Thứ Sáu, 28 tháng 10, 2016

OER@University Roadshow 2016 tại Đại học Tiền Giang, ngày 2

Chụp ảnh lưu niệm sau khóa học

Trong chương trình OER@University Roadshow 2016, Trung tâm Thông tin - Thư viện, Đại học Tiền Giang đã tổ chức lớp tập huấn 2 ngày 27-28/10/2016 về “NGUỒN MỞ VÀ TÀI NGUYÊN GIÁO DỤC MỞ”.

Lớp tập huấn thu hút được 40 người, là các lãnh đạo, cán bộ, nhân viên, thủ thư, cán bộ CNTT của Trung tâm Thông tin - Thư viện của Đại học Tiền Giang và 23 đơn vị bạn trong và ngoài tỉnh tham dự.

Trong ngày thứ 2, nội dung tập huấn gồm:

Blogger: Lê Trung Nghĩa

Thứ Năm, 27 tháng 10, 2016

OER@University Roadshow 2016 tại Đại học Tiền Giang, ngày 1



Quang cảnh lớp tập huấn ngày 2, 28/10/2016

Trong chương trình OER@University Roadshow 2016, Trung tâm Thông tin - Thư viện, Đại học Tiền Giang đã tổ chức lớp tập huấn 2 ngày 27-28/10/2016 về “NGUỒN MỞ VÀ TÀI NGUYÊN GIÁO DỤC MỞ”.

Lớp tập huấn thu hút được 40 người, là các lãnh đạo, cán bộ, nhân viên, thủ thư, cán bộ CNTT của Trung tâm Thông tin - Thư viện của Đại học Tiền Giang và 23 đơn vị bạn trong và ngoài tỉnh tham dự.

Trong ngày đầu, các nội dung tập huấn gồm:

Creative Commons License
Bài viết này được cấp phép Creative Commons Attribution 4.0 Quốc tế.

Blogger: Lê Trung Nghĩa

Thứ Tư, 26 tháng 10, 2016

Nội dung truy cập mở giúp nuôi dưỡng sự tăng trưởng trong các Wikipedias tiếng Ấn Độ như thế nào


How open access content helps fuel growth in Indian-language Wikipedias
Posted 24 Oct 2016 by Subhashish Panigrahi
Bài được đưa lên Internet ngày: 24/10/2016
How open access content helps fuel growth in Indian-language Wikipedias
Image credits: A stencil and a card made by Subhashish Panigrahi, CC BY-SA 4.0
Kết nối Internet di động đang gia tăng nhanh chóng ở các vùng hẻo lánh của Ấn Độ, và vì hầu hết những người sử dụng Internet đều tiện hơn với các ngôn ngữ bẩm sinh của họ, nên các website sản xuất nội dung theo các ngôn ngữ Ấn Độ sẽ dẫn dắt sự phát triển này. Ở quốc gia như Ấn Độ nơi mà chỉ một nhóm các tạp chí có sẵn các ngôn ngữ của Ấn Độ, thì truy cập mở tới các tài nguyên nghiên cứu và giáo dục là quan trọng khổng lồ cho việc phổ biến nội dung cho các site Wikipedia các thứ tiếng khác nhau của Ấn Độ.
Các Wikipedia tiếng Ấn Độ và truy cập mở
Hầu hết các ngôn ngữ nói phổ biến nhất của Ấn Độ đã có các dự án Wikipedia từ một thập kỷ trước. Các ngôn ngữ như KonkaniTulu là những người mới bước vào gia đình Wikipedia, và hiện có 23 site Wikipedias tiếng Ấn Độ. Một ví dụ nội dung truy cập mở chất lượng cao là sách giáo khoa mở về y tế (Open Textbook of Medicine), một bộ bách khoa toàn thư phi trực tuyến gồm các bài viết trên Wikipedia có liên quan tới y tế, chúng đã được nhóm những người tình nguyên chuyên tâm làm nghề y tạo ra và ngẫu nhiên trở thành các biên tập viên của Wikipedia. Có tiềm năng to lớn để phát triển Wikipedia theo nhiều ngôn ngữ với chất lượng cao, nội dung mở như thế này.
Để giúp nuôi dưỡng sự phát triển của Wikipedia và các dự án khác nhau của nó, như Wikipedias ngôn ngữ Ấn Độ, cộng đồng Wikipedia đã tạo ra hệ sinh thái với các đề tài Wikimedia và các nhánh khác, chúng được cả những người tình nguyện và các nhân viên được trả tiền quản lý từ Quỹ Wikimedia Foundation, một tổ chức có trách nhiệm gọi vốn, hỗ trợ kỹ thuật và cộng đồng. Ở Ấn Độ, Wikimedia India, Trung tâm về Internet chương trình Truy cập tới Tri thức (CIS-A2K), và Punjabi Wikimedians là 3 nhánh chính thức như vậy làm việc xúc tác cho sự tăng trưởng nội dung và các cộng đồng.
Trong khi Wikimedia Ấn Độ tập trung vào việc mở rộng tất cả các nội dung các thứ tiếng của Ấn Độ, thì Punjabi Wikimedians tập trung vào nội dung tiếng Punjabi (trong cả các kịch bản của Gurmukhi và Shahmukhi), và CIS-A2K tập trung vào 5 ngôn ngữ: Kannada, Konkani, Marathi, Odia, and Telugu.
Các dự án Wikipedia tiếng Ấn Độ chỉ có thể tăng trưởng được với sự trợ giúp của những người tình nguyện soạn sửa các Wikipedia ngôn ngữ của riêng họ và bổ sung thông tin còn thiếu từ các nguồn tin cậy, nơi mà nội dung truy cập mở có thể giúp.
Mở trong hành động
Tuần Truy cập Mở Quốc tế 2016 sẽ được tổ chức từ 24-30/10/2016. Chủ đề năm nay là Mở trong hành động (Open in Action). Tuyên bố giải thích, “Tuần Truy cập Mở Quốc tế từng luôn là về hành động, và chủ đề năm nay khuyến khích tất cả các bên tham gia đóng góp tiến hành các bước cụ thể để làm cho công việc của riêng họ sẵn sàng mở hơn và khuyến khích những người khác làm y hệt. Từ các đồ in trước để quảng cáo cho tới việc hỗ trợ các đồngnghiệp trong tiến hành công việc của họ để truy cập được nhiều hơn, Tuần Truy cập Mở năm nay sẽ tập trung vào việc dịch chuyển khỏi thảo luận tới hành động trong việc mở ra hệ thống của chúng ta cho nghiên cứu truyền thông”.
Những người đóng góp thể hiện tinh thần Mở trong Hành động khi họ giúp thêm nội dung vào các Wikipedia các ngôn ngữ khác nhau của Ấn Độ. Họ phụ thuộc vào truy cập mở tới nghiên cứu và các xuất bản phẩm khác để giúp hàng triệu người, bao gồm cả những người sống ở các vùng hẻo lánh, những người đang ra nhập với chúng tôi trên trực tuyến.
Mobile Internet connectivity is growing rapidly in rural India, and because most Internet users are more comfortable in their native languages, websites producing content in Indian languages are going to drive this growth. In a country like India in which only a handful of journals are available in Indian languages, open access to research and educational resources is hugely important for populating content for the various Indian language Wikipedias.

