Thứ Năm, 3 tháng 11, 2011

Đáng đọc: Tấn công biên


Worth Reading: Attacking from the side
28 October 2011, 11:20
Bài được đưa lên Internet ngày: 28/10/2011
Lời người dịch: Khó có ai tưởng tượng ra những kịch bản tấn công vào việc mã hóa mà lại bằng âm thanh hoặc việc cung cấp điện với các cổng USB của máy tính. Vậy mà những thứ đó lại có khả năng là có thật. Bạn có tin không?
Các cuộc tấn công lên sự mã hóa thường theo các con đường quanh co. Một kịch bản tấn công biên phổ biến có liên quan tới phân tích sự tiêu thụ điện của máy tính. Như một phần của bài giảng, huyền thoại mật mã Adi Shamir đã trình bày 2 ví dụ đặc biệt miêu tả rằng điều này không phải là xa xôi hay lạ lẫm như nhiều người tưởng.
Trong một trường hợp, một trong những sinh viên của ông đã xây dựng lại một khóa RSA có sử dụng một micro siêu âm được thiết kế ban đầu cho việc nghiên cứu những con dơi. Trường hợp thứ 2, đội của ông đã xây dựng một thiết bị USB đặc biệt đã có khả năng đo đạc chính xác cực kỳ sự cung cấp điện tới cổng USB.
Attacks on encryption frequently take devious routes. One common side channel attack scenario involves analysing a computer's power consumption. As part of a lecture, cryptography legend Adi Shamir presented two specific examples illustrating that this is not as far-fetched or exotic as many people believe.
In one case, one of his students reconstructed an RSA key using an ultrasound microphone originally designed for studying bats. In a second case, his team constructed a special USB device that was able to take extremely precise measurements of the power supply to the USB port.
(crve)
Dịch tài liệu: Lê Trung Nghĩa

Thứ Tư, 2 tháng 11, 2011

Quỹ Linux đưa ra thiết kế cho Khởi động An ninh UEFI


Linux Foundation releases blueprint for UEFI Secure Boot
28 October 2011, 14:48
Bài được đưa lên Internet ngày: 28/10/2011
Lời người dịch: Chức năng khởi động an ninh UEFI dự kiến sẽ có trong hệ điều hành Windows 8 từng là một chủ đề gây tranh cãi khi nhiều người cho rằng nó sẽ khóa không cho các hệ điều hành khác, như GNU/Linux, khởi động trên cùng một máy tính có Windows 8. Quỹ Linux vừa đưa ra tài liệu phân tích kỹ thuật, trong đó đề nghị các nhà sản xuất thiết bị gốc OEM sử dụng một thiết kế cách triển khai UEFI sao cho người sử dụng có khả năng cài đặt từng hệ điều hành mà họ muốn sử dụng mà không gây ảnh hưởng và loại bỏ hệ điều hành kia, một khi họ muốn chuyển sang.
Để giải quyết các lo lắng về khả năng Microsoft sử dụng chức năng khởi động an ninh UEFI để khóa loại trừ Linux và các hệ điều hành nguồn mở khác, Quỹ Linux đã xuất bản một báo cáo xem xét UEFI và đưa ra cho các nhà sản xuất thiết bị gốc OEM một thiết kế về cách triển khai UEFI. Làm cho khởi động an ninh UEFI làm việc được với các nền tảng mở - của James Bottomley, Chủ tịch hội đồng cố vấn kỹ thuật của Quỹ và CTO của Parallels, và Jonathan Corbet, thành viên bản lãnh đạo và biên tập viên của LWN.net - tài liệu khai thác chức năng của đặc tả kỹ thuật UEFI 2169 trang “dày đặc các bit” và kết luận rằng mặc dù Khởi động An ninh là một cơ chế hữu dụng, thì công việc sẽ cần phải được thực hiện với các OEM để đảm bảo rằng các khách hàng có thể cài đặt được các khóa của riêng họ. Một kết luận tương tự đạt được trong một tài liệu đồng tác giả của Bottomley, Lập trình viên của Red Hat Matthew Garrett và Kiến trúc sư Kỹ thuật của Canonical Jeremy Kerr: “Ảnh hưởng của Khởi động An ninh lên Linux”.
Tháng trước khi Matthew Garrett đã dấy lên vấn đề này thì nó đã sợ rằng những yêu cầu của Microsoft cho Windows 8 có thể thấy các OEM xuất các phần nhão chỉ với khóa nền tảng PK (Platform Key) của Microsoft được cài đặt và điều đó chỉ có thể có khả năng khởi động an ninh cho Windows 8. Microsoft đã trả lời đối với những quan ngại này và nói rằng họ không có ý định khóa loại trừ bất kỳ hệ điều hành nào khác, nhưng đã chỉ ra rằng, muốn hay không, thì điều này sẽ có tác động tới các kế hoạch hiện hành của họ. Quỹ Phần mềm Tự do sau đó đã đưa ra một lời kêu gọi các OEM triển khai một phiên bản mở và công bằng của Khởi động An ninh UEFI, nhưng đã không đưa ra bất kỳ gợi ý nào về cách mà điều đó có thể đạt được.
Tài liệu của Quỹ Linux gọi các kế hoạch của Microsoft là “tính tới khuyến cáo UEFI rằng người chủ nền tảng sẽ là người kiểm soát PK” và nói rằng đây là “một sự lựa chọn hợp pháp đối với một người sử dụng được thông báo để thực hiện một cách tự nguyện”. Cả 2 tài liệu đều gợi ý rằng tất cả các nền tảng mà cho phép Khởi động An ninh nên xuất ra ở “chế độ cài đặt” mà có thể trao cho người chủ hệ thống sự kiểm soát hệ thống Khởi động An ninh đó. Khởi động ban đầu của một hệ điều hành nên sau đó dò tìm ra chế độ cài đặt và cài đặt một khóa trao đổi khóa KEK (key - exchange - key) và PK để cho phép Khởi động An ninh. Hệ thống này có thể sau đó khởi động một cách an ninh hệ điều hành đó. Khi một người sử dụng cần kiểm soát khởi động an ninh hệ thống của họ, thì một lựa chọn “thiết lập lại” cho các khóa UEFI có thể cho phép những khóa đó được xóa và một hệ điều hành khác được cài đặt. Windows 8 của Microsoft có thể cũng được cài đặt sẵn theo cách y hệt: sự thiết lập lại UEFI có thể sau đó mở khóa cho máy cho các hệ điều hành khác.
Tài liệu của Quỹ Linux cũng khai thác nhiều khả năng phức tạp hơn nữa của việc tạo ra một mô hình tin cậy cho UEFI, hỗ trợ cho chế độ khởi động kép và cách mà việc khởi động có thể được thực hiện từ phương tiện bên ngoài. Triển khai các khuyến cáo đầy đủ có thể cần sự cộng tác rộng rãi của nền công nghiệp, một vấn đề nằm ngoài phạm vi của tài liệu kỹ thuật. Tài liệu của Canonical/Red Hat đề nghị các OEM cho phép nói chung Khởi động An ninh được vô hiệu hóa, nhưng chỉ thông qua sự truy cập vật lý tới hệ thống, và đi tiếp trong những triển khai UEFI của họ để cũng bổ sung được một cơ chế tiêu chuẩn hóa cho việc thiết lập cấu hình các khóa trong phần dẻo.
To address worries about the possibility of Microsoft using UEFI's Secure Boot functionality to lock out Linux and other open source operating systems, the Linux Foundation has published a report which examines UEFI and offers OEMs a blueprint on how to implement UEFI. In Making UEFI Secure Boot Work With Open Platforms – by James Bottomley, Foundation Technical Advisory Board Chair and CTO of Parallels, and Jonathan Corbet, board member and editor of LWN.net – the paper explores the functionality of the "bit dense" 2169 page UEFI specification and concludes that although Secure Boot is a useful mechanism, work will need to be done with OEMs to ensure that customers can install their own keys. A similar conclusion is reached in a paper co-authored by Bottomley, Red Hat Developer Matthew Garrett and Canonical Technical Architect Jeremy Kerr: "Secure Boot Impact on Linux".
Last month when Matthew Garrett raised the issue it was feared that Microsoft's requirements for Windows 8 would see OEMs shipping firmware which only had Microsoft's platform key (PK) installed and which would only be able to securely boot Windows 8. Microsoft responded to the concerns saying they weren't attempting to lock out any other operating systems, but it was pointed out that, intentional or not, this would be the effect of their current plans. The Free Software Foundation then launched a call for OEMs to implement an open and fair version of UEFI Secure Boot, but did not offer any technical suggestions on how that would be achieved.
The Linux Foundation paper calls Microsoft's plans "counter to the UEFI recommendation that the platform owner be the PK controller" and says that it is "a legitimate choice for an informed user to make voluntarily". Both papers suggest that all platforms which enable Secure Boot should ship in "setup mode" which would give the system owner control of the Secure Boot system. Initial startup of an operating system should then detect that setup mode and install a KEK (key-exchange-key) and PK to enable Secure Boot. The system would then securely boot that operating system. When a user needed to take control of their system's secure boot, a "reset" option for UEFI's keys would allow those keys to be cleared and a different operating system installed. Microsoft's Windows 8 could also be pre-installed in the same way; the UEFI reset would then unlock the machine for other operating systems.
The Linux Foundation paper also explores the more complex possibilities of creating a trust model for UEFI, support for dual booting and how booting could be done from external media. Implementation of the full recommendations would need industry-wide cooperation, an issue beyond the scope of a technical paper. The Canonical/Red Hat paper asks for OEMs to generally allow Secure Boot to be disabled, but only through physical access to the system, and go further in their UEFI implementations to also add a standardised mechanism for configuring keys in firmware.
(djwm)
Dịch tài liệu: Lê Trung Nghĩa

