Thứ Sáu, 27 tháng 9, 2024

Để AI được an toàn, minh bạch, có trách nhiệm và ‘nhân tính’ hơn


Lê Trung Nghĩa, ORCID iD: https://orcid.org/0009-0007-7683-7703

Viện Nghiên cứu, Đào tạo và Phát triển Tài nguyên Giáo dục Mở - InOER (Institute for Research, Training and Development of Open Educational Resources),

Hiệp hội các trường đại học cao đẳng Việt Nam (AVU&C)


Giấy phép nội dung: CC BY 4.0 Quốc tế.


***


Tóm tắt
: “Không có dữ liệu, không có AI”. AI lấy dữ liệu làm trung tâm (Data-centric AI) với trọng tâm nhằm vào cơ sở hạ tầng dữ liệu của AI - bao gồm các tập dữ liệu, các công cụ, tiêu chuẩn, thực hành, và cộng đồng - đang ngày càng trở nên quan trọng hơn bao giờ hết đối với việc phát triển và ứng dụng AI khắp trên thế giới. Tuy nhiên, hiện đang có nhiều vấn đề liên quan đến dữ liệu, cả kỹ thuật và phi kỹ thuật, cần phải được giải quyết để AI được an toàn, minh bạch, có trách nhiệm và ‘nhân tính’ hơn. Có thể tham khảo 5 khuyến nghị của Viện Dữ liệu Mở (ODI) trong việc giải quyết vấn đề này.

Từ khóa: AI, trí tuệ nhân tạo, dữ liệu, quyền, sở hữu trí tuệ

***

Thế giới Trí tuệ nhân tạo AI - (Artificial Intelligence) từ lâu đã có câu thần chú Không có dữ liệu, không có AI”[1]. Với Viện Dữ liệu Mở - ODI (Open Data Institute), một tổ chức phi lợi nhuận có trụ sở tại Vương quốc Anh, cam kết thúc đẩy và cải thiện lòng tin vào dữ liệu, bao gồm cả dữ liệu mở, dữ liệu chia sẻ, và dữ liệu đóng, thì câu thần chú này tham chiếu tới cơ sở hạ tầng dữ liệu AI, bao gồm các tập dữ liệu, các công cụ, tiêu chuẩn, thực hành, và cộng đồng.

Trong sơ đồ trừu tượng vòng đời AI như được minh họa trên Hình 1, nhiều phần tập trung vào dữ liệu! Dữ liệu là nền tảng cho các mô hình AI. Dữ liệu cung cấp thông tin mà một mô hình máy học được đào tạo và học từ đó. Dữ liệu được thu thập, xử lý, giám tuyển, tổng hợp và sau đó được sử dụng trong mô hình. Dữ liệu được sử dụng để kiểm thử và kiểm chuẩn sự thành công của mô hình. Và dữ liệu được nhập vào để sử dụng sau khi mô hình đi vào hoạt động.

Việc xây dựng một hệ thống AI thường liên quan đến việc xác định nguồn cho lượng lớn dữ liệu và việc tạo lập các tập dữ liệu cho đào tạo, kiểm thử, thẩm định, và triển khai. Quá trình này là lặp đi lặp lại theo đó nó có thể đòi hỏi vài vòng đào tạo, kiểm thử và đánh giá cho tới khi kết quả mong muốn đạt được và dữ liệu đóng vai trò quan trọng trong từng bước.

Điều này giải thích vì sao AI lấy dữ liệu làm trung tâm (Data-centric AI) với trọng tâm nhằm vào cơ sở hạ tầng dữ liệu của AI - bao gồm các tập dữ liệu, các công cụ, tiêu chuẩn, thực hành, và cộng đồng - đang ngày càng trở nên quan trọng hơn bao giờ hết đối với việc phát triển và ứng dụng AI khắp trên thế giới.

Mặt khác, điều này cũng đặt ra một loạt các vấn đề cho các quốc gia/tổ chức muốn hướng đến việc ứng dụng và phát triển AI an toàn, minh bạch và có trách nhiệm hơn.

Hình 1. Vòng đời trí tuệ nhân tạo: Từ khái niệm hóa tới sản xuất – ScienceDirect”, với ML là viết tắt của Machine Learning - Máy học

1. Minh bạch xung quanh dữ liệu được sử dụng để đào tạo các mô hình AI[2]

Hầu hết các hãng AI hàng đầu đã từ chối mở ra các chi tiết về dữ liệu họ đã sử dụng để đào tạo và kiểm thử các mô hình AI. Chỉ số Minh bạch Mô hình của Quỹ Stanford (Stanford Foundation Model Transparency index) đánh giá các mô hình nền tảng chủ chốt cung cấp xương sống của nhiều công cụ và dịch vụ AI, đã chứng minh rằng minh bạch liên quan đến dữ liệu được sử dụng là rất thấp so với các khía cạnh minh bạch khác. Trong tài liệu được xuất bản khi khởi xướng mô hình GPT-4 của nó, OpenAI đã nêu rằng nó sẽ không chia sẻ thông tin chi tiết về ‘việc xây dựng tập dữ liệu’ và các khía cạnh khác của sự phát triển mô hình đó vì ‘bối cảnh cạnh tranh và ý nghĩa an toàn của các mô hình phạm vi rộng’ - một quyết định đã bị chỉ trích dữ dội bởi một số nhà nghiên cứu hàng đầu.

Dữ liệu nào được sử dụng để xây dựng các hệ thống AI là quan trọng; nhưng mức độ hiểu biết của những người phát triển, triển khai và sử dụng hệ thống AI về các thành kiến, hạn chế và nghĩa vụ pháp lý liên quan đến việc sử dụng dữ liệu này cũng quan trọng không kém để đảm bảo hệ thống được triển khai một cách có trách nhiệm. Xa hơn nữa, người dùng hệ thống AI và những người bị ảnh hưởng bởi việc sử dụng chúng có nhiều khả năng tin tưởng chúng hơn nếu họ hiểu cách chúng được phát triển. Về lý thuyết, nếu hệ thống được giải thích đúng, 'người dùng sẽ biết khi nào nên tin tưởng vào dự đoán của hệ thống và khi nào nên áp dụng phán đoán của riêng họ'.

Trong một cuộc điều tra của mình, Washington Post đã kết luận rằng 'nhiều công ty không ghi lại thành tài liệu nội dung dữ liệu đào tạo của họ - ngay cả trong nội bộ - vì sợ tìm thấy thông tin cá nhân có thể nhận dạng được và/hoặc tài liệu có bản quyền và dữ liệu khác bị lấy mà không có sự đồng ý'.

nhà nghiên cứu ví điều này như 'điều khiển một máy bay thương mại chở đầy nhiên liệu thí điểm chưa được thử nghiệm là hành vi cẩu thả. Các quy tắc yêu cầu các hãng hàng không cho chúng ta biết những gì có trong bình nhiên liệu không cản trở sự đổi mới. Ngay cả việc triển khai các mô hình trong phạm vi công cộng mà không có sự giám sát cũng là hành vi cẩu thả'.

2. Điều chỉnh chế độ sở hữu trí tuệ để các mô hình AI được đào tạo công bằng[3]

Các công ty AI đưa ra các lập luận khác nhau về lý do tại sao việc thu thập dữ liệu để đào tạo AI nên được phép. Tuy nhiên, nhiều người đã không đồng tình với việc này.

Một số chủ sở hữu bản quyền lớn đã đưa các công ty AI ra tòa vì cách họ đào tạo mô hình của mình, một số yêu cầu bồi thường thiệt hại tài chính đáng kể hoặc thậm chí là phá hủy chúng. Ví dụ, Getty Images kiện Stability AI vì cáo buộc đào tạo mô hình AI của trên hơn 12 triệu bức ảnh mà không được phép hay đền bù. Vào tháng 7 năm 2023, tác giả Sarah Silverman đã kiện OpenAI vì sử dụng tập dữ liệu Books3 bao gồm các tác phẩm viết của hàng nghìn tác giả. Cùng thời điểm đó, một bức thư được hơn 8.000 tác giả ký tên lập luận rằng ‘hàng triệu cuốn sách, bài báo, tiểu luận và thơ có bản quyền cung cấp 'thức ăn' cho các hệ thống AI, những bữa ăn vô tận mà không có hóa đơn thanh toán nào". Một cuộc khảo sát do Hiệp hội tác giả thực hiện cho thấy 90% các nhà văn tin rằng họ nên được đền bù nếu tác phẩm của họ được sử dụng để đào tạo các mô hình AI.