Indian-language Wikipedias and open access

Most commonly spoken Indian languages have had Wikipedia projects for almost a decade. Languages like Konkani and Tulu are new entrants in the Wikipedia family, and currently there are 23 Indian language Wikipedias. One example of high-quality open access content is the Open Textbook of Medicine, an offline encyclopedia consisting of Wikipedia articles related to medicine, which was created by a group of dedicated volunteer medical professionals that happen to be Wikipedia editors. There is enormous potential to grow Wikipedia in multiple languages with high-quality, open content like this.
To help fuel the growth of Wikipedia and its various projects, such as the Indian-language Wikipedias, the Wikipedia community has created an ecosystem with Wikimedia chapters and other affiliates, which are run by both volunteers and paid staff from the Wikimedia Foundation, an organization responsible for fundraising, technical, and community support. In India, Wikimedia India, the Centre for Internet and Society’s Access to Knowledge program (CIS-A2K), and Punjabi Wikimedians are three such official affiliates working on catalyzing the growth of the content and the communities.
Whereas Wikimedia India focuses on expanding all the Indian-languages content, Punjabi Wikimedians focus on Punjabi language content (in both Gurmukhi and Shahmukhi scripts), and CIS-A2K focuses on five languages: Kannada, Konkani, Marathi, Odia, and Telugu.
Indian-language Wikipedia projects can only grow with the help of volunteers editing their own language Wikipedias and adding missing information from a reliable sources, which is where open access content can help.

Open in action

The 2016 International Open Access Week will be held October 24-30, 2016. The theme this year is Open in Action. The announcement explains, "International Open Access Week has always been about action, and this year's theme encourages all stakeholders to take concrete steps to make their own work more openly available and encourage others to do the same. From posting preprints in a repository to supporting colleagues in making their work more accessible, this year’s Open Access Week will focus on moving from discussion to action in opening up our system for communicating research."
Indian contributors show the spirit of Open in Action as they help add content to the various Indian-languages Wikipedias. They depend on open access to research and other publications to help millions of people, including those living in rural areas, who are joining us online.
Dịch: Lê Trung Nghĩa

Thứ Ba, 25 tháng 10, 2016

Nghiên cứu: Các nhà quản lý không nhận thức được về sự khóa trói CNTT vào nhà cung cấp