FSF thúc giục các OEM nói không với cái chuồng bắt buộc của Windows 8 UEFI


Free Software Foundation urges OEMs to say no to mandatory Windows 8 UEFI cage
By Steven J. Vaughan-Nichols | October 18, 2011, 1:26pm PDT
Tóm tắt: Quỹ Phần mềm Tự do đang yêu cầu các nhà sản xuất thiết bị gốc OEM trao cho người sử dụng sự lựa chọn trong “tính năng” an ninh phần sụn mở rộng thống nhất của chống Linux của Windows 8.
Summary: The Free Software Foundation is asking OEMs to give users a choice on Microsoft anti-Linux Windows 8’s United Extensive Firmware security “feature.”
The FSF wants to free you from Windows 8's UEFI cage.
FSF muốn giải phóng bạn khỏi cái chuồng UEFI của Windows 8. The FSF wants to free you from the Windows 8 UEFI cage.
Lời người dịch: Microsoft dự kiến triển khai công nghệ Giao diện Phần sụn Mở rộng Thống nhất UEFI (Unified Extensible Firmware Interface) trên các máy tính cá nhân chạy Windows 8. Công nghệ này, như kỹ sư Matthew Garrett của Red Hat đã nói khi ông đào sâu vào trong các vấn đề mà UEFI đã đặt ra cho Linux, “Sự thật là động thái này của Microsoft loại bỏ sự kiểm soát của người sử dụng và đặt nó vào tay của Microsoft và các nhà bán hàng phần cứng”. Vì thế, nếu bạn muốn chắc chắn có sự kiểm soát đối với những gì chạy trên máy tính cá nhân của bạn vẫn còn ở trong tay bạn chứ không phải trong tay của Microsoft, thì hãy hành động từ bây giờ để bảo vệ lấy các quyền tự do không bị khóa trói vào cái chuồng nhốt bạn.
Nếu bạn tin vào giải thích của Microsoft về việc công ty yêu cầu một phiên bản Giao diện Phần sụn Mở rộng Thống nhất UEFI (Unified Extensible Firmware Interface) trên các máy tính cá nhân mà có thể chạy Windows 8, thì là để bảo vệ người sử dụng khỏi các phần mềm độc hại thế hệ tiếp sau. Nếu bạn nghĩ rằng đó là lý do duy nhất cho UEFI tồn tại ở đó, thì tôi có một cái cầu dễ chịu tại Brooklyn để bán cho bạn. Yêu cầu của UEFI cũng là để khóa Linux và những hệ điều hành lựa chọn thay thế khác khỏi khởi động trên các máy tính cá nhân Windows 8. Đáp trả mối đe dọa này đối với hệ điều hành nguồn mở, Quỹ Phần mềm Tự do FSF đã bắt đầu một kiến nghị thúc giục các nhà sản xuất thiết bị gốc OEM trao cho mọi người một cách thức để dễ dàng lựa chọn không chui vào cái chuồng UEFI Windows 8 của Microsoft.
FSF sợ, có lý do, rằng Microsoft sẽ gây khó khăn, nếu không nói là không thể, đối với những người sử dụng đầu cuối để cài đặt các hệ điều hành khác, như Ubuntu 11.10 lên các máy chạy Windows 8. Đây là điều mà FSF đang yêu cầu những người sử dụng “Đứng lên vì sự tự do của bạn để cài đặt các phần mềm tự do” bằng việc ký vào kiến nghị yêu cầu UEFI được cài đặt trong các máy Windows 8 theo một cách thức mà sẽ cho phép những người sử dụng cài đặt Linux hoặc các hệ điều hành nguồn mở thay thế khác như FreeBSD hoặc OpenIndana, những hậu duệ của hệ điều hành OpenSolaris.
If you buy Microsoft’s explanation for the company requiring a version of UEFI (Unified Extensible Firmware Interface) on PCs that can run Windows 8, it’s there to protect users from next-generation malware. If you think that’s the only reason for the UEFI to be in there, I have a nice bridge in Brooklyn to sell you. The UEFI requirement is also there to block Linux and other alternative operating systems from booting on Windows 8 PCs. In response to this open-source operating system threat, the Free Software Foundation (FSF) has started a petition to urge original equipment manufacturers (OEM)s to give people a way to easily opt out of Microsoft’s Windows 8 UEFI cage.
The FSF fears, with reason, that Microsoft will make it difficult, if not impossible, for end-users to install other operating systems, such as Ubuntu 11.10 on Windows 8 systems. So it is that the FSF is asking users to “Stand up for your freedom to install free software” by signing a petition asking that UEFI be installed on Windows 8 systems in a way that will allow users to install Linux or other alternative open-source operating systems such as FreeBSD or OpenIndana, the successor operating system to OpenSolaris.
Đặc biệt, FSF đang thúc giục “tất cả các nhà sản xuất máy tính triển khai cái gọi là 'Khởi động An ninh' của UEFI hãy tiến hành nó theo một cách cho phép các hệ điều hành phần mềm tự do cài đặt được. Để tôn trọng quyền tự do của những người sử dụng và thực sự bảo vệ an ninh cho người sử dụng, các nhà sản xuất phải, hoặc cho phép những người sở hữu máy tính vô hiệu hóa những hạn chế khởi động, hoặc đưa ra được một cách thức chắc chắn cho họ để cài đặt và chạy một hệ điều hành phần mềm tự do mà họ lựa chọn. Chúng tôi cam kết rằng chúng ta sẽ không mua cũng không khuyến cáo các máy tính mà tước đoạt quyền tự do sống còn này của người sử dụng, và chúng ta sẽ tích cực thúc giục mọi người trong các cộng đồng của chúng ta tránh các máy bị bỏ tù như vậy”.
Những lý do cho kiến nghị này, FSF, được giải thích rằng vì “Microsoft đã công bố rằng nếu các nhà sản xuất máy tính mong muốn phân phối các máy tính với logo tương thích với Windows 8, thì họ sẽ phải triển khai một biện pháp gọi là 'Secure Boot'. Tuy nhiên, hiện điều này phụ thuộc vào việc liệu công nghệ này sẽ đi với cái tên đó hay không, hay thay vào đó sẽ xứng đáng với cái tên Khởi động Hạn chế”.
Trong khi cam kết rằng “Khi được thực hiện đúng, 'Khởi động An ninh' được thiết kế để bảo vệ chống lại các phần mềm độc hại bằng việc ngăn ngừa các máy tính khỏi tải lên các chương trình nhị phân không được phép khi khởi động”. FSF tiếp tục, “Trong thực tế, điều này có nghĩa là các máy tính triển khai nó sẽ không khởi động các hệ điều hành không được phép - bao gồm các hệ điều hành ban đầu được phép mà đã bị sửa đổi mà không được chấp nhận lại”.
Specifically, the FSF is urging “all computer makers implementing UEFI’s so-called ‘Secure Boot’ to do it in a way that allows free software operating systems to be installed. To respect user freedom and truly protect user security, manufacturers must either allow computer owners to disable the boot restrictions, or provide a sure-fire way for them to install and run a free software operating system of their choice. We commit that we will neither purchase nor recommend computers that strip users of this critical freedom, and we will actively urge people in our communities to avoid such jailed systems.”
The reasons for this petition, the FSF, explained is that since “Microsoft has announced that if computer makers wish to distribute machines with the Windows 8 compatibility logo, they will have to implement a measure called ‘Secure Boot.’ However, it is currently up for grabs whether this technology will live up to its name, or will instead earn the name Restricted Boot.”
While admitting that “When done correctly, ‘Secure Boot’ is designed to protect against malware by preventing computers from loading unauthorized binary programs when booting.” The FSG continued, “In practice, this means that computers implementing it won’t boot unauthorized operating systems–including initially authorized systems that have been modified without being re-approved.”
Điều đó được, cho tới khi FSF có quan tâm “miễn là người sử dụng có khả năng ủy quyền cho các chương trình người sử dụng muốn sử dụng, sao cho người sử dụng có thể chạy được các phần mềm tự do được bản thân họ hoặc những người mà người sử dụng tin tưởng viết và sửa đổi. Tuy nhiên, chúng ta quan tâm tới việc Microsoft và các nhà sản xuất phần cứng sẽ triển khai những hạn chế khởi động này theo một cách thức mà sẽ ngăn cản những người sử dụng không khởi động được bất kỳ thứ gì khác ngoài Windows. Trong trường hợp này, chúng ta tốt hơn hãy gọi công nghệ này là Khởi động Hạn chế, vì một yêu cầu như vậy có thể sẽ là một hạn chế tai họa đối với những người sử dụng máy tính và hoàn toàn không phải là một tính năng an ninh”.
Vì thế, “là cơ bản rằng các nhà sản xuất có được sự triển khai đúng về UEFI của họ. Để tôn trọng sự tự do của người sử dụng và thực sự bảo vệ cho an ninh của người sử dụng, họ phải hoặc cung cấp cho người sử dụng cách thức để vô hiệu hóa những hạn chế khởi động, hoặc cung cấp một cách thức chắc chắn cho phép người sở hữu máy tính cài đặt một hệ điều hành phần mềm tự do theo sự lựa chọn của họ”.
Lạy chúa
That’s fine, as far as the FSF is concerned so “long as the user [is] able to authorize the programs she wants to use, so she can run free software written and modified by herself or people she trusts. However, we are concerned that Microsoft and hardware manufacturers will implement these boot restrictions in a way that will prevent users from booting anything other than Windows. In this case, we are better off calling the technology Restricted Boot, since such a requirement would be a disastrous restriction on computer users and not a security feature at all.”
Thus, “It is essential that manufacturers get their implementation of UEFI right. To respect user freedom and truly protect user security, they must either provide users a way of disabling the boot restrictions, or provide a sure-fire way that allows the computer owner to install a free software operating system of her choice.”
Amen.
Trong khi Steven Sinofsky, chủ tịch bộ phận Windows của Microsoft có thẻ nói rằng “các OEM tự do chọn cách xúc tác cho sự hỗ trợ này”, đưa ra lịch sử lâu dài của Microsoft đối với việc trang bị mạnh cho các OEM và, quả thực Bill Gates sẽ sớm xuất hiện tại tòa một lần nữa để bảo vệ cách mà Microsoft đã sử dụng để tấn công các đối thủ cạnh tranh vào những năm 90, liệu chúng ta có thực sự có bất kỳ lý do nào để tin vào Microsoft ngày hôm nay không nhỉ? Tôi nghĩ là không.
Như kỹ sư Matthew Garrett của Red Hat đã nói khi ông đào sâu vào trong các vấn đề mà UEFI đã đặt ra cho Linux, “Sự thật là động thái này của Microsoft loại bỏ sự kiểm soát của người sử dụng và đặt nó vào tay của Microsoft và các nhà bán hàng phần cứng”. Nếu bạn muốn chắc chắn có sự kiểm soát đối với những gì chạy trên máy tính cá nhân của bạn vẫn còn ở trong tay bạn chứ không phải trong tay của Microsoft, thì tôi thúc giục bạn hãy ký vào kiến nghị của FSF.
While Steven Sinofsky, Microsoft’s president of the Windows division can say that “OEMs are free to choose how to enable this support,” given Microsoft’s long history of strong-arming OEMs and, indeed Bill Gates will soon be appearing in court again to defend how Microsoft used to attack competitors in the 90s, do we really have any reason to trust Microsoft today? I think not.
As Red Hat engineer Matthew Garrett said when he dug into the problems that UEFI posed for Linux, “The truth is that Microsoft’s move removes control from the end user and places it in the hands of Microsoft and the hardware vendors.” If you’d like to make sure the control about what runs on your PC remains in your hands and not Microsoft’s, I urge you to sign the FSF petition.
Dịch tài liệu: Lê Trung Nghĩa