Việc đào tạo các mô hình dựa trên nội dung của web đã gây ra rạn nứt ngay cả trong các cộng đồng có ý định để các tác phẩm của họ được tiêu thụ rộng rãi. Trong năm 2023, nhiều diễn đàn lớn nhất của Reddit đã bị làm cho 'tối đen' để phản đối các kế hoạch của nền tảng này nhằm cho phép các nhà phát triển AI truy cập vào khối lượng lớn các thảo luận trên diễn đàn mà họ đã đóng vai trò quan trọng trong việc tạo ra chúng. Những người đóng góp cho Stack Overflow, một diễn đàn Internet dành cho các nhà phát triển, đã bị cấm khỏi trang web này sau khi họ xóa nội dung của mình để ngăn chặn việc sử dụng nội dung đó để đào tạo ChatGPT.”

Để chúng ta không bước vào "mùa đông dữ liệu" (Data Winter), cải cách chế độ sở hữu trí tuệ là chìa khóa để mang lại lợi ích của hệ sinh thái dữ liệu AI cho tất cả mọi người. Có nhà nghiên cứu cho rằng, "nếu bạn muốn Mô hình Ngôn ngữ Lớn - LLM (Large Language Model) có giá trị lâu dài, bạn cần phải có một hệ thống xã hội đi kèm, trong đó con người tiếp tục sản xuất kiến thức, nghệ thuật và thông tin khiến chúng trở nên có giá trị. Các hệ thống sở hữu trí tuệ không có động lực để sản xuất kiến thức có giá trị của con người sẽ khiến LLM ngày càng trở nên vô giá trị theo thời gian".

Chúng ta thực sự cần một chế độ sở hữu trí tuệ cân bằng giữa lợi ích mà AI mang lại và lợi ích của tất cả các bên tạo ra dữ liệu để nuôi dưỡng các mô hình AI phát triển. Nội dung ngay bên dưới đây nói lên điều này.

Đề xuất từ xã hội dân sự, giới công nghiệp và các tác nhân phi chính phủ khác

Ở một mức độ nào đó, thị trường đang bắt đầu phản ứng. Những người nắm giữ bản quyền lớn - bao gồm các hãng tin tức, hãng thu âm, hãng phim - đã có động thái thực hiện các thỏa thuận cấp phép với các công ty AI. Riêng OpenAI đã ký các thỏa thuận với Associated Press, ShutterstockAxel Springer. Thỏa thuận của Google với Reddit để truy cập vào dữ liệu diễn đàn của mình được cho là trị giá 60 triệu đô la mỗi năm. Các nhà phát triển mô hình KL3M đưa ra một điểm bán hàng để thể hiện là nó được đào tạo trên 'một tập dữ liệu đào tạo được giám tuyển gồm các tài liệu pháp lý, tài chính và quy định', dành cho các khách hàng 'không muốn bị lôi kéo vào các vụ kiện về sở hữu trí tuệ như OpenAI, Stability AI và những công ty khác đã từng bị'. Fairly Trained là một tổ chức phi lợi nhuận mới được thành lập để chứng nhận rằng các công ty AI đã đào tạo các mô hình của họ dựa trên nội dung được cấp phép.

Nhưng rốt cuộc ai sẽ hưởng lợi từ một hệ sinh thái AI phụ thuộc vào việc cấp phép tốn tiền? Đã ý kiến cho rằng 'nếu chúng ta kết thúc trong một hệ thống mà bạn chỉ có thể đào tạo các mô hình AI tốt dựa trên dữ liệu được cấp phép tốn tiền, thì sẽ có nguy cơ có sự tập trung quyền lực rất lớn. Có thể không phải người dùng, nghệ sĩ hoặc người sáng tạo nội dung sẽ được hưởng lợi từ điều này mà là các công ty lớn và hãng phim Hollywood sẽ giao dịch quyền của họ và không phân phối lại'. Theo Sáng kiến Nguồn Mở, một hệ sinh thái AI phụ thuộc quá nhiều vào việc cấp phép có thể trở nên kém đa dạng và cạnh tranh hơn, vì các công ty nhỏ và các học giả không có đủ khả năng tài chính để ra tòa hoặc ký kết các thỏa thuận song phương để cấp phép cho dữ liệu.

Ngoài ra còn có các nỗ lực mới nhằm tạo ra các cơ chế cho những người nắm giữ quyền nhỏ hơn, cá nhân riêng lẻ kiểm soát cách sử dụng các tác phẩm của họ. Đôi khi được mô tả là 'các mức đồng ý cho AI' hoặc 'dấu hiệu ưu tiên', chúng bao gồm các giao thức xuất bản web mới (ví dụ: Giao thức Đặt chỗ Khai thác Dữ liệu và Văn bản của W3C), các công cụ kỹ thuật (ví dụ: Nightshade[4]) và giấy phép dữ liệu (ví dụ: Giấy phép Dữ liệu Mở Chung, [Open Data Commons Licences]).

3. Đảm bảo quyền của tất cả mọi người trong chuỗi cung ứng dữ liệu[5]

Có sự tham gia đáng kể của con người đằng sau dữ liệu được sử dụng để đào tạo các mô hình AI nền tảng. Con người thực hiện các nhiệm vụ mà các mô hình máy tính khó có thể sao chép, chẳng hạn như thu thập dữ liệu, lọc và kiểm duyệt dữ liệu và dán nhãn dữ liệu.

Thị trường toàn cầu cho loại công việc dữ liệu này được định giá 2 tỷ đô la vào năm 2022 và dự kiến sẽ tăng lên 17 tỷ đô la vào năm 2030. Hầu hết công việc này ở dạng 'nhiệm vụ nhỏ', được thực hiện ở các quốc gia có thu nhập thấp và trung bình.

Có một số rủi ro đối với điều kiện lao động và quyền trong chuỗi cung ứng dữ liệu này.

Đầu tiên, những người lao động làm việc với dữ liệu có thể tiếp xúc với những hình ảnh gây khó chịu và ngôn ngữ bạo lực mà không nhận được bất kỳ cảnh báo nào, điều cho thấy AI có thể là mối đe dọa đối với người lao động làm việc với nó.

Người lao động cũng có quyền được hưởng mức sống và an sinh xã hội. Tuy nhiên, một cuộc điều tra của tạp chí Time năm 2023 phát hiện ra rằng những người lao động AI ở Kenya được trả lương chưa đến 2 đô la một giờđược phân loại là nhà thầu độc lập, không có các biện pháp bảo vệ an sinh xã hội như bảo hiểm y tế, đóng góp lương hưu và nghỉ phép có lương. Cũng có những cáo buộc về việc phá vỡ công đoànsa thải hàng loạt sau cuộc đình công năm 2019. Tình trạng bấp bênh này - kết hợp với việc kiểm duyệt nội dung một cách cực đoan - đã dẫn đến một cuộc khủng hoảng sức khỏe tinh thần trong số một số nhân viên dữ liệu Kenya. Một cuộc điều tra khác về các công ty làm chú thích dữ liệu đã mô tả một hệ thống mà biên lợi nhuận cao được ưu tiên hơn quyền và sự an toàn của người lao động. Các cuộc điều tra khác đã phát hiện ra rằng công việc dán nhãn dữ liệu được thực hiện bởi những người chưa thành niên.

Những người lao động làm việc với dữ liệu có xu hướng có quyền truy cập hạn chế tới các biện pháp khắc phục và giải quyết khiếu nại hiệu quả. Trong một số trường hợp, các công ty vẫn ẩn danh, biến mất và xuất hiện trở lại thường xuyên, khiến việc theo dõi và ngăn chặn những kẻ xấu trở nên vô cùng khó khăn. Một báo cáo của Aapti cho UNDP đã mô tả cách người lao động có thể bị phạt và bị loại khỏi hệ thống sau khi xếp hạng thấp hơn.

