Thứ Tư, 5 tháng 10, 2011

Nauy: Bộ sử dụng hệ thống kiểm soát phiên bản nguồn mở


NO: Ministry uses open source version control system
by OSOR Editorial Team — published on Sep 22, 2011
Bài được đưa lên Internet ngày: 22/09/2011
Lời người dịch: Phần mềm hệ thống bầu cử điện tử eVoting của Nauy hoàn toàn dựa trên phần mềm tự do nguồn mở, được quản lý phiên bản và rà soát mã nguồn bằng một trong những công cụ kiểm soát phiên bản mã nguồn phổ biến trong thế giới nguồn mở là Subversion. “Sự tin cậy là sống còn đối với hệ thống bầu cử của Nauy. Vì thế quan trọng là mỗi người mà mong muốn làm thế có thể thấy cách mà hệ thống làm việc. Để đảm bảo an toàn cho nguyên tắc này, bộ bây giờ đang xuất bản mã nguồn cho hệ thống eVoting. Theo cách này những ai muốn làm thế, và những ai hiểu được việc lập trình máy tính, có thể tải nó về và xem xét nó”.
Bộ Phát triển Vùng và Chính quyền Địa phương của Nauy đã sử dụng 'Subversion', một hệ thống kiểm soát phiên bản nguồn mở, để xuất bản trực tuyến phần đầu của mã nguồn cho hệ thống bầu cử điện tử eVoting của chính phủ.
Subversion là một hệ thống kiểm soát phiên bản và rà soát lại phần mềm được phân phối theo một giấy phép tự do (Giấy phép Apache, phiên bản 2.0). Theo webiste của nó, “Subversion hiện được tổ chức và áp dụng phổ biến như là hệ thống kiểm soát phiên bản tập trung, nguồn mở được đặt trưng bằng độ tin cậy của nó như là nơi trú ẩn an toàn cho các dữ liệu đáng giá; tính dễ dàng mô hình và sử dụng của nó; và khả năng của nó để hỗ trợ các nhu cầu cho một dải rộng lớn những người sử dụng và các dự án, từ các cá nhân tới các hoạt động của doanh nghiệp phạm vi lớn”.
Về mã nguồn của hệ thống eVoting của Nauy, nó có thể được xem thông qua một giao diện web hoặc được tải về một cách cục bộ tại https://source.evalg.stat.no/svn/. Bộ này tiếp tục cập nhật mã nguồn khi hệ thống eVoting đã được kết thúc cho các cuộc bầu cử hội đồng thành phố và khu tự trị đã diễn ra vào ngày 12/09/2011. Tài liệu chi tiết cũng được được làm sẵn sàng để đơn giản hóa hiểu biết mã nguồn. xuất bản phẩm về mã nguồn đóng góp cho sự minh bạch nhiều hơn và kiểm soát tốt hơn hệ thống.
Liv Merete Wiker, người lãnh đạo về Truyền thông tại bộ này nói: “Sự tin cậy là sống còn đối với hệ thống bầu cử của Nauy. Vì thế quan trọng là mỗi người mà mong muốn làm thế có thể thấy cách mà hệ thống làm việc. Để đảm bảo an toàn cho nguyên tắc này, bộ bây giờ đang xuất bản mã nguồn cho hệ thống eVoting. Theo cách này những ai muốn làm thế, và những ai hiểu được việc lập trình máy tính, có thể tải nó về và xem xét nó”.
The Norwegian Ministry of Local Government and Regional Development used 'Subversion', an open source version control system, to publish online the first part of the source code for the government's eVoting system.
Subversion is a software-versioning and revision-control system distributed under a free license (Apache License, Version 2.0). According to its website, "Subversion exists to be universally recognized and adopted as an open-source, centralized version control system characterized by its reliability as a safe haven for valuable data; the simplicity of its model and usage; and its ability to support the needs of a wide variety of users and projects, from individuals to large-scale enterprise operations."
As regards the code of the (non-free) Norwegian eVoting system, it can be viewed through a web interface or downloaded locally at https://source.evalg.stat.no/svn/. The Ministry of Local Government and Regional Development continuously updated the source code as the eVoting system was finalised for the municipal and county council elections held on 12 September 2011. Detailed documentation was also made available in order to simplify the code’s understanding. The publication of the code contributes to more transparency and better control of the system.
Liv Merete Wiker, Head of Communications at the ministry, said: "Trust is vital for the Norwegian electoral system. It is therefore important that everyone who wishes to do so can find out how the system works. In order to safeguard this principle, the ministry is now publishing the source code for the eVoting system. In this way those who wish to do so, and who understand computer programming, can download it and inspect it."
Bất kỳ ai cũng có thể tải về và xem xét mã nguồn, bất kể ở đâu, nhưng nó có thể chỉ được sử dụng cho việc tiến hành các cuộc bầu cử ở Nauy. Những người lập trình có khả năng đọc các chỉ dẫn của nó và vì thế hiểu được máy tính sẽ làm gì. Điều này không có nghĩa là ai đó đọc mã nguồn có thể thấy được cách mà mọi người bầu cử.
Bộ này đã thành lập vào tháng 08/2008 dự án Evote 2011 nhằm tới việc triển khai thí điểm eVoting tại các cuộc bầu cử tự trị năm 2011 tại các khu tự trị được lựa chọn. Những thí điểm này sẽ giúp đưa ra kinh nghiệm theo yêu cầu dựa vào đó Quốc hội có thể làm cơ sở cho một quyết định về bất kỳ sự giới thiệu eVoting phạm vi rộng nào tại Nauy và khung thời gian cho một sự tung ra như vậy.
Anyone can download and examine the source code, regardless of location, but it may only be used for conducting Norwegian elections. Programmers are able to read its instructions and thus understand what the computer will do. This does not mean that someone who reads the code can see how people vote.
The Ministry of Local Government and Regional Development established in August 2008 the E-vote 2011-project aimed at implementing eVoting trials at the municipal elections of 2011 in selected municipalities. These trials will help provide the required experience upon which the Parliament can base a decision on any introduction of large-scale eVoting in Norway and the prospective timeframe for such a launch.
Dịch tài liệu: Lê Trung Nghĩa

