khi điều tra, chúng tôi thấy rằng các phần của chính sách Truy cập Mở của UKRI tham chiếu tới các bài báo nghiên cứu gồm 13 mệnh đề + 2 phụ lục & bảng chú giải, cộng với các câu hỏi đáp thường gặp bổ sung chiếm 11 trang.

Tại sao một chính sách đơn giản như vậy lại phình to như vậy?

David Sweeney nói:

“Chính sách là đơn giản, nhưng sự phức tạp của hệ thống xuất bản học thuật ngụ ý là vài chi tiết là thách thức và chúng tôi vì thế đưa ra tư liệu kèm theo của chúng tôi”.

Các nhà nghiên cứu thường thấy rằng việc đáp ứng các yêu cầu của nhà cấp vốn của họ là đầy rẫy các khó khăn. Nhiều người bối rối và thất vọng khi phải đối phó với các quy tắc, điều khoản, điều kiện và rào cản phức tạp đối với sự lựa chọn của họ. Vì sao một nhà nghiên cứu không thể lựa chọn bất kỳ tạp chí học thuật dòng chủ đạo nào họ muốn và chắc chắc rằng chúng có thể đáp ứng các tiêu chí của nhà cấp vốn của họ bằng việc xuất bản trên tạp chí đó?

Các nhà xuất bản đã chọn, giả thiết để giành được ưu thế cạnh tranh trong việc thu hút gửi bài, để cải thiện bản chào xuất bản cơ bản với một loạt các tính năng đặc biệt nhưng phức tạp mà sau đó phải được điều hướng để đảm bảo truy cập mở đầy đủ và tức thì. Những cái bẫy ưu đãi đối với các nhà nghiên cứu gồm:

  • Thanh toán chỉ có thể được thực hiện cho Truy cập Mở trên một tạp chí hoặc nền tảng Truy cập Mở đầy đủ. Bất chấp một giai đoạn chuyển đổi dài, nhiều người còn chưa ‘chuyển sang’ Truy cập Mở đầy đủ. Các lý do tránh các lựa chọn Truy cập Mở được các tạp chí thuê bao cung cấp (được biết tới như là Truy cập Mở ‘lai’) từng cực kỳ phổ biến.

  • Nhiều nhà xuất bản dòng chính tiếp tục khăng khăng rằng các tác giả nào muốn sử dụng kho theo con đường Truy cập Mở cần cấm vận các Bản thảo Được Tác giả Chấp nhận - AAM (Author Accepted Manuscripts) của họ. Các nhà xuất bản đó áp đặt các điều khoản và điều kiện mà xung đột trực tiếp với thỏa thuận trợ cấp tác giả đang có, đặt họ vào tình thế không thể chấp nhận được. Các nhà xuất bản đã được yêu cầu làm rõ đối với các tác giả nhưng đã chưa trả lời cho yêu cầu đó.

  • Hầu hết các nhà xuất bản chào xuất bản các bài báo Truy cập Mở theo các giấy phép CC BY cho các tác giả được cấp vốn. Tuy nhiên, vài nhà xuất bản không ‘cho phép’ các giấy phép CC cho Truy cập Mở kho (ví dụ, Elsevier yêu cầu các tác giả gắn giấy phép CC BY-NC-ND vào các AAM). Xem thêm thảo luận về chỉ định giấy phép ND không thể chấp nhận được ở đây.

  • Giá thành: ‘Chi phí xuất bản/phổ biến Truy cập Mở hợp lý’ là gì? Nhiều nhà nghiên cứu (và nhà cấp vốn) đặt ra câu hỏi có thể hiểu được về giá thành cao, như của Nature Publishing (EUR 9,500 APC). Họ quan tâm về, trên thực tế, trả tiền cho sự từ chối: giá thành cho một bài báo duy nhất được xuất bản bao gồm chi phí từ chối 95% các tài liệu được gửi tới Nature. Các nhà cấp vốn miễn cưỡng làm điều đó: các bài báo bị từ chối đó không thể tất cả chúng là kém khoa học.

Một vấn đề có liên quan nhưng cũng nguy hiểm không kém là các tác giả (có thể hiểu được) cảm thấy họ cần xuất bản trên các tạp chí ‘tên tuổi’ với các thương hiệu và yếu tố tác động cao vì sự tiến bộ sự nghiệp.