Những rủi ro này đối với quyền lao động có liên quan đến bất kỳ tổ chức nào của các quốc gia phát triển - ví dụ như Vương quốc Anh - khi sử dụng các mô hình AI đã được đào tạo ở nơi khác. Nhưng do sự thiếu minh bạch xung quanh dữ liệu được sử dụng để đào tạo nhiều mô hình AI phổ biến, các tổ chức thậm chí có thể không nhận thức được mức độ phụ thuộc của họ vào lực lượng lao động này.

Theo quan điểm bảo vệ dữ liệu, các mô hình AI nền tảng có nguy cơ mở rộng khoảng trống thực thi bảo vệ dữ liệu, theo đó, tính nghiêm ngặt của các quy định xung quanh dữ liệu cá nhân, trên giấy tờ, không phù hợp với hoạt động của các tổ chức trong thế giới thực. Ví dụ, các mô hình AI nền tảng được đào tạo bằng cách sử dụng lượng lớn dữ liệu được thu thập từ khắp web, với nhiều nhà phát triển mô hình dường như nghĩ rằng bất kỳ dữ liệu công khai nào cũng là trò chơi công bằng. Kết quả là, mười hai cơ quan bảo vệ dữ liệu quốc gia, bao gồm Văn phòng Ủy viên thông tin của Vương quốc Anh, đã xuất bản một tuyên bố chung để làm rõ rằng việc thu thập hàng loạt thông tin cá nhân từ web để đào tạo AI có thể cấu thành hành vi vi phạm dữ liệu có thể báo cáo ở nhiều quyền tài phán.

Nhiều công ty hiện cũng đang thay đổi các điều khoản dịch vụ của họ để cho phép họ sử dụng dữ liệu do người dùng tạo ra để đào tạo các mô hình AI mới. Meta gần đây đã công bố những thay đổi đối với chính sách về quyền riêng tư của mình, tin rằng họ có lợi ích hợp pháp để phủ nhận quyền bảo vệ dữ liệu của người dùng để phát triển 'công nghệ trí tuệ nhân tạo'. Đã có nhà hoạt động bảo vệ dữ liệu và luật sư chỉ trích những thay đổi này vì sự mơ hồ của chúng và cho biết rằng 'điều này rõ ràng là trái ngược với việc tuân thủ [bảo vệ dữ liệu]'.

Tài liệu của ODI xuất bản năm 2024 với tiêu đề: ‘Xây dựng tương lai tốt hơn với dữ liệu và AI: sách trắng’[6] nêu một vài ví dụ nổi bật về việc phát triển AI vi phạm các quyền: Vào tháng 3/2023, cơ quan bảo vệ dữ liệu của Ý đã tạm thời đình chỉ ChatGPT vì lo ngại về việc xử lý dữ liệu cá nhân để đào tạo hệ thống. Tại nước Mỹ, một vụ kiện ở California tuyên bố rằng các mô hình nền tảng của OpenAI đã được đào tạo bất hợp pháp về "các cuộc trò chuyện riêng tư, dữ liệu y tế và thông tin về trẻ em". Hơn nữa, các nhà nghiên cứu đã chỉ ra rằng mô hình đào tạo của ChatGPT có thể khiến cho nó làm "rò rỉ" dữ liệu, chẳng hạn như địa chỉ thư điện tử và số điện thoại thực, bằng cách sử dụng các lời nhắc cụ thể.

Để giải quyết vấn đề dữ liệu có liên quan đến quyền riêng tư trong bối cảnh Nghị định Bảo vệ dữ liệu cá nhân của Việt Nam đã được ban hành ngày 17/04/2023 và đã có hiệu lực thi hành từ 01/07/2023, bên cạnh nhiều hoạt động khác, có thể cần xây dựng một Khung ra quyết định ẩn danh[7].

4. Đảm bảo quyền truy cập rộng tới dữ liệu để đào tạo các mô hình AI[8]

Theo truyền thống, máy học dựa vào các tập dữ liệu được tạo thủ công, thường là kịp thời để tạo ra hoặc khi khó tìm nguồn. Khi quy mô và nhu cầu về dữ liệu tăng lên, đã có sự chuyển dịch sang thu thập lượng lớn dữ liệu từ web và dựa nhiều hơn vào những người làm việc trong cộng đồng để tinh chỉnh và nhắc. Đối với thời đại hiện tại của các mô hình nền tảng - các tập dữ liệu được thu thập từ web như CommonCrawl và LAION cùng với quyền truy cập vào dữ liệu nền tảng công khai từ Wikipedia, Reddit và StackOverflow đã đóng vai trò trung tâm. Quyền truy cập mở và rộng rãi vào dữ liệu có thể được sử dụng cho AI là điều quan trọng nhằm đảm bảo một hệ sinh thái đa dạng và cạnh tranh của các nhà phát triển AI. Một nhà nghiên cứu nhấn mạnh rằng việc bảo vệ nguồn mở là rất quan trọng đối với hệ sinh thái AI để cho phép các công ty khởi nghiệp sáng tạo tham gia thị trường.

Tuy nhiên, đối với AI nền tảng, ngày càng có nhiều rào cản về quyền truy cập mở và rộng rãi tới dữ liệu công khai.

Việc truy cập vào các tập dữ liệu quy mô lớn đang ngày càng trở nên đắt đỏ, với chi phí dự kiến sẽ tăng vọt khi nhu cầu tiếp tục tăng. Một phần là do tính hữu ích của các tập dữ liệu liên quan nhiều hơn đến chất lượng, thay vì số lượng/quy mô và do đó phụ thuộc rất nhiều vào sự giám tuyển của con người. Một số nhà xuất bản web cũng bắt đầu hạn chế quyền truy cập tới dữ liệu, với gần 14% các trang web phổ biến nhất chặn bot của Common Crawl - thường là để bảo vệ sở hữu trí tuệ và có khả năng là để đạt được các thỏa thuận riêng tư sinh lợi trực tiếp với các công ty AI. Việc đóng dữ liệu này có lợi cho các tổ chức lớn vốn đã có kho dữ liệu, có đủ khả năng tài chính để ra tòa và có thể tham gia vào các thỏa thuận song phương để cấp phép dữ liệu. Các đối thủ cạnh tranh nhỏ và học giả không thể tiếp cận các chiến lược này. Do đó, làn sóng Mô hình Ngôn ngữ Lớn - LLM (Large Language Models) tiếp theo có nguy cơ được các công ty tư nhân xây dựng dựa trên các tập dữ liệu đóng. Ngoài ra, việc theo dõi hiệu suất của các mô hình nền tảng vẫn còn nhiều thách thức do thiếu dữ liệu và chuẩn mực có thể truy cập công khai.

Các tổ chức nguồn mở có vai trò quan trọng trong việc hỗ trợ hệ sinh thái chống lại việc đóng lại dữ liệu. Ví dụ, Clement Delangue, CEO của Hugging Face, đã làm chứng trước Quốc hội Mỹ về nhu cầu "tính mở về mặt đạo đức" trong phát triển AI, điều này sẽ cho phép các nhà nghiên cứu ngoài một vài công ty công nghệ lớn tiếp cận công nghệ. Việc sử dụng lại dữ liệu là rất quan trọng để bảo tồn các tập dữ liệu được truy cập rộng rãi, vì "việc làm cho một tập dữ liệu sẵn sàng cho hoạt động nghiên cứu và phát triển hơn nữa có thể giúp cập nhật dữ liệu vì các nhà nghiên cứu/nhà phát triển khác có thể đóng góp dữ liệu mới".

5. Trao quyền cho mọi người trong việc chia sẻ và sử dụng dữ liệu cho AI[9]

Việc đạt được các lợi ích kinh tế và xã hội của AI phụ thuộc rất nhiều vào việc tin tưởng vào công nghệ. Đã có nhiều lời kêu gọi rộng rãi về việc tham gia nhiều hơn vào AI như một phương tiện để xây dựng các giải pháp đáng tin cậy bằng thiết kế thay vì cố gắng giành được lòng tin đó sau đó. Các mô hình nền tảng là một bước thay đổi so với các loại AI trước đó về hiệu suất, rủi ro và tác động - do đó, các cuộc thảo luận về thời điểm khi nào và cách sử dụng AI như thế nào cần phải tận dụng chuyên môn và ý kiến của nhiều người và cộng đồng hơn.