Thứ Ba, 4 tháng 10, 2011

Mua sắm nguồn mở: những đăng ký mua dài hạn


[First published on ComputerWorldUK, March 3rd, 2011], By Simon Phipps
Bài được đưa lên Internet ngày: 03/03/2011
Lời người dịch: Một bài so sánh về chi phí mua phần mềm sở hữu độc quyền và phần mềm tự do nguồn mở của Simon Phipps, Giám đốc của tổ chức Sáng kiến Nguồn Mở OSI, người từng là lãnh đạo nhiều năm của Sun Microsystems. Bạn hãy đọc và hiểu tại sao con đường đi với nguồn mở là có lợi cho chính bạn.
Khi bạn mua sắm phần mềm sở hữu độc quyền (PMSHĐQ), bạn mua một giấy phép có quyền sử dụng và sau đó một thỏa thuận hỗ trợ. Nhưng khi bạn mua nguồn mở, bạn đã có quyền sử dụng từ giấy phép tự do được OSI phê chuẩn, vì thế bạn nên so sánh chi phí đăng khý mua dài hạn với chỉ chi phí của thỏa thuận hỗ trợ của PMSHĐQ, Đúng không?
Không đúng! Đăng ký mua dài hạn của nguồn mở bao gồm tất cả các yếu tố y hệt như sự kết hợp của cả 2 thứ mua sắm. Trong hầu hết các trường hợp, nếu bạn đang nhận được giá trị như nhau, thì bạn nên mong đợi phải trả các giá tiền tương tự như nhau.
Đây không phải là câu hỏi về tổng chi phí sở hữu TCO; đây là vấn đề thẳng thắn đảm bảo cho bạn so sánh cái này với cái kia. Nói chung, tôi cũng tin TCO của một giải pháp thực sự nguồn mở sẽ thấp hơn so với giải pháp SHĐQ. Như tôi giải thích ở bên dưới, sự tiết kiệm tiền của nguồn mở nảy sinh không phải từ giá của giấy phép, mà từ sự tự do mà nó cho phép - tính mềm dẻo để sử dụng phần mềm cách gì cũng được mà bạn muốn, để thuê các chuyên gia tự do nghiên cứu nó, để mua trong một thị trường mà tự do làm việc trực tiếp với mã nguồn và chia sẻ phần mềm với bất kỳ ai ở bất cứ đâu để làm cho công việc của bạn có hiệu quả hơn.
Cụm từ “tự do” trong mệnh đề “phần mềm tự do” cám dỗ chúng ta tin tưởng rằng bằng cách nào đó những đăng ký mua dài hạn sẽ rẻ hơn nhiều so với những thứ tương đương của SHĐQ. Nhưng sự thực là, nếu có, giá trị bổ sung của những tự do mà nguồn mở đưa ra có nghĩa là nó có thể có chi phí hơn nữa! Thực tế nó không lớn hơn là sự phản ánh nữa về khả năng các nhà cung cấp SHĐQ của bạn ép bạn phải trả quá mức và vì thề cấp tiền cho sự giàu mênh mông của họ.
Sự tự do đó sẽ quyết định liệu có thuê nhân viên, có đăng ký thuê bao dài hạn hay đơn giản sử dụng với rủi ro của riêng bạn - nói cách khác, để kiểm soát ngân sách và số phận của riêng bạn hơn là kiểm soát cả trao sự kiểm soát của cả 2 cho một nhà cung cấp - là những gì làm cho nguồn mở trở thành một “sự thắng” khổng lồ cho hầu hết các công ty.
When you procure proprietary software, you buy a right-to-use license and then a support agreement. But when you buy open source, you already have the right-to-use from the OSI-approved free license, so you should compare the subscription cost with just the cost of a proprietary support agreement. Right?
Wrong! The open source subscription includes all the same elements as the combination of both purchases. In most cases, if you are receiving equivalent value, you should expect to pay similar prices.
This is not a TCO question; it’s a straightforward matter of ensuring you compare like with like. In general, I also believe the TCO of a genuine open source solution will be lower than that of a proprietary solution. As I explain below, the cost savings of open source arises not from the price of the license, but from the liberty it permits – the flexibility to use the software anyhow you want, to hire experts who are free to study it, to buy in a market that’s free to work directly with the source and to share the software with anyone anywhere to make your work more effective.
The word “free” in the expression “free software” seduces us into believing that somehow open source subscriptions should be much cheaper than their proprietary equivalents. But the truth is that, if anything, the extra value of the liberties open source delivers means it probably ought to cost more! The fact it doesn’t is more a reflection of the ability of your proprietary suppliers to force you to pay over-the odds and thus fund their immense wealth.
That liberty to decide whether to hire staff, subscribe or simply use at your own risk – in other words, to control your own budget and destiny rather than hand control of both to a supplier – is what makes open source a massive “win” for most companies.
Mua PMSHĐQ
Hãy nhìn vào cách mua sắm đăng ký dài hạn đối với phần mềm nguồn mở khác biệt với mua sắm các giấy phép quyền sử dụng của PMSHĐQ và các thỏa thuận hỗ trợ. Khi bạn mua PMSHĐQ, bạn có lẽ đúng là mua 2 thứ:
  • Một giấy phép trao quyền sử dụng phần mềm. Không có lý do thực sự vì sao lại cần trả tiền cho nó, mà đối với nhiều nhà cung cấp thì đây là một điểm kiểm soát tiện tay nơi mà họ có thể ép bạn đóng góp vào chi phí của việc tạo ra phần mềm và hướng tới chi phí tạo ra các tính năng mới trong phiên bản tiếp sau.
    Nó tới như một sự ngạc nhiên đối với một số người phát hiện ra điều này thực sự là một chi phí lặp đi lặp lại. Có lẽ hầu hết bạn cũng sẽ cần phải cập nhật, làm mới hoặc nâng cấp giấy phép này khi phiên bản sau ra đời. Cũng có khả năng giấy phép đó sẽ được khẳng định trong việc có một thỏa thuận hỗ trợ có cơ sở.
  • Một thỏa thuận hỗ trợ. Điều này là đáng trả tiền vì nó đưa ra giá trị kinh doanh thực sự. Không có nó, bạn có thể phải tự mình làm khi bạn gặp các vấn đề. Với nó, bạn có ai đó để báo cáo các vấn đề, và hy vọng bạn sẽ nhận được sự trợ giúp bạn cần làm việc xung quanh vấn đề đó và cuối cùng sửa đúng được nó. Thỏa thuận hỗ trợ của bạn sẽ được soạn thảo ở một số dạng thỏa thuận mức dịch vụ, nói cho bạn cách mà bạn thường có thể gọi, khi nào bạn có câu trả lời và nhà cung cấp sẽ làm việc cật lực thế nào để giúp bạn.
    Cũng như việc trả tiền cho nhân viên và cơ cấu để đưa ra tất cả điều này, tiền mà bạn trả sẽ đi tới “việc duy trì bền vững” cho sản phẩm - nghĩa là, giữ cho nó làm việc khi môi trường xung quanh nó thay đổi. Việc duy trì bền vững bao gồm việc kiểm thử phần mềm trong các phiên bản mới của hệ điều hành hoặc máy chủ ứng dụng, ví dụ thế.
    Bạn sẽ cần giữ cho thỏa thuận này được cập nhật, nên bạn sẽ cần trả tiền cho từng năm cho nó. Bạn cũng sẽ cần có một phần mềm có quyền sử dụng, nên bạn sẽ cần giữ cho điều đó được cập nhật như một điều kiện tiên quyết.
Những điều trên sẽ được trả tiền cũng còn để đề cập tới chi phí bán chúng cho bạn - một chi phí đáng kể vì hầu hết các qui trình đấu thầu thương mại có liên quan tới công việc quảng cáo của các chuyên gia để tạo ra một phản ứng. Chúng cũng sẽ bao gồm một sự cộng thêm sao cho giao dịch là có lãi cho nhà cung cấp của bạn. Bạn cũng sẽ lưu ý rằng các khoản đó có lẽ sẽ cần ký mới lại thường xuyên, và rằng chúng có lẽ có liên quan tới nhau, hình thành trong ý nghĩa một giao dịch duy nhất truyền lan qua thời gian.
Buying Proprietary Software
Let’s look at how procuring subscriptions for open source software differs from procuring proprietary right-to-use licenses and support agreements. When you buy proprietary, you will most likely buy two things:
  • A license granting the right to use the software. There’s no real reason why that needs paying for, but for most suppliers it’s a handy control point where they can force you to contribute towards the cost of creating the software and towards the cost of creating the new features in the next version.
    It comes as a surprise to some to discover this is actually a recurring cost. Most likely you will also need to update, renew or upgrade this license when the next version comes out. It’s also possible the license will be predicated on having a valid support agreement.
  • A support agreement. This is worth paying-for as it delivers real business value. Without it, you’d be on your own when you ran into problems. With it, you have someone to report problems to, and hopefully you’ll receive the assistance you need to work round the problem and ultimately to correct it. Your support agreement will be codified into some sort of service level agreement, telling you how often you can call, when you’ll get an answer and how hard the supplier will work on helping you.
    As well as paying for the staffing and infrastructure to provide all this, the money you pay goes towards “sustaining” the product – that is to say, keeping it working as the environment around it changes. Sustaining includes testing the software on new versions of the operating system or application server, for example.