Android của Google thắng Apple trong tải về các ứng dụng


Google’s Android beats Apple in mobile app downloads
By Steven J. Vaughan-Nichols | October 25, 2011, 12:06pm PDT
Bài được đưa lên Internet ngày: 25/10/2011
Tóm tắt: Mọi người có thể yêu iPad và Iphone, nhưng họ đang gắn vào nhiều hơn với các thiết bị Android, và phần mềm.
Summary: People may love their iPads and iPhones, but they’re already buying more Android devices, and software.
Android winning the iOS app. sales battle
Android đang giành chiến thắng trong cuộc chiến bán các ứng dụng di động
Android winning the mobile app. sales battle
Lời người dịch: Android đang giành chiến thắng trong cuộc chiến bán các ứng dụng di động so với các thiết bị của Apple. Theo Nghiên cứu của ABI, trong quý 2 của năm 2011, “Android đã vượt qua iOS để trở thành người dẫn đầu thị phần trong tải về các ứng dụng di động. Thị phần của Android và iOS từng là 44% và 31% một cách tương ứng”. Tại sao Adroid lại thắng? Có 2 lý do. Trước hết, “chiến lược nguồn mở của Android là yếu tố chính cho thành công của nó. Là một nền tảng tự do đã mở rộng cơ sở cài đặt thiết bị của Android, mà tới lượt nó đã dẫn dắt sự tăng trưởng về số lượng nhiều nền tảng của bên thứ 3 và các kho ứng dụng của các nhà vận hành di động. Chỉ riêng những điều kiện này giải thích vì sao Android là người dẫn đầu mới trong thị trường ứng dụng di động”.
Chúng ta yêu các thiết bị Apple của chúng ta. Chúng ta yêu iPad trong kinh doanh. Chúng ta yêu iPhone tới mức 17 triệu điện thoại được bán tại Apple trong quý vừa qua. Nhưng, còn nhiều điện thoại Android hơn được bán so với iPhone, và với giá dễ chịu các máy tính bảng Android như ViewSonic 7eAmazon Kindle Fire, thì iPad đã và đang được thay đổi cả trong các máy tính bảng. Vì thế, bỏ qua tình yêu, có lẽ nó không tới như bất kỳ sự ngạc nhiên nào rằng Nghiên cứu của ABI nói rằng Android bây giờ là số 1 trong tải về các ứng dụng di động.
Theo Nghiên cứu của ABI, trong quý 2 của năm 2011, “Android đã vượt qua iOS để trở thành người dẫn đầu thị phần trong tải về các ứng dụng di động. Thị phần của Android và iOS từng là 44% và 31% một cách tương ứng”.
Trong trường hợp bạn giữ các con số tại nhà, thì vẫn còn nhiều ứng dụng iOS hơn so với các ứng dụng của Android và những người sử dụng iPhone và iPad còn nhiều hơn nhiều tải về một ứng dụng so với những người anh em chị em Android. “Bất chấp dẫn đầu trong tổng số các bản tải về ứng dụng di động, số bản tải về các ứng dụng Android theo từng người sử dụng vẫn thấp hơn của Apple theo tỷ lệ 2 với 1”, Dan Shey, giám đốc thực tế Nghiên cứu ABI, các dịch vụ di động nói trong một tuyên bố. “Các chính sách tiền tệ hóa siêu hạng của Apple đã lôi cuốn các lập trình viên tốt trong các xếp hạng của mình, vì thế tạo ra được catalog tốt hơn các ứng dụng và kinh nghiệp khách hàng”.
We love our Apple devices. We love the iPad in business. We love iPhones to the tune of 17-million phones sold in Apple’s last quarter. But, there are far more Android phones sold than there are iPhones, and with nicely priced Android tablets such as the ViewSonic 7e and Amazon Kindle Fire, the iPad is being challenged on tablets as well. So, love aside, perhaps it shouldn’t come as any surprise that ABI Research is reporting that Android is now number one in mobile application downloads.
According to ABI Research, In the second quarter of 2011, “Android overtook iOS to become the market share leader in mobile application downloads. The market shares of Android and iOS were 44% and 31%, respectively.”
In case you’re keeping score at home, there are still more iOS applications than there are Android applications and iPhone and iPad users are far more likely to download an application than their Android brothers and sisters. “Despite leading in total mobile application downloads, Android’s app downloads per user still lag behind Apple’s by 2-to-1,” said Dan Shey, ABI Research’s practice director, mobile services in a statement. “Apple’s superior monetization policies attracted good developers within its ranks, thus creating a better catalog of apps and customer experience.”
Vì thế tại sao Adroid lại thắng khi đó? Có 2 lý do. Trước hết, như Lim Shiyang, một cộng sự nghiên cứu của ABI đã nói, “chiến lược nguồn mở của Android là yếu tố chính cho thành công của nó. Là một nền tảng tự do đã mở rộng cơ sở cài đặt thiết bị của Android, mà tới lượt nó đã dẫn dắt sự tăng trưởng về số lượng nhiều nền tảng của bên thứ 3 và các kho ứng dụng của các nhà vận hành di động. Chỉ riêng những điều kiện này giải thích vì sao Android là người dẫn đầu mới trong thị trường ứng dụng di động”.
Nghe có vẻ hay đó, nhưng tôi nghĩ lý do thực sự là mọi người đơn giản gắn với các thiết bị Android kham được hơn. Theo các con số của ABI, “tăng trưởng xuất xưởng của iPhone trong quý II năm 2011 đã chậm lại tới 9% từ 15% trong quý trước đó. Ngược lại, xuất xưởng điện thoại thông minh của Android đã gia tăng 36% trong quý 2 năm 2011, so với 20% trong quý I. Cơ sở cài đặt Android bây giờ vượt qua iOS với một hệ số 2.4 so với 1 trên toàn cầu; vào năm 2016 thì hệ số này sẽ tăng lên thành 3/1”. Ngắn gọn, các điện thoại Android được bán đã vượt qua iPhone, và vì thế, khi thị trường phần cứng của Android tăng trưởng lớn hơn bao giờ hết, với cả sự bán hàng phần mềm của Android.
Kết hợp lại, theo số lượng của Download.com, các bản tải về phần mềm di động đã để lại các bản tải về của Windows trong cát bụi. Sử dụng các dữ liệu của ABI, xu thế này dường như chắc chắn tiếp tục. Theo ABI, “các bản tải về Toàn cầu cho cuối năm 2011 được mong đợi sẽ tới 29 tỷ, so với chỉ 9 tỷ vào năm 2010. Sự gia tăng tinh tú như vậy là lớn vì sự nở rộ các điện thoại thông minh khắp thế giới. Tổng số các cơ sở cài đặt điện thoại thông minh được mong đợi tăng 46% trong năm 2011”.
So why is Android winning then? There are two reasons. First, as Lim Shiyang, an ABI research associate stated, “Android’s open source strategy is the main factor for its success. Being a free platform has expanded the Android device install base, which in turn has driven growth in the number of third party multi-platform and mobile operator app stores. These conditions alone explain why Android is the new leader in the mobile application market.”
That sounds good, but I think the real reason is that people are simply buying the more affordable Android devices. By ABI’s numbers, “IPhone shipment growth in Q2 2011 slowed to 9% from 15% a quarter earlier. In contrast, Android smartphone shipments increased 36% in Q2 2011, compared to 20% in Q1. Android’s install base now exceeds iOS by a factor of 2.4-to-1 worldwide; by 2016 this factor will grow to 3-to-1.” In short, Android phones are out-selling iPhones, and so, as the Android hardware market grows ever larger, so does Android software sales.
Combined, according to Download.com’s numbers, mobile software downloads have already left Windows downloads in the dust. Using ABI’s data, this trend seems certain to continue. According to ABI, “Global app downloads for year-end 2011 are expected to balloon to 29 billion, compared to only nine billion in 2010. Such stellar increases are largely due to the proliferation of smartphones around the world. The total smartphone install base is expected to grow 46% in 2011.”
Dịch tài liệu: Lê Trung Nghĩa