AI và dữ liệu có mối liên hệ chặt chẽ với nhau – không có dữ liệu thì không có AI. Việc tiếp cận lượng lớn dữ liệu đã trở nên vô cùng quan trọng đối với với sự phát triển của AI - phần lớn dữ liệu này do công chúng tạo ra và bao gồm nội dung do người dùng tạo ra được thu thập từ Internet.

Hiện tại, các công ty AI đang tìm cách tiếp cận các tập dữ liệu lớn - đặc biệt có giá trị là dữ liệu từ các cộng đồng trực tuyến vì chúng được giám tuyển chặt chẽ và do đó có chất lượng tốt hơn hầu hết nội dung trên Internet. Một số công ty đang cấp phép và cung cấp dữ liệu này để tạo doanh thu, nhưng đã gặp phải sự phản đối từ những người đóng góp. Ví dụ, cộng đồng Reddit đã tham gia vào các cuộc đình công và sau đó đóng cửa các subreddit trên nền tảng mà đang bán dữ liệu của họ cho các công ty AI. Reddit sau đó đã tiếp quản một số subreddit và ký kết các thỏa thuận với Google và OpenAI. DeviantArt đã phải đảo ngược quyết định của nó sử dụng tác phẩm của các nghệ sĩ để đào tạo các mô hình AI theo mặc định; thay vào đó, người dùng hiện có thể chủ động đồng ý với việc sử dụng như vậy. StackOverflow đã đi xa đến mức chặn những người dùng đã xóa các đóng góp của họ để phản đối việc bán dữ liệu của họ cho OpenAI. Rõ ràng, việc xóa dữ liệu này có thể gây ra tác động dây chuyền đến các công ty AI cần dữ liệu đó.

Chúng ta cần vượt ra ngoài sự minh bạch và trách nhiệm giải trình để hướng đến một thế giới mà mọi người có thể tham gia một cách có ý nghĩa vào cách làm thế nào để dữ liệu được chính phủ, ngành công nghiệp và nhiều bên khác sử dụng. Việc trao quyền cho mọi người và các cộng đồng trong bối cảnh AI có nghĩa là cho phép họ định hình cách các thuật toán và dữ liệu cơ bản được thiết kế, triển khai và sử dụng như thế nào để mang lại lợi ích cho xã hội, môi trường và nền kinh tế.

Lời kết

Tất cả 5 vấn đề nêu trên là tóm tắt nội dung từ 5 khuyến nghị của ODI để có các can thiệp chính sách từ chính phủ Vương quốc Anh vào các tháng 6 và 7/2024, được nêu trong tài liệu ‘Xây dựng tương lai tốt hơn với dữ liệu và AI: sách trắng’, cụ thể:

  1. Đảm bảo quyền truy cập rộng rãi vào dữ liệu chất lượng cao, được quản trị tốt từ khu vực công và tư để thúc đẩy thị trường AI đa dạng và cạnh tranh;

  2. Thực thi bảo vệ dữ liệuquyền lao động trong chuỗi cung ứng dữ liệu;

  3. Trao quyền cho mọi người có tiếng nói nhiều hơn trong việc chia sẻ và sử dụng dữ liệu cho AI;

  4. Cập nhật chế độ sở hữu trí tuệ để đảm bảo các mô hình AI được đào tạo theo cách ưu tiên sự tin tưởng và trao quyền cho các bên liên quan;

  5. Tăng tính minh bạch xung quanh dữ liệu được sử dụng để đào tạo các mô hình AI có rủi ro cao.

Đồng điệu với những khuyến nghị của ODI cho chính phủ Vương quốc Anh là sáng kiến của nước Mỹ thúc đẩy sử dụng an toàn và có trách nhiệm trí tuệ nhân tạo (AI)[10] đã được Phó Tổng thống Kamala Haris công bố nhân chuyến thăm Vương quốc Anh và tham dự Hội nghị thượng đỉnh Toàn cầu về An toàn AI đầu tháng 11/2023, bên cạnh Khung quản lý rủi ro AI phiên bản 1.0 (AI RMF 1.0[11]) đã được Viện Tiêu chuẩn và Công nghệ Quốc gia Mỹ (NIST) công bố vào tháng 1/2023[12].

Hy vọng các khuyến nghị mà ODI đưa ra cho chính phủ Vương quốc Anh cũng như danh sách các rủi ro AI cần được quản lý như được liệt kê trong AI RMF của nước Mỹ cũng sẽ được các nhà hoạch định chính sách về AI của Việt Nam, cộng đồng AI và các bên liên quan của Việt Nam tham khảo, để định hướng ứng dụng và phát triển AI Việt Nam an toàn, minh bạch, có trách nhiệm và ‘nhân tính’ hơn trong tương lai. Quan trọng, là tất cả chúng ta đều hiểu rằng: AI không phải tất cả là màu hồng và hiện có vô số các vấn đề của nó, cả kỹ thuật và nhất là phi kỹ thuật của dữ liệu AI, cần phải được giải quyết.

Các chú giải

[1] Ben Snaith (2023): What do we mean by “without data, there is no AI”: https://theodi.cdn.ngo/media/documents/20231221_-_Data-centric_AI_Short_Paper_-_What_do_we_mean_by_without_data_there_3AEHdDW.pdf. Bản dịch sang tiếng Việt: https://www.dropbox.com/scl/fi/4un643ygfuksd28fm2v1c/20231221_-_Data-centric_AI_Short_Paper_-_What_do_we_mean_by_without_data_there_3AEHdDW_Vi-08082024.pdf?rlkey=bgkh73tdcn26d3cak5sw8pcbl&st=4v3edaqe&dl=0

[2] ODI (2024): Policy intervention 1: Increase transparency around the data used to train AI models: https://theodi.org/news-and-events/blog/policy-intervention-1-increase-transparency-around-the-data-used-to-train-ai-models/. Bản dịch sang tiếng Việt: https://giaoducmo.avnuc.vn/ai/can-thiep-chinh-sach-1-tang-cuong-minh-bach-xung-quanh-du-lieu-duoc-su-dung-de-dao-tao-cac-mo-hinh-ai-1256.html

[3] ODI (2024): Policy intervention 2: Update our intellectual property regime to ensure AI models are trained fairly: https://theodi.org/news-and-events/blog/policy-intervention-2-update-our-intellectual-property-regime-to-ensure-ai-models-are-trained-fairly/. Bản dịch sang tiếng Việt: https://giaoducmo.avnuc.vn/ai/can-thiep-chinh-sach-2-cap-nhat-che-do-so-huu-tri-tue-cua-chung-ta-de-dam-bao-cac-mo-hinh-ai-duoc-dao-tao-cong-bang-1257.html

[4] Nightshade: What Is Nightshade?: https://nightshade.cs.uchicago.edu/whatis.html. Nightshade biến đổi hình ảnh thành các mẫu "độc" (“poison” samples), do đó, các mô hình đào tạo trên chúng mà không có sự đồng ý sẽ thấy mô hình của họ học được các hành vi không thể đoán trước, lệch khỏi các chuẩn mực mong đợi, ví dụ: lời nhắc yêu cầu hình ảnh một con bò đang bay trong không gian thay vào đó có thể nhận được hình ảnh một chiếc túi xách đang trôi nổi trong không gian.