    You’ll need to keep this agreement up-to-date, so you’ll need to pay for each year that’s covered by it. You will also need to have a right-to-use the software, so you will need to keep that up to date as a precondition.
Both of these things will be priced to also cover the cost of selling them to you – a substantial cost since most commercial tendering processes involve extensive work by experts in order to create a response. Both will also include a mark-up so that the transaction is profitable for your supplier. You’ll also note that both items will be likely to need regular renewal, and that both are probably linked to each other, forming in a sense a single transaction spread over time.
Mua nguồn mở
Khi bạn mua một đăng ký dài hạn đối với phần mềm nguồn mở, bạn đang trả tiền cho tất cả những thứ tương tự ở một mức độ nào đó. Trong khi thực tế bạn là tự do sử dụng phần mềm vì bất kỳ mục đích gì nghĩa là không có bổn phận phải trả tiền - bạn luôn có quyền sử dụng phần mềm - thì tất cả những thứ y hệt sẽ là những khoản ở trên vẫn nên phải trả. Một sự đăng ký dài hạn chỉ là cách mềm dẻo hơn cho việc phân phối các chi phí cho việc tạo ra và duy trì bền vững phần mềm và lăn cả 2 chi phí đó vào cùng với chi phí thỏa thuận mức dịch vụ mà bạn cần.
Đó là vì lợi ích của bạn trong vấn đề này. Bạn không muốn không có sự hỗ trợ, sự phát triển duy trì bền vững hoặc đang diễn ra. Đơn giản là có ý nghĩa để bảo vệ đầu tư của bạn trong phần mềm bằng việc đóng góp cho sự phát triển hiện hành của nó thông qua nhà cung cấp đăng ký dài hạn của bạn theo cách này. Nhưng bạn cũng có quyền tự do của phần mềm, chứ không chỉ nhà cung cấp của bạn mới có.
Cũng rẻ hơn để có được vì không cần quản lý giấy phép, có 2 lý do giá có lẽ là ít hơn đối với một đăng ký dài hạn nguồn mở so với một kết hợp về thỏa thuận quyền sử dụng/hỗ trợ SHĐQ đi cùng với nhau qua một khoảng thời gian như nhau:
  • Trước tiên là chi phí mua có thể là thấp hơn, khi bạn tự do sử dụng phần mềm trước rồi sau đó mới đăng ký dài hạn. Nếu qui trình mua sắm của bạn tạo ra sự không cho phép đối với một tiếp cận sử dụng trước, thì bạn sẽ không có khả năng nhận thức được sự tiết kiệm chi phí này khi nhà cung cấp của bạn sẽ phải làm việc cật lực để bán cho bạn và sẽ vì thế phải phản ánh điều đó vào giá.
  • Thứ 2 là chi phí tạo ra phần mềm có thể thấp hơn. Trong một cộng đồng nguồn mở, mỗi người tham gia trả theo cách riêng của họ và gặt sự tưởng thưởng theo các riêng của họ, nên việc đầu tư vốn để tạo ra phần mềm không nhất thiết phải được phản ánh trong giá. Tuy nhiên, nhà cung cấp của bạn vẫn cần sử dụng một số lượng hợp lý các thành viên cộng đồng để đóng góp cho các phiên bản sau, vì thế sự tiết kiệm chi phí có lẽ là khổng lồ.
Buying Open Source
When you buy a subscription to open source software, you are paying for all the same things to one degree or another. While the fact you are free to use the software for any purpose means there is no compulsion to pay – you always have the right to use the software – all of the same things that are in both items above still need to be paid for. A subscription is just a more flexible way of distributing the costs of creating and sustaining the software and rolls both of those costs in with the cost of the service level agreement you need.
It’s in your interests for this to be the case. You don’t want to be left without support, sustaining or ongoing development. It’s simply good sense to protect your investment in the software by contributing to its ongoing development through your subscription supplier in this way. But you have software freedom too, not just your supplier.
As well as being cheaper to own because there’s no need for license management, there are two reasons the price is likely to be a little less for an open source subscription than for a proprietary right-to-use/support agreement combination taken together over a similar period:
  • The first is that cost of sale could well be lower, as you are free to adopt the software first and subscribe later. If your procurement process makes no allowance for an adoption-led approach, you will not be able to realise this cost saving as your supplier will have to work just as hard to sell to you and will thus have to reflect that in the price.
  • The second is that the cost of creating the software might be lower. In an open source community, every participant pays their own way and reaps their own reward, so the sunk cost of creating the software doesn’t necessarily have to be reflected in the price. However, your supplier still needs to employ a reasonable number of community members to contribute to future versions, so this cost saving is unlikely to be huge.
Căn bản khác nhau
So sánh chi phí đăng ký dài hạn của bạn với chi phí của giải pháp SHĐQ cạnh tranh là không dễ, nhưng nếu bạn làm thì bạn có thể thấy rằng qua một vòng đời của phần mềm thì các chi phí là có thể so sánh được đại thể - nếu bạn chọn mua tất cả mọi thứ được đề cập tới. Nhưng đó là một chữ “nếu” to lớn - nhiều khả năng bạn sẽ không làm thế.
Lợi ích lớn của nguồn mở - và sự tự do nó mang theo - là bạn được quyết định. Bạn có thể chọn thuê hoặc chỉ định nhân sự của riêng bạn để bao một số sự hỗ trợ. Bạn có thể chọn để có những lập trình viên của riêng bạn làm việc trong cộng đồng cho một phần của vòng đời. Bạn có thể tắt hoặc bật thỏa thuận hỗ trợ thông qua vòng đời đó mà không mất quyền sử dụng phần mềm. Và những cơ hội là điều thị trường cho việc đưa ra một đăng ký mua dài hạn trong bất kỳ dự án nguồn mở được đưa ra nào sẽ là cạnh tranh, giữ cho các chi phí hạ như là một hệ quả. Các nhà cung cấp của bạn phải là có hiệu quả và sạch sẽ mà không có biện pháp khóa trói SHĐQ nào.
Bài học để kéo từ tất cả những thứ này là bạn không thể so sánh sự đăng ký mua dài hạn nguồn mở với chỉ thỏa thuận hỗ trợ từ một sản phẩm SHĐQ, và có một sự mềm dẻo trong những đăng ký mua dài hạn nguồn mở mà cho phép bạn kiểm soát các chi phí theo một cách thức mà hầu hết không bao giờ sẵn sàng từ các nhà cung cấp SHĐQ, những người có lẽ phần nhiều sẽ đặt các giá của họ cao hơn một khi bạn bị khóa trói, và tệ nhất để làm đòn bẩy cho sự khóa trói đó để đảm bảo chi phí IT của bạn ngày càng nhiều hơn nữa.
Vì thế hãy chắc chắn chính sách mua sắm của bạn phản ánh những thực tế này và không chỉ giả thiết nguồn mở có thể được điều chỉnh y như SHĐQ. Nó không thể, và nếu bạn cố thì bạn sẽ không đạt được phần thưởng của sự tự do mà nguồn mở mang lại.
Chalk And Cheese
Comparing the cost of your subscription with the cost of the competing proprietary solution is not easy, but if you do you are likely to find that over the lifecycle of the software the costs are broadly comparable – if you choose to buy all the things that are covered. But that’s a big “if” – the chances are you won’t do that.
The great benefit of open source – and the liberty it brings – is that you get to decide. You can choose to hire or assign your own staff to cover some of the support. You might choose to have your own developers work in the community for part of the lifecycle. You can turn the support agreement on and off throughout that lifecycle without losing the right to use the software. And the chances are that the market for delivering a subscription on any given open source project will be competitive, keeping costs down as a consequence. No proprietary lock-in means your suppliers have to stay lean and effective.
The lesson to draw from all this is that you can’t compare the open source subscription with just the support agreement from a proprietary product, and there is a flexibility in open source subscriptions that allows you to control costs in a way that’s almost never available from proprietary vendors, who are much more likely to put their prices up once you’re locked in, and worse to leverage that lock-in to secure more and more of your IT spending.
So make sure your procurement policy reflects these realities and doesn’t just assume open source can be handled the same way as proprietary. It can’t, and if you try you’ll not reap the rewards of the liberty open source brings.
[First published on ComputerWorldUK, March 3rd, 2011]
Dịch tài liệu: Lê Trung Nghĩa