Study: Administrations unaware of IT vendor lock-in
Submitted by Gijs Hillenius on October 24, 2016
Bài được đưa lên Internet ngày: 24/10/2016
Nhà chức trách về cạnh tranh: ‘Các tiêu chuẩn đóng thường có vấn đề’
Những người ra chính sách của nhà nước ở Thụy Điển có tầm nhìn hạn chế về cách mà dự án CNTT có thể dẫn tới sự khóa trói CNTT vào nhà cung cấp, một nghiên cứu được tiến hành cho Nhà chức trách về Cạnh tranh của Thụy Điển đã chỉ ra. “Đại đa số các dự án CNTT được các trường và các tổ chức khu vực nhà nước tiến hành tham chiếu tới các phần mềm đặc thù mà không cân nhắc tới sự khóa trói và các hậu quả tiêu cực có khả năng khác nhau”, các tác giả kết luận.
Từ quan điểm cạnh tranh nó thường có vấn đề khi kh vực nhà nước triển khai mua sắm CNTT và yêu cầu các tiêu chuẩn đóng”, Dan Sjöblom, tổng giám đốc của Cơ quan Cạnh tranh Thụy Điển viết trong phần giới thiệu của ông cho nghiên cứu. “Kết quả thường là một ít các tay chơi áp đảo hưởng lợi, trong khi những người khác thua thiệt, với rủi ro đẩy các tay chơi nhỏ hơn ra khỏi thị trường”.
Nghiên cứu cung cấp các khuyến cáo, để giúp các nhà quản lý nhà nước tránh sự khói trói vào nhà cung cấp CNTT. Ví dụ, các nhà quản lý nhà nước có thể tránh sự khóa trói bằng việc chỉ định các yêu cầu cho phần mềm không có các tham chiếu tới các công nghệ, các nhà cung cấp, các thương hiệu đặc thù và các tiêu chuẩn đóng. Hơn nữa, họ có thể thúc đẩy tính tương hợp và sự lưu giữ số dài hạn, bằng việc sử dụng chỉ các tiêu chuẩn mở và các định dạng tệp mở.
Mãnh liệt
Nghiên cứu của các nhà nghiên cứu của Đại học Skövde gồm Björn Lundell, Jonas Gamalielsson và Stefan Tengblad rà soát lại cách các yêu cầu cầu rõ ràng và ngấm ngầm về sử dụng các dạng khác nhau các tiêu chuẩn CNTT cho sự cạnh tranh CNTT. “Trọng tâm từng là về các hệ thống CNTT mà các trường học cung cấp cho các học sinh của họ”, họ viết trong tóm tắt bằng tiếng Anh của nghiên cứu.
Các nhà nghiên cứu đã chịu khó phân tích các dự án CNTT được triển khai trong các trường tiểu và trung học tự quản ở 20 thành phố, trong khoảng từ mùa hè 2015 và đầu năm 2016. Hơn nữa, họ đã nghiên cứu các tiêu chuẩn CNTT được 20 ‘cơ quan chính phủ có sử dụng tăng cường CNTT được tham chiếu tới’, hầu hết họ có liên quan trong eDelegation của Thụy Điển - một nhóm chuyên gia về Chính phủ Điện tử.
Competition Authority: ‘Closed standards often problematic’
Public policy makers in Sweden have limited insight on how IT project can lead to IT vendor lock-in, a study conducted for the Swedish Competition Authority shows. “An overwhelming majority of the IT projects conducted by schools and public sector organisations refer to specific software without considering lock-in and different possible negative consequences”, the authors conclude.
From a competition perspective it is often problematic when the public sector implements IT procurement and requires closed standards”, writes Dan Sjöblom, director general of the Swedish Competition Authority in his introduction to the study. “The result is often that a few dominant players benefit, while disadvantaging others, with the risk of pushing the smaller players out of the market.”
The study provides recommendations, to help public administrations avoid IT vendor lock-in. For example, public administrations can avoid lock-in by specifying requirements for software without making references to specific technologies, suppliers, brands and closed standards. Additionally, they can promote interoperability and long-term digital preservation, by using only open standards and open file formats.
Intense
The study by University of Skövde researchers Björn Lundell, Jonas Gamalielsson and Stefan Tengblad reviews how explicit and implicit requirements on the use of different types of IT standards impact for IT competition. “The focus has been on IT systems that schools provide to their pupils”, they write in the English summary of the study.
The researchers painstakingly analysed IT projects implemented in Swedish municipal primary and secondary schools in 20 municipalities, between the summer of 2015 and early 2016. Additionally, they studied the IT standards referenced by 20 ‘IT-intensive government agencies”, mostly those involved in Sweden’s eDelegation - an eGovernment expert group.
Dịch: Lê Trung Nghĩa

Thứ Hai, 24 tháng 10, 2016

Cơ quan bảo vệ phóng xạ Đức vượt qua được sự khóa trói

DE radiation protection agency overcomes lock-in
Submitted by Gijs Hillenius on October 12, 2016
Bài được đưa lên Internet ngày: 12/10/2016
Văn phòng Liên bang Đức về Bảo vệ Phóng xạ (Bundesamt für Strahlenschutz, BfS) đang tiến hành các bước để loại bỏ bản thân khỏi sự khóa trói vào nhà cung cấp CNTT. Trong vài năm tới, nó có kế hoạch thay thế các công cụ phân tích và báo cáo vốn dĩ sở hữu độc quyền của nó bằng các công cụ hiện đại, dựa vào nguồn mở. Hơn nữa, hệ thống mới này đang được kiểm thử, sẽ cải thiện các khả năng thông tin địa lý, và sẽ làm giảm các chi phí đáng kể.
Cơ quan bảo vệ phóng xạ đã được thành lập vào năm 1989, 2 năm sau sự cố hạt nhân thảm họa ở Chernobyl. Nhiệm vụ chính của nó là bảo vệ dân cư và môi trường khoải các mối nguy hiểm vì phóng xạ.
Để giúp ra quyết định và sinh ra các báo cáo, đơn vị chống khủng hoảng của BfS nhiều năm đã và đang sử dụng một giải pháp phần mềm được tùy biến, sở hữu độc quyền. Hệ thống Đo đạc và Tích hợp và Thông tin này (IMIS) đã cho phép BfS tạo ra ý nghĩa dữ liệu được khoảng 1800 trạm đo phóng xạ khắp đất nước sinh ra. IMIS liên tục giám sát môi trường và có khả năng dò tìm ra những thay đổi nhỏ trong hoạt động phóng xạ. Các kết quả của nó được pha trộn, đánh giá, tinh chỉnh và trình bày trong các tài liệu được sắp xếp tốt.
Tuy nhiên, IMIS đã khóa trói BfS, với việc cung ứng quản lý và phát triển trở nên ngày càng đắt giá. Đối với từng và mỗi sự thay đổi, cơ quan bị ép phải liên hệ với nhà cung cấp CNTT sở hữu độc quyền, TS. Marco Lechner, thành viên của đội các hệ thống khẩn cấp của BfS nói: “Giấy phép không cho phép chúng tôi thay đổi thậm chí một dòng lệnh duy nhất”. Đội chống khủng hoảng cũng muốn các báo cáo sử dụng đồ họa nhìn tốt hơn, và nó muốn chia sẻ dữ liệu của mình với những người hàng xóm châu Âu của mình, ở các định dạng dữ liệu mở tuân thủ chỉ thị của Inspire. Hầu hết tất cả, cơ quan này muốn điều khiển được sự phát triển và các chi phí của phần mềm.
TS. Lechner đã giới thiệu lựa chọn thay thế dựa vào nguồn mở tại Hội nghị FOSS4G ở Bonn (Đức), hôm 24/08.
Hệ thống báo cáo và ra quyết định mới kết hợp các thành phần nguồn mở chung, bao gồm PostgreSQL, PostGIS, GeoServer, và OpenLayers.
Cơ quan cũng đang huấn luyện các nhân viên của mình để giúp cho sự phát triển. “Chúng tôi muốn có khả năng chạy nước rút với mã của riêng chúng tôi, có hoặc không có các nhà thầu bên ngoài”, TS. Lechner nói, giúp giới thiệu các phương pháp phát triển phần mềm hiện đại cho cơ quan. “Là có khả năng để tiến hành tự phát triển trong tương lai cho bản thân chúng tôi - chúng tôi cần biết mã làm việc như thế nào”.
Một năm rưỡi phát triển, hệ thống mới đang cung cấp rẻ hơn nhiều, TS. Lechner nói. Cơ quan cũng đang làm cho mã nguồn được sẵn sàng công khai, chia sẻ các thành phần trên GitHub. “Chúng tôi hy vọng điều này sẽ làm cho cộng động, các cơ quan ở Đức hoặc những nơi khác đóng góp cho phần mềm”.
Nhiều thông tin hơn:
Germany's Federal Office for Radiation Protection (Bundesamt für Strahlenschutz, BfS) is taking steps to rid itself of IT vendor lock-in. Within the next few years, it plans to have replaced its legacy proprietary analysis and reporting tools by modern, open source-based tools. Moreover, the new system, which is being tested, will improve the geographic information capabilities, and will lower costs significantly.
The radiation protection agency was in set up in 1989, three years after the catastrophic nuclear accident in Chernobyl. Its main task is to protect population and environment from damages due to radiation.
To help with decision-making and with generating of reports, the BfS’ crisis unit has for years been using a customised, proprietary software solution. This ‘Integrated Measuring and Information System’ (IMIS) lets BfS make sense of the data generated by some 1800 radiation measuring stations across the country. IMIS continuously monitors the environment and is able to detect small changes in radioactivity. Its results are merged, evaluated, refined and presented in well-arranged documents.
However, IMIS has locked-in the BfS, with management and development proving to become increasingly costly. For each and every change, the agency is forced to contract the proprietary IT vendor, says Dr Marco Lechner, a member of BfS’ emergency systems team: “The licence does not allow us to change even a single line of code.” The crisis team also wants the reports to use better geographic visuals, and it wants to share its data with its European neighbours, in open data formats conform the Inspire directive. Most of all, the agency wants to get a handle on software development and costs.
Dr Lechner introduced the open source-based alternative at the FOSS4G conference in Bonn (Germany), on 24 August.
The new desicion making and reporting system combines common open source components, including PostgreSQL, PostGIS, GeoServer, and OpenLayers.
The agency is also training its staff to help with development. “We want to be able to do our own code sprint, with or without external contractors”, says Dr Lechner, helping to introduce modern software development methods to the agency. “It should be possible to do future development ourselves - we need to know how the code works.”
A year and a half into development, the new system is proving to be much cheaper, says Dr Lechner. The agency is also making the code publicly available, sharing components on GitHub. “We hope this will result in a community, agencies in Germany or elsewhere, that contribute to the software.”
More information:
Dịch: Lê Trung Nghĩa