[5] ODI (2024): Policy intervention 3: Enforcing people’s rights in the data supply chain: https://theodi.org/news-and-events/blog/policy-intervention-3-enforcing-peoples-rights-in-the-data-supply-chain/. Bản dịch sang tiếng Việt: https://giaoducmo.avnuc.vn/ai/can-thiep-chinh-sach-3-thuc-thi-quyen-cua-moi-nguoi-trong-chuoi-cung-ung-du-lieu-1258.html

[6] ODI (2024): Building a better future with data and AI: a white paper: https://theodi.cdn.ngo/media/documents/Building_a_better_future_with_data_and_AI__a_white_paper.pdf, p.8. Bản dịch sang tiếng Việt: https://www.dropbox.com/scl/fi/g9lcleqvgn4r6vhcmwt5g/Building_a_better_future_with_data_and_AI__a_white_paper_Vi-28072024.pdf?rlkey=6q88tf4qo1g4bahbutdvkiinj&dl=0

[7] Lê Trung Nghĩa (tại Security Bootcamp 2023): Nghị định Bảo vệ dữ liệu cá nhân và một vài gợi ý triển khai: https://giaoducmo.avnuc.vn/bai-viet-toan-van/nghi-dinh-bao-ve-du-lieu-ca-nhan-va-mot-vai-goi-y-trien-khai-1016.html

[8] ODI (2024): Policy intervention 4: Ensuring broad access to data for training AI models: https://theodi.org/news-and-events/blog/policy-intervention-4-ensuring-broad-access-to-data-for-training-ai-models/. Bản dịch sang tiếng Việt: https://giaoducmo.avnuc.vn/ai/can-thiep-chinh-sach-4-dam-bao-quyen-truy-cap-rong-toi-du-lieu-de-dao-tao-cac-mo-hinh-ai-1259.html

[9] ODI (2024): Policy intervention 5: Empowering people to have more of a say in the sharing and use of data for AI: https://theodi.org/news-and-events/blog/policy-intervention-5-empowering-people-to-have-more-of-a-say-in-the-sharing-and-use-of-data-for-ai/. Bản dịch sang tiếng Việt: https://giaoducmo.avnuc.vn/ai/can-thiep-chinh-sach-5-trao-quyen-cho-moi-nguoi-de-co-tieng-noi-nhieu-hon-trong-viec-chia-se-va-su-dung-du-lieu-cho-ai-1260.html

[10] White House (2023): FACT SHEET: Vice President Harris Announces New U.S. Initiatives to Advance the Safe and Responsible Use of Artificial Intelligence: https://www.whitehouse.gov/briefing-room/statements-releases/2023/11/01/fact-sheet-vice-president-harris-announces-new-u-s-initiatives-to-advance-the-safe-and-responsible-use-of-artificial-intelligence/. Bản dịch sang tiếng Việt: https://giaoducmo.avnuc.vn/ai/to-tin-pho-tong-thong-harris-cong-bo-sang-kien-moi-cua-my-thuc-day-su-dung-an-toan-va-co-trach-nhiem-tri-tue-nhan-tao-ai-1249.html

[11] NIST (2023): Artificial Intelligence Risk Management Framework (AI RMF 1.0): https://nvlpubs.nist.gov/nistpubs/ai/NIST.AI.100-1.pdf

[12] NIST (2023): AI Risk Management Framework: https://www.nist.gov/itl/ai-risk-management-framework. Bản dịch sang tiếng Việt: https://giaoducmo.avnuc.vn/ai/khung-quan-ly-rui-ro-ai-1251.html

(Bài viết cho Hội thảo tại sự kiện Security Bootcamp 2024 do Hiệp hội Internet Việt Nam và cộng đồng Security Bootcamp Việt Nam tổ chức trong các ngày 28-29/09/2024 tại Phú Quốc, Kiên Giang, với chủ đề: Humanity).

Tự do tải về bài viết định dạng PDF ở địa chỉ DOI: 10.5281/zenodo.13852144

Tự do tải về bài trình chiếu tại hội thảo ở địa chỉ:

https://www.dropbox.com/scl/fi/y19ce4t0se2fdjqm4pgc3/SBC2024.pdf?rlkey=abfgwpr0a0kpoxr9w6udqt6rw&st=ps0ha6y0&dl=0

X (Tweet): https://x.com/nghiafoss/status/1839859422300123435

Xem thêm:



Thứ Năm, 26 tháng 9, 2024

‘Nhận thức của giảng viên giáo dục đại học về sư phạm mở: nghiên cứu khám phá định nghĩa sư phạm mở trong thực tế’ - bản dịch sang tiếng Việt


Là bản dịch sang tiếng Việt tài liệu của các tác giả: Cecil R. Short, Bryson Hilton, John Hilton III, David Wiley, Reta Chaffee, JoAnn Guilmett và Jennifer Darrow; Xuất bản bởi Informa UK Limited, giao dịch dưới tên Taylor & Francis Group; Giấy phép CC BY 4.0.

TÓM TẮT:

Sự gia tăng các hoạt động thực hành giáo dục mở, chẳng hạn như việc sử dụng các tài nguyên giáo dục mở – OER (Open Educational Resources), đã khiến nhiều định nghĩa liên quan đến sư phạm mở – OP (Open Pedagogy) xuất hiện. Để giúp làm rõ cách OP được định nghĩa trong thực tế, nghiên cứu này mô tả nhận thức của các giảng viên đã triển khai nhiều cách tiếp cận khác nhau đối với OP tại các cơ sở giáo dục sau trung học ở miền đông Hoa Kỳ. Các nhà nghiên cứu đã phân tích dữ liệu khảo sát từ các giảng viên đã áp dụng phương pháp sư phạm mở và phân tích theo chủ đề các cuộc phỏng vấn để hiểu nhận thức và cách triển khai OP của các giảng viên. Các giảng viên nhận thấy giá trị trong việc cung cấp cho sinh viên nhiều quyền kiểm soát hơn đối với các quy trình và chính sách của lớp học, sử dụng và tạo lập OER, và làm cho việc học của sinh viên dễ thấy hơn với thế giới bên ngoài, nhưng bày tỏ lo ngại về những hạn chế và rào cản của OP, nhận thức của các giảng viên không sử dụng OP và cách thức các hoạt động OP của họ vẫn đang phát triển như thế nào. Những nhận thức này đã định hình định nghĩa thực tế của các giảng viên về OP. Cần phải nghiên cứu thêm để xác định các hoạt động thực hành tốt nhất cho OP và tinh chỉnh tốt hơn việc triển khai và định nghĩa OP liên quan đến cá nhân và các tài nguyên cần thiết để biến phương pháp sư phạm thành 'mở'.

Tự do tải về bản dịch sang tiếng Việt của tài liệu có 26 trang tại địa chỉ: https://www.dropbox.com/scl/fi/s7qw0oyw20kwv61s2cyfn/Higher-education-instructors-perceptions-of-open-pedagogy-an-exploratory-study-of-open-pedagogy-definitions-in-practice_Vi-17092024.pdf?rlkey=p8v7mljrb2tz55e6zgbqleo7t&st=8n23cs4o&dl=0

Xem thêm:

Blogger: Lê Trung Nghĩa

letrungnghia.foss@gmail.com

Thứ Tư, 25 tháng 9, 2024

Điều hướng sư phạm mở, phần 2


Navigating open pedagogy, part 2

Theo: https://blogs.ubc.ca/chendricks/2017/05/23/navigating-open-pedagogy-pt2/


Trying to pull together stray threads. Threads image licensed CC0 on pixabay.com

Đây là bài đăng cuối cùng (cho bây giờ) trong loạt bài đăng trong vài ngày qua về sư phạm mở. Các bài đăng trước đó:

  • Phần 1, nơi tôi có một số suy nghĩ không tập trung lắm về một số bài đăng gần đây về sư phạm mở, cũng như quan điểm của riêng tôi trước khi đọc chúng (cảnh báo: dài!)

  • Phần 1.5, nơi tôi xem xét: tại sao lại cố gắng định nghĩa sư phạm mở?

Bài đăng này chuyên dành cho việc cố gắng rút ra vài chủ đề từ những gì tôi đã đọc trong 2 ngày qua.

Lưu ý: Tôi đã quay lại sau đó (tháng 11/2017) và đã bổ sung thêm vài điều ở đâu đó ... nên không phải tất cả điều này đã được viết trong bài đăng gốc ban đầu.

Mở” là gì khi nói về sư phạm mở?

phần 1 của loạt bài này, tôi đã phát hiện rằng tôi không có câu trả lời cho câu hỏi điều gì được bổ sung cho “sư phạm” hoặc “thực hành giáo dục” khi tôi đưa “mở” lên trước chúng. Bây giờ tôi sẽ cố gắng làm rõ cho bản thân tôi về điều đó.

Lưu ý là tôi đang sử dụng sư phạm mở - Open Pedagogy (OP) và thực hành giáo dục mở - OEP (Open Educational Practices) lẫn cho nhau ở đây. Có thể một ngày nào đó tôi sẽ lại tách chúng ra.

Những điểm chung ở những gì tôi đã thu thập từ quan điểm của những người khác

Ở đây tôi bổ sung thêm các đường liên kết tới vài bài đăng và tài nguyên mới mà tôi đã có trong phần 1 của loạt bài đăng này, cũng như vài điều tôi đã làm.