Mừng sinh nhật LibreOffice


Happy Birthday LibreOffice
By Sean Michael Kerner | September 28, 2011
Bài được đưa lên Internet ngày: 28/09/2011
Lời người dịch: Tuần này Quỹ Tài liệu TDF đã kỷ niệm tròn 1 năm tuổi kể từ khi rẽ nhánh khỏi OpenOffice.org để tạo ra LibreOffice. LibreOffice hiện được 330 lập trình viên đóng góp xây dựng, trong đó 25% tới từ SuSE và cộng đồng các tình nguyện viên, 20% tới từ Red Hat và 20% tới từ kho mã nguồn của OpenOffice.org. Sau một năm tinh chỉnh, hiện LibreOffice đã nhẹ hơn nhiều so với trước, và trở thành bộ phần mềm văn phòng mở tiêu chuẩn mặc định/defacto cho các phát tán Linux như Fedora, Ubuntu..., trong khi đó, OpenOffice.org đã trở thành một dự án của Quỹ Phần mềm Apache.
Từ các hồ sơ “Thời gian bay”:
Đã một năm trôi qua rồi ư? Đúng là thời gian bay vù vù.
Tuần này Quỹ Phần mềm Tự do đã kỷ niệm 1 năm tuổi của mình. Đó là 1 năm kể từ khi họ rẽ nhánh khỏi OpenOffice để đi trên một con đường mới với LibreOffice.
Một năm trước, tôi từng nghi ngờ rằng OpenOffice có thể sống sót với sự chia tách này. Hóa ra là, Oracle có nhiều cuộc chiến trong họ và vì thế họ cũng không bao giờ vứt bỏ một cách dễ dàng.
Dự án Apache OpenOffice của Oracle đang sống và thời gian sẽ trả lời nó sẽ tiến bộ như thế nào. Nhưng đó mới chỉ là phỏng đoán.
LibreOffice thì đã trở thành bộ phần mềm văn phòng mở tiêu chuẩn mặc định/defacto cho các phát tán Linux. Cũng chính công cụ mà tôi dựa vào để kiếm sống như một nhà báo. Tôi sử dụng LibreOffice hàng ngày và cảm ơn tất cả những ai đã đóng góp cho nó và đã làm cho nó như thế:
Một môi trường văn phòng đầy đủ chức năng mà tôi có thể chậy mà không cần mua thêm RAM, về cơ bản là thế.
Hãy đối mặt với thực tế ở đây, OpenOffice là béo và chiếm nhiều tài nguyên hệ thống, LibreOffice đã cải tiến cái đó một cách đáng kể, nhưng rõ ràng vẫn còn nhiều việc phải làm.
Theo Quỹ Tài liệu có khoảng 25 triệu người sử dụng LibreOffice ngày hôm nay. Mã nguồn có từ 330 người đóng góp đã thực hiện hơn 25.000 đề xuất. Họ cũng lưu ý rằng, SuSE và những người tình nguyện trong cộng đồng là mới đối với dự án này đã cung cấp khoảng 25% mỗi đề xuất, với 20% tiếp theo tới từ Red Hat và 20% khác tới từ kho mã nguồn của OpenOffice.org.
Chúc mừng sinh nhật và tôi không thể chờ để xem những gì trong kho cho năm thứ 2!
From the 'Time Flies' files:
Has it been a year already? Time sure does fly.
This week the The Document Foundation celebrated its' 1-year anniversary. That's 1 year since they forked OpenOffice to go a new route with LibreOffice.
A year ago, I was skeptical that OpenOffice would survive the split. As it turns out, Oracle has a lot of fight in them and hey they never give up easily either.
Oracle's Apache OpenOffice project is alive and time will tell how well it is progressing. But it is still around.
LibreOffice on the hand has become the default/defacto standard open office suite for Linux distros. It is also the tool that I rely on to make my living as a journalist. I use LibreOffice every day and am thankful to all those that contributed to it and made it what it is:
A functional office environment that I can run without the need to buy more RAM on a regular basis.
Let's face facts here, OpenOffice is bloated and takes way too much system resources, LibreOffice has improved that significantly, but there is still clearly much work to be done.
According to the Document Foundation there are some 25 million users of LibreOffice today. The code has come from 330 contributors that have made more than 25,000 commits. They also note that, SUSE and community volunteers new to the project have provided around 25 percnet each of the commits, with a further 20 percent coming from RedHat and another 20 percent coming from the OpenOffice.org code base.
Happy Birthday and I can't wait to see what's in store for year two!
Dịch tài liệu: Lê Trung Nghĩa