Thứ Ba, 1 tháng 11, 2011

Tất cả các bằng sáng chế đều là ăn cắp


All patents are theft
by Richard Hillesley
Bài được đưa lên Internet ngày: 25/10/2011
Lời người dịch: “Nếu sự cần thiết là mẹ của phát minh sáng chế, thì các bằng sáng chế là kết quả tội lỗi của nó, đưa ra những khối lầm lỡ cho đổi mới sáng tạo và sự tiến bộ, cấm đoán sự trao đổi các ý tưởng một cách tự do, và hạn chế tri thức của chúng ta về cách mà mọi thứ làm việc”. Pablo Picasso được cho là đã nói rằng “tất cả nghệ thuật là ăn cắp”, Isaac Newton từng nói “Nếu tôi từng có khả năng thấy được xa hơn, thì nó chỉ là vì tôi đứng được trên vai của những người khổng lồ”. Ngày nay, mọi lĩnh vực đều sử dụng phần mềm. “Những cỗ máy này quản lý chúng ta. Mã nguồn quản lý những cỗ máy đó. Sự kiểm soát nào chúng ta nên có đối với mã nguồn đó nhỉ?”.
Nếu sự cần thiết là mẹ của phát minh sáng chế, thì các bằng sáng chế là kết quả tội lỗi của nó, đưa ra những khối lầm lỡ cho đổi mới sáng tạo và sự tiến bộ, cấm đoán sự trao đổi các ý tưởng một cách tự do, và hạn chế tri thức của chúng ta về cách mà mọi thứ làm việc, Richard Hillesley nói...
Pablo Picasso được cho là đã nói rằng “tất cả nghệ thuật là ăn cắp”. Sự khẳng định này có thể gây tranh cãi, nhưng ý định là rõ ràng - qui trình sáng tạo, dựa vào sự tiến bộ của các kỹ thuật, sự quan sát và sự bình luận chỉ trích, là một sự tiến hóa của những gì đã đi qua trước đó, và tất cả sự sáng tạo, bất luận là nghệ thuật, công nghệ hay khoa họa, đi trên một con đường nhỏ giữa đổi mới sáng tạo và bản chất nguồn gốc, ăn cắp lại ý và nhại lại. Thậm chí ý tưởng rằng nghệ thuật là ăn cắp là một nơi phổ biến trong các cộng đồng nghệ thuật. Andy Warhol đã lấy khái niệm này thêm ít bước xa hơn. Trong một cuộc phỏng vấn vào năm 1996 ông đã nói với người phỏng vấn; “Vì sao ông không hỏi trợ lý của tôi Gerard Malanga một vài câu hỏi? Ông ta đã làm nhiều bức họa của tôi mà”.
Bản thân Linus Torvalds đã lưu ý trong một ngữ cảnh khác, khi bác những lý luận chống lại nguồn mở của Craig Mundie, phó chủ tịch cao cấp của Microsoft vào tháng 05/2001, “Tôi hoài nghi không biết Mundie đã bao giờ nghe nói về ngài Isaac Newton hay chưa? [Newton] không chỉ nổi tiếng vì đã thiết lập về cơ bản những nền tảng cho cơ học cổ điển (và lý thuyết gốc ban đầu của luật vạn vật hấp dẫn, mà là những gì hầu hết mọi người ghi nhớ, cùng với câu chuyện cây táo), nhưng ông cũng nổi tiếng vì cách mà ông đã nhận thức về thành tựu đó: 'Nếu tôi từng có khả năng thấy được xa hơn, thì nó chỉ là vì tôi đứng được trên vai của những người khổng lồ'.”
If necessity is the mother of invention, patents are its delinquent offspring, providing stumbling blocks to innovation and progress, inhibiting the free exchange of ideas, and restricting our knowledge of how things work, says Richard Hillesley…
Pablo Picasso is supposed to have said that “all art is theft”. The assertion may be controversial, but the intention is clear – the creative process, which relies on the evolution of techniques, observation and criticism, is an assimilation of that which has gone before, and all creativity, whether artistic, technological or scientific, walks a thin line between innovation and originality, plagiarism and parody. Even the idea that art is theft is a common place among artistic communities. Andy Warhol took this concept a few stages further. During a 1966 interview he told his interviewer; “Why don’t you ask my assistant Gerard Malanga some questions? He did a lot of my paintings.”
Linus Torvalds himself noted in another context, when rebutting arguments against open source by Craig Mundie, Microsoft’s senior vice president in May 2001, “I wonder if Mundie has ever heard of Sir Isaac Newton? [Newton] is not only famous for having basically set the foundations for classical mechanics (and the original theory of gravitation, which is what most people remember, along with the apple tree story), but he is also famous for how he acknowledged the achievement: ‘If I have been able to see further, it was only because I stood on the shoulders of giants.’”
Sự lưu ý của Newton có ý định như một bình luận xúc phạm trong khuôn khổ một bức thư gửi tới người đương thời nhỏ bé của ông, nhà khoa học Robert Hooke, và từng không phải là một sự quan sát gốc ban đầu, mà nói về một sự thật rộng lớn hơn, rằng qui trình sáng tạo và phát minh các ý tưởng là rất hiếm khi là sản phẩm của một công việc tách bạch của một con người, mà là một sự cộng dồn những gì đã đi qua trước đó.
Nhiều tư duy trí tuệ hiện đại đã tự xác định bằng việc đặt ra câu hỏi cho các nghi thức về quyền tác giả, tính xác thực và sự nhận diện. Nghịch lý này nằm ở trrong tim của tranh luận về 'Quyền Sở hữu Trí tuệ' và 'quyền sở hữu' các ý tưởng - một tranh luận trong đó Linux và phong trào phần mềm tự do đã tự thấy rối rắm, trực tiếp thông qua các chỉ trích bằng sáng chế và những vòng vèo của luật bản quyền, và ít trực tiếp thông qua mối quan hệ của nó với Net.
Phần mềm tự do từng là cách thành công vượt quá sự mong đợi của các đối thủ cạnh tranh của nó và những kẻ dèm pha phỉ báng nó, lôi cuốn một khán thính phòng rộng lớn hơn nhiều so với có thể đoán được trước đó, nhưng như Richard Stallman nhanh chóng làm chúng ta nhớ lại, vẫn có một số cách để đi: “Lý do duy nhất chúng ta có được toàn bộ hệ điều hành tự do”, ông đã nói, “là vì phong trào đó nói 'chúng tôi muốn một hệ điều hành mà hoàn toàn là tự do, chứ không phải là 90% tự do'. Nếu bạn không có sự tự do như một nguyên tắc, thì bạn có thể không bao giờ thấy một lý do không tạo ra một ngoại lệ. Sẽ luôn luôn có các thời điểm khi mà vì một lý do này hay khác sẽ có sự tiện lợi thực tiễn trong việc tạo ra một sự ngoại lệ”.
Newton’s remark was intended as a derogatory comment in the margins of a letter to his diminutive contemporary, the scientist Robert Hooke, and was not an original observation, but tells a wider truth, that the creative process and the discovery of ideas is very seldom the product of one man’s work in isolation, but an accumulation of what has gone before.