Sức mạnh để tạo ra sự thay đổi

Kiểm soát khi nào, bằng cách nào và đối với ai các phát hiện nghiên cứu được phổ biến thường ở sai chỗ, ví dụ, trong tay của các nhà xuất bản. Việc xuất bản là một nền công nghiệp dịch vụ; các nhà xuất bản không phải là những người thực hành nghiên cứu cũng không phải là bên xúc tác cho nghiên cứu. Điều hành và kiểm soát phổ biến học thuật không nên nằm trong miền của nền công nghiệp dịch vụ, bất kể các sản phẩm của chúng ‘chất lượng’ hay ‘cấp thế giới’ cỡ thế nào.

Việc xuất bản là một nền công nghiệp dịch vụ; các nhà xuất bản không phải là những người thực hành nghiên cứu cũng không phải là bên xúc tác cho nghiên cứu. Điều hành và kiểm soát phổ biến học thuật không nên nằm trong miền của nền công nghiệp dịch vụ, bất kể các sản phẩm của chúng ‘chất lượng’ hay ‘cấp thế giới’ cỡ thế nào.

Nếu các nhà nghiên cứu có được sự kiểm soát đối với khi nào, bằng cách nào và đối với ai nghiên cứu của họ được phổ biến, tuân thủ với chính sách đơn giản sẽ chỉ có vậy - đơn giản. Họ có thể chọn tạp chí Truy cập Mở đầy đủ yêu thích của họ và gửi bản thảo của họ tới đó. Miễn là giá thành hợp lý, họ có thể tuân thủ. Nếu tạp chí đó là một tạp chí thuê bao, họ có thể tuân thủ qua con đường kho. Bây giờ hầu hết các nhà cấp vốn của Liên minh S đã chấp nhận các bài báo được rà soát lại ngang hàng mà không được xuất bản trên một tạp chí như là các kết quả đầu ra nghiên cứu cấp một, các tác giả có thể có lựa chọn thứ 3 của con đường không tạp chí. Sự lựa chnoj đó có thể tùy vào nhà nghiên cứu đó.

Tương tự, nếu cả các cơ sở và các nhà nghiên cứu đã triển khai các nguyên tắc đánh giá và thẩm định nghiên cứu theo DORA, thì trọng tâm sẽ là giá trị nội tại của nghiên cứu chứ không phải tên của tạp chí mà nó đã được xuất bản trên đó. Các nhà nghiên cứu và các cơ sở đã chậm chạp trong việc thực hiện thay đổi đối với đánh giá và thẩm định nghiên cứu. Các nhà nghiên cứu cảm thấy họ không thể thay đổi thực hành xuất bản của họ vì họ bị coi là ‘quá đà’ nếu tạp chí họ lựa chọn không chào các điều khoản tuân thủ, và họ sẽ không thay đổi thực hành xuất bản của họ vì nó có thể là hành vi tự sát trong sự nghiệp. Các nhà cấp vốn đã cố gắng là nhạy cảm đối với các ưu tiên tạp chí của các nhà nghiên cứu, nhưng điều này thường dẫn tới sự phức tạp về chính sách.

Các nhà cấp vốn có thể thô bạo về việc áp dụng các điều khoản của họ: nếu một tạp chí không đáp ứng các yêu cầu cơ bản, các nhà nghiên cứu cần tìm một nơi khác. Thay vào đó, họ cố gắng giúp cả 2 bên, các nhà nghiên cứu và các nhà xuất bản, bằng các ngoại lệ và lựa chọn thay thế, để xác định các con đường hướng tới các mục tiêu cuối cùng của họ. Sự hiểu biết là những ngoại lệ đó là chuyển đổi quá độ và tạm thời, nhưng điều này trực tiếp dẫn tới sự phức tạp. Vài nhà cấp vốn, ví dụ, chấm dứt việc cung cấp ‘sự sáng tỏ’ và các giải thích trong các tài liệu dài dòng hoặc các câu hỏi đáp thường gặp. Các nhà cấp vốn với các chính sách khá ngắn gọn (như Quỹ Gate Foundation và SFI) đã lưu ý rằng các vấn đề phát sinh khi các tác giả cố gắng tuân thủ.