Thứ Hai, 3 tháng 10, 2011

Giá thành thật của các quỷ lùn bằng sáng chế: 500 ngàn tỷ USD


The True Cost of the Patent Trolls: Half a Trillion Dollars
Published 10:45, 20 September 11, by Glyn Moody
Bài được đưa lên Internet ngày: 20/09/2011
Lời người dịch: Chúng ta đã làm quen với những quỷ lùn bằng sáng chế, những thực thể chuyên mua bán các bằng sáng chế phần mềm để kiện các công ty phần mềm ra tòa và moi tiền của những người bị kiện. Bài viết này nói về một cuốn sách, có tên “Sự thất bại của Bằng sáng chế” (Patent Failure), đưa ra một con số mà đám quỷ lùn đã gây ra cho các nền công nghiệp, mà hàng đầu là phần mềm, là “500.000 tỷ USD của cải bị mất đối với những người bị kiện từ 1990 qua 2010”: có đủ tồi tệ đối với bạn không?” “Trong vòng 4 năm qua của cải bị mất trung bình hơn 80 tỷ USD mỗi năm. Những người bị kiện hầu hết là các công ty công nghệ đầu tư mạnh vào nghiên cứu & phát triển (R&D). Ở mức độ mà sự kiện cáo này thể hiện một chi phí kinh doanh không thể tránh khỏi đối với những người phát triển công nghệ, nó làm giảm lợi nhuận mà các hãng đã tạo ra trong những đầu tư công nghệ của họ. Đó là, những vụ kiện pháp lý làm giảm đi một cách to lớn những động lực của họ để đổi mới sáng tạo”. End Software Patent.
Tôi đã viết một số bài về những lỗi cố hữu của các bằng sáng chế, đặc biệt trong lĩnh vực phần mềm. Chúng là những gì phải làm với những ý định tốt về các bằng sáng chế sẽ không được phát hành. Nhưng cùng với những thứ đó thì những ai cố gắng sử dụng các bằng sáng chế khi họ được cho là có ý định là một nhóm khác mà họ về cơ bản là những kẻ ăn bám - những người kiếm cách chơi hệ thống này, và rút tiền từ những yếu kém của nó: những con quỷ lùn về bằng sáng chế (Patent Troll).
Ngoài bản thân những quỷ lùn bằng sáng chế ra, ít ai có được một từ tốt đẹp cho chúng, vì khá là rõ ràng đối tới từng người rằng chúng bòn rút tiền của các công ty làm ra của cải, và vì thế hành động như một chiếc phanh đối với đổi mới sáng tạo thực sự. Nhưng những cảm giác đó đa phần không lượng hóa được. Bây giờ, nhờ có công việc gần đây của các tác giả cuốn sách còn phôi thai “Sự thất bại của Bằng sáng chế” (Patent Failure), James Bessen và Michael Meurer, cùng với một tác giả thứ 3, Jennifer Laurissa Ford, chúng tôi có thể lần đầu tiên đánh giá được chặt chẽ thiệt hại mà chúng gây ra. Nó thậm chí còn tệ hại hơn chúng ta tưởng:
Các hãng mà cấp phép bằng sáng chế mà không sản xuất ra hàng hóa - “các thực thể không hoạt động thực tiễn” NPEs (Non-Practicing Entities) - về mặt lịch sử có các thị trường công nghệ được tạo thuận lợi và đã gia tăng được lợi nhuận mà những nhà phát minh sáng chế nhỏ kiếm được từ những phát minh sáng chế của họ.
Nhưng một vụ gặt mới tự được mô tả của NPEs đã nổi lên, đánh giá các bằng sáng chế và kiện cáo tranh chấp chúng ở một mức độ phạm vi chưa từng thấy, liên quan tới hàng ngàn người bị kiện cáo mỗi năm trong hàng trăm vụ kiện. Liệu những NPEs hay kiện cáo này có thúc đẩy được các thị trường cho công nghệ và làm gia tăng các động lực cho các phát minh sáng chế nhỏ không nhỉ? Hay là có những “quỷ lùn bằng sáng chế” khai thác những điểm yếu trong hệ thống bằng sáng chế này?
I've written a number of pieces about the inherent flaws of patents, especially in the field of software. Those are mostly to do with how the good intentions of patents are not realised. But alongside those who try to use patents as they were supposedly intended are another group who are essentially parasites - those who seek to game the system, and extract money from its weaknesses: the patent trolls.
Aside from the patent trolls themselves, few have a good word for them, since it's pretty obvious to everyone that they suck money out of companies that make stuff, and thus act as a brake on real innovation. But those feelings have been largely unquantified. Now, thanks to recent work of the authors of the seminal book “Patent Failure”, James Bessen and Michael Meurer, along with a third author, Jennifer Laurissa Ford, we have perhaps the first rigorous estimate of the damage they cause. It's even worse than we thought:
Firms that license patents without producing goods—“ non-practicing entities” (NPEs)— have historically facilitated technology markets and increased the profits that small inventors earn from their inventions.
But a self-described new crop of NPEs has emerged that asserts patents and litigates them on an unprecedented scale, involving thousands of defendants every year in hundreds of lawsuits. Do these litigating NPEs improve markets for technology and increase incentives for small inventors? Or are they “patent trolls” who exploit weaknesses in the patent system?
Tài liệu này có vài phát hiện về sự kiện cáo này. Trước hết, bằng việc quan sát những gì xảy ra đối với giá cổ phiếu của những người bị kiện xung quanh việc đệ trình một vụ kiện bằng sáng chế, chúng ta có khả năng đánh giá được tác động của vụ kiện lên sự giàu có của các hãng đó, sau khi tính tới những xu thế thị trường chung và các yếu tố ngẫu nhiên ảnh hưởng tới cổ phần một cách riêng rẽ. Chúng tôi thấy rằng các vụ kiện của NPE có liên quan tới 500.000 tỷ USD mất của cải đối với những người bị kiện từ 1990 qua 2010. Trong vòng 4 năm qua của cải bị mất trung bình hơn 80 tỷ USD mỗi năm. Những người bị kiện hầu hết là các công ty công nghệ đầu tư mạnh vào nghiên cứu & phát triển (R&D). Ở mức độ mà sự kiện cáo này thể hiện một chi phí kinh doanh không thể tránh khỏi đối với những người phát triển công nghệ, nó làm giảm lợi nhuận mà các hãng đã tạo ra trong những đầu tư công nghệ của họ. Đó là, những vụ kiện pháp lý làm giảm đi một cách to lớn những động lực của họ để đổi mới sáng tạo.
“500.000 tỷ USD của cải bị mất đối với những người bị kiện từ 1990 qua 2010”: có đủ tồi tệ đối với bạn không?
Thú vị là, tài liệu mới phát hiện rằng công nghiệp phần mềm bị ảnh hưởng còn hơn tất cả: đặc điểm của sự kiện cáo này là dễ phân biệt được: nó tập trung vào phần mềm và các công nghệ có liên quan, nó nhằm vào các hãng mà đã phát triển công nghệ rồi, và hầu hết những vụ kiện đó có liên quan tới nhiều hãng lớn như là những người bị kiện. Những đặc tính này gợi ý rằng sự kiện cáo này khai thác những điểm yếu trong hệ thống bằng sáng chế. Trong cuốn sách Thất bại của Bằng sáng chế của chúng tôi, chúng tôi viện lý rằng trong phần mềm và các phương pháp kinh doanh bị kiện cáo thường xuyên hơn nhiều vì chúng có “các đường biên mù mờ”. Phạm vi của các bằng sáng chế này là không rõ ràng, chúng thường được viết theo các ngôn ngữ mơ hồ, và các công ty công nghệ không thể dễ dàng thấy chúng và hiểu chúng nói cái gì. Dường như nhiều sự kiện cáo của các NPE tận dụng được những điểm yếu này.
This paper makes several findings about this litigation. First, by observing what happens
to a defendant’s stock price around the filing of a patent lawsuit, we are able to assess the effect of the lawsuit on the firm’s wealth, after taking into account general market trends and random factors affecting the individual stock. We find that NPE lawsuits are associated with half a trillion dollars of lost wealth to defendants from 1990 through 2010. During the last four years the lost wealth has averaged over $80 billion per year. These defendants are mostly technology companies who invest heavily in R&D. To the extent that this litigation represents an unavoidable business cost to technology developers, it reduces the profits that these firms make on their technology investments. That is, these lawsuits substantially reduce their incentives to innovate.
“Half a trillion dollars of lost wealth to defendants from 1990 through 2010”: bad enough for you? Interestingly, the new paper finds that the software industry is affected more than most:
the characteristics of this litigation are distinctive: it is focused on software and related technologies, it targets firms that have already developed technology, and most of these lawsuits involve multiple large companies as defendants. These characteristics suggest that this litigation exploits weaknesses in the patent system. In our book Patent Failure, we argue that patents on software and business methods are litigated much more frequently because they have “fuzzy boundaries.” The scope of these patents is not clear, they are often written in vague language, and technology companies cannot easily find them and understand what they claim. It appears that much of the NPE litigation takes advantages of these weaknesses.
Tài liệu cũng xem xét lý lẽ rằng các quỷ lùn bằng sáng chế là tốt cho những nhà phát minh sáng chế nhỏ, những người có thể được cho là sử dụng chúng để có được một phần thưởng cho công việc của họ mà nếu khác đi có thể không được thừa nhận. Nhưng tác động này hóa ra là bé tí xíu so với những mất mát khổng lồ được giáng xuống:
chúng tôi có thể nói rằng ít hơn 2% những mất mát của những người bị kiện có thể đại diện cho sự truyền sang các nhà phát minh sáng chế độc lập và có lẽ hoàn toàn đúng con số là còn nhỏ hơn nhiều so với 2%.
Hơn nữa:
những động lực được đưa ra cho những người nắm các bằng sáng chế đối với sự thu hoạch hiện hành của các NPE có thể là một dạng các động lực sai trái. Sự kiện tụng gia tăng mạnh có thể khuyến khích các động lực để giành được các bằng sáng chế, đặc biệt các bằng sáng chế rộng lớn và mù mờ, hơn là những động lực để thực sự đổi mới sáng tạo.
Các tác giả kết luận:
Để tổng kết, có nhiều kẻ thua lớn từ sự kiện cáo của các NPE, trong khi khó có ai đó hưởng được nhiều lợi. Các hãng bị kiện và các khách hàng của họ thua thiệt trong khi những người nắm các bằng sáng chế giành được rất ít nếu so sánh.
Thậm chí các nhà đầu tư vào các hãng NPE cũng đã giành được ít - những hãng này ngắt đều một cách trần trụi dựa vào doanh thu thực cộng dồn của họ trong bảng 4. Hình như, những kẻ hưởng lợi thực sự duy nhất là các luật sư và có lẽ là những người đứng đầu các hãng NPE.
Điều đó là quan trọng, vì nó có nghĩa là bất kể giành được các bằng sáng chế thế nào cũng có thể mang lại cho nền kinh tế kinh doanh - và giả thiết chúng có mang lại, chẳng là cái gì cho thế giới phần mềm, xét về các con số được bàn thảo trong “Sự thất bại của Bằng sáng chế” - hầu hết được cân nhắc chống lại sự mất 500.000 tỷ USD về tiền mà có thể nếu không sẽ được chi cho đổi mới sáng tạo thực sự, hơn là cho việc hỗ trợ cách sống phồn vinh giả tạo của đám quỷ lùn và những luật sư của họ.
The paper also examines the argument that patent trolls are good for smaller inventors, who can allegedly use them to obtain a reward for their work that might not otherwise be recognised. But the effect turns out to be minuscule against the backdrop of the losses inflicted:
we can state that less than 2% of the defendants’ losses could represent a transfer to independent inventors and quite possibly the true figure is much smaller than 2%.
Moreover:
the incentives provided to patent holders by the current crop of NPEs may be the wrong kind of incentives. The extensive litigation may encourage incentives to obtain patents, especially overly broad and vague patents, rather than incentives to actually innovate.
The authors conclude:
To summarize, there are a lot of big losers from NPE litigation, while hardly anyone benefits much. The defendant firms and their customers lose while patent holders gain very little by comparison. Even the investors in NPE firms have gained little—these firms barely break even based on their cumulative net income in Table 4. Apparently, the only real beneficiaries are the lawyers and perhaps the principals of the NPE firms.
That's important, because it means whatever gains patents may bring to the business economy - and that's assuming they do bring any, which seems not to be the case for the software world, judging by the figures discussed in “Patent Failure” - most be weighed against the half-trillion-dollar loss in terms of money that could otherwise have been spent on real innovation, rather than on supporting the luxuriant lifestyle of trolls and their lawyers.
Dịch tài liệu: Lê Trung Nghĩa