Much of modern intellectual thought has defined itself by questioning the rites of authorship, authenticity and identity. This paradox lies at the heart of the debate about ‘Intellectual Property Rights’ and the ‘ownership’ of ideas – a debate in which the Linux and free software movement has found itself embroiled, directly through the patents crisis and the convolutions of copyright law, and less directly through its relationship with the Net.
Free software has been successful way beyond the expectations of its proponents and its detractors, appealing to a far wider audience than might have been predicted, but as Richard Stallman is quick to remind us, there is still some way to go: “The only reason we have a wholly free operating system,” he has said, “is because of the movement that said ‘we want an operating system that is wholly free, not 90 per cent free.’ If you don’t have freedom as a principle, you can never see a reason not to make an exception. There are constantly going to be times when for one reason or another there’s some practical convenience in making an exception.”
Theo bản chất rất tự nhiên, phần mềm tự do thách thức những qui ước hiện đại của quyền sở hữu, và sự tồn tại tiếp tục của nó và sự đâm hoa kết trái của các ý tưởng mà phần mềm tự do thể hiện, trực tiếp bị đe dọa bởi sự mở rộng và nở rộ của các bằng sáng chế tầm thường và đáng ngờ trong vòng 2 hoặc 3 thập kỷ qua.
Phần mềm sử dụng các ngôn ngữ như một biện pháp tương tác với hàng triệu các chuyển mạch tắt và bật tạo nên một chiếc máy tính. Các tập hợp lệnh có chứa trong một ngôn ngữ máy tính, hoặc bất kỳ chương trình máy tính nào khác, dựa vào các cấu trúc cơ bản là phổ biến cho tất cả các ngôn ngữ máy tính, và đã tiến hóa qua một nửa thế kỷ phát triển được chia sẻ.
Sự thể hiện nổi tiếng nhất của sự thực này từng được Bill Gates đưa ra trong một bản ghi chép nội bộ của Microsoft 'Những thách thức và Chiến lược', đề ngày 16/05/1991. “Nếu mọi người hiểu được cách mà các bằng sáng chế có thể được trao khi hầu hết những ý tưởng ngày hôm nay đã được phát minh đã được các bằng sáng chế lấy đi rồi”, ông ta đã viết, “nền công nghiệp có lẽ ở trạng thái hoàn toàn vẫn đứng ngày hôm nay”.
Thay vì khám phá hơn nữa, thì Gates đã kết luận rằng “giải pháp” cho vấn đề các bằng sáng chế là “cấp bằng sáng chế càng nhiều như chúng ta có thể... Một công ty mới khởi nghiệp trong tương lai mà không có các bằng sáng chế của riêng mình sẽ bị ép phải trả bất kỳ giá nào mà những người khổng lồ chọn để áp đặt. Cái giá đó có thể cao: Các công ty đã được thành lập có lợi ích trong việc loại trừ các đối thủ cạnh tranh trong tương lai”.
By its very nature free software challenges modern conventions of ownership, and its continuing existence and the blossoming of ideas that free software represents, is directly threatened by the extension and proliferation of trivial and contestable patents over the last two or three decades.
Software uses language as a means of interacting with the millions of on and off switches that comprise a computer. The sets of instructions that are contained in a computer language, or any other computer program, rely on basic structures that are common to all computer languages, and have evolved over half a century of shared development.
The most famous expression of this truth was provided by Bill Gates in a Microsoft internal ‘Challenges and Strategy’ memo, dated May 16,1991. “If people had understood how patents would be granted when most of today’s ideas were invented and had taken out patents”, he wrote, “the industry would be at a complete stand-still today.”
Rather more revealingly, Gates concluded that the “solution” to the problem of patents was “patenting as much as we can… A future start-up with no patents of its own will be forced to pay whatever price the giants choose to impose. That price might be high: Established companies have an interest in excluding future competitors.”
Chỉ một trong nhiều lý do hấp dẫn chống lại các bằng sáng chế phần mềm, như trong các phần khác của cuộc sống của chúng ta, là việc phát minh và đổi mới sáng tạo trong phần mềm là thứ tích lũy, và phụ thuộc hoàn toàn vào những nỗ lực của những người khác mà đã làm trước đó - và rằng điều này sẽ tiếp tục là trường hợp với mỗi sự phát triển nhỏ trong lĩnh vực lập trình. Những lập trình viên tốt phát minh ra những qui trình mới mỗi ngày, và những lập trình viên tốt khác sử dụng những qui trình này để tạo ra những phát minh tiếp theo. Đó là, và luôn đã và đang là, bản chất tự nhiên của công việc. Chỉ định các bằng sáng chế cho những phát minh nhỏ này, mà chúng là những thể hiện có hiệu quả của lời nói, là làm dừng sự đổi mới sáng tạo trên đường đi của nó. Điều này có vấn đề vì mã nguồn quản lý cuộc sống của chúng ta. Như Lawrence Lesig đưa ra: “Những cỗ máy này quản lý chúng ta. Mã nguồn quản lý những cỗ máy đó. Sự kiểm soát nào chúng ta nên có đối với mã nguồn đó nhỉ?”
Nếu sự cần thiết là mẹ của phát minh sáng chế, thì các bằng sáng chế là kết quả tội lỗi của nó, đưa ra những khối lầm lỡ cho đổi mới sáng tạo và sự tiến bộ, cấm đoán sự trao đổi các ý tưởng một cách tự do, và hạn chế tri thức của chúng ta về cách mà mọi thứ làm việc.
Just one of the many compelling arguments against patents for software, as in other parts of our lives, is that invention and innovation in software is cumulative, and depends entirely on the efforts of others who have gone before – and that this will continue to be the case with every small development in the field of programming. Good programmers invent new processes every day, and other good programmers use these processes to make further inventions. That is, and always has been, the nature of the job. To assign patents to these small inventions, which are effectively expressions of speech, is to stop innovation in its tracks. This matters because code runs our lives. As Lawrence Lessig puts it: “These machines run us. Code runs these machines. What control should we have over this code?”
If necessity is the mother of invention, patents are its delinquent offspring, providing stumbling blocks to innovation and progress, inhibiting the free exchange of ideas, and restricting our knowledge of how things work.
Dịch tài liệu: Lê Trung Nghĩa