Để giải quyết những căng thẳng như vậy, các nhà cấp vốn có thể sử dụng hoặc cho phép nhiều cơ chế khác nhau:

Nếu các nhà xuất bản muốn nhận tiền của một nhà cấp vốn, họ cần đảm bảo các tạp chí của họ chào các điều khoản đáp ứng các tiêu chí của các nhà cấp vốn. Bằng việc đưa vào các điều khoản Truy cập Mở cứng rắn vào trong các điều kiện trợ cấp, nhà cấp vốn trao cho tác giả sức mạnh để nói những gì họ muốn - hoặc họ sẽ bị ép phải xuất bản ở đâu đó khác.

Hành động tập thể là cần thiết

Nếu mục tiêu đáng được chấp nhận về chuyển đổi quá độ sang Truy cập Mở đầy đủ và tức thì đạt được, tất cả các bên cần biến quyết định có ý thức đó thành sự thay đổi hiệu quả. Các nhà cấp vốn có đòn bẩy vì họ có thể đặt ra các điều kiện Truy cập Mở lên các trợ cấp. Tuy nhiên, ảnh hưởng của các nhà cấp vốn bị hạn chế, vì họ CHỈ có thể đặt ra các điều kiện cho những người nhận trợ cấp (và các cơ sở của họ). Vai trò của các nhà cấp vốn vì thế bị hạn chế trong những gì họ có thể làm để hướng sự thay đổi tới một môi trường Truy cập Mở kham được và mở đầy đủ. Từng trong số các bên có quan tâm cần có vai trò của nó.

Nếu mục tiêu đáng được chấp nhận về chuyển đổi quá độ sang Truy cập Mở đầy đủ và tức thì đạt được, tất cả các bên cần biến quyết định có ý thức đó thành sự thay đổi hiệu quả.

  • Các nhà xuất bản:

    • Giải pháp đơn giản: đảm bảo các tạp chí Truy cập Mở đầy đủ chào các dịch vụ xuất bản với giá thành công bằng và hợp lý đối với các trường đại học. Thậm chí tốt hơn, hãy áp dụng mô hình ‘kim cương’ tự do không mất tiền để xuất bản, để các tạp chỉ sẽ là Xuất bản và Truy cập Mở - OPA (Open Publication and Access).

    • Không đặt ra các rào cản đối với các quyền tác giả trong việc sử dụng các AAM. Không tạp chí nào nên cản đường Truy cập Mở kho.

    • Bỏ qua các Yếu tố Tác động như là sự ủy quyền cho uy tín.

Được công nhận, những thay đổi ở trên không diễn ra trong bất kỳ lúc nào sớm.

Theo New York Times, đáp lại bản ghi nhớ gần đây của Văn phòng Chính sách Khoa học & Công nghệ của nước Mỹ - OSTP (US Office of Science & Technology Policy): ‘Người phát ngôn cho Springer Nature nói rằng các cơ quan cấp vốn phải gia tăng hỗ trợ tài chính của họ cho các xuất bản phẩm để đổi lại nghiên cứu sẽ là tự do không mất tiền cho công chúng’. Nói một cách khác, các nhà cấp vốn cần thanh toán cho các nhà xuất bản lớn thậm chí nhiều tiền hơn để đạt được Truy cập Mở đầy đủ. Tôi không đồng ý nhưng thấy trước sự căng thẳng vận động hành lang từ các nhà xuất bản chính trong một nỗ lực để bảo vệ quan điểm học thuật nhằm vào các bên liên quan của họ.

  • Các nhà nghiên cứu và các ban biên tập tạp chí:

    • Nhận thức được rằng bạn có sức mạnh và hãy sử dụng nó: giữ lại các quyền và sử dụng các nhà xuất bản như là một dịch vụ phải trả tiền, không như một nhà kiểm soát học thuật; nếu bạn là một biên tập viên, hãy cố gắng sửa đổi bổ sung các chính sách của tạp chí.

    • Nhận thức được về giá thành và cân nhắc các tạp chí Truy cập Mở kim cương (xem DOAJ).