  • TNGDM (OER): một số người (ví dụ Wiley 1, Wiley 2, Hegarty) định nghĩa phương pháp sư phạm mở theo các thực hành có thể thực hiện được nhờ các giấy phép mở, do đó các thực hành có thể thực hiện được nhờ TNGDM

    • Theo quan điểm này, người ta nói rằng OP hoặc OEP bao gồm những điều như việc sửa lại, phối lại, phân phối lại TNGDM (nhưng việc giữ lại chúng có phải là một hoạt động mở hay không?)

  • Quyền truy cập:

    • Robin DeRosa: “Việc cấp phép mở giúp chúng ta giảm chi phí sách giáo khoa, nhưng nó cũng tượng trưng cho niềm tin rằng chi phí đại học - mọi thứ từ học phí đến đi lại - nên được giải quyết và giảm/chi trả như một phần của cơ sở hạ tầng giáo dục công lập vững mạnh.”

    • Samantha Veneruso: “Quyền truy cập ưu tiên các hoạt động mở: quyền truy cập tới nội dung, quyền truy cập tới việc học tập”.

  • Kết nối: Một số bài đăng nói về OP như việc thúc đẩy các kết nối - giữa các sinh viên, giữa các sinh viên và giảng viên, giữa lớp học và những người bên ngoài lớp học, v.v. chẳng hạn như:

    • Jim Luke: “Sự cô lập so với tính kết nối: Liệu phương pháp sư phạm và các hoạt động học tập có tồn tại chủ yếu trong một không gian khép kín, biệt lập như lớp học truyền thống hay chúng có thu hút và hình thành các kết nối với thế giới bên ngoài rộng lớn hơn không?”

    • Maha Bali: “Tập trung vào việc sinh viên kết nối mạng ở nơi công cộng. Cho sinh viên tương tác với nhau hoặc với những người bên ngoài lớp học trên phương tiện truyền thông xã hội như Twitter (xem Twitter Scavenger Hunt của tôi như một ví dụ nhỏ) hoặc tạo ra toàn bộ các khóa học nơi sinh viên liên tục tương tác với những người khác bên ngoài khóa học (một ví dụ gần đây là Networked Narratives của Mia ZamoraAlan Levine)….”

    • Samantha Veneruso: “Các hoạt động mở nhấn mạnh vào kết nối và cộng đồng được công nghệ hỗ trợ.”

    • Tannis Morgan: “Mở như một phương tiện để kết nối với cộng đồng toàn cầu rộng lớn hơn”

    • Robin DeRosa: “Kết nối. Giúp sinh viên trở thành người học suốt đời là một điều có thật, và tôi đã chán ngấy với những lời nói suông rằng chúng ta phải trả tiền. … Dạy cho các em những kỹ năng giúp các em tham gia vào cộng đồng học thuật và/hoặc chuyên nghiệp hợp tác sẽ giúp các em tiếp cận được với nội dung trong lĩnh vực của mình khi nó thay đổi theo thời gian.”

    • Bronwyn Hegarty: “cộng đồng kết nối: tham gia vào cộng đồng những người chuyên nghiệp được kết nối”

  • Sinh viên như các đồng sáng tạo, có thẩm quyền và quyền tự quyết nhiều hơn trong giáo dục của họ

    • Heather Ross: “Nếu giáo viên và học sinh hiện có thể sửa đổi sách giáo khoa và tài liệu học tập của mình, chúng ta sẽ chuyển trọng tâm của học sinh sang đóng góp cho kiến thức thay vì chỉ đơn thuần là tiếp nhận kiến thức.”

    • Devon Ritter: “khả năng của người học trong việc định hình và chịu trách nhiệm về giáo dục của chính họ”

    • Samantha Veneruso: “Các hoạt động mở do người học thúc đẩy.”

    • Catherine Cronin: “Nhìn chung, các nhà thực hành và nhà nghiên cứu giáo dục mở mô tả OEP như việc đi vượt ra ngoài cách tiếp cận lấy nội dung làm trung tâm để hướng đến tính mở, chuyển trọng tâm từ các tài nguyên sang các hoạt động, với người học và giảng viên chia sẻ các quy trình tạo ra kiến thức.”

    • Robin DeRosa: “Cấu trúc do người học thúc đẩy. Một điều khác mà Giáo dục Đại học thường nói suông là ý tưởng về việc “học tập lấy người học làm trung tâm.” Làm việc với TNGDM đã giúp tôi thấy tài liệu học tập có thể định hình được nhiều hơn và việc để sinh viên tham gia vào quá trình định hình đó đã có tác động sâu sắc đến vị trí của thẩm quyền trong lớp học của chúng tôi.”

    • Jim Luke: “Giáo viên là có “thẩm quyền” so với việc sinh viên có thể mang đến các nguồn quyền lực khác.”

    • Tôi, trong phần 1 của loạt bài này: “Thu hút học sinh tham gia đồng sáng tạo chương trình giảng dạy, chẳng hạn như thông qua việc giúp chọn một số chủ đề của khóa học, chọn bản chất của bài tập cho khóa học hoặc tạo văn bản, video hoặc nội dung khác cho khóa học.”

  • Sinh viên đóng góp cho kiến thức và các nguồn có giá trị cho thế giới

    • Maha Bali: “…cố gắng tạo ra các bài tập có thể được duy trì bền vững hoặc không bị loại bỏ, các bài tập có thể mang lại lợi ích cho những người khác ngoài thời gian và không gian hạn chế của khóa học. Ví dụ, yêu cầu sinh viên tạo blog hoặc tên miền của riêng mình (xem Tên miền riêng), chỉnh sửa Wikipedia hoặc tạo podcast hoặc trang web có giá trị ngoài khóa học.”

    • Gill Green: “Người học đóng góp ý tưởng mới lạ và nghiên cứu độc đáo cho các vấn đề cấp bách đương đại.”

    • David Wiley 2013: “Vì sinh viên biết rằng công việc của họ sẽ được cả bạn bè và các thế hệ sinh viên tương lai sử dụng, nên họ đầu tư vào công việc này ở một cấp độ khác.”)

    • David Wiley 2016: Một “đánh giá tái tạo lại được” khác [với đánh giá sử dụng một lần] ở chỗ công việc của sinh viên sẽ không bị loại bỏ vào cuối quá trình, mà thay vào đó sẽ mang lại giá trị cho thế giới theo một cách nào đó.”

    • Tôi, trong phần 1 của loạt bài này: “Yêu cầu sinh viên làm các bài tập tái tạo lại được hoặc không sử dụng một lần trong các khóa học. Những hoạt động này bao gồm việc sinh viên tạo ra những thứ mà người khác có thể sửa đổi và sử dụng lại, mang lại giá trị cho thế giới bên ngoài khóa học.”

  • Công bằng, bình đẳng xã hội

    • Maha Bali: một trong hai thành phần đạo đức của OP: “Định hướng công lý xã hội – quan tâm đến công bằng, với tính mở là một cách để đạt được điều này”

    • Thực hành giáo dục mở Scotland, điều tôi tìm thấy thông qua bộ slide này của Beck Pitt và cộng sự: “Chúng tôi nghĩ về Thực hành giáo dục mở là những thực hành giáo dục quan tâm và thúc đẩy công bằng và tính mở. Hiểu biết của chúng tôi về ‘mở’ được xây dựng dựa trên các quyền tự do liên quan đến “5R” của TNGDM, thúc đẩy ý thức rộng hơn về tính mở, nhấn mạnh công lý xã hội và phát triển các thực hành mở ra các cơ hội cho những người cách xa với giáo dục.”

  • Sự cởi mở, khả năng tiếp thu thay đổi

    • Suzan Koseoglu: “Những “không gian khả thi” của chúng ta là gì? Làm thế nào để chúng ta xây dựng những không gian đó và nuôi dưỡng môi trường học tập dân chủ, nơi mọi người được tiếp xúc với những quan điểm khác nhau, thách thức cách họ nhìn nhận thế giới và vị thế của họ?”