Nguồn mở, Khoa học mở, Khoa học nguồn mở


Open Source, Open Science, Open Source Science
26 October 2011, 16:05
by Glyn Moody
Bài được đưa lên Internet ngày: 26/10/2011
Kỷ nguyên số đã bổ sung thêm đáng kể các công cụ sẵn sàng cho công việc khoa học, nhưng cũng đã đưa ra những thách thức mới. Glyn Moody mô tả hiện trạng, và gợi ý rằng chúng ta cần tính mở thực sự với sự tôn trọng phần mềm khoa học.
The digital age has added significantly to the tools available to scientific work, but has also introduced new challenges. Glyn Moody describes the present situation, and suggests that we need true openness with respect to scientific software.
Lời người dịch: Tính mở và sự chia sẻ nằm trong tim của văn hóa khoa học, nó không phải là cách “Làm việc. Kết thúc. Xuất bản”. Ngày nay, chúng ta cần cải cách văn hóa khoa học, “bằng việc áp dụng 5 nguyên tắc sau: (1) Mã nguồn: Tất cả mã nguồn được viết đặc biệt cho dữ liệu qui trình đối với một tài liệu được xuất bản phải sẵn sàng cho những người rà soát và độc giả của tài liệu đó; (2) Bản quyền: Quyền sở hữu và giấy phép bản quyền của bất kỳ mã nguồn được tung ra nào cũng phải được tuyên bố một cách rõ ràng; (3) Trích dẫn: Các nhà nghiên cứu mà sử dụng hoặc thích nghi mã nguồn khoa học trong nghiên cứu của họ phải công nhận những người tạo ra mã nguồn trong các xuất bản phẩm kết quả; (4) Uy tín: Những đóng góp cho phần mềm phải được đưa vào trong các hệ thống đánh giá, uy tín, thừa nhận khoa học; (5) Bảo hành bảo trì các tài sản số: Mã nguồn phải được giữ cho sẵn sàng, được kết nối tới các tài liệu liên quan, cho suốt vòng đời sử dụng của xuất bản phẩm”.
Một trong những cảm hứng chủ chốt cho phong trào phần mềm tự do từng là truyền thống khoa học về chia sẻ thông tin và xây dựng trên công việc của những người khác. Điều đó đã nảy sinh vài trăm năm trước, ở thời điểm tiến bộ khoa học nhanh:
Những tiến bộ khoa học lớn vào thời của Hooke và Newton đã tạo động lực cho những người bảo trợ lành mạnh như chính phủ bắt đầu bao cấp cho khoa học như một nghề nghiệp. Nhiều động lực tới từ lợi ích nhà nước được phân bổ từ sự phát minh khoa học, và lợi ích đó từng mạnh nhất nếu những phát minh được chia sẻ. Kết quả là một văn hóa khoa học đối với ngày đó tưởng thưởng cho sự chia sẻ những phát minh với các công việc và uy tín đối với người phát minh.
Sự biến chuyển văn hóa này chỉ bắt đầu trong thời kỳ của Hooke và Newton, nhưng là ít qua một thế kỷ sau đó mà nhà vật lý học Michael Faraday có thể khuyến cáo một đồng nghiệp trẻ hơn hãy “Làm việc. Kết thúc. Xuất bản”. Văn hóa khoa học này đã thay đổi sao cho một phát minh mà không được xuất bản trong một tạp chí khoa học thì chưa phải là hoàn tất được.
Chúng ta nắm lấy văn hóa đó cho ngày hôm nay, giả dụ thế; và vâng, thật chớ trêu, những khía cạnh cốt lõi của tính mở và chia sẻ được cho là nằm trong tim của phương pháp khoa học đã và đang bị xói mòn trong những năm gần đây.
Ví dụ, vai trò trung tâm của xuất bản trong các phát minh khoa học đã làm cho các tạp chí hàn lâm trở thành các điểm kiểm soát chính. Vì thế, tới lượt nó, đã làm cho các nhà xuất bản sở hữu chúng rất mạnh - và rất giàu có. Cho tới gần đây, đó là các nhà xuất bản mà đã yêu sách quyền sở hữu các tài liệu khoa học được xuất bản theo tước danh của họ, và họ đã sử dụng tầm quan trọng của những tài liệu này và sự kiểm soát của họ đối với chúng để đẩy lên giá thành đối với các tạp chí khoa học tới các mức độ lố bịch - thường là hàng ngàn bảng Anh mỗi năm.
One of the key inspirations for the free software movement was the scientific tradition of sharing information and building on the work of others. That arose a few hundred years ago, at a time of rapid scientific progress:
The great scientific advances in the time of Hooke and Newton motivated wealthy patrons such as the government to begin subsidising science as a profession. Much of the motivation came from the public benefit delivered by scientific discovery, and that benefit was strongest if discoveries were shared. The result was a scientific culture which to this day rewards the sharing of discoveries with jobs and prestige for the discoverer.
This cultural transition was just beginning in the time of Hooke and Newton, but a little over a century later the great physicist Michael Faraday could advise a younger colleague to "Work. Finish. Publish." The culture of science had changed so that a discovery not published in a scientific journal was not truly complete.
We take that culture for granted today; and yet, ironically, the core aspects of openness and sharing that supposedly lie at the heart of the scientific method have been undermined in recent years.
For example, the central role of publishing in scientific discoveries has made academic journals key control points. That, in turn, has made the publishers that own them very powerful – and very rich. Until recently, it was the publishers who claimed ownership of the scientific papers published in their titles, and they used the importance of those papers and their control over them to push up the prices for scientific journals to absurd levels – often thousands of pounds a year.
Điều đó đã làm cho ngày một khó để truy cập được tri thức khoa học trừ phi bạn thuộc về một cơ quan được cấp vốn tốt. Ý tưởng cũ về chia sẻ tri thức một cách tự do để thúc đẩy sự tiến bộ tất cả đã và đang bị mất. Như một phản ứng đối với điều này, phong trào truy cập mở đã và đang đấu tranh ít nhất để làm cho nghiên cứu được nhà nước cấp vốn - mà hầu hết là như vậy - được sẵn sàng một cách tự do trên trực tuyến. Các nhà xuất bản đương nhiên đã phản kháng chống lại động thái này một cách dữ dội như các công ty phần mềm sở hữu độc quyền đã phản kháng lại nguồn mở, nhưng đã bị ép phải nhận thức được tính hợp pháp của những yêu cầu truy cập mở. Kết quả là, ngày càng nhiều tài liệu hàn lâm bắt đầu xuất hiện trên trực tuyến một cách tự do.
Gần đây nhất, một sự chuyển dịch chính khác đã diễn ra trong khoa học: sự nổi lên của khoa học số. Dù nó đang gây ngạc nhiên một cách khó khăn rằng các máy tính đã bắt đầu đóng một vai trò ngày càng tăng trong dẫn dắt khoa học, khi chúng có ở khắp mọi nơi, nó đã gõ vào những hệ quả cho tính mở và chia sẻ mà chỉ tới bây giờ mới chỉ đang được hiểu ra.
Đây là một giải thích tốt cho vấn đề này:
Một trong những tính năng chủ chốt của khoa học là tính có thể từ chối: nếu bạn đưa ra một lý thuyết và ai đó đưa ra được bằng chứng rằng nó là sai, thì nó đổ. Đây là cách mà khoa học làm việc; bằng tính mở, bằng việc xuất bản các chi tiết thực nghiệm trong các biên bản, một số phương trình toán học hoặc một sự mô phỏng; bằng việc làm điều này bạn ôm lấy tính có thể từ chối. Điều này dường như không xảy ra trong nghiên cứu về khí hậu. Nhiều nhà nghiên cứu đã từ chối đưa ra các chương trình máy tính của họ - thậm chí dù chúng vẫn còn tồn tại và không tuân theo các thỏa thuận thương mại. Một ví dụ là sự từ chối ban đầu của Giáo sư Mann đưa ra mã nguồn đã được sử dụng để xây dựng mô hình “gậy cho môn khúc côn cầu” vào năm 1999, nó đã thể hiện rằng cảnh báo toàn cầu do con người đưa ra là một sự giả tưởng duy nhất của vài thập kỷ qua. (Ông ta cuối cùng đã đưa ra vào năm 2005).
That made it increasingly hard to access scientific knowledge unless you belonged to a well-funded establishment. The old ideal of sharing knowledge freely in order to promote progress had been all but lost. As a reaction to this, the open access movement has been fighting to at least make publicly-funded research – which is most of it – freely available online. Publishers have naturally resisted this move as fiercely as proprietary software companies have resisted open source, but have been forced to recognise the legitimacy of open access's demands. As a result, more and more academic papers are starting to appear online for free.
More recently, another major shift has taken place in science: the rise of digital science. Although it is hardly surprising that computers have started to play an increasing role in the conduct of science, as they have elsewhere, it has had knock-on consequences for openness and sharing that are only now being understood.
Here's a good explanation of the problem:
One of the key features of science is deniability: if you erect a theory and someone produces evidence that it is wrong, then it falls. This is how science works: by openness, by publishing minute details of an experiment, some mathematical equations or a simulation; by doing this you embrace deniability. This does not seem to have happened in climate research. Many researchers have refused to release their computer programs – even though they are still in existence and not subject to commercial agreements. An example is Professor Mann's initial refusal to give up the code that was used to construct the 1999 "hockey stick" model that demonstrated that human-made global warming is a unique artefact of the last few decades. (He did finally release it in 2005.)
Tác giả của thứ đó - Darrel Ince, giáo sư máy tính tại Đại học Mở - đã nói chẻ hoe các từ của ông:
Thế thì, nếu bạn đang xuất bản các bài báo nghiên cứu mà sử dụng các chương trình máy tính, liệu bạn có muốn yêu sách rằng bạn đang tham gia trong khoa học, các chương trình là trong sự sở hữu của bạn và bạn sẽ không đưa chúng ra sau đó tôi có thể cũng không công nhận bạn như một nhà khoa học; Tôi cũng có thể coi bất kỳ tài liệu nào dựa vào phần mềm bằng 0 và không có.
Chỉ như một sức mạnh không hợp lý của các nhà xuất bản khoa học đã dẫn tới sự ra đời của phong trào truy cập mở, vì thế vấn đề đưa ra mã nguồn khoa học này đã nhắc nhở sự thành lập của Tuyên ngôn Mã nguồn Khoa học của Nick Barnes, người giải thích nền tảng như vậy:
Tôi là tác giả của Tuyên ngôn Mã nguồn Khoa học, dù nhiều người khác đã đóng góp những gợi ý. Tôi đã viết ó cho Quỹ Mã nguồn Thời tiết, ban đầu như một sự trả lời và sự đóng góp cho nghiên cứu chính sách Xã hội Hoàng gia về “Khoa học như một Doanh nghiệp Nhà nước”. Một phần được truyền cảm hứng bởi các nguyên tắc của Panton, một tuyên bố nhấn mạnh về các ý tưởng trong việc chia sẻ dữ liệu khoa học. Nó tinh lọc các ý tưởng mà tôi đã đưa ra trong một bài về quan điểm cho tờ Nature vào năm 2010.
Tuy nhiên, tôi đã không khởi xướng những ý tưởng này. Chúng đơn giản là những mở rộng của nguyên tắc cốt lõi của khoa học: xuất bản phẩm. Xuất bản phẩm là những gì phân biệt khoa học với thuật giả kim, và là những gì đã đẩy tới khoa học - và xã hội loài người - cho tới nay và quá nhanh trong 300 năm trở lại đây. Tuyên ngôn này là ứng dụng tự nhiên của nguyên lý này đối với lĩnh vực khá mới, và ngày một quan trọng, phần mềm khoa học.
(Sự khước từ: Tôi là thành viên không được trả tiền của Ban Cố vấn Quỹ Mã nguồn Thời tiết).
The author of that passage – Darrel Ince, professor of computing at the Open University – doesn't mince his words:
So, if you are publishing research articles that use computer programs, if you want to claim that you are engaging in science, the programs are in your possession and you will not release them then I would not regard you as a scientist; I would also regard any papers based on the software as null and void.
Just as the unreasonable power of scientific publishers led to the birth of the open access movement, so this issue of releasing scientific code has prompted the formulation of the Science Code Manifesto by Nick Barnes, who explains the background thus:
I am the author of the Science Code Manifesto, although many others have contributed suggestions. I wrote it for the Climate Code Foundation, initially as a response and contribution to the Royal Society’s policy study on “Science as a Public Enterprise”. It is partly inspired by the Panton Principles, a bold statement of ideals in scientific data sharing. It refines the ideas I laid out in an opinion piece for Nature in 2010.
However, I did not originate these ideas. They are simply extensions of the core principle of science: publication. Publication is what distinguishes science from alchemy, and is what has propelled science – and human society – so far and so fast in the last 300 years. The Manifesto is the natural application of this principle to the relatively new, and increasingly important, area of science software.
(Disclaimer: I am an unpaid member of the Climate Code Foundation's Advisory Board.)
Tuyên ngôn Mã nguồn Khoa học
Các điểm chính của Tuyên ngôn này là:
Phần mềm là một hòn đá tảng của khoa học. Không có phần mềm thì khoa học của thế kỷ 21 có lẽ là không thể. Không có phần mềm tốt hơn, khoa học không thể tiến bộ.
Nhưng văn hóa và các cơ quan khoa học còn chưa điều chỉnh cho thực tế này. Chúng ta cần cải cách chúng để giải quyết thách thức này, bằng việc áp dụng 5 nguyên tắc sau:
  • Mã nguồn: Tất cả mã nguồn được viết đặc biệt cho dữ liệu qui trình đối với một tài liệu được xuất bản phải sẵn sàng cho những người rà soát và độc giả của tài liệu đó.
  • Bản quyền: Quyền sở hữu và giấy phép bản quyền của bất kỳ mã nguồn được tung ra nào cũng phải được tuyên bố một cách rõ ràng.
  • Trích dẫn: Các nhà nghiên cứu mà sử dụng hoặc thích nghi mã nguồn khoa học trong nghiên cứu của họ phải công nhận những người tạo ra mã nguồn trong các xuất bản phẩm kết quả.
  • Uy tín: Những đóng góp cho phần mềm phải được đưa vào trong các hệ thống đánh giá, uy tín, thừa nhận khoa học.
  • Bảo hành bảo trì các tài sản số: Mã nguồn phải được giữ cho sẵn sàng, được kết nối tới các tài liệu liên quan, cho suốt vòng đời sử dụng của xuất bản phẩm.
Science Code Manifesto
Here are the Manifesto's main points:
Software is a cornerstone of science. Without software, twenty-first century science would be impossible. Without better software, science cannot progress.
But the culture and institutions of science have not yet adjusted to this reality. We need to reform them to address this challenge, by adopting these five principles:
  • Code: All source code written specifically to process data for a published paper must be available to the reviewers and readers of the paper.
  • Copyright: The copyright ownership and licence of any released source code must be clearly stated.
  • Citation: Researchers who use or adapt science source code in their research must credit the code’s creators in resulting publications.
  • Credit: Software contributions must be included in systems of scientific assessment, credit, and recognition.
  • Curation: Source code must remain available, linked to related materials, for the useful lifetime of the publication.
Một trang thảo luận mở rộng về vấn đề bản quyền chính:
Các điều khoản của bất kỳ giấy phép nào cũng là tùy vào những người nắm giữ bản quyền. Một giấy phép nguồn mở khuyến khích sử dụng lại và thích nghi rộng rãi, trong khi vẫn cho phép các điều kiện như thẩm quyền được áp đặt. Có nhiều giấy phép nguồn mở phổ biến: hãy sử dụng một giấy phép đang tồn tại phổ biến được khuyến cáo một cách mạnh mẽ.
Barnes đi xa hơn:
Những ý tưởng của riêng tôi, chịu ảnh hưởng từ phong trào Phần mềm Tự do Nguồn mở, đi vượt ra khỏi những gì được nêu trong Tuyên ngôn: Tôi tin tưởng rằng xuất bản phẩm Nguồn Mở của tất cả các phần mềm khoa học sẽ là một kết quả của cuộc cách mạng hiện nay trong các phương pháp khoa học, một cuộc cách mạng trong đó tôi hy vọng Tuyên ngôn này sẽ là một phần.
Như điều này gợi ý, mục tiêu cuối cùng cho các nhà thực hành khoa học phải là xuất bản phẩm của tất cả phần mềm khoa học của họ như là nguồn mở. Điều đó có thể cho phép các nhà khoa học khác kiểm tra và soi xét logic nằm bên trong các chương trình đó - một phần sống còn của qui trình khoa học. Nhưng hơn thế, nó có thể cho phép mọi người xây dựng không chỉ trên các kết quả của những người khác, mà còn các công cụ phần mềm thực sự. Điều đó có lẽ là một cuộc cách mạng khoa học đúng đắn ở một phạm vi của sự phát minh của bản thân phương pháp khoa học hiện đại, vì nó có thể tránh sự sao lục lại các nỗ lực và cho phép khoa học tiến lên phía trước nhanh hơn.
Nhưng điều này không chỉ là một chiến thắng tiềm tàng khổng lồ cho khoa học. Nguồn mở trong khoa học cũng mở ra những khả năng mới quan trọng cho các cao thủ. Một trong những động lực chính của thế giới nguồn mở là tính sẵn sàng của các dự án kích thích và truyền cảm hứng cho mọi người tham gia và đóng góp. Một mối đe dọa thâm niên cho sức khỏe của hệ sinh thái nguồn mở là việc nó chạy khỏi các dự án “lớn” thúc đẩy mọi người tham gia.
Việc mở ra phần mềm khoa học có lẽ sẽ diễn ra trong những năm tới sẽ mang theo cùng với nó cơ hội cho những người lập trình tham gia vào với một số dự án thú vị nhất trên trái đất - những thứ như việc nghiên cứu thay đổi khí hậu - theo một cách thức mà trước đó là không thể.
Việc kết hôn nguồn mở với khoa học mở để sản sinh ra một dạng mới của khoa học nguồn mở có thể là một trong những thứ thú vị nhất sẽ xảy ra đối với phần mềm tự do trong nhiều năm. Một cách để giúp mang lại điều đó có thể là phải phê chuẩn Tuyên ngôn Mã nguồn Khoa học bằng việc bổ sung thêm tên của bạn vào danh sách những người ủng hộ. Nó sẽ chỉ mất vài phút, nhưng có thể giúp thay đổi thế giới.
A discussion page expands on the key issue of copyright:
The terms of any license are up to the copyright owners. An open-source license encourages wide re-use and adaptation, while still allowing conditions such as attribution to be imposed. There are many well-known open-source licenses: use of a well-known existing license is strongly recommended.
Barnes goes further:
My own ideals, influenced by the Free and Open Source Software movement, go beyond those stated in the Manifesto: I believe that Open Source publication of all science software will be one outcome of the current revolution in scientific methods, a revolution in which I hope this Manifesto will play a part.
As this suggests, the ultimate goal for science practitioners ought to be the publication of all their scientific software as open source. That would allow other scientists to examine and check the underlying logic of those programs – a crucial part of the scientific process. But more than that, it would allow people to build on not just the results of others, but the actual software tools. That would be a true scientific revolution on the scale of the invention of the modern scientific method itself, because it would avoid duplication of effort and allow science to move forward faster.
But this is not just a huge potential win for science. Open source in science also opens up important new possibilities for hackers. One of the key drivers of the open source world is the availability of projects that excite and inspire people to join and contribute. One perennial threat to the health of the open source ecosystem is that it runs out of "big" projects that motivate people to participate.
The opening up of scientific software that is likely to take place in the coming years brings with it the opportunity for coders to get involved with some of the most exciting projects on the planet – things like investigating climate change – in a way that has not previously been possible.
Marrying open source with open science to produce a new kind of open source science could be one of the most exciting things to happen to free software in years. One way of helping to bring that about would be to endorse the Science Code Manifesto by adding your name to the list of supporters. It will only take a couple of minutes, but could help change the world.
Dịch tài liệu: Lê Trung Nghĩa