    • Xem xét các lựa chọn diễn ngôn học thuật và phổ biến lựa chọn thay thế, bao gồm các bản thảo chưa được rà soát lại ngang hàng (preprints) để được rà soát lại ngang hàng.

    • Làm việc với cơ sở và các đồng nghiệp của bạn để triển khai các nguyên tắc như DORA.

    • Như một người nắm giữ bản quyền gốc, hãy đặt ra các điều kiện giữ lại các quyền lên bài báo của bạn khi bạn gửi nó đi. Các tạp chí có thể có quyền từ chối nó tức thì, nhưng các hành động thiển cận như vậy sẽ sớm được coi như là kỳ quái.

  • Các cơ sở

    • Triển khai DORA hoặc các nguyên tắc đơn giản và nhìn thấy được để hành động dựa trên các nguyên tắc đó.

    • Triển khai một chính sách giữ lại các quyền của cơ sở để hỗ trợ cho các nhà nghiên cứu của bạn.

Sau thông báo của OSTP, đã có một loạt phản hồi, nhiều người lo ngại rằng các nhà xuất bản chủ chốt cuối cùng sẽ là những người được hưởng lợi (bằng cách xuất bản chuyển từ mô hình bức tường thanh toán không thể chấp nhận được sang mô hình Truy cập Mở không thể chấp nhận được). Những người khác hoài nghi rằng kết quả sẽ làm lợi cho nghiên cứu và các nhà nghiên cứu. Tôi có xu hướng đồng ý với Sharla Lair:

“Chúng ta có tất cả các lựa chọn. Chúng ta có thể chọn để tweet bằng mọi cách mà điều này có thể không thành công hoặc tất cả chúng tôi có thể làm việc cùng nhau để đảm bảo rằng hành động này truyền cảm hứng và triển khai thay đổi vượt ra khỏi những gì chúng ta đã và đang tưởng tượng cho đến nay. Nếu có một điểm yếu ở đâu đó, thì chúng ta phải sửa chữa nó như thế nào? Chúng ta không là những nạn nhân!”

Tóm lại, các nhà cấp vốn nghiên cứu có thể là các chất xúc tác mạnh mẽ để thay đổi, nhưng mức độ ảnh hưởng của họ có giới hạn. Để đạt được Truy cập Mở đầy đủ trên toàn cầu theo một cách thức chấp nhận được đối với cộng đồng nghiên cứu, tất cả các bên, bao gồm cả các nhà nghiên cứu và các cơ sở, phải hành động.

Pursuing a common aim

Those involved in the creation of research outputs agree that Open Access (OA) benefits researchers, research, and society in general. Publishers have responded by offering OA publication in some or all of their journals. This consensus implies a common aim and indicates a shift towards a wider OA environment which has been underway for some time.

Even though much progress has been made towards a fully OA world, there is still a considerable way to go before OA becomes globally ubiquitous. By a fully OA world, I mean a world where all research papers are fully open.

Some funders, becoming impatient with the pace of progress, have taken steps to accelerate OA for articles by adopting OA requirements as conditions of their research awards. Although this has markedly affected progress in OA via mixed publishing models, funders’ influence is limited. In order to achieve universal OA that is sustainable for, and in the control of the research community, in as short a timeframe as possible, further widespread strategic action is needed by everyone involved. In short, the common aim requires collective action.

A simple policy requirement…

As either charitable or taxpayer-funded organisations, research funders want, and are even obliged, to maximise the impact and reach of the research they fund. This goal is served by ensuring immediate OA to the papers resulting from such research. We can describe the funders’ requirement from their grantees extraordinarily simply:

All peer reviewed papers resulting from research funded by < Funder> must be made immediately available (without embargo) and free to use under an open licence. 

Conscious that dissemination is not cost-free, a funder usually provides financial resources to cover publication costs, with the proviso that such resources must be used responsibly. Funders do not support OA publication at any price. The policy usually includes a clause to the effect: < Funder> will cover reasonable OA publication/dissemination costs. 

It really is that simple. Such a policy covers all that is needed: the work can be immediately open, usable, and paid for. On examination, many research funders’ policies align with this simple outline.