Chủ Nhật, 23 tháng 10, 2016

HỌC ĐƯỢC GÌ TỪ CÁC CHÍNH SÁCH TRUY CẬP MỞ TRÊN THẾ GIỚI (PHẦN 1)




Lê Trung Nghĩa, letrungnghia.foss@gmail.com
Trung tâm Nghiên cứu và Phát triển Quốc gia về Công nghệ Mở,
Bộ Khoa học và Công nghệ (RDOT)

https://creativecommons.org/licenses/by-sa/4.0/
-------------------------------------------------------------------------------


A. BỐI CẢNH
Ngày 27/05/2016, Ủy ban châu Âu đã ra thông cáo báo chí [8] về việc “Tất cả các bài báo khoa học sẽ truy cập được tự do tới năm 2020”. Thông cáo báo chí còn nêu: “Truy cập mở ngụ ý rằng các xuất bản phẩm khoa học về các kết quả nghiên cứu được các khoản vốn công - tư và nhà nước hỗ trợ phải được làm cho truy cập được tự do cho tất cả mọi người”.
Đi ngược lại thời gian mấy năm về trước để tìm kiếm các chính sách có liên quan tới truy cập mở của một vài tổ chức, quốc gia để từ đó học hỏi về các khái niệm, các cách thức chuẩn bị và triển khai truy cập mở, và có lẽ quan trọng hơn, để trả lời cho câu hỏi, vì sao lại là truy cập mở, và từ đó rút ra được những bài học để có khả năng đưa ra các gợi ý cho Việt Nam, là mục đích chính của bài viết này.


B. ĐỊNH NGHĨA VỀ TRUY CẬP MỞ - OA (OPEN ACCESS)
Chính sách truy cập mở của Tổ chức Liên hiệp quốc về Giáo dục, Khoa học và Văn hóa (UNESCO) [5], đã nêu khái niệm 'truy cập công bằng' như sau:
Truy cập công bằng tới khoa học không chỉ là một yêu cầu có tính xã hội và đạo đức đối với sự phát triển của loài người, mà còn là cơ bản cho việc hiện thực hóa tiềm năng đầy đủ của các cộng đồng khoa học toàn thế giới và cho việc định hướng sự tiến bộ khoa học hướng tới việc đáp ứng các nhu cầu của loài người”.
Hội nghị Khoa học Thế giới, 1999, do UNESCO và ICSU tổ chức
Khái niệm 'truy cập mở' lần đầu tiên từng được nêu trong một tài liệu như sau:
Có nhiều mức và dạng truy cập rộng hơn và dễ dàng hơn tới tài liệu này. Bằng việc 'truy cập mở' tới tài liệu này, chúng tôi ngụ ý tính sẵn sàng tự do trên Internet công khai, cho phép bất kỳ người sử dụng nào để đọc, tải về, sao chép, phân phối, in ấn, tìm kiếm, hoặc liên kết tới toàn văn các bài báo, đi sâu vào chúng để đánh chỉ mục, truyền chúng như là các dữ liệu tới các phần mềm, hoặc sử dụng chúng vì bất kỳ mục đích hợp pháp nào khác, không có các rào cản về tài chính, pháp lý, hoặc kỹ thuật khác với những gì không thể tách rời khỏi việc giành được sự truy cập tới bản thân Internet. Ràng buộc duy nhất về tái sản xuất và phân phối, và vai trò duy nhất về bản quyền trong lĩnh vực này, nên là trao cho các tác giả sự kiểm soát đối với tính toàn vẹn của tác phẩm và quyền được hiểu và trích dẫn đúng đắn của họ.
Dù là theo định nghĩa nào, thì khái niệm truy cập mở cũng đều có nghĩa là loại bỏ mọi rào cản để bất kỳ ai cũng truy cập được tự do tới tất cả các kết quả đầu ra nghiên cứu được nhà nước cấp vốn.
Khái niệm truy cập mở khẳng định một nguyên tắc bất di bất dịch như sau:
'Nguyên tắc theo đó các kết quả nghiên cứu từng được nhà nước cấp tiền sẽ là truy cập được tự do trong phạm vi công cộng là nguyên tắc đầy sức thuyết phục, về cơ bản không cãi lại được'.
Báo cáo của nhóm Finch về 'Khả năng truy cập, tính bền vững, sự xuất sắc:
làm thế nào để mở rộng truy cập tới các xuất bản phẩm nghiên cứu' [2, trang 5 và 18]