Facebook mở ra Tính toán Mở (Open Compute)


Facebook Opens Up Open Compute
Dự án Tính toán Mở có một quỹ và sự hỗ trợ từ Red Hat, Intel và Dell
Open Compute project gets a foundation and support from Red Hat, Intel and Dell
October 27, 2011, By Sean Michael Kerner
Bài được đưa lên Internet ngày: 27/10/2011
Lời người dịch: “Công nghiệp CNTT đã có phần mềm nguồn mở để giúp làm động lực thúc đẩy đổi mới sáng tạo và bây giờ đúng là lúc để có nguồn mở cho cả phần cứng nữa. Đó là thông điệp tới từ Hội nghị Thượng đỉnh Tính toán Mở tại thành phố New York ngày hôm nay từ nhiều công ty công nghệ bao gồm Facebook, Intel, Dell và Red Hat” và đó cũng là lý do để các hãng này thành lập Quỹ Tính toán Mở (Open Compute Foundation). Frankovsky của Facebook nói: “Tôi nghĩ nếu chúng tôi nhìn vào bước đổi mới sáng tạo đã được thực hiện trong phần mềm và chúng tôi so sánh nó với phần cứng, thì như là ban đêm và ban ngày vậy”, Frankovsky nói. “Hãy làm cho nó thành ngày và ngày, bằng việc áp dụng các nguyên tắc của nguồn mở vào lĩnh vực phần cứng và hãy xây dựng nó cùng nhau”. Xem thêm về phần cứng nguồn mở ở đây.
Công nghiệp CNTT đã có phần mềm nguồn mở để giúp làm động lực thúc đẩy đổi mới sáng tạo và bây giờ đúng là lúc để có nguồn mở cho cả phần cứng nữa. Đó là thông điệp tới từ Hội nghị Thượng đỉnh Tính toán Mở tại thành phố New York ngày hôm nay từ nhiều công cy công nghệ bao gồm Facebook, Intel, Dell và Red Hat.
Facebook ban đầu đã công bố Dự án Tính toán Mở vào tháng 4 năm nay. Hôm nay, Facebook đã thực hiện bước tiếp theo với tuyên bố chính thức tạo ra Quỹ Tính toán Mở để giúp dẫn dắt nỗ lực này tiến lên.
“Chúng tôi thực sự hạnh phúc thông báo rằng hôm nay, nguồn mở không chỉ là thứ gì đó mà bạn có thể sử dụng để mô tả phần mềm, mà còn để mô tả lĩnh vực phần cứng nữa”, Frank Frakovsky, giám đốc thiết kế phần cứng của Facebook đã nói trong phiên phát biểu chính tại Hội nghị thượng đỉnh Tính toán Mở.
Frankovsky đã giải thích rằng Quỹ này đã phát triển một tư duy tốt vượt a khỏi chế độ sở hữu trí tuệ cho những đóng góp. Như vậy, chính quan điểm của Frankovsky mà hầu hết các nhà cung cấp sẽ thuận tiện trong việc đóng góp sở hữu trí tuệ của họ cho Quỹ Tính toán Mở.
“Đây là về cộng đồng, không chỉ về những người mà có thể tiêu dùng công nghệ, đây cùng là về cơ sở cung ứng”, Frankovsky nói. “Chúng tôi thiết tha về việc phân phối các hàng hóa hữu hình và chúng tôi đang xuất bản các đặc tả và các tệp nguồn”.
Quỹ Tính toán Mở lấy hình mẫu chủ yếu sau Quỹ Phần mềm Apache (ASF). ASF là ngôi nhà cho nhiều dự án nguồn mở thành công, bao gồm cả Máy chủ Web Apache. ASF là một mô hình nhiều người đóng góp, nơi mà các dự án bắt đầu trong một pha ươm trồng trước khi tăng dần thành tình trạng dự án đầy đủ.
The IT industry has had open source software to help fuel innovation and the time is now right to have open source for hardware too. That's the message coming out of the Open Compute Summit in New York City today from multiple technology companies including Facebook, Intel, Dell and Red Hat.
Facebook initially announced the Open Compute Project in April of this year. Today, Facebook took the next step with the formal announcement of the creation of the Open Compute Foundation to help lead the effort forward.
"We're really happy to announce that today, open source is not just something that you can use to describe software, but also to describe the hardware space as well," Frank Frankovsky, Facebook's director of hardware design said in the keynote session at the Open Compute Summit.
Frankovsky explained that the Foundation has developed a well thought out intellectual property regimen for contributions. As such, it is Frankovsky's view that most suppliers will be comfortable contributing their intellectual property to the Open Compute Foundation.
"This is about community, not just about the people that can consume the technology, it's also about the supply base," Frankovsky said. "We are passionate about delivering tangible goods and we are publishing specs and source files."
The Open Compute Foundation is being largely modeled after the Apache Software Foundation (ASF). The ASF is home to many successful open source projects including the Apache Web Server. The ASF is a multi-stakeholder model, where projects begin in an incubation phase before graduation to full project status.
“Mọi thứ chúng tôi làm được tập trung vào một dự án và mỗi dự án bắt đầu với một ủy ban ươm trồng”, Frankovsky nói. “Ủy ban ươm trồng được hình thành từ 9 người tới từ các nền tảng đa dạng và mỗi dự án sẽ biểu quyết dựa vào giá trị của dự án”.
Frankovsky bổ sung thêm rằng thậm chí các dự án mà Facebook đã tạo ra tới nay cho Tính toán Mở hiện đang trong chế độ ươm trồng.
Trên đỉnh của mỗi cấu trúc điều hành toàn diện của Quỹ Tính toán Mở là một ban quản trị 5 người. Ban quản trị ban đầu sẽ bao gồm, Andy Bechtolsheim từ Arista Network, Don Duet từ Goldman Sachs, Frank Frankovsky từ Facebook, Jason Waxman từ Intel, và Mark Roenigk từ Rackspace.
Trong số các nỗ lực ban đầu tới từ Tính toán Mở là dự án Open Rack mà tất cả là về việc tạo ra một dạng mới của đám mây của trung tâm dữ liệu.
“Open Rack là một nền tảng mới để đổi mới sáng tạo trên đỉnh, về cơ bản đám mây đang trở thành khung các máy chủ”, Frankovsky nói. “Chúng tôi hình dung điều này như là các máy chủ dẹt được thực hiện đúng, hoặc các máy chủ dẹt được làm trong nguồn mở”.
Frankovsky đã lưu ý rằng với Open Rack thì mục tiêu là về sử dụng đám mây đầy đủ như là một khung sẽ có khả năng trao cho các trung tâm dữ liệu một cách chung để triển khai hạ tầng vật lý bên trong môi trường của chúng.
“Tôi nghĩ nếu chúng tôi nhìn vào bước đổi mới sáng tạo đã được thực hiện trong phần mềm và chúng tôi so sánh nó với phần cứng, thì như là ban đêm và ban ngày vậy”, Frankovsky nói. “Hãy làm cho nó thành ngày và ngày, bằng việc áp dụng các nguyên tắc của nguồn mở vào lĩnh vực phần cứng và hãy xây dựng nó cùng nhau”.
"Everything we do is focused on a project and every project starts with the incubation committee," Frankovsky said. "The incubation committee is made up of nine people that come from diverse backgrounds and every project will get voted on based on the merit of the project."
Frankovsky added that even the projects that Facebook has created to date for Open Compute are currently in incubation mode.
At the top of the overall governance structure of the Open Compute Foundation is a five person board. The initial board will include, Andy Bechtolsheim from Arista Networks, Don Duet from Goldman Sachs, Frank Frankovsky from Facebook, Jason Waxman from Intel, and Mark Roenigk from Rackspace.
Among the initial efforts coming from Open Compute is the Open Rack project which is all about creating a new type of data center rack.
"Open Rack is a new platform to innovate on top off, it's basically the rack becoming the server chassis," Frankovsky said. "We envision this as blade servers done right, or blade servers done in open source."
Frankovsky noted that with Open Rack the goal is about using the full rack as a chassis, to be able to give data centers a common way to deploy physical infrastructure within their environment.
"I think if we look at the pace of innovation that has been made in software and we compare it to hardware, it's night and day," Frankovsky said. "Let's make it day and day, by applying open source principals to the hardware space and let's build it together."
Dịch tài liệu: Lê Trung Nghĩa