… in a complex publication system

Anecdotally, authors and their support staff complain about having to wrestle with multiple complex policies. I shall use the UKRI OA policy as an example. Boiled down to its simplest level, the policy is as follows:

All peer reviewed articles resulting from research funded by UKRI must be made immediately available (without embargo) in either a fully OA journal/platform or in an OA repository and free to use under a CC BY licence. A block grant is awarded to eligible research organisations to support the implementation of the policy. 

David Sweeney of Research England articulated it like this: 

“In essence, it is as simple as ‘no embargoes, no hybrid payments’”.

What funders require is clear and can be captured in a short paragraph. In the OA world described in my introduction, where all agree OA is a ‘good thing,’ one would expect that meeting such requirements would not be difficult, whatever journal an academic wanted to write for. However, on inspection, we find that the UKRI OA policy sections referring to research articles comprise 13 clauses + 2 annexes & glossary, plus additional FAQs running to 11 pages.

Why has such a simple policy ballooned?

David Sweeney went on to say:

“The policy is simple, but the complexity of the scholarly publication system means that some of the detail is challenging and we have therefore set out our accompanying material.”

Researchers frequently find that meeting their funder’s requirements is fraught with difficulties. Many are confused and frustrated by having to deal with complex rules, terms, conditions, and barriers to their choice. Why can’t a researcher select any mainstream scholarly journal they wish and be certain that they can meet their funder’s criteria by publishing in that journal? Publishers have chosen, presumably to gain competitive advantage in attracting submissions, to enhance a basic publication offer with a range of distinctive but complicated features which then have to be navigated to ensure full and immediate open access. The tripwires for researchers are:

  • Payment can only be made for OA in a fully OA journal or platform. Despite a long transition period, many have not yet ‘flipped’ to full OA. The reasons for eschewing the OA options provided by subscription journals (known as ‘hybrid’ OA) have been extensively rehearsed.

  • Many mainstream publishers continue to insist that authors who wish to use the repository route to OA should embargo their AAMs (Author Accepted Manuscripts). These publishers impose terms and conditions that directly conflict with an author’s existing grant agreement, putting them in an unacceptable position. Publishers have been asked to provide clarity for authors but have not answered that request.

  • Most publishers offer publication of OA articles under CC BY licences for funded authors. However, some do not ‘permit’ CC BY licences for repository OA (for example, Elsevier requires authors to attach a CC-BY-NC-ND license to AAMs). See also discussion of unacceptable ND licence assignment here.

  • Price: What is a ‘reasonable OA publication/dissemination cost’? Many researchers (and funders) understandably question high prices, such as that of Nature Publishing (EUR 9,500 APC). They are concerned about, in effect, paying for rejection: the price for a single published article includes the cost for rejecting 95% of papers submitted to Nature. Funders are reluctant to do that: those rejected papers can’t all be poor science.

A related but equally pernicious problem is that of authors (understandably) feeling they need to publish in ‘glamour’ titles with brand names and high-impact factors for career advancement. 

The power to effect change

Control of when, how and to whom research findings are disseminated is generally in the wrong place, i.e. in the hands of publishers. Publishing is a service industry; publishers are neither research practitioners nor research enablers. Governance and control of scholarship dissemination should not be the domain of a service industry, no matter how ‘world class’ or ‘quality’ their products. 

Publishing is a service industry; publishers are neither research practitioners nor research enablers. Governance and control of scholarship dissemination should not be the domain of a service industry, no matter how ‘world class’ or ‘quality’ their products. 

If researchers had control over when, how and to whom their research is disseminated, compliance with the simple policy would be just that — simple. They could choose their favourite fully OA journal and submit their manuscript to it. Provided the price was reasonable, they would comply. If the journal were a subscription journal, they would comply via the repository route. Now that most cOAlition S funders have accepted peer reviewed papers that are not published in a journal as first-class research outputs, authors may have a third option of a non-journal route. The choice would be up to the researcher. 

Equally, if both institutions and researchers implemented DORA-like research assessment and evaluation principles, the focus would be on the intrinsic merits of the research and not the title of the journal in which it was published. Researchers and institutions have been sluggish in implementing change to research assessment and evaluation. Researchers feel they can’t change their publishing practice because they are held ‘over a barrel’ if their journal of choice does not offer compliant terms, and they won’t change their publishing practice because it would be career suicide. Funders have tried to be sensitive to researchers’ journal preferences, but this has generally led to policy complexity.