C. CÁC DẠNG VÀ MỨC TRUY CẬP MỞ
Ngay cả trong định nghĩa đầu tiên về truy cập mở của Sáng kiến Truy cập Mở Budapest, chúng ta đã thấy có gợi ý rằng đối với một tài liệu, dù là truy cập mở, cũng có nhiều mức và dạng truy cập mở khác nhau, như được chi tiết hóa bên dưới đây.
Có 2 cơ chế, còn được gọi là 2 con đường, cho truy cập mở:
  1. Truy cập mở 'Vàng' (Gold OA): ngụ ý việc xuất bản theo cách thức cho phép truy cập tức thì tới bất kỳ ai bằng điện tử và không mất tiền. Các nhà xuất bản có thể bù đắp các chi phí của họ thông qua một số cơ chế, như thông qua các khoản thanh toán từ các tác giả được gọi là các khoản tiền xử lý bài báo - APCs (Article Processing Charges), hoặc thông qua quảng cáo, tài trợ hoặc các khoản bao cấp khác.
  2. Truy cập mở 'Xanh' (Green OA): ngụ ý việc ký gửi kết quả nghiên cứu được rà soát lại ngang hàng lần cuối vào lưu trữ điện tử được gọi là một kho. Các kho có thể được cơ sở của nhà nghiên cứu quản lý, nhưng các kho được chia sẻ hoặc theo chủ đề cũng được sử dụng chung. Sự truy cập tới kết quả nghiên cứu có thể được trao hoặc tức thì hoặc sau một khoảng thời gian cấm vận được đồng thuận.


Bên cạnh các cơ chế - con đường, còn có 2 mức truy cập mở có thể phân biệt được:
  1. Truy cập mở không mất tiền (Gratis OA): truy cập không mất tiền trên trực tuyến.
  2. Truy cập mở tự do (Libre OA): truy cập không mất tiền trên trực tuyến cộng thêm với các quyền sử dụng bổ sung khác nhau. Các quyền sử dụng bổ sung đó thường được trao qua sử dụng các giấy phép Creative Commons nhất định khác nhau. Truy cập mở tự do là tương đương với định nghĩa về truy cập mở trong Sáng kiến Truy cập Mở Budapest, Tuyên bố Bethesda về Xuất bản Truy cập Mở và Tuyên bố Berlin về Truy cập Mở tới Tri thức trong các Khoa học và Nhân văn.


D. KHÁC BIỆT GIỮA TRUY CẬP MỞ VÀ TÀI NGUYÊN GIÁO DỤC MỞ
Hiện nay chúng ta đang nói nhiều về tài nguyên giáo dục mở - OER (Open Educational Resources). Vì vậy câu hỏi thường gặp là truy cập mở (OA) và tài nguyên giáo dục mở (OER) khác nhau như thế nào? Câu trả lời có trong tài liệu 'Chỉ dẫn cơ bản về tài nguyên giáo dục mở (OER)' [10].
Xuất bản truy cập mở là khái niệm quan trọng, nó rõ ràng có liên quan tới - nhưng khác biệt với - khái niệm OER.
Wikipedia lưu ý rằng khái niệm 'truy cập mở' được áp dụng cho nhiều khái niệm, nhưng thường tham chiếu tới: (1) '(xuất bản) truy cập mở'; hoặc (2) 'truy cập tới tư liệu (chủ yếu các xuất bản phẩm hàn lâm) thông qua Internet theo một cách thức sao cho tư liệu đó là tự do cho tất cả mọi người để đọc, và sử dụng (hoặc sử dụng lại) ở các mức độ khác nhau'; hoặc (3) 'tạp chí truy cập mở, các tạp chí trao sự truy cập mở cho tất cả mọi người hoặc một phần đáng kể các bài báo của chúng'.
Xuất bản truy cập mở thường tham chiếu tới các xuất bản phẩm nghiên cứu vài dạng được phát hành theo một giấy phép mở. OER tham chiếu tới các tư liệu dạy và học được phát hành theo một giấy phép mở. Rõ ràng, đặc biệt trong giáo dục đại học, có một sự chồng lấn, khi các xuất bản phẩm nghiên cứu thường tạo thành một phần quan trọng của toàn bộ tập hợp các tư liệu mà các sinh viên cần truy cập để hoàn thành việc học tập nghiên cứu của họ một cách thành công, đặc biệt ở mức sau tốt nghiệp.
Dù vậy, sự khác biệt dường như đáng áp dụng vì nó cho phép thảo luận và lên kế hoạch có nhiều sắc thái hơn về các dạng giấy phép mở nào có thể là thích hợp nhất cho các dạng tài nguyên khác nhau.


E. CHÍNH SÁCH TRUY CẬP MỞ CỦA MỘT SỐ TỔ CHỨC
Bài viết này xem xét chính sách truy cập mở của một vài tổ chức, được nêu bên dưới.


