Thứ Hai, 24 tháng 3, 2014

NSA đã đột nhập các máy chủ của Huawei, nhóm các lãnh đạo công ty, tờ New York Times nói


NSA hacked Huawei servers, watched company’s executives, NYT sources say
Các tài liệu của Snowden, các nguồn nặc danh chỉ ra sự đột nhập trái phép của chính phủ Mỹ vào hạ tầng của Huawei.
Snowden docs, anonymous sources point to US gov. intrusion in Huawei infrastructure.
by Megan Geuss - Mar 23 2014, 7:10am ICT
Bài được đưa lên Internet ngày: 23/03/2014
Lời người dịch: Không chỉ hãng Hoa Vĩ (Huawei) được cho là gián điệp các mạng của Mỹ, mà ngược lại, NSA cũng đã gián điệp mạng của Huawei và cài cắm rệp vào trong các bộ định tuyến router và các bộ chuyển mạch switch của Huawei. “Các nhà phân tích của NSA đã làm rõ rằng họ đang tìm kiếm nhiều hơn là chỉ “tình báo dấu hiệu” về công ty và các mối liên hệ của nó với các nhà lãnh đạo Trung Quốc; họ đã muốn biết cách để đục các hệ thống của hãng sao cho khi các đối thủ và đồng minh mua thiết bị của Huawei, thì Mỹ có thể cài cắm được vào các mạng đó. (Tờ Times đã giữ lại các chi tiết kỹ thuật của chiến dịch theo yêu cầu của chính quyền Obama, nó đã trích dẫn các quan ngại về an ninh quốc gia)”. Có nghĩa là các mạng của Việt Nam đang sử dụng đồ của Huawei sẽ bị gián điệp từ cả Trung Quốc lẫn Mỹ chăng? Xem thêm: 'Chương trình gián điệp PRISM trên không gian mạng'.
Hôm thứ bảy, tờ New York Times (NYT) đã xuất bản một bài báo dựa vào các slide có được từ cựu nhà thầu NSA Edward Snowden cũng như các cuộc phỏng vấn với các quan chức tình báo nặc danh được cho là NSA đã đột nhập vào các máy chủ của người khổng lồ viễn thông Trung Quốc Huawei. Ở đó, cơ quan gián điệp đã giành được các thông tin nhạy cảm về các bộ định tuyến router và các chuyển mạch switch của công ty đó mà đã phục vụ để kết nối các khách hàng của hãng vào mạng của hãng. NSA cũng đã giám sát các giao tiếp truyền thông của các lãnh đạo Huawei, tờ NYT nêu.
Mỹ từ lâu đã có nhiều mối quan hệ với Huawei, một công ty đã duy trì sự độc lập với chính phủ Trung Quốc và không có các mối liên hệ với Quân giải phóng nhân dân Trung Hoa – PLA. Hơn nữa, trích lời các mối lo ngại về an ninh quốc gia, các nhà chức trách Mỹ đã khóa cuộc mua bán sát nhập hãng 3Com của Huawei vào năm 2008, đã tố cáo hãng này về các hoạt động không phải Mỹ vào năm 2012, và sau đó đã thuyết phục Sprint and SoftBank hạn chế sử dụng đồ của Huawei vào năm 2013.
Báo cáo của tờ NYT nói rằng chiến dịch của NSA năm 2010, có tên là “Shotgiant” (liên kết đi tới các slide bí mật bị rò rỉ), đã tìm kiếm các manh mối mà người khổng lồ viễn thông này từng làm việc với PLA.
Báo cáo cũng lưu ý rằng Mỹ đã có lưu tâm chiến lược khác trong việc gián điệp:
Các nhà phân tích của NSA đã làm rõ rằng họ đang tìm kiếm nhiều hơn là chỉ “tình báo dấu hiệu” về công ty và các mối liên hệ của nó với các nhà lãnh đạo Trung Quốc; họ đã muốn biết cách để đục các hệ thống của hãng sao cho khi các đối thủ và đồng minh mua thiết bị của Huawei, thì Mỹ có thể cài cắm được vào các mạng đó. (Tờ Times đã giữ lại các chi tiết kỹ thuật của chiến dịch theo yêu cầu của chính quyền Obama, nó đã trích dẫn các quan ngại về an ninh quốc gia).
Các chiến dịch của NSA chống lại Trung Quốc không dừng ở Huawei. Năm ngoái, cơ quan này đã đột nhập 2 trong số các mạng di động lớn nhất của Trung Quốc, cho phép nó theo dõi một cách chiến lược các đơn vị quân đội quan trọng của Trung Quốc, theo một tài liệu tháng 04/2013 bị Snowden làm rò rỉ. Các mục tiêu chính khác, tài liệu nói, là các vị trí nơi mà các lãnh đạo Trung Quốc làm việc. Các lãnh đạo nước này, giống như bất kỳ ai khác, đang liên tục nâng cấp lên các mạng Wi-Fi tốt hơn, nhanh hơn - và NSA liên tục tìm cách thức mới để đột nhập vào.
Theo tờ Der Spiegel, một tạp chí của Đức thì điều đó cũng nằm trong sở hữu các tệp y hệt của Snowden như NYT, “Một đơn vị đặc biệt với cơ quan tình báo Mỹ thành công trong việc thâm nhập vào mạng của Huawei và đã sao chép một danh sách 1.400 khách hàng cũng như các tài liệu nội bộ cung cấp huấn luyện cho các kỹ sư về sử dụng các sản phẩm của Huawei, trong số những điều khác”.
On Saturday, the New York Times published an article based on slides obtained from former NSA contractor Edward Snowden as well as interviews with anonymous intelligence officials that alleged the NSA had broken into the servers of Chinese telecom giant Huawei. There, the spy agency obtained sensitive information about the company's routers and switches that served to link its customers to its network. The NSA also monitored the communications of Huawei's executives, the NYT reports.
The US has long had a fraught relationship with Huawei, a company that has maintained that it is independent from the Chinese government and has no ties to the People's Liberation Army (PLA). Still, citing national security concerns, US authorities blocked Huawei's purchase of 3Com in 2008, accused it of un-American activities in 2012, and then convinced Sprint and SoftBank to limit their use of Huawei gear in 2013.
The New York Times report said that the 2010 NSA operation, code-named “Shotgiant” (link goes to leaked classified slides), was looking for clues that the giant telecom was working with the PLA.
The report also noted that the US had another strategic interest in its spying:
N.S.A. analysts made clear that they were looking for more than just “signals intelligence” about the company and its connections to Chinese leaders; they wanted to learn how to pierce its systems so that when adversaries and allies bought Huawei equipment, the United States would be plugged into those networks. (The Times withheld technical details of the operation at the request of the Obama administration, which cited national security concerns.)
The N.S.A.’s operations against China do not stop at Huawei. Last year, the agency cracked two of China’s biggest cellphone networks, allowing it to track strategically important Chinese military units, according to an April 2013 document leaked by Mr. Snowden. Other major targets, the document said, are the locations where the Chinese leadership works. The country’s leaders, like everyone else, are constantly upgrading to better, faster Wi-Fi — and the N.S.A. is constantly finding new ways in.
According to Der Spiegel, a German magazine that is also in possession of the same Snowden files as the NYT, “A special unit with the US intelligence agency succeeded in infiltrating Huawei's network and copied a list of 1,400 customers as well as internal documents providing training to engineers on the use of Huwaei products, among other things.”
Dịch: Lê Trung Nghĩa

Chủ Nhật, 23 tháng 3, 2014

So sánh vụ Từ chối bằng phần mềm độc hại của Facebook của NSA


Compare the NSA’s Facebook Malware Denial to its Own Secret Documents
By Ryan Gallagher, 15 Mar 2014, 12:41 PM EDT
Bài được đưa lên Internet ngày: 15/03/2014
Lời người dịch: Một tiết lộ mới từ các tài liệu của Edward Snowden đề tháng 04/2011 mà “Glenn Greenwald và tôi đã tiết lộ các chi tiết mới về các nỗ lực của NSA để mở rộng triệt để khả năng của nó để đột nhập vào các máy tính và các mạng khắp thế giới”. “Tiết lộ này hình như đã làm cho nhà sáng lập Fecebook Mark Zuckerberg tức giận nhiều nên ông đã gọi điện cho Tổng thống Barack Obama để kêu về điều đó. “Tôi đã rất bối rối và bực mình về các báo cáo liên tục về hành vi đó của chính phủ Mỹ”, Zuckerberg đã viết trên một bài trên blog hôm thứ năm. “Khi các kỹ sư của chúng tôi làm việc không mệt mỏi để cải thiện an ninh, chúng tôi tưởng tượng chúng tôi đang bảo vệ bạn chống lại bọn tội phạm, chứ không phải chống lại chính phủ của chính chúng ta””. Tài liệu đã “giải thích cách mà NSA “giả vờ” là các máy chủ của Facebook để triển khai “các cài cắm” giám sát của nó lên các máy tính đích”. Xem thêm: 'Chương trình gián điệp PRISM trên không gian mạng'.
Một trình chiếu tuyệt mật của NSA tiết lộ cách mà cơ quan đó đã sử dụng Facebook để đột nhập vào các máy tính bị ngắm đích để giám sát.
Hôm thứ tư, Glenn Greenwald và tôi đã tiết lộ các chi tiết mới về các nỗ lực của NSA để mở rộng triệt để khả năng của nó để đột nhập vào các máy tính và các mạng khắp thế giới. Câu chuyện đã nhận được nhiều sự chú ý, và một chi tiết đặc biệt đã làm bật dậy sự tranh cãi: đặc biệt, đó là NSA đã giả vờ bí mật là một máy chủ Facebook để giấu giếm gây lây nhiễm cho các mục tiêu với các “cài cắm” phần mềm độc hại được sử dụng để giám sát.
Tiết lộ này hình như đã làm cho nhà sáng lập Fecebook Mark Zuckerberg tức giận nhiều nên ông đã gọi điện cho Tổng thống Barack Obama để kêu về điều đó. “Tôi đã rất bối rối và bực mình về các báo cáo liên tục về hành vi đó của chính phủ Mỹ”, Zuckerberg đã viết trên một bài trên blog hôm thứ năm. “Khi các kỹ sư của chúng tôi làm việc không mệt mỏi để cải thiện an ninh, chúng tôi tưởng tượng chúng tôi đang bảo vệ bạn chống lại bọn tội phạm, chứ không phải chống lại chính phủ của chính chúng ta”.
Đó là tất cả. Tờ Wired đã có một bài nói rằng sử dụng tràn lan của NSA các công cụ phần mềm độc hại của nó “hành động như sự cho phép ẩn đối với những người khác, cả cho tội phạm và nhà nước quốc gia”. Tờ Slate đã nêu rằng nền tảng đột nhập của NSA dường như là “đang trở thành giống nhiều hơn là giăng lưới bất kể mục tiêu bất kỳ ai cũng rất bất bình”. Trong khi đó, tờ Ars Technica đã viết rằng công nghệ giám sát mà chúng ta đã hé lộ “đặt ra một sự rủi ro cho toàn bộ Internet”.
Đáp lại, NSA đã cố gắng dập tắt phản ứng dữ dội bằng việc đặt ra một tuyên bố công khai bãi bỏ những gì nó gọi là các báo cáo “không chính xác” của giới truyền thông. Cơ quan đó đã từ chối rằng nó đã không “gây lây nhiễm cho hàng triệu máy tính khắp thế giới với các phần mềm độc hại”. Tuyên bố đó đi theo một xu thế mà đã được xem là lặp đi lặp lại sau các tiết lộ từ các tài liệu của người thổi còi Edward Snowden, theo đó NSA hoặc một trong các đồng minh được ngụ ý đưa ra một sự từ chối không từ chối với câu cú thận trọng mà dường như biện luận cho lý lẽ mà trong xem xét kỹ hơn không biện luận hoàn toàn cho nó được.
Trước khi xuất bản câu chuyện của chúng tôi, chúng tôi đã yêu cầu NSA giải thích sử dụng Facebook của nó để triển khai phần mềm độc hại như một phần của một sáng kiến tuyệt mật với tên mã là QUANTUMHAND. NSA đã từ chối trả lời hoàn tất cả các câu hỏi của chúng tôi hoặc đưa ra ngữ cảnh cho các tài liệu đó. Chúng tôi đã đi vào chi tiết tỉ mỉ trong báo cáo của chúng tôi, nó đã đi qua một qui trình kiểm tra sự việc mạnh vì sự nghiêm trọng của các tiết lộ. Những gì chúng tôi đã nêu, một cách chính xác, là các tệp của Snowden đã chỉ ra cách mà cơ quan đó đã, trong một số trường hợp, “ngụy trang như một máy chủ rởm của Facebook, sử dụng site truyền thông xã hội như một bệ phóng để gây lây nhiễm cho một máy tính đích và trích lọc các tệp từ một ổ đĩa cứng”. Nguồn cho chi tiết đó đã không bị ngắt khỏi không khí mong manh; nó đã được găm vào gốc rễ trong nhiều tài liệu tham chiếu tới kỹ thuật đó trong hành động, bao gồm cả hoạt hình nội bộ NSA mà chúng tôi đã xuất bản.
Tuy nhiên, một trích đoạn ngắn đặc biệt từ một trong những tài liệu bí mật đã nắm lấy tầm quan trọng mới vì tuyên bố của NSA. Trích đoạn đó đáng lôi cuốn sự chú ý ở đây vì sự sáng tỏ về ngôn ngữ mà nó sử dụng về chiến thuật Facebook và ánh sáng soi rọi vào sự từ chối của NSA. Tham chiếu tới sáng kiến phần mềm độc hại Quantum của NSA, tài liệu, đề tháng 04/2011, giải thích cách mà NSA “giả vờ” là các máy chủ của Facebook để triển khai “các cài cắm” giám sát của nó lên các máy tính đích:
Khó để làm chính xác cho NSA bí mật nói rằng nó “giả vờ là một máy chủ Facebook” trong khi nêu công khai rằng nó “không sử dụng các khả năng kỹ thuật của mình để đóng vai các website của các công ty Mỹ”. Liệu cơ quan này có đang thực hiện một sự phân biệt quanh co và không nói ra sự từ chối của nó giữa “các website” và “các máy chủ” hay không? Liệu nó có chủ tâm là cơ quan đó đã sử dụng thì hiện tại “không làm” trong sự từ chối của mình như để đối nghịch lại với thời quá khứ “đã không” hay không? Liệu kỹ thuật Facebook QUANTUMHAND có đã và đang bị tắt kể từ khi có báo cáo của chúng tôi hay không? Theo cách nào thì ngôn ngữ được sử dụng trong tuyên bố công khai của NSA dường như cũng đều hiểu lầm cao độ - đó là vì sao vài nhà báo công nghệ đã đối xử với nó với sự ngờ vực.
Điều y hệt là đúng về sự từ chối của NSA mà nó đã không “gây lây nhiễm cho hàng triệu máy tính khắp thế giới với phần mềm độc hại” như một phần của các nỗ lực đột nhập của nó. Báo cáo của chúng tôi không bao giờ thực sự tố cáo NSA về đã đạt được cột mốc đó. Một lần nữa, chúng tôi đã nêu chính xác những gì các tài liệu của chính NSA nêu: rằng NSA đang làm việc để “mở rộng phạm vi một cách hung hăng” các nhiệm vụ đột nhập máy tính của nó và đã xây dựng một hệ thống gọi là TURBINE mà nó nêu rõ ràng sẽ “cho phép mạng cài cắm hiện hành mở rộng phạm vi tới kích cỡ lớn (hàng triệu cài cắm)”. Chỉ một thập kỷ trước, số lượng các cài cắm do NSA triển khai từng chỉ là hàng trăm, theo các tệp của Snowden. Nhưng cơ quan đó bây giờ được cho là quản lý một mạng từ 85,000 đến 100,000 cài cắm trong các hệ thống máy tính khắp thế giới – và, nếu các khả năng của TURBINE và các tài liệu của chính NSA là bất kỳ thứ gì đó thoảng qua, thì đây là dự định các con số đó ngày một đáng kể.
Sự nở rộ nhanh chóng các kỹ thuật đột nhập trong thập kỷ qua, dưới sự bao trùm trong bí mật cao độ, là cực kỳ và chưa từng có. NSA khăng khăng từ chối rằng các nỗ lực đột nhập của nó không phải là “bất phân biệt”. Vâng cách mà cơ quan đó xác định “bất phân biệt” trong ngữ cảnh này vẫn còn chưa rõ.
Tờ Intercept đã hỏi NSA làm rõ một số vấn đề đó cho bài viết này. Liệu cơ quan đó có từ chối rằng nó đã sử dụng phương pháp QUANTUMHAND để giả vờ là một máy chủ Facebook để triển khai các cài cắm phần mềm độc hại hay không? NSA làm thế nào phân biệt “bất phân biệt” với “có phân biệt”? Trong ngữ cảnh pháp lý, chính sách và vận hành đặc thù nào hệ thống các cài cắm đó hoạt động? Cơ quan đó đã từ chối trả lời tất cả các câu hỏi đó. Thay vào đó, nữ phát ngôn viên Vanee Vines nói rằng NSA đứng theo tuyên bố gốc của mình, chỉ bổ sung thêm rằng “xuất bản không được phép và có lựa chọn” của các tài liệu “có thể dẫn tới những tiêu dùng không đúng”.
Lãnh đạo đang ra đi của NSA đã nói rằng cơ quan đó ủng hộ sự minh bạch gia tăng trong làn sóng các tiết lộ của Snowden - nhưng câu trả lời của nó cho các hé hộ mới nhất minh họa rằng nó đang thất bị để làm sống lại cam kết đó. Nếu NSA thực sự muốn có được lòng tin của các công dân, thì nó nên nghĩ lại chiến lược quan hệ công chúng không vững của nó. Một bước đầu tốt lành sẽ là hãy dừng đưa ra các từ chối mơ hồ không rõ ràng mà dường như rất mâu thuẫn với những gì các quan chức của nó đã nói trong bí mật khi họ nghĩ không ai có thể học được về những gì họ đã làm.
A top-secret NSA presentation reveals how the agency used Facebook to hack into targeted computers for surveillance.
On Wednesday, Glenn Greenwald and I revealed new details about the National Security Agency’s efforts to radically expand its ability to hack into computers and networks across the world. The story has received a lot of attention, and one detail in particular has sparked controversy: specifically, that the NSA secretly pretended to be a Facebook server in order to covertly infect targets with malware “implants” used for surveillance.
This revelation apparently infuriated Facebook founder Mark Zuckerberg so much that he got on the phone to President Barack Obama to complain about it. “I’ve been so confused and frustrated by the repeated reports of the behavior of the US government,” Zuckerberg wrote in a blog post Thursday. “When our engineers work tirelessly to improve security, we imagine we’re protecting you against criminals, not our own government.”
That wasn’t all. Wired ran a piece saying that the NSA’s widespread use of its malware tools “acts as implicit permission to others, both nation-state and criminal.” Slate noted that the NSA’s hacking platform appears to be “becoming a bit more like the un-targeted dragnets everyone has been so upset about.” Meanwhile, Ars Technica wrote that the surveillance technology we exposed “poses a risk to the entire Internet.”
In response, the NSA has attempted to quell the backlash by putting out a public statement dismissing what it called “inaccurate” media reports. The agency denied that it was “impersonating U.S. social media or other websites” and said that it had not “infected millions of computers around the world with malware.” The statement follows a trend that has repeatedly been seen in the aftermath of major disclosures from documents turned over by NSA whistleblower Edward Snowden, in which the NSA or one of its implicated allies issues a carefully worded non-denial denial that on the face of it seems to refute an allegation but on closer inspection does not refute it at all.
Prior to publishing our story, we asked the NSA to explain its use of Facebook to deploy malware as part of a top-secret initiative codenamed QUANTUMHAND. The NSA declined to answer all of our questions or offer context for the documents. We went into meticulous detail in our report, which went through a rigorous fact-checking process because of the gravity of the revelations. What we reported, accurately, was that the Snowden files showed how the agency had in some cases “masqueraded as a fake Facebook server, using the social media site as a launching pad to infect a target’s computer and exfiltrate files from a hard drive.” The source for that detail was not plucked from thin air; it was rooted in multiple documents that refer to the technique in action, including the internal NSA animation that we published.
A particular short excerpt from one of the classified documents, however, has taken on new significance due to the NSA’s statement. The excerpt is worth drawing attention to here because of the clarity of the language it uses about the Facebook tactic and the light it shines on the NSA’s denial. Referencing the NSA’s Quantum malware initiative, the document, dated April 2011, explains how the NSA “pretends” to be Facebook servers to deploy its surveillance “implants” on target’s computers:
It is difficult to square the NSA secretly saying that it “pretends to be the Facebook server” while publicly claiming that it “does not use its technical capabilities to impersonate U.S. company websites.” Is the agency making a devious and unstated distinction in its denial between “websites” and “servers”? Was it deliberate that the agency used the present tense “does not” in its denial as opposed to the past tense “did not”? Has the Facebook QUANTUMHAND technique been shut down since our report? Either way, the language used in the NSA’s public statement seems highly misleading – which is why several tech writers have rightly treated it with skepticism.
The same is true of the NSA’s denial that it has not “infected millions of computers around the world with malware” as part of its hacking efforts. Our report never actually accused the NSA of having achieved that milestone. Again, we reported exactly what the NSA’s own documents say: that the NSA is working to “aggressively scale” its computer hacking missions and has built a system called TURBINE that it explicitly states will “allow the current implant network to scale to large size (millions of implants).” Only a decade ago, the number of implants deployed by the NSA was in the hundreds, according to the Snowden files. But the agency now reportedly manages a network of between 85,000 and 100,000 implants in computers systems worldwide – and, if TURBINE’s capabilities and the NSA’s own documents are anything to go by, it is intent on substantially increasing those numbers.
The rapid proliferation of these hacking techniques in the past decade, under cover of intense secrecy, is extraordinary and unprecedented. The NSA insists in its denial that its hacking efforts are not “indiscriminate.” Yet how the agency defines “indiscriminate” in this context remains unclear. The Intercept asked the NSA to clarify some of these issues for this post. Does the agency deny that it has used the QUANTUMHAND method to pretend to be a Facebook server in order to deploy malware implants? How does the NSA distinguish “indiscriminate” from “discriminate”? In what specific legal, policy, and operational context does the implants system function? The agency declined to answer all of these questions. Instead, spokeswoman Vanee’ Vines said that the NSA stood by its original statement, adding only that “unauthorized and selective publication” of the documents “may lead to incorrect assumptions.”
The NSA’s outgoing chief has claimed that the agency supports increased transparency in the wake of the Snowden leaks – but its response to the latest disclosures illustrates that it is failing to live up to that commitment. If the NSA truly wants to gain citizens’ trust, it should rethink its slippery public relations strategy. A good first step would be to stop issuing dubious denials that seem to sit so starkly at odds with what its officials were saying in secret when they thought nobody would ever learn about what they were doing.
Dịch: Lê Trung Nghĩa

Phần mềm tự do nguồn mở ở Việt Nam tại sao cần!


Là bài trình bày tại hội thảo PMTDNM trong chương trình PC's for Life vừa diễn ra trong 2 ngày 21-22/03/2014 tại Thái Nguyên.

Đây là bài trình bày được sửa đổi nội dung từ bài trình bày được chuẩn bị một tháng trước đó nhân sự kiện “Tọa đàm nhân gặp gỡ ICT đầu xuân 2014” do Hội Tin học Việt Nam đã tổ chức vào ngày 21/02/2014 tại Hà Nội.
Blogger Lê Trung Nghĩa

Thứ Năm, 20 tháng 3, 2014

Ấn Độ “áp dụng phần mềm nguồn mở trong các hệ thống điều hành điện tử” - Nghĩ về an ninh


Trước các thông tin dồn dập trong năm 2013 về các sự việc nổi bật có liên quan tới các vụ gián điệp thông tin như vụ tiết lộ gián điệp của đơn vị APT1 của Trung Quốcvụ giám sát ồ ạt của Cơ quan An ninh Quốc gia Mỹ (NSA), nhiều quốc gia trên thế giới cũng như ở Việt Nam đã và đang có những thay đổi cả trong các chính sách lẫn trong triển khai công việc thực tiễn hàng ngày để cải thiện an ninh an toàn thông tin cho các hệ thống của quốc gia mình.
Tháng 09/2013, Chính phủ Ấn Độ, Bộ Công nghệ Thông tin và Truyền thông, Cục Công nghệ Điện tử và Thông tin, đã xuất bản tài liệu “Khung áp dụng phần mềm nguồn mở trong các hệ thống điều hành điện tử” với nhiều khuyến cáo triển khai thực tiễn nhiều khía cạnh có liên quan tới PMNM. Một trong những khía cạnh đó là an ninh trong PMNM.
Dưới đây đưa ra những nội dung về khía cạnh an ninh trong PMNM của tài liệu nêu trên, với lưu ý rằng tài liệu ra đời 3 tháng sau khi sự kiện giám sát ồ ạt của Cơ quan An ninh Quốc gia Mỹ - NSA (National Security Agency) đã bị tiết lộ, bắt đầu từ đầu tháng 06/2013, và Ấn Độ cũng là một quốc gia nằm trong tầm ngắm của sự giám sát ồ ạt đó.
A. Hệ thống PMNM dựa vào nhiều người sử dụng
Các hệ thống PMNM hầu hết dựa vào mô hình UNIX với nhiều người sử dụng và sẵn sàng với mạng. Vì điều này, chúng đi với một cấu trúc an ninh và sự cho phép mạnh. Hệ quả là, các chỗ bị tổn thương trong hầu hết các ứng dụng chỉ tạo ra một lỗ hổng an ninh có giới hạn trong các hệ thống PMNM. Hơn nữa, tính sẵn sàng của mã nguồn đối với các hệ thống PMNM giúp cho các lập trình viên phát hiện ra và sửa các chỗ bị tổn thương, thường trước khi một lỗi có thể bị khai thác. Hầu hết các giải pháp và ứng dụng Internet dựa vào PMNM và cả các Tiêu chuẩn Mở; ví dụ, TCP/IP, HTTP, DNS, SMTP & IMAP.
B. Chỗ bị tổn thương và các sửa lỗi
Các lỗi ẩn dấu và các chỗ bị tổn thương về an ninh khó tồn tại hơn trong PMNM so với PMNĐ. Bất kỳ nhà cung cấp dịch vụ nào cũng có thể tham gia vào để sửa các lỗi và chỗ bị tổn thương trong PMNM so với kịch bản của người sử dụng mang ơn nhà cung cấp PMNĐ. Nói chung, PMNM nổi tiếng có tiềm năng về chu kỳ phát hành nhanh hơn, các sửa lỗi và an ninh của PMNM là tốt hơn; điều này thường là vì việc sửa các chỗ bị tổn thương về an ninh thường xuyên của cộng đồng PMNM tương ứng. Các thực tiễn về an ninh thường được các cơ quan dịch vụ hỗ trợ thương mại hỗ trợ mà cũng hỗ trợ cả sự bồi thường; điều này có một tác động mạnh mẽ lên sự triển khai các hệ thống dựa vào PMNM.
C. An ninh quốc gia và PMNM
Sự quan tâm về an ninh như các cửa hậu hoặc các lỗ hổng giấu giếm trong phần mềm đã khuyến khích nhiều tổ chức chuyển sang PMNM. Sự hồ nghi các phần mềm nước ngoài dạng “các hộp đen” mà không thể kiểm toán được đã được xem như là một trong những lý do Trung Quốc, Nhật và Hàn Quốc áp dụng PMNM của họ và như một trong những lý do vì sao các Chính phủ khác đang xem xét PMNM.
D. Thiết lập an ninh chuyên nghiệp với PMNM
Các hệ thống PMNM có xu hướng sẽ thường là an ninh hơn và sẽ được thậm chí các ngân hàng, các công ty tài chính và bảo hiểm sử dụng.
Các tổ chức cần đảm bảo rằng mức độ tinh thông đúng tồn tại với tất cả các dạng các nhà cung cấp hỗ trợ, bao gồm cả các chuyên gia trong nội bộ. Các dịch vụ hỗ trợ và duy trì phù hợp sẽ được làm cho sẵn sàng cho PMNM như trong trường hợp của PMNĐ, để giảm thiểu các rủi ro.
Như là lớp đầu tiên, một nhóm cốt lõi trung ương các cao thủ có đạo đức liên tục xem xét các chỗ bị tổn thương và các lỗ hổng vòng lặp của các giải pháp PMNM. Nhóm này nên có liên hệ với các cộng đồng, cung cấp các bản vá / cập nhật an ninh sao cho người sử dụng không cần lo về sự triển khai của PMNM. Như là lớp thứ 2, các giải pháp PMNM có thể để mở cho cộng đồng nghiên cứu hàn lâm, các sinh viên Khoa học Máy tính để kiểm thử an ninh các giải pháp PMNM đó và các vấn đề có thể sẽ được sử dụng cho các dự án của sinh viên để có được các giải pháp.
Các liên quan tới an ninh khác đối với PMNM hầu hết là y hệt như với PMNĐ; ví dụ, các phiên bản PMNM cũ hơn nào đó có thể lỗi thời và có thể không được hỗ trợ giống như trong trường hợp của PMNĐ. Phải tiếp cận trên cơ sở từng trường hợp một.
E. Một số chỉ dẫn chung về an ninh
Mỗi chỉ dẫn chung bên dưới đều đi kèm với một sản phẩm PMNM cụ thể được khuyến cáo để sử dụng, dù các PMNM đó thường không phải là duy nhất có khả năng được xem xét để sử dụng.
  1. Bảo vệ mạng với một tường lửa mạnh: Một phát tán Linux được tăng cường an ninh (PMNM như Smooth wall) cung cấp các hoạt động tường lửa của phần cứng sống còn như việc khóa các cổng, đưa vào danh sách đen các địa chỉ IP, bảo vệ chống virus... có thể được cân nhắc; cùng lúc, nó dễ dàng để sử dụng.
  2. Truy cập từ xa có an ninh: Nhiều lúc, được yêu cầu làm việc thông qua một giải pháp có an ninh (PMNM như Open VPN) từ các địa điểm ở xa với sự kiểm soát và giao diện đồ họa người sử dụng – GUI (Graphic User Interface) được bản địa hóa để dễ sử dụng.
  3. Đảm bảo an ninh cho dữ liệu trong các máy tính để bàn & xách tay cục bộ với việc mã hóa: Có rủi ro của việc khai thác các dữ liệu nhạy cảm nằm trong các máy tính để bàn và xách tay cục bộ từ những người không có thẩm quyền. Giải pháp phổ biến được khuyến cáo là sử dụng giải pháp mã hóa (PMNM như True Crypt) sao cho thậm chí nếu có một sự truy cập vật lý tới hệ thống cục bộ từ những người không có thẩm quyền, thì nội dung không thể sử dụng được nếu không có khóa số theo yêu cầu.
  4. Đảm bảo an ninh cho các điểm truy cập WiFi: Các điểm truy cập WiFi được yêu cầu phải được bảo vệ bằng việc sử dụng giải pháp phù hợp (PMNM như WPA2 với máy chủ xác thực RADIUS) để có mạng an toàn cho tổ chức; giải pháp đó cho phép những người sử dụng có thẩm quyền đăng nhập vào dễ dàng với tên và mật khẩu trong khi ẩn dấu được các khóa mã của mình khỏi những người sử dụng đầu cuối.
  5. Áp dụng thực tiễn tốt nhất cho quản trị hệ thống:
    1. Tất cả những người sử dụng nên sử dụng các mật khẩu mạnh. Sự xác thực mạnh nhiều yếu tố nên được kích hoạt với các kết hợp mật khẩu một lần - OTP (One Time Password), chữ ký số, vân tay sinh học... Nếu các xác thực y hệt được lặp đi lặp lại trong nhiều ứng dụng, thì giải pháp xác thực đăng nhập duy nhất - SSO (Single Sign On) (như hệ thống xác thực tập trung - CAS (Central Authentication System) có thể được sử dụng.
    2. Chỉ các dịch vụ được yêu cầu nên được gọi tới trong các hệ thống, đặc biệt ở trung tâm dữ liệu; đó là, giải pháp theo đó không được yêu cầu cho việc quản lý hệ thống hiện hành nên được tắt. Tương tự, việc giám sát các lưu ký và các thư mục tệp nên được thực hiện bằng việc sử dụng giải pháp phù hợp (PMNM như Mon) cho bất kỳ hoạt động đáng ngờ nào trên cơ sở thường xuyên; các cảnh báo được tự động và các cuộc thăm dò ý kiến có thể được kích hoạt.
    3. Cơ chế sao lưu và phục hồi thảm họa phù hợp (các vị trí cục bộ / ở xa) sẽ được kích hoạt. Tương tự, sự tạo ra các tệp lưu ký ở mức ứng dụng sẽ được kích hoạt ở các máy chủ ở xa.
  6. Truy cập Internet có an ninh từ intranet thông qua Ủy quyền (Proxy) web: Một ủy quyền web (PMNM như Squid) nên được làm cho sẵn sàng để định tuyến, lọc & giám sát truy cập web và cũng để ngăn chặn việc tải về phần mềm độc hại.
F. Khuyến cáo
An ninh các giải pháp PMNM đối với các kho PMNM có thể được cải thiện bằng việc tạo ra 2 lớp cơ chế kiểm toán nội bộ & bên ngoài và cơ chế bổ sung theo cấu trúc được đề xuất.
G. Kết luận
Những giải thích, chỉ dẫn và khuyến cáo về khía cạnh an ninh các hệ thống PMNM được nêu ở trên trong chính sách của Chính phủ Ấn Độ trong điều hành các hệ thống điện tử là những câu trả lời mẫu mực để đáp lại những chuyện hoang đường thường thấy khi nói về an ninh các hệ thống PMNM. Những gì đã xảy ra trong vụ giám sát ồ ạt của NSA đang nói cho chính phủ các nước một điều ngược lại: Xây dựng hệ thống an ninh an toàn thông tin dựa vào các phần mềm nguồn đóng, sở hữu độc quyền, ví dụ cụ thể như xây dựng hệ thống an ninh an toàn thông tin dựa trên hệ điều hành Microsoft Windows, là tương tự như xây nhà trên bãi mìn, không có bất kỳ sự an ninh an toàn nào!.
Trần Lê
Bài đăng trên tạp chí Tin học và Đời sống, số tháng 3/2014, trang 38-39.

Chỉ dẫn mới của Đan Mạch về nguồn mở trong khu vực nhà nước


New Danish guide on public sector open source
Submitted by Gijs Hillenius on March 13, 2014
Bài được đưa lên Internet ngày: 13/03/2014
Khu vực nhà nước Đan Mạch ngày càng chuyển sang các giải pháp CNTT-TT nguồn mở, theo một chỉ dẫn về xây dựng các cộng đồng nguồn mở trong hành chính nhà nước. “Điều này không ngạc nhiên, vì khi làm đúng, các cộng đồng nguồn mở cho phép thậm chí các tài nguyên hạn chế vươn ra được xa hơn”.
Denmark's public sector is increasingly turning to open source ICT solutions, according to a guide on building open source communities in public administration. "It is not surprising, because when done right, open source communities allow even limited resources to stretch far."
“Chỉ dẫn này phổ biến các kinh nghiệm của nhiều cơ quan đã tiến hành tiến trình này. Chúng tôi nhằm thậm chí để các cơ quan khác cũng tiến hành”.
Báo cáo đã được xuất bản hôm thứ hai từ Cơ quan Số hóa Đan Mạch. Nó được làm sẵn sàng trên 'Digitaliser', cộng đồng trực tuyến của cơ quan này tập trung vào hiện đại hóa CNTT trong hành chính nhà nước Đan Mạch. Chỉ dẫn đó là một sáng kiến của Trung tâm Tri thức về Nguồn mở và các Tiêu chuẩn mở (Videncenter for open source og åbne standarder), một trong các cộng đồng trong Digitaliser.
Một tài liệu 50 trang được chia thành 8 chương, giải thích cách thiết lập các cộng đồng bền vững có liên quan tới các cơ quan hành chính nhà nước, các nhà bán hàng CNTT-TT và các lập trình viên phần mềm nguồn mở. Các chương giải thích về các cách thức để cấp vốn cho các hoạt động như vậy, đâu là các thực tiễn tốt nhất trong tổ chức, và cách để giao tiếp trong dự án. Có một chương về cách chọn một giấy phép phần mềm phù hợp, và chương khác về lựa chọn công cụ.
Cho những người mới bắt đầu
Bằng việc làm tài liệu cho các kinh nghiệm đó, trung tâm tri thức muốn xúc tác cho các dự án phát triển nguồn mở thành công hơn. “Nó giải thích nó có nghĩa gì nó là gì để tạo ra một cộng đồng xung quanh một giải pháp CNTT-TT, và chỉ ra những lợi ích của sự phát triển phần mềm như vậy. Chỉ dẫn sẽ là hữu dụng cho các cơ quan hành chính nhà nước mà đang bắt đầu phát triển một giải pháp mới, hoặc đang xem xét sử dụng lại các giải pháp được những người khác chia sẻ”.
Sách chỉ dẫn cũng có thể được các cơ quan hành chính nhà nước sử dụng mà muốn làm cho giải pháp của họ sẵn sàng cho những người khác. Khán thính phòng đích bao gồm những người ra quyết định về hành chính và kinh tế trong khu vực nhà nước, các nhà quản lý dự án CNTT và các kiến trúc sư CNTT. “Chúng tôi giả thiết các lập trình viên CNTT hiểu rồi chủ đề này, nhưng sách chỉ dẫn này hy vọng truyền cảm hứng xa hơn cho họ và giúp họ liên kết với các cộng đồng phát triển nguồn mở khu vực nhà nước”.
"This guide disseminates the experiences of many authorities that have already taken this course. We aim to get even more authorities to embark."
The report was published on Monday by Denmark's Agency for Digitisation. It is made available at 'Digitaliser', the agency's online community focussing on IT modernisation in Denmark's public administrations. The guide is an initiative of the Knowledge Centre for Open Source and Open Standards (Videncenter for open source og åbne standarder), one of the communities on Digitaliser.
The 50-page document is divided in 8 chapters, explaining how to set-up sustainable communities involving public administrations, ICT vendors and open source software developers. Chapters explain on ways to fund such activities, what are best practices in organisation, and how to communicate on the project. There is a chapter on how to choose an appropriate software licence, and another on tool selection.
For beginners
By documenting these experiences, the knowledge centre wants to enable more successful open source development projects. "It explains what it means what it is to create a community around an ICT solution, and shows the benefits of such software development. The guide should be useful for public administrations that are starting development of a new solution, or that are looking into re-using solutions shared by others.
The manual can also be used by public administrations that want to make their solution available to others. The target audience includes administrative and economic decision makers in the public sector, IT project managers and IT architects. "We assume IT developers to already understand the subject, but this guide hopefully further inspires them and helps them to link with public sector open source development communities."
Dịch: Lê Trung Nghĩa

Thứ Tư, 19 tháng 3, 2014

Snowden nói với tôi NSA tàn phá web. Thung lũng Silicon cần phải loại nó ra


Snowden told me the NSA set fire to the web. Silicon Valley needs to put it out
Làm thế nào để đi vượt ra khỏi cuộc nói chuyện SXSW của chúng ta: sự trả thù của những người quá thông thái, một công cụ an ninh thường ngày vào một thời điểm.
How to move beyond our SXSW talk: revenge of the nerds, one everyday security tool at a time
By Christopher Soghoian in Austin, theguardian.com, Tuesday 11 March 2014 15.37 GMT
Bài được đưa lên Internet ngày: 11/03/2014
Lời người dịch: Bài này tác giả và Edward Snowden dạy cho mọi người đối phó lại với sự giám sát ồ ạt của NSA. Có 3 bài học chính, đó là: (1) Vô hiệu hóa dữ liệu bằng mọi cách; (2) Hạn chế thu thập, dịch chuyển thời hạn lưu trữ; và (3) Nghĩ lại mối quan hệ của chúng ta với các công ty công nghệ. Bạn là người sử dụng thông thường? Bạn rất nên đọc hết bài này để nhớ được chi tiết về 3 bài học chính đó. Xem thêm: 'Chương trình gián điệp PRISM trên không gian mạng'.
“Bạn là người chữa cháy”, người thổi còi NSA Edward Snowden đã nói cho khán thính phòng những người hiểu biết công nghệ ở đây ngày hôm qua, trong cuộc đàm luận của tôi với anh ta ở liên hoan SXSW. “Mọi người ở Austin là những người có thể bảo vệ các quyền của chúng ta thông qua các tiêu chuẩn kỹ thuật”.
Các bình luận của Edward từng là lời kêu gọi trang bị cho cộng đồng kỹ thuật để bảo vệ những người sử dụng của mình khỏi sự giám sát ồ ạt bất phân biệt của SNA và an ninh mà nó tạo ra. Bất chấp cuộc nói chuyện từ Washington DC về các mối đe dọa an ninh không gian mạng (ANKGM) - và bạn sẽ nghe nhiều hơn về nó hôm nay trong một cuộc điều trần khẳng định cho người có thể là lãnh đạo tiếp theo của NSA - bây giờ rõ ràng là các nỗ lực giám sát ồ ạt của NSA không phải là phương thức tốt. Bất kể đó là việc làm xói mòn một cách có hệ thống các tiêu chuẩn mã hóa toàn cầu, việc đột nhập và các máy chủ truyền thông của các công ty và các liên kết dữ liệu hoặc việc khai thác các chỗ bị tổn thương của cái gọi là ngày số 0, các vụ gián điệp không gian mạng của quốc gia được tập trung vào việc tấn công tính riêng tư trực tuyến và làm suy yếu an ninh của các hệ thống mà tất cả chúng ta tin tưởng.
Hãy quên tất cả sự hùng biện của chính phủ về ANKGM: NSA đơn giản không ở đó để làm cho Internet an ninh hơn. Mà điều đó không có nghĩa là cơ quan đó phải thắng. Cộng đồng công nghệ toàn cầu có thể đánh trả, nếu các lập trình viên nỗ lực xây dựng tính riêng tư và an ninh trong các sản phẩm của họ. Bằng từ 0 trong các bước thực tiễn Edward và tôi đã thảo luận trong cuộc đàm thoại ở đây, chúng ta có thể xây dựng được một Internet an ninh, mở và tự do hơn.
Không may, đã từ quá lâu, an ninh từng là một suy nghĩ đi sau. Thậm chí đối với nhiều người bạn cao thủ của tôi ở đây tại SXSW.
Cho tới gần đây, nhiều dịch vụ kết nối mạng xã hội và thư điện tử tự do mà nhiều người tiêu dùng sử dụng đã thất bại để tích hợp thứ cơ bản nhất của công nghệ mã hóa. Điều đó đã làm cho công việc của NSA quá là dễ dàng, nên thách thức thực sự cho NSA thường trở thành việc xử lý tất cả các dữ liệu giao tiếp truyền thông chặn được, thay vì việc chộp nó ngay từ đầu.
Ngay bây giờ, các công cụ và dịch vụ giao tiếp truyền thông được sử dụng rộng rãi nhất - là các công cụ mà chúng tôi sử dụng để kinh doanh, có thú vui và sự kết nối với những người mà chúng tôi yêu thích - thất bại để phân phối cho 3 điều đứng đầu hợp lý và hiện thực hóa được tính riêng tư, an ninh và tính đơn giản. Kết quả là, mọi người bị ép phải chọn giữa công nghệ trực quan vô cùng nhưng về cơ bản lại yếu về tính riêng tư (như trình duyệt Chrome của Google và hệ điều hành Android) và công nghệ (như mã hóa thư PGP và Tor) mà vẫn còn quá khó cho người sử dụng trung bình để sử dụng... thậm chí nếu các công cụ đó làm được một công việc tốt hơn nhiều về bảo vệ các dữ liệu riêng tư.
9 tháng sau khi các tài liệu của Snowden bị rò rỉ trong các trang đó, dù, các tiêu chuẩn và thực tiễn của an ninh mỗi ngày thực sự đang bắt đầu thay đổi. Vài năm qua, và thậm chí hơn thế sau những tiết lộ của Edward, các công ty của thung lũng Silicon đã bắt đầu xúc tác cho - một cách mặc định - các tính năng cơ bản về an ninh, như sử dụng mã hóa HTTPS để bảo vệ dữ liệu khi nó được truyền từ các khách hàng của họ tới các máy chủ của các công ty. Trong khi mã hóa HTTPS một cách mặc định là sự khởi đầu tuyệt vời, thì nó là không đủ. Các công ty công nghệ phải đưa ra các ứng dụng và dịch vụ mà là an toàn và an ninh một cách mặc định.
1. Vô hiệu