Funders could be brutal about applying their terms: if a journal does not meet the basic requirements, researchers should find a different outlet. Instead, they try to help both parties, researchers and publishers, by means of exceptions and alternatives, to identify routes towards their ultimate goals. The understanding is that such exceptions are transitory and temporary, but this directly results in complexity. Some funders, for example, end up providing ‘clarity’ and exceptions in long documents or FAQs. Funders with relatively brief policies (such as the Gates Foundation and SFI) have noticed that problems arise when authors try to comply. 

To address such tensions, funders may employ or permit a variety of mechanisms:

If publishers wish to be in receipt of a funder’s money, they need to ensure their journals offer terms that meet that funders’ criteria. By hard-coding OA terms into grant conditions, the funder gives the author power to say what they want – or they will be forced to publish elsewhere.

Collective action is needed

If the accepted worthy goal of a transition to full and immediate OA is to be achieved, all parties need to make a conscious decision to effect change. Funders have leverage because they can set OA conditions on grants. Nonetheless, funders’ influence is limited, because they can set conditions ONLY for their grantees (and their institutions). The funder’s role is therefore limited in what they can do to drive change towards a fully open and affordable OA environment. Each of the interested parties needs to play its role.



If the accepted worthy goal of a transition to full and immediate OA is to be achieved, all parties need to make a conscious decision to effect change. 

  • Publishers:

    • The simple solution: ensure fully OA journals offer publication services at a universally reasonable and equitable price. Even better, adopt the free-to-publish ‘diamond’ model, so journals are OPA (Open Publication and Access).

    • Do not impose barriers to authors’ rights for the use of AAMs. No journal should stand in the way of repository OA.

    • Abandon Impact Factors as a proxy for prestige.

Admittedly, the changes above are not going to happen any time soon.

According to the New York Times, in response to the recent OSTP (US Office of Science & Technology Policy) memo: ‘A spokeswoman for Springer Nature said that funding agencies must increase their financial support for the publications in exchange for the research to be free to the public.’ In other words, funders should pay large publishers even more money to achieve full OA. I disagree but anticipate intense lobbying by major publishers in an attempt to secure their shareholder-focused view of scholarship.  

  • Researchers and Journal editors:

    • Be aware that you have power and use it: retain your rights and use publishers as a paid service, not as a controller of scholarship; if you are an editor, attempt to amend journal policies.

    • Be aware of the price and consider diamond OA journals (see DOAJ).

    • Consider alternative dissemination and scholarly discourse options, including peer reviewed preprints.

    • Work with your institution and your colleagues to implement DORA-like principles.

    • As the original copyright holder, place rights retention conditions on your article when you submit it. Journals would have the right to reject it immediately, but such short-sighted actions will soon come to be seen as bizarre.

  • Institutions:

    • Implement DORA or similar principles and be seen to act on those principles.

    • Implement an institutional rights retention policy in support of your researchers.

Following the OSTP announcement, there has been a flurry of responses, many concerned that major publishers will ultimately be the ones that benefit (by publication moving from an unacceptable paywall model to a disliked OA model). Others are sceptical that the outcome will benefit research and researchers. I tend to agree with Sharla Lair:

“We all have choices. We can choose to tweet every way this can fail or we can all work together to ensure that this one act inspires and implements change beyond what we have been imagining thus far. If there is a weakness somewhere, then how do we fix it? We are not victims!”

In summary, research funders can be powerful catalysts for change, but the extent of their influence is limited. To achieve global fully OA in an acceptable way to the research community, all parties, including researchers and institutions, must take action.