E1. Chính sách truy cập mở của Ngân hàng Thế giới
Ngày 02/04/2012, Ngân hàng Thế giới - WB (World Bank) đã xuất bản tài liệu 'Chính sách truy cập mở của Ngân hàng Thế giới cho các xuất bản phẩm chính thức' [1].
Ngoài các nội dung quy định trách nhiệm và quyền hạn cho các nhân viên của WB và các bên đối tác khi tạo ra các xuất bản phẩm của chính sách có hiệu lực từ ngày 01/07/2012, điều đáng lưu ý nhất là chính sách đề cập tới các giấy phép Creative Commons cụ thể cho các xuất bản phẩm truy cập mở được ký gửi vào Kho Tri thức Mở của WB như sau:
  1. Giấy phép CC BY-NC-ND (Creative Commons Attribution Non-Commercial No-Derivative) là giấy phép Creative Commons “ghi công, phi thương mại, không có phái sinh” - phù hợp với truy cập mở không mất tiền (Gratis OA) - cho phép các bên thứ 3 phân phối tác phẩm không cần sự cho phép rõ ràng từ người nắm giữ bản quyền, nhưng không vì các mục đích thương mại và không xây dựng dựa vào tác phẩm đó được, miễn là bên thứ 3 thừa nhận tác phẩm đó theo cách được người cấp phép chỉ định (nhưng không theo bất kỳ cách gì gợi ý rằng người cấp phép thừa nhận cho bên thứ 3 hoặc sử dụng tác phẩm của bên thứ 3).
  2. Giấy phép CC BY (Creative Commons Attribution) là giấy phép “ghi công” của Creative Commons - phù hợp với truy cập mở tự do (Libre OA) - nó cho phép các bên thứ 3 phân phối, sử dụng lại, và xây dựng dựa vào tác phẩm đó, bao gồm cả cho các mục đích thương mại, không cần sự cho phép rõ ràng nào từ người nắm giữ bản quyền, miễn là bên thứ 3 đó thừa nhận tác phẩm theo cách được người cấp phép chỉ định (nhưng không theo bất kỳ cách gì gợi ý rằng người cấp phép thừa nhận cho bên thứ 3 hoặc sử dụng tác phẩm của bên thứ 3).
Chi tiết các khoản mục nội dung của chính sách này, xin xem tài liệu [1].


E2. Chính sách truy cập mở của UNESCO
Chính sách này được xuất bản vào ngày 31/07/2013, chi tiết xem trong tài liệu [5].
Ngoài các nội dung quy định trách nhiệm và quyền hạn cho các nhân viên của UNESCO và các bên đối tác khi tạo ra các xuất bản phẩm của chính sách có hiệu lực từ ngày 31/07/2013, một vài điều đáng lưu ý nhất là việc chính sách đó đề cập tới hệ thống các giấy phép Creative Commons dành cho các tổ chức liên chính phủ - IGO (Intergovernmental Organizations), hay còn được gọi là Creative Commons IGO, đặc biệt nhấn mạnh tới quyền sở hữu tài liệu và thời hạn cấm vận đối với việc xuất bản truy cập mở, cụ thể đối với:
  1. Bất kỳ nhân viên nào của UNESCO: các tài liệu được Ban lãnh đạo Xuất bản (Publications Board) đã phê chuẩn nó trong hoặc sau ngày 31/07/2013 sẽ được xuất bản theo giấy phép CC BY-SA, với tất cả các quyền sở hữu trí tuệ có liên quan thuộc về UNESCO.
  2. Bất kỳ người ngoài nào đối với UNESCO mà là các đồng tác giả của xuất bản phẩm với một nhân viên của UNESCO sẽ nhượng lại bản quyền cho UNESCO và tác phẩm cũng sẽ được xuất bản với giấy phép CC BY-SA.
  3. Bất kỳ xuất bản phẩm nào được một nhân viên của UNESCO sản xuất hoàn toàn và được một nhà xuất bản bên ngoài xuất bản, thì UNESCO giữ lại bản quyền của xuất bản phẩm đó. Nếu được nhà xuất bản cho phép (có thương lượng), thì giấy phép CC BY-SA sẽ được sử dụng.
  4. Các tài nguyên được các nhà xuất bản bên ngoài xuất bản mà đã nhận được vốn cấp toàn bộ hoặc một phần từ UNESCO sẽ được làm cho sẵn sàng theo một trong các giấy phép CC IGO, với giai đoạn cấm vận chấp nhận được nếu được nhà xuất bản yêu cầu nhưng không vượt quá 12 tháng. Các đối tác xuất bản bên ngoài sẽ được khuyến khích mạnh mẽ áp dụng giấy phép tự do nhất có thể.
  5. Bất kỳ tài nguyên nào khác của UNESCO được các nhà xuất bản bên ngoài xuất bản phải tuân thủ các yêu cầu của nhà xuất bản. Dù vậy, UNESCO sẽ giữ lại quyền tác giả và sự kiểm soát hoàn toàn bản quyền cho nội dung của riêng mình.
  6. Bất kỳ nội dung nào được xuất bản trước ngày 31/07/2013 và theo đó UNESCO sở hữu các quyền, được coi là theo Truy cập Mở và được phát hành trên cơ sở từng trường hợp một theo một trong 3 giấy phép sau đây: CC BY-SA, CC BY-NC-SA và CC BY-ND.
  7. Chính sách không áp dụng cho các xuất bản phẩm nơi mà UNESCO đã tham gia vào các thỏa thuận đặc biệt với các nhà tài trợ, các cơ quan hoặc các nhà xuất bản bên ngoài trước 31/07/2013.
  8. Bất kỳ tư liệu nào (như các hình ảnh, hình minh họa, đồ thị, ...) được sử dụng trong một xuất bản phẩm không được Chính sách này bao trùm, trừ phi (1) UNESCO sở hữu đầy đủ các quyền hoặc (2) sự sử dụng của nó hoàn toàn không bị hạn chế (theo giấy phép CC BY hoặc tương đương).
Có thể nói, dải các giấy phép Creative Commons được sử dụng trong chính sách truy cập mở của UNESCO là rộng hơn so với của WB. Trong khi WB của sử dụng 2 loại giấy phép là CC BY và CC BY-NC-ND, thì UNESCO đã nhắc tới 4 loại giấy phép Creative Commons trong chính sách của mình là: CC BY, CC BY-SA, CC BY-NC-SA, CC BY-ND.