Cuộc gặp của Microsoft với đại sứ Mỹ ở Brazil về chính trị của ODF


Microsoft meeting with US Ambassador to Brazil regarding politics of Open Document Format (ODF) proposal to ISO
Submitted by James Love on 4. September 2011 – 16:56
Bài được đưa lên Internet ngày: 04/09/2011
Lời người dịch: Nhiều người lớn tiếng về việc thị trường là thị trường, không dính dáng gì đến chính trị. Nhưng Microsoft không làm thế. Microsoft cần các nhà chính trị để bù đắp cho sự yếu kém sản phẩm của hãng. Câu chuyện này liên quan trực tiếp tới vụ tiêu chuẩn OOXML có trong bộ phần mềm văn phòng Microsoft Office của hãng từ năm 2007. Bạn hãy đọc, chiêm nghiệm và cố gắng đừng có mắc bẫy khi phải sự dụng hàng như thế này. Đọc thêm: [01] và [02].
Vào ngày 21/12/2007, Tổng lãnh sự Mỹ ở São Paulo, Thomas White, đã viết một điện tin với đầu đề: MICROSOFT XEM CHÍNH PHỦ BRAZIL TẤN CÔNG CHỐNG LẠI QUYỀN SỞ HỮU TRÍ TUỆ (IPR). Điện tin này đã được coi là mật của James Story, người đứng đầu của Econ/Pol.
Trong điện tin, White báo cáo trong một cuộc gặp ngày 20/12 tại Sao Paulo giữa Đại sứ Mỹ ở Brazil, Clifford Sobel, và Chủ tịch Micrsoft Brazel Michel Levy. Chủ đề của cuộc gặp là những lo lắng của Microsoft rằng Brazil từng:
“thúc đẩy các quốc gia để áp dụng định dạng tài liệu mở ODF trong sự mất mát phí tổn của XML trong cuộc họp hồi tháng 03 của Tổ chức Tiêu chuẩn Quốc tế ISO tại Geneva”.
Levy được cho là sở hữu các bức thư không được ký từ Bộ Ngoại giao (được tham chiếu tới như là “Itamaraty” trong điện tin), cho các chính phủ nước ngoài, yêu cầu rằng họ cộng tác để hỗ trợ chuẩn mở ODF như là tiêu chuẩn quốc tế. Tất nhiên, nếu điều này là đúng, thì điều này có thể không ngạc nhiên, vì khi đó, đã có sự ủng hộ rộng rãi giữa các chính phủ không phải Mỹ, các công ty phần mềm phi Microsoft, các nhóm người tiêu dùng và những người bảo vệ phần mềm tự do để thúc đẩy cho ODF như một tiêu chuẩn mở cho các định dạng tệp.
Điện tin nói rằng Microsoft đã đang tìm tư vấn bí mật, hơn là biện hộ, từ ngài Đại sứ. Sự tư vấn như vậy sắp diễn ra: “Đại sứ Sobel đã đưa ra sự tư vấn về một loạt các tiếp cận SIPDIS mà Microsoft có thể nắm lấy trong việc tạo ra sự hỗ trợ cho các tiêu chuẩn mà có thể có chỗ cho cả các phần mềm ODF và XML”.
Michel Levy đã biểu lộ những lo lắng về Tham mưu Trưởng của Lula (cựu tổng thống Brazil), Dilma Rousseff:
On December 21, 2007, the U.S. Consul General for São Paulo, Thomas White, wrote a cable titled: MICROSOFT SEES GOB ATTACKS AGAINST IPR. The cable was classified by James Story, the Econ/Pol Chief.
In the cable, White reports on a December 20 meeting in Sao Paulo between the U.S. Ambassador to Brasil, Clifford Sobel, and Microsoft Brazil President Michel Levy. The subject of the meeting was Microsoft's concerns that Brasil was:
"pushing for countries to adopt the ODF (Open Document Format) at the expense of XML at the March meeting of the International Standards Organization in Geneva."
Levy claimed to be in possession of unsigned letters from the Ministry of Foreign Affairs (which is referred to as "Itamaraty" in the cable), to foreign governments, asking that they collaborate to support the open source ODF as the international standard. Of course, if this was true, it would not be surprising, since at the time, there was broad support among non-US governments, non-Microsoft software companies, consumer groups and free software advocates to push for ODF as an open standard for file formats.
The cable says that Microsoft was seeking confidential advice, rather than advocacy, from the Ambassador. Such advice was forthcoming: "Ambassador Sobel did offer advice on various SIPDIS approaches Microsoft could take in generating support for standards that would have room for both ODF and XML software."
Michel Levy expressed concerns about Lula's Chief of Staff, Dilma Rousseff:
Levy tin tưởng rằng vấn đề này đã biến thành tư tưởng và là một biểu thị chống Mỹ trong Itamaraty. Ông đã trích lời Tham mưu trưởng của Tổng thống Lula Dilma Rousseff cũng như cố vấn cao cấp Celso Alvarez đang là kiến trúc sư trưởng của một chiến lược chống lại tiền bản quyền, chống các quyền sở hữu trí tuệ bên trong chính phủ Brazil. Theo Levy, các cố vấn này đã thuyết phục Tổng thống Lula rằng không có sự khác biệt giữa các phần mềm ODF và XML sở hữu độc quyền. Mối lo chính của ông ta là việc chính phủ Brazil sẽ sử dụng ABNT để áp dụng chỉ tiêu chuẩn ODF bằng sắc lệnh hơn là đi qua Quốc hội nơi mà Microsoft có thể ít nhất có một cơ hội để giải thích những khác biệt giữa các hệ thống phần mềm. Levy đã sử dụng như một ví dụ rằng tất cả các thiết kế của Embraer được tạo ra thông qua XML và rằng phần mềm ODF hiện hành đơn giản không thể làm được công việc y hệt. Nếu ODF là tiêu chuẩn duy nhất, Levy đã viện lý, thì có thể có những sự rẽ nhánh kinh tế đối với Brazil.
Điện tin kết luận với lời nhận xét rằng: “Những lo lắng của Microsoft rằng chính phủ Brazil đang tìm cách áp dụng tiêu chuẩn duy nhất mà không cho phép phần mềm sở hữu độc quyền, hãy canh chừng”.
Xem bức điện tin ở đây:
Levy believes that this issue has turned ideological and is a manifestation of anti-Americanism within Itamaraty. He cited President Lula's Chief of Staff Dilma Rousseff as well as high-ranking advisor Celso Alvarez as being the chief architects of an anti-IPR, anti-royalties strategy within the GOB. According to Levy, these advisors have convinced President Lula that there is no difference between ODF and proprietary XML software. His main concern is that the GOB will use the ABNT to adopt an ODF only standard by decree rather than going through Congress where Microsoft would at least have an opportunity to explain the differences between the software systems. Levy used as an example that all of Embraer's designs are created through XML and that the current ODF software simply can't do the same job. If ODF is the only standard, Levy argued, there could be economic ramifications for Brazil.
The cable concludes with the observation that: "Microsoft's concerns that the GOB is seeking to adopt one standard that does not allow for proprietary softwear, bears watching."
Dịch tài liệu: Lê Trung Nghĩa