Dịch: Lê Trung Nghĩa

letrungnghia.foss@gmail.com

Thứ Ba, 1 tháng 11, 2022

Dịch vụ So sánh Tạp chí của Kế hoạch S: mở cho các thư viện và các nhóm thư viện để đăng ký truy cập dữ liệu về giá thành và dịch vụ

Plan S Journal Comparison Service: open for libraries and library consortia to register and access price and service data

28/09/2022

Theo: https://www.coalition-s.org/plan-s-journal-comparison-service-open-for-libraries-and-library-consortia-to-register-and-access-price-and-service-data/

Bài được đưa lên Internet ngày: 28/09/2022

Liên minh S hôm nay phát hành cổng của người sử dụng đầu cuối về Dịch vụ So sánh Tạp chí – JCS (Journal Comparison Service). Đây là một dịch vụ an toàn, tự do không mất tiền, trên trực tuyến nhằm soi sáng lên các khoản phí và dịch vụ xuất bản và xúc tác cho những ai mua sắm các dịch vụ xuất bản hiểu tốt hơn cách làm thế nào các tạp chí và các nhà xuất bản so sánh về một loạt các chỉ số chính.

Tới hôm nay, các thư viện và các nhóm thư viện nào mà thương thảo và tham gia vào các thỏa thuận Truy cập Mở với các nhà xuất bản có thể đăng ký với JCS. Một khi họ ký thỏa thuận Người sử dụng Đầu cuối đó, họ có thể bắt đầu so sánh dữ liệu khắp các tạp chí và khắp các nhà xuất bản, như tần suất xuất bản, thời gian từ lúc đệ trình tới khi được chấp nhận, và dải trong một danh sách các giá thành cho các khoản phí xử lý bài báo (APC) và giá thành thuê bao. Quan trọng, JCS cũng cung cấp thông tin về cách làm thế nào giá thành đó được phân bổ qua một tập hợp tiêu chuẩn các dịch vụ, như việc quản lý rà soát lại ngang hàng, các dịch vụ chấp nhận bài đăng (biên tập bản sao, tạo XML, .v.v.), cùng bán hàng và tiếp thị.

Kể từ khi khởi xướng cổng của các nhà xuất bản vào tháng 5/2022, một số nhà xuất bản - bao gồm Royal Society, the International Union of Crystallography and the Polish Botanical Society – đã đáp lại rồi một cách tích cực đối với nhu cầu của cộng đồng nghiên cứu về sự minh bạch lớn hơn và đã bắt đầu chia sẻ thông tin, ở mức tạp chí, liên quan tới dịch vụ họ cung cấp và các giá thành họ lấy phù hợp với một trong các khung minh bạch giá thành và dịch vụ của Kế hoạch S.

Thời hạn chót để cung cấp dữ liệu giá thành và dịch vụ cho năm 2021 là cuối tháng 10/2022. Chúng tôi hy vọng rằng tới ngày này, số lượng đáng kể các nhà xuất bản đã ký gửi dữ liệu với dịch vụ này, vì thế đáp lại được lời kêu gọi từ cộng đồng nghiên cứu đã yêu cầu minh bạch hơn về các vấn đề này.

JCS: những lợi ích cho các thư viện và các nhóm thư viện

Bằng việc đăng ký với JCS, các cơ sở giáo dục, và các nhóm thư viện tham gia vào việc thương lượng các thỏa thuận Truy cập Mở với các nhà xuất bản có thể có được thông tin về giá thành và dịch vụ tiêu chuẩn hơn, minh bạch hơn và chi tiết hơn. Thông tin như vậy xúc tác cho họ hiểu tốt hơn các dịch vụ nào và các mức dịch vụ nào các nhà xuất bản chào và đánh giá được liệu các khoản phí họ trả có tương xứng với các dịch vụ xuất bản được cung cấp hay không. Cùng lúc, các nhà xuất bản đang thể hiện cam kết của họ với các mô hình kinh doanh và văn hóa kinh doanh mở.

Robert Kiley, người đứng đầu về chiến lược ở Liên minh S, đã chào đón sự phát hành cổng của người sử dụng đầu cuối, nói: “Liên minh S đã phát triển dịch vụ này để đáp ứng lời kêu gọi ngày một gia tăng từ cộng đồng nghiên cứu về minh bạch lớn hơn trong các dịch vụ các nhà xuất bản cung cấp và giá thành họ lấy. Chúng tôi vui mừng rằng chúng tôi bây giờ có thể làm cho dịch vụ này sẵn sàng. Chúng tôi hy vọng nó sẽ được sử dụng tốt và trở thành tiêu chuẩn mặc định cho việc hỗ trợ cho các thư viện và các nhóm thư viện trong các cuộc thương thảo về truy cập mở với tất cả các nhà xuất bản”.