E3. Chính sách về truy cập mở của RCUK
Tài liệu 'Chính sách của RCUK về truy cập mở và chỉ dẫn hỗ trợ', Hội đồng Nghiên cứu của Vương quốc Anh - RCUK (Research Councils UK), xuất bản 08/04/2013. Bản thân tiêu đề đã cho thấy tài liệu không chỉ nói về chính sách truy cập mở, mà còn về các chỉ dẫn hỗ trợ, đặc biệt khi mà RCUK là một trong các cơ quan cấp vốn chính cho nghiên cứu ở Vương quốc Anh. Tóm tắt các phần của tài liệu được nêu bên dưới. Chi tiết xin xem tài liệu số [4].
Đáng lưu ý nhất trong chính sách truy cập mở của RCUK có lẽ nằm ở một vài điều sau:
  1. Giai đoạn quá độ: RCUK nhận thức được rằng con đường hướng tới truy cập mở đầy đủ là một quá trình và không phải là một sự kiện duy nhất và vì thế nó kỳ vọng tuân thủ sự phát triển qua một giai đoạn chuyển tiếp được biết trước sẽ là 5 năm.
  2. Mục tiêu của chính sách. Các Hội đồng Nghiên cứu làm việc để đảm bảo rằng đầu tư của nhà nước vào nghiên cứu có được sự hoàn vốn tối đa về kinh tế và xã hội. Một trong những cách thức để đạt được điều này là thông qua truy cập mở. Chính sách về truy cập mở của RCUK nhằm đạt được sự truy cập tức thì, không bị hạn chế, trên trực tuyến tới các tài liệu nghiên cứu được rà soát lại ngang hàng và được xuất bản, tự do không mất tiền truy cập.
  3. Phạm vi. Chính sách này áp dụng cho các bài báo nghiên cứu được rà soát lại ngang hàng (gồm việc rà soát lại các bài báo không được các nhà xuất bản ủy quyền), thừa nhận Hội đồng Nghiên cứu cấp vốn, được đệ trình để xuất bản từ 01/04/2013, và được xuất bản trong các tạp chí hoặc các kỷ yếu hội nghị.
  4. Tất cả các tài liệu nghiên cứu được RCUK cấp vốn phải đưa vào các chi tiết cấp vốn hỗ trợ nghiên cứu và, nếu được, một tuyên bố về cách mà các tư liệu nghiên cứu nằm bên dưới - như các dữ liệu, các mẫu hoặc các mô hình - có thể được truy cập.
  5. Khoản tiền Xử lý Bài báo - APC (Article Proccessing Charges) - Từ 01/04/2013, thanh toán các APC và các khoản tiền xuất bản có liên quan tới nghiên cứu được RCUK cấp vốn được hỗ trợ thông qua các trợ cấp trọn gói truy cập mở của RCUK được cung cấp cho các tổ chức nghiên cứu hợp pháp.
  6. Giai đoạn cấm vận. RCUK sẽ chấp nhận độ trễ không lớn hơn 6 tháng giữa sự xuất bản trên trực tuyến và bản thảo cuối cùng được chấp nhận trở thành truy cập mở. Trong các tài liệu về các môn khoa học nghệ thuật, xã hội và nhân văn (chúng sẽ chủ yếu được AHRC và ESRC cấp vốn - các cơ quan cấp vốn nghiên cứu khác của Vương quốc Anh), thì giai đoạn cấm vận tối đa sẽ là 12 tháng.

Hình 2. Cây quyết định về truy cập mở và giai đoạn cấm vận của RCUK


  1. Trong triển khai và tuân thủ, RCUK sẽ cho phép vài sự mềm dẻo trong triển khai chính sách của mình, bao gồm việc xem xét độ dài các giai đoạn cấm vận, trong giai đoạn quá độ. Một rà soát lại triển khai dựa vào bằng chứng sẽ có vào năm 2014. Các rà soát lại tiếp sau sẽ diễn ra định kỳ (có thể trong 2016 và 2018).
  2. Trong giai đoạn chuyển đổi quá độ hướng tới truy cập mở đầy đủ, RCUK sử dụng cây quyết định như trên Hình 2 cho nghiên cứu được cấp vốn nhà nước, được Hiệp hội các Nhà xuất bản tạo ra. Khi sử dụng cây quyết định, nên được lưu ý rằng dù ưu tiên của RCUK là cho sự truy cập mở tức thì RCUK vẫn cho phép tiếp cận pha trộn về truy cập mở, và quyết định con đường nào đi theo - vàng hay xanh - là tùy vào ý muốn của các nhà nghiên cứu và các tổ chức nghiên cứu của họ.
  3. Về các giấy phép. Chính sách truy cập mở của RCUK cũng sử dụng hệ thống giấy phép Creavite Commons, dù không nêu cụ thể giấy phép nào, và đặc biệt có quan tâm tới giấy phép CC BY và có ý định phân tích chi tiết giấy phép này ở phiên bản sau của chính sách.
  4. Quan điểm của RCUK về các kho. Đặc biệt chú trọng tới dự án về Tính tương hợp của Kho - RIOxx (Repository Interoperability) và các Từ vựng cho Truy cập Mở - V4OA (Vocabularies For Open Access) để phát triển tiêu chuẩn siêu dữ liệu kho của Vương quốc Anh, và kỳ vọng điều này sẽ sẵn sàng để áp dụng cho các kho của Vương quốc Anh từ tháng 7/2013 trở đi.
  5. Quan điểm của RCUK về rà soát lại ngang hàng. Rà soát lại ngang hàng là phần sống còn của quy trình đảm bảo chất lượng cho nghiên cứu, và RCUK muốn đảm bảo rằng tất cả những người sử dụng có sự truy cập tới các tài liệu nghiên cứu đã được rà soát lại ngang hàng.