Chủ Nhật, 2 tháng 10, 2011

Kiến nghị Nhà Trắng Chấm dứt Bằng sáng chế Phần mềm đang nóng


White House Petition to End Software Patents Is a Hit
Bây giờ Quốc hội đã thất bại trong cải cách các bằng sáng chế phần mềm, liệu chính quyền Obama có tiếp bước?
Now that Congress failed to reform software patents, will the Obama administration step up?
Christopher Mims 09/23/2011
Bài được đưa lên Internet ngày: 23/09/2011
Lời người dịch: Từ ngày 23/09/2011, trên website của Nhà Trắng, có kiến nghị “Ra lệnh cho Văn phòng Bằng sáng chế Chấm dứt Trao các Bằng sáng chế Phần mềm” đang được lấy chữ ký của mọi người. Nếu đủ 5.000 chữ ký cho tới thời hạn hết 1 tháng (hết hạn vào ngày 23/10/2011) thì chính quyền sẽ trả lời các công dân bằng văn bản. Chỉ trong ngày đầu tiên, nó đã thu được chỉ còn thiếu 531 chữ ký là đủ 5.000. Còn tại thời điểm bài này được dịch xong, con số đó đã là gần 13.000 rồi. Thế mới biết, những người Mỹ còn không chịu nổi chế độ bằng sáng chế của chính họ, huống gì người Việt Nam chúng ta. Vì nó có thể đưa đường cho tất cả các công ty phần mềm Việt Nam đến với sự tuyệt chủng một cách nhanh chóng.
Vào lúc này, trên website chính thức của Nhà Trắng về kiến nghị cho chính phủ, thứ duy nhất phổ biến như việc hợp pháp hóa cần sa và tách nhà thờ khỏi nhà nước là một kiến nghị để “Ra lệnh cho Văn phòng Bằng sáng chế Chấm dứt Trao các Bằng sáng chế Phần mềm”.
Có nhiều lý do tốt để chấm dứt thực tiễn về bằng sáng chế phần mềm, bao gồm thực tế rằng các bằng sáng chế là động cơ trước hết cho việc truyền của cải từ các nhà phát minh sáng chế, những người tạo ra nó cho các quỷ lùn bằng sáng chế với “sản phẩm” duy nhất của họ là kiện cáo tranh chấp. (Các bằng sáng chế phần mềm đôi khi cũng được các công ty lớn sử dụng để hạ gục các đối thủ cạnh tranh của họ chỉ bằng một hai cái, trong những gì dường như giống một nỗ lực chất đống vô số các phí cấp phép chồng chéo nhau mà chúng tất cả đều xóa bỏ lẫn nhau).
Vì thế, nếu bạn đồng ý rằng sự điên rồ này phải chấm dứt, tốt hơn hết bạn hãy tự tới WhiteHouse.gov, vì như lần cuối tôi tải lại site đó, thì kiến nghị vẫn còn cần 531 chữ ký nữa để được một câu trả lời chính thức.
Không may, “câu trả lời chính thức đó” - một tuyên bố được viết xuống - là tất cả những gì mà bất kỳ ai có thể mong đợi từ nỗ lực này. Dường như là thậm chí dù Hiến pháp Mỹ đưa ra một con đường cho các công dân để kiến nghị với chính phủ của họ, thì nó chẳng nói lên được gì về cách mà chính phủ nên xử lý những kiến nghị này.
Hy vọng ít nhất ai đó đặt chúng qua được vũng nước mát hơn, sao cho các nhà ra chính sách của chính quyền có thể nhận ra được ý nghĩa về cách mà các nhánh khác của chính phủ đang không giải quyết một trong những vấn đề thúc bách nhất của nền công nghiệp công nghệ.
At this moment, on the White House's official website for petitioning the government, the only thing as popular as legalizing marijuana and separating church from state is a petition to "Direct the Patent Office to Cease Issuing Software Patents."
There are lots of good reasons to end the practice of patenting software, including the fact that software patents are primarily a vehicle for transferring wealth from the innovators who create it to patent trolls whose sole "product" is litigation. (Software patents are also sometimes used by big companies to take their rivals down a peg or two, in what seems like an effort to pile up so many cross-licensing fees that they all cancel each other out.)
Anyway, if you agree that this madness must stop, you'd better get yourself over to WhiteHouse.gov, because as of the last time I reloaded that site, the petition still needed 531 more signatures in order to merit an official response.
Unfortunately, that "official response"—a written statement—is about all anyone can expect from this effort. It seems that even though the U.S. Constitution provides an avenue for citizens to petition their government, it says nothing about how the government should handle those petitions.
Hopefully someone's at least posting them over the water cooler, so administration decision-makers can get a sense of how those other branches of the government are failing to address one of the technology industry's most pressing issues.
Dịch tài liệu: Lê Trung Nghĩa