Timo Vilén, Chuyên gia Thông tin ở nhóm FinElib đã bình luận: “Chúng tôi từ lâu đã thúc giục về sự minh bạch lớn hơn trong các cuộc thương thảo về Truy cập Mở của chúng tôi và đã thấy trước sự khởi xướng của dịch vụ này. Tôi đảm bảo rằng nhóm của chúng tôi sẽ tận dụng tốt JCS - và tôi hy vọng rằng các nhà xuất bản sẽ phản ứng tích cực về lời kêu gọi của cộng đồng rộng lớn hơn và chia sẻ dữ liệu giá thành và dịch vụ của họ”.

Để khám phá hơn nữa JCS, vui lòng tới https://journalcomparisonservice.org và https://www.coalition-s.org/journal-comparison-service. Nếu có bất kỳ câu hỏi nào, xin gửi tới info@coalition-s.org.

Lưu ý của Ban biên tập

Dịch vụ này đã được thiết lập và sẽ được chạy và được quản lý bởi Liên minh S, một nhóm quốc tế các tổ chức cấp vốn và thực thi nghiên cứu đang triển khai Kế hoạch S, một nhiệm vụ nhằm biến Truy cập Mở đầy đủ và tức thì tới các xuất bản phẩm nghiên cứu thành hiện thực. Liên minh S được Science Europe hỗ trợ và được Quỹ Khoa học châu Âu - ESF (European Science Foundation) tổ chức.

cOAlition S releases today the end-user portal of the Journal Comparison Service (JCS). This secure, free, online service aims to shed light on publishing fees and services and enable those who procure publishing services to better understand how journals and publishers compare on a range of key indicators.

As of today, libraries and library consortia who negotiate and participate in Open Access agreements with publishers can sign up for the JCS. Once they sign the End User agreement, they can start comparing data across journals and across publishers, such as publication frequency, times from submission to acceptance, and the range of list prices for APCs and subscription prices.  Crucially, the JCS also provides information on how the price is allocated over a standard set of services, such as managing peer review, post acceptances services (copyediting, XML creation etc.), and sales and marketing.

Since the launch of the publisher’s portal in May 2022, a number of publishers – including the Royal Society, the International Union of Crystallography and the Polish Botanical Society – have already responded positively to the research community’s need for greater transparency and started sharing information, at journal level, regarding the services they provide and the prices they charge in line with one of the Plan S approved price and service transparency frameworks.

The deadline for providing price and service data for 2021 is the end of October 2022.  We hope that by this date, a significant number of publishers will have deposited data with this service, thus addressing calls from the research community that has asked for greater transparency on these issues.

JCS: benefits to libraries and library consortia

By registering to the JCS, educational establishments, and library consortia involved in negotiating Open Access agreements with publishers can obtain more standard, transparent, and granular price and service information. Such information enables them to better understand what services and service levels publishers offer and assess whether the fees they pay are commensurate with the publication services delivered. At the same time, publishers are demonstrating their commitment to open business models and business cultures.

Robert Kiley, Head of Strategy at cOAlition S, welcomed the release of the end-user portal, saying: “cOAlition S developed this service in response to the growing calls from the research community for greater transparency on the services publishers provide and the prices charged. We are delighted that we can now make this service available. We hope it will be well used and become the de facto standard for assisting libraries and library consortia in the open access negotiations with all publishers”.

Timo Vilén, Information Specialist at the FinELib consortium commented: “We have long pushed for greater transparency in our OA negotiations and anticipated the launch of this service. I’m sure that our consortium will make good use of the JCS – and I hope that publishers will respond positively to the call of the wider community and share their price and service data”.

To further explore the JCS, please visit https://journalcomparisonservice.org and https://www.coalition-s.org/journal-comparison-service.  Any questions should be sent to info@coalition-s.org.

Notes to Editors

The service has been set up and will be run and managed by cOAlition S, an international consortium of research funding and performing organisations implementing Plan S, a mandate aiming to make full and immediate Open Access to research publications a reality. cOAlition S is supported by Science Europe and hosted by the European Science Foundation (ESF).

Dịch: Lê Trung Nghĩa

letrungnghia.foss@gmail.com