E4. Chính sách truy cập mở theo Khung Xuất sắc Nghiên cứu sau 2014 của HEFCE
Hội đồng Cấp vốn cho Giáo dục Đại học cho nước Anh - HEFCE (Higher Education Funding Council for England) đã xuất bản tài liệu 'Chính sách truy cập mở theo Khung Xuất sắc Nghiên cứu sau năm 2014' vào ngày 03/07/2014 và tài liệu được cập nhật vào tháng 07/2015. Một vài điểm nổi bật của chính sách được nêu bên dưới. Xem chi tiết chính sách trong tài liệu [6].
  1. Mục đích của tài liệu. Tài liệu này đưa ra các chi tiết yêu cầu rằng các kết quả đầu ra nghiên cứu nhất định sẽ được làm thành truy cập mở để hợp pháp đệ trình cho Khung Xuất sắc Nghiên cứu - REF (Research Excellence Framework) tiếp theo. Yêu cầu này sẽ áp dụng cho các bài báo trên tạp chí và các kỷ yếu hội nghị được chấp nhận để xuất bản sau ngày 01/04/2016.
  2. Tóm tắt các điểm chính.
    1. Chính sách nêu rằng, để hợp pháp đệ trình cho REF sau 2014, các kết quả đầu ra của các tác giả phải được ký gửi vào một kho theo chủ đề hoặc của cơ sở. Tư liệu được ký gửi sẽ có khả năng phát hiện được, và tự do để đọc và tải về, cho bất kỳ ai có kết nối Internet. Yêu cầu này chỉ áp dụng cho các bài báo trên tạp chí và các kỷ yếu hội nghị với với Số Seri Tiêu chuẩn Quốc tế - ISSN (International Standard Serial Number). Nó sẽ không áp dụng cho các chuyên khảo, các chương sách, các xuất bản phẩm dạng dài khác, các tài liệu làm việc, các kết quả đầu ra, hoặc các dữ liệu nghiên cứu dựa vào thực hành hoặc có tính sáng tạo. Chính sách áp dụng cho các kết quả đầu ra nghiên cứu được chấp nhận để xuất bản sau ngày 01/04/2016, nhưng HEFCE có thể thúc giục mạnh mẽ các cơ sở triển khai nó ngay bây giờ.
    2. Chính sách cho phép các kho tôn trọng các giai đoạn cấm vận được các nhà xuất bản đặt ra. Ở những nơi nhà xuất bản chỉ định giai đoạn cấm vận, các tác giả có thể tuân thủ với chính sách bằng việc tiến hành ký gửi 'đóng' ('closed' deposit). Các ký gửi đóng phải có khả năng phát hiện được đối với bất kỳ ai có kết nối Internet trước khi văn bản toàn văn trở nên sẵn sàng để đọc và tải về (điều sẽ xảy ra sau khi giai đoạn cấm vận hết hạn). Nếu vẫn còn cấm vận trong ngày đệ trình REF tiếp theo, thì các ký gửi đóng sẽ được chấp nhận cho REF đó.
    3. Có một số ngoại lệ cho các yêu cầu khác nhau sẽ được chính sách này cho phép. Các ngoại lệ đó bao trùm các trường hợp nơi mà sự ký gửi từng không có khả năng, hoặc những nơi mà truy cập mở tới tư liệu được ký gửi có thể không đạt được theo các yêu cầu của chính sách.
  3. Hành động được yêu cầu. Các cơ sở giáo dục đại học bây giờ được khuyến cáo triển khai các quy trình và thủ tục tuân thủ với chính sách này, điều có thể bao gồm việc sử dụng sự kết hợp các con đường 'xanh' và 'vàng' cho truy cập mở. Các cơ sở có thể đạt được sự tuân thủ đầy đủ mà không nảy sinh ra bất kỳ chi phí xuất bản bổ sung thêm nào thông qua các khoản chi phí xử lý bài báo (APC).
  4. Các tiêu chí cho truy cập mở trong chính sách này gồm 3 loại yêu cầu rất quan trọng và rất hữu ích để học hỏi: các yêu cầu ký gửi, các yêu cầu phát hiện và các yêu cầu truy cập. Xem chi tiết các yêu cầu này trong tài liệu [6, từ trang 6 tới trang 8].
  5. Về giấy phép. Chính sách này cũng sử dụng hệ thống giấy phép Creative Commons.


E5. Chính sách truy cập mở của LSE
Trường kinh tế và Khoa học Chính trị Luân Đôn - LSE (London School of Economics and Political Science) đã ban hành chính sách truy cập mở, có hiệu lực từ 01/01/2015. Chi tiết xem trong tài liệu [7].
Chính sách này, trước hết, là để tuân thủ các chính sách truy cập mở của các cơ quan cấp vốn nghiên cứu cho LSE được nêu ở bên trên như HEFCE và RCUK.
Chính sách này dành cho các nhân viên hàn lâm và nghiên cứu và các sinh viên của LSE, tối thiểu, phải tuân theo con đường truy cập mở 'Xanh' đối với các kết quả nghiên cứu được xuất bản và ký gửi vào kho cơ sở trên trực tuyến - LSERO (LSE Research Online) và các tác giả nghiên cứu phải thừa nhận nguồn vốn cấp cho nghiên cứu theo đó các xuất bản phẩm được dựa vào và một tuyên bố về các tư liệu nghiên cứu nằm bên dưới, như các ví dụ hoặc các mô hình dữ liệu, làm thế nào có thể truy cập được.
Hình 3. Tuân thủ từng bước với chính sách OA của HEFCE cho REF tiếp sau