Kiến nghị chống lại bằng sáng chế phần mềm tới Nhà Trắng


Open source activists push anti-software-patent petition to White House top 10
Nhà Trắng mở cửa cho các kiến nghị trực tuyến
White House opens door to online petitions
By Patrick Thibodeau | Computerworld US | Published 09:20, 29 September 11
Bài được đưa lên Internet ngày: 29/09/2011
Lời người dịch: Hiện trên site kiến nghị của Nhà Trắng, với kiến nghị “chỉ thị cho văn phòng bằng sáng chế chấm dứt việc cấp các bằng sáng chế phần mềm” đã thu được cỡ 13.000 chữ ký, đứng hàng thứ 10 trong số các kiến nghị, thừa đủ để Nhà Trắng, theo lời hứa của mình là kiến nghị nào vượt ngưỡng 5.000 chữ ký trong 30 ngày, phải trả lời đối với kiến nghị đó. Hiện Nhà Trắng còn chưa trả lời cho bất kỳ kiến nghị nào. “vào năm 2009, Red Hat đã đệ trình một tóm tắt trong một vụ kiện nhằm vào vấn đề bằng sáng chế phần mềm và đã viện lý rằng các bằng sáng chế phần mềm “từ một bãi mìn làm chậm đi và không khuyến khích đổi mới sáng tạo trong phần mềm. Red Hat đã giải thích rằng “vì các sản phẩm phần mềm có thể có hàng ngàn các thành phần được trao bản quyền, nên các lập trình viên đối mặt với rủi ro phải bảo vệ trước các vụ kiện vi phạm bằng sáng chế vừa yếu và vừa tốn tiền”. Một lớp các doanh nghiệp kinh doanh mới - quỷ lùn bằng sáng chế - đã phát triển để đệ trình các vụ kiện nhằm khai thác hệ thống này”. Xem thêm: [01], [02].
Nhà Trắng tháng này đã bắt đầu cho phép mọi người tạo những kiến nghị (petitions) trên website của Nhà Trắng, và một thứ được ưa thích sớm hỏi tổng thống “chỉ thị cho văn phòng bằng sáng chế chấm dứt việc cấp các bằng sáng chế phần mềm”.
Kiến nghị này đã có hơn 12.000 chữ ký, đặt nó thành 10 kiến nghị hàng đầu trên website của Nhà Trắng.
Kiến nghị hàng đầu, hiện tại, liên quan tới việc hợp pháp hóa cần sa, với hơn 41.000 chữ ký.
Nhà Trắng đã thiết lập một qui trình khá đơn giản cho mọi người để tạo hoặc ký một kiến nghị. Nó yêu cầu tên và địa chỉ thư điện tử, và sau đó kiểm tra thư.
Nhà Trắng đang hứa hẹn trả lời cho bất kỳ kiến nghị nào mà đáp ứng được ngưỡng 5.000 chữ ký trong vòng 30 ngày. Nhà Trắng còn chưa trả lời cho bất kỳ kiến nghị nào.
Kiến nghị về bằng sáng chế phần mềm viện lý rằng các bằng sáng chế đã trở thành một cách “để bóp nghẹt đổi mới sáng tạo và ngăn cản sự cạnh tranh hơn là hỗ trợ cho đổi mới sáng tạo và cạnh tranh thị trường. Chúng đã trở thành một công cụ chống độc quyền được các công ty lớn sử dụng chống lại các công ty nhỏ”.
Tác giả của kiến nghị này không được công bố, như lý lẽ rằng sự nổi lên của kiến nghị này là có từ lâu.
Ví dụ, vào năm 2009, Red Hat đã đệ trình một tóm tắt trong một vụ kiện nhằm vào vấn đề bằng sáng chế phần mềm và đã viện lý rằng các bằng sáng chế phần mềm “từ một bãi mìn làm chậm đi và không khuyến khích đổi mới sáng tạo trong phần mềm”.
Red Hat đã giải thích rằng “vì các sản phẩm phần mềm có thể có hàng ngàn các thành phần được trao bản quyền, nên các lập trình viên đối mặt với rủi ro phải bảo vệ trước các vụ kiện vi phạm bằng sáng chế vừa yếu và vừa tốn tiền”. Một lớp các doanh nghiệp kinh doanh mới - quỷ lùn bằng sáng chế - đã phát triển để đệ trình các vụ kiện nhằm khai thác hệ thống này.
The White House this month began allowing people to create petitions on its website, and an early favourite asks the president to "direct the patent office to cease issuing software patents.""
The petition has more than 12,000 signatures, which puts it among the top 10 petitions on the White House website.
The leading petition, at the moment, concerns legalizing marijuana, with more than 41,000 signatures.
The White House has set up a relatively simple process for people to create or sign a petition. It asks for a name and email address, and then verifies the email.
The White House is promising a response for any petition that meets a 5,000-signature threshold within 30 days. It has not yet responded to any petition.
The software patent petition argues that patents have become a way "to stifle innovation and prevent competition rather than to support innovation and competitive markets. They've become an antitrust tool employed by large companies against small ones."
The petition's author is not disclosed, but the argument that the petition raises is longstanding.
In 2009, for instance, Red Hat filed a brief in a case that looked at the software patent issue and argued that software patents "form a minefield that slows and discourages software innovation."
Red Hat went on to explain that "because software products may involve thousands of patentable components, developers face the risk of having to defend weak but costly patent infringement lawsuits. A new class of business enterprise -- patent trolls -- has developed to file lawsuits to exploit this system."
Các lập trình viên phần mềm có thể có bản quyền cho các phần mềm của họ, ngăn cản những người khác khỏi việc sao chép tác phẩm của họ mà không được phép. Một bằng sáng chế trao cho người chủ quyền dừng ai đó khỏi việc làm, sử dụng và bán bất kỳ thứ gì đã được công bố trong bằng sáng chế, Leigh Martinson, một luật sư về bằng sáng chế tại McDermott Will & Emery ở Boston, nói.
Trong khi một bản quyền ngăn cản ai đó khỏi sao chép thứ gì đó, thì nó không dừng được ai đó khỏi áp dụng một phương pháp là một tính năng của một hệ thống phần mềm. Các bằng sáng chế được áp dụng cho các phương pháp này. Các bằng sáng chế cung cấp cho các công ty với “một ưu thế cạnh tranh, và nó giữ mọi người phải thuê”, Martinson nói. Điều khó cho lập trình viên làm việc bên ngoài cái nhà để xe phải biết liệu những gì họ đang làm có một bằng sáng chế hay chưa, ông nói.
Một điều khoản mới trong luật về bằng sáng chế, gần đây được Quốc hội phê chuẩn, trao cho một “vi thực thể” nhiều tới 75% giảm giá đối với một ứng dụng bằng sáng chế.
Liệu site đề xuất của Nhà Trắng có bất kỳ ảnh hưởng nào tới các bằng sáng chế hay tới bất kỳ vấn đề nào khác vẫn còn là một câu hỏi.
Anthony Figliola, phó chủ tịch của Empire Government Strategies, một hãng vận động hành lang có quan hệ với chính phủ có trụ sở ở New York, nói site kiến nghị của Nhà Trắng có thể bị hỏng nếu các nhóm bảo vệ chuyên nghiệp “đánh bom” site này bằng các kiến nghị và chữ ký.
Software developers can copyright their software, preventing people from making copies of their work without authorization. A patent gives the holder the right to stop someone from making, using or selling whatever has been proclaimed in the patent, said Leigh Martinson, a patent attorney at McDermott Will & Emery in Boston.
While a copyright prevents someone from making a copy of something, it doesn't stop someone from applying a method that is a feature of a software system. The patents are applied to these methods. Patents provide companies with "a competitive advantage, and it keeps people employed," said Martinson. What's hard for the developer working out of his garage is knowing whether what they are working on has a patent, he said.
A new provision in a patent law, recently approved by Congress, gives a "micro entity" as much as a 75% discount on a patent application.
Whether the White House petition site has any influence on patents or on any other issue is questionable.
Anthony Figliola, vice president of Empire Government Strategies, a New York-based grassroots lobbying and government relations firm, said the White House's petition site could be corrupted if professional advocacy groups "just bombard" the site with petitions and signatures.
Dịch tài liệu: Lê Trung Nghĩa