    • Maha Bali and Suzan Koseoglu: Trở thành “một người có thể chỉnh sửa”: “sẵn sàng lắng nghe và thay đổi quan điểm của mình: sẵn sàng thay đổi suy nghĩ khi tương tác với người có thế giới quan khác với mình, sẵn sàng chấp nhận rủi ro hoặc thử điều gì đó mới, sẵn sàng tin tưởng người khác trong các tương tác xã hội của mình”. [mục này được thêm vào bài đăng này vào tháng 11 năm 2017]

    • Bronwyn Hegarty: các hoạt động mở “khuyến khích đổi mới và sáng tạo tự phát”

  • Minh bạch

    • David Wiley: “Không nghi ngờ gì nữa, chúng ta vẫn chưa thấy định nghĩa nào về sư phạm mở mà tiếp cận từ các truyền thống mở khác, như “mở” trong chính phủ mở, trong đó mở chủ yếu có nghĩa là minh bạch.”

    • Rajiv Jhangiani: “sư phạm mở cũng bao gồm các hoạt động giảng dạy như thiết kế và phát triển khóa học mở và minh bạch”

    • Rajiv Jhangiani: “mặc dù về mặt hoạt động, chúng ta có thể định nghĩa “mở” khác nhau, nhưng chúng ta chia sẻ một nền tảng chung coi trọng quyền truy cập, quyền tự quyết, tính minh bạch và chất lượng.”

    • Maha Bali and Suzan Koseoglu: “… làm rõ các quy trình của riêng chúng ta. Ví dụ, Laura Gogia và Bonnie Stewart đã công khai hoạt động học thuật của họ với công chúng bằng cách làm cho quy trình bảo vệ luận án của họ trở nên minh bạch, như được mô tả tại đây). Có một số nhà giáo dục thường xuyên chia sẻ các quy trình sáng tạo của họ đằng sau hậu trường trên blog của họ, tường thuật lại quá trình đó (xem blog của Alan LevineTerry Elliott). [mục này được thêm vào bài đăng này vào tháng 11 năm 2017]

    • Tôi, trong phần 1 của loạt bài này: “Lập kế hoạch khóa học mở, lần đầu tiên tôi thấy qua Paul Hibbits tại cuộc họp ETUG (Nhóm người dùng công nghệ giáo dục ở British Columbia) năm 2014. Xem bài đăng trên blog của tôi về vấn đề đó tại đây.”

  • Thực hành phản ánh (Reflective Practices): đây có thể là một phần của tính minh bạch, nhưng hiện tại tôi đang tách ra thành phần riêng biệt

    • Tôi, trong phần 1 của loạt bài này: “Tham gia vào quá trình phản ánh cởi mở về các hoạt động và quy trình giáo dục, dù là của sinh viên hay giáo sư hay nhân viên hay bất kỳ ai khác tham gia vào trải nghiệm giáo dục.”–Tôi đang nghĩ đến những phản ánh công khai như trên blog này

    • Bronwyn Hegarty: “tham gia vào các cơ hội để thực hành phản ánh”; Hegarty đưa vào giá trị của phản hồi từ đồng nghiệp về hoạt động này (trang 10), vì vậy có vẻ như việc thực hiện phản ánh ở một mức độ nào đó một cách công khai sẽ là điều tốt

Và khi tôi đọc hết, cuối cùng, tôi nghĩ rằng tất cả các bài đăng và slide trong danh sách tuyển chọn của Maha Bali, tôi thấy rằng Open Door Classroom (Mở cửa lớp học) của Jesse Stommel (slide) cũng có nhiều điểm nêu trên.

Còn gì nữa không?

Bạn có điều gì muốn bổ sung không? Vui lòng để lại bình luận bên dưới!

Tất cả những điều này có thể liên quan gì đến open?

Tôi đang cố gắng tìm hiểu, nhớ lại, những gì được thêm vào "sư phạm" khi chúng ta nói về "sư phạm mở". Và nếu nó giống như danh sách trên (danh sách không phải là danh sách cuối cùng, không nhất thiết là từ cuối cùng và tôi kiểm soát ranh giới), thì tại sao chúng ta có thể gọi một thứ như tập hợp những điều trên là "mở" theo thuật ngữ sư phạm?

Có mở như trong:

  • nhìn thấy được: minh bạch

  • thay đổi được: cởi mở, tính mở đối với sự thay đổi; 5R (ví dụ: sửa lại, phối lại)

  • có sẵn được: quyền truy cập

  • xuyên biên giới: kết nối, cộng đồng rộng lớn hơn, sinh viên đóng góp kiến thức và tài nguyên cho thế giới

  • quyền tự do: quyền tự chủ, quyền được chia sẻ

Nhưng công bằng/công lý xã hội phù hợp ở đâu ở đây?

Đây là một cách khác để suy nghĩ về nó. Mở là đối lập của đóng và đối với tôi, đóng có nghĩa là những thứ như:

  • được bao quanh bởi ranh giới giữa một số thứ ở trong và một số thứ ở ngoài

  • quyền riêng tư

  • ẩn giấu

  • bị khóa hoặc bị hạn chế

Và những điều này liên quan đến công lý xã hội, vì chúng thường có nghĩa là những gì riêng tư và ẩn giấu đối với một số người thì không như vậy đối với những người khác. Vì vậy, theo một cách nào đó, tất cả những điều trên có thể liên quan đến công lý xã hội và bình đẳng.

Vậy có lẽ chúng ta có thể nghĩ về những điều trên theo hướng giảm ranh giới hoặc làm cho chúng thấm (vì tôi không nghĩ rằng một hoạt động không có bất kỳ ranh giới nào là có thể tưởng tượng được)? (Và xin cảm ơn Alan Levine đã giúp tôi hiểu được sự khác biệt giữa độ xốp và độ thấm!) Làm cho mọi thứ trở nên hữu hình, có sẵn, có thể thay đổi và cung cấp quyền tự do để tự định hướng đều sẽ liên quan đến ranh giới thấm ở một mức độ nào đó.

Từ đó, tôi đã cố gắng đưa ra một định nghĩa ngắn gọn, nhưng tôi không thực sự thành công. Vì vậy, hiện tại tôi sẽ chỉ nghĩ về OP hoặc OEP như: các hoạt động giảng dạy và học tập mở ra các ranh giới giáo dục vốn đóng để thúc đẩy khả năng tiếp cận, quyền tự quyết, kết nối, tính minh bạch và chuyển đổi vì mục đích cải thiện việc học của sinh viên cùng với công bằng và công lý xã hội. Nhưng đó là một cụm từ dài dòng và thực sự không hữu ích hơn danh sách trên. Hmmmm….

Và tôi phát hiện ra rằng sau tất cả những điều này, tôi rất đồng tình với hai khía cạnh của bản chất sư phạm mở của Maha Bali!

Tôi muốn nói rằng sư phạm mở về bản chất có hai thành phần chính:

  • Niềm tin vào tiềm năng của tính mở và chia sẻ để cải thiện việc học

  • Định hướng công lý xã hội – quan tâm đến công bằng, với tính mở là một cách để đạt được điều này

Tôi hoan nghênh các bình luận về những suy ngẫm này, cũng như những nỗ lực để đưa những điều trên lại với nhau thành một cách suy nghĩ ít lời hơn về sư phạm mở!

This is the last (for now) in a series of posts over the last couple of days on open pedagogy. Previous posts:

  • Part 1, where I do some not terribly focused reflecting on some recent posts on open pedagogy, as well as my own view before reading them (warning: long!)

  • Part 1.5, where I consider: why try to define open pedagogy at all?

This post is dedicated to trying to pull together some of the threads from what I’ve read in the last two days.

Note: I have gone back later (November 2017) and added some things here and there…so not all of this was written in the original post.

What is “open” about open pedagogy?

In part 1 of this series, I discovered that I don’t have an answer to the question of what is added to “pedagogy” or “educational practices” when I put “open” in front of them. Now I’m going to try to come to some clarity for myself on that.

Note that I’m using open pedagogy (OP) and open educational practices (OEP) interchangeably here. Maybe someday I’ll separate them.

Some commonalities in what I’ve gathered from others’ views

I’m here including links to some new posts and resources that I didn’t have in part 1 of this series, as well as some that I did.

  • OER: a number of people (e.g., Wiley 1, Wiley 2, Hegarty) define open pedagogy in terms of practices that are made possible by open licenses, so practices that are made possible by OER

    • Under this view, one might say that OP or OEP include things like revising, remixing, redistributing OER (is retaining them an open practice, though?)

  • Access:

    • Robin DeRosa: “The open license helps us reduce textbook costs, but it also symbolizes the belief that college costs– everything from tuition to transportation– should be addressed and reduced/covered as part of a strong public educational infrastructure.”

    • Samantha Veneruso: “Open practices privilege access: access to content, access to learning.”

  • Connections: A number of posts talk about OP as promoting connections–between students, between students and teachers, between the class and people outside the class, etc. E.g.,

    • Jim Luke: “Isolation vs. Connectedness:  Does the pedagogy and learning activities exist predominantly in a closed, isolated space such as the traditional classroom or do they engage and form connections with the larger, outside world?”

    • Maha Bali: “A focus on students networking in public. Having students interact with each other or people outside the class altogether on social media like Twitter (see my Twitter Scavenger Hunt as a small-scale example) or creating entire courses where students are constantly interacting with others outside of the course (a recent example is Networked Narratives by Mia Zamora and Alan Levine)….”

    • Samantha Veneruso: “Open practices emphasize connection and community enabled by technology.”

    • Tannis Morgan: “Open as a means to connect with a broader, global community”

    • Robin DeRosa: “Connection. Helping students become lifelong learners is a real thing, and I am tired of the lip service that we pay it. … Teaching them the skills that help them enter a collaborative scholarly and/or professional community will give them access to the content in their fields as it changes over time.”

    • Bronwyn Hegarty: “connected community: participate in a connected community of professionals”

  • Students as co-creators, as having more authority & autonomy in their education

    • Heather Ross: “If teachers and students can now modify their textbooks and learning materials, we shift the student emphasis to contribution to knowledge as opposed to simple consumption of knowledge.”

    • Devon Ritter: “the ability for learners to shape and take ownership of their own education”

    • Samantha Veneruso: “Open practices are learner driven.”

    • Catherine Cronin: “Overall, open education practitioners and researchers describe OEP as moving beyond a content-centred approach to openness, shifting the focus from resources to practices, with learners and teachers sharing the processes of knowledge creation.”

    • Robin DeRosa: “Learner-Driven Structures. Another thing Higher Ed pays a lot of lip service to is the idea of “student centered learning.” Working with OER helped me see learning materials as more shape-able, and involving students in that shaping had a profound effect on the location of authority in our classroom.”

    • Jim Luke: “Teacher as “the” authority vs. Students being able to bring other sources of authority.”

    • Me, in part 1 of this series: “Involving students in co-creating the curriculum, such as through helping to choose some of the course topics, choosing the nature of assignments for the course, or creating texts, videos or other content for the course.”

  • Students contributing valuable knowledge and resources to the world

    • Maha Bali: “…trying to create assignments that are sustainable or not disposable, assignments that would have benefit to others beyond the limited course time and space. For example, having students create their own blogs or domains (see Domain of One’s Own), edit Wikipedia or create podcasts or websites that have value beyond the course.”

    • Gill Green: “Learners contributing novel ideas and original research to pressing contemporary problems.”

    • David Wiley 2013: “Because students know their work will be used both by their peers and potentially by future generations of students, they invest in this work at a different level.”)

    • David Wiley 2016: “A “renewable assessment” differs [from a disposable one] in that the student’s work won’t be discarded at the end of the process, but will instead add value to the world in some way.”

    • Me, in part 1 of this series: “Asking students to do renewable, or non-disposable assignments in courses. These involve students creating things that others can revise and reuse, that add value to the world beyond the course.”

  • Social justice, equity

    • Maha Bali: one of the two components of the ethos of OP: “A social justice orientation – caring about equity, with openness as one way to achieve this”

    • Open Educational Practices Scotland, which I found through this slide deck by Beck Pitt et al.: “We think of Open Educational Practices as those educational practices that are concerned with and promote equity and openness. Our understanding of ‘open’ builds on the freedoms associated with “the 5 Rs” of OER, promoting a broader sense of open, emphasising social justice, and developing practices that open up opportunities for those distanced from education.

  • Open-mindedness, receptivity to change

    • Suzan Koseoglu: “What are our “spaces of possibility”? How do we construct those spaces and nurture democratic learning environments where people get exposed to different perspectives, challenge the way they view the world and their position it?”

    • Maha Bali and Suzan Koseoglu: Being an “editable person”: “being willing to listen and change our perspective: being willing to change our mind when interacting with someone with a different worldview from our own, being willing to take risks or try something new, being willing to give another the benefit of the doubt in our social interactions.” [this item added to this post Nov. 2017]

    • Bronwyn Hegarty: open practices “encourage spontaneous innovation and creativity”

  • Transparency

    • David Wiley: “No doubt we have yet to see definitions of open pedagogy that approach from other open traditions, like the “open” in open government where open primarily means transparent.”

    • Rajiv Jhangiani: “open pedagogy would also encompass instructional practices such as open and transparent course design and development”

    • Rajiv Jhangiani: “even though we may operationally define “open” differently, we share a common foundation that values access, agency, transparency, and quality.”

    • Maha Bali and Suzan Koseoglu: “… making our own processes explicit. Laura Gogia and Bonnie Stewart, for example, opened up their academic practice to the public by making the process of their thesis defenses transparent, as described here). There are some educators who regularly share their processes of creation behind-the-scenes on their blogs, narrating it (see Alan Levine and Terry Elliott’s blogs). [this item added to this post Nov. 2017]

    • Me, in part 1 of this series: “Open course planning, which I first saw via Paul Hibbits at an ETUG (British Columbia Educational Technology User’s Group) meeting in 2014. See my blog post about that here.”

  • Reflective practice: this could be part of transparency, but I’m pulling out as separate for now

    • Me, in part 1 of this series: “Engaging in open reflection on educational practices and processes, whether by students or profs or staff or anyone else involved in an educational experience.”–I was thinking of public reflections like on this blog

    • Bronwyn Hegarty: “engage in opportunities for reflective practice”; Hegarty includes the value of feedback from peers on this practice (p. 10), so it sounds like doing reflection to some degree openly would be good

And as I am reading through, finally, I think all of the posts and slide decks on Maha Bali’s curated list, I find that Open Door Classroom by Jesse Stommel (slides) has many of the above points in it as well.

What else?

Have anything to add? Please put it in the comments, below!

What might all this have to do with open?

I’m trying to figure out, recall, what is added to “pedagogy” when we talk about “open pedagogy.” And if it’s something like the above list (with the list being not final, not necessarily the last word and me policing boundaries), then why might we call something like a gathering of the above things “openness” in terms of pedagogy?

There’s open as in:

  • visible: transparency

  • changeable: open-mindedness, openness to change; 5R’s (e.g., revision, remixing)

  • available: access

  • crossing boundaries: connections, wider communities, students contributing knowledge and resources to the world

  • freedom: autonomy, shared authority

Where does equity/social justice fit in here, though?

Here’s another way to think about it. Open is the opposite of closed, and to me, closed means things like:

  • encircled by boundaries that keep some things in and others out

  • private

  • hidden

  • locked or restricted

And these have to do with social justice, because they often mean that what is private and hidden to some is not so to others. So in a way, all of the above might be related to social justice and equity.

So maybe we could think of the above in terms of reducing boundaries, or making them permeable (because I don’t think a practice without any boundaries at all is even conceivable)? (And with due credit to Alan Levine for helping me understand the difference between porosity and permeability!) Making things visible, available, changeable, and providing freedom to be self-directed would all be connected to permeable boundaries to some extent.

From this, I tried to come up with some pithy definition, but I’m not really succeeding. So for now I’m just going to think of OP or OEP as: teaching and learning practices that open up otherwise closed educational boundaries to promote access, agency, connections, transparency, and transformation for the sake of improved student learning along with equity and social justice. But that’s a mouthful and not really all that more helpful than the list above. Hmmmm….

And I discover that after all this, I am very much in agreement with Maha Bali’s two aspects of the ethos of open pedagogy!

I would say open pedagogy is an ethos that has two major components:

  • A belief in the potential of openness and sharing to improve learning

  • A social justice orientation – caring about equity, with openness as one way to achieve this

I welcome comments on these reflections, as well as attempts to put the above together into a less wordy way of thinking about open pedagogy!

Dịch: Lê Trung Nghĩa

letrungnghia.foss@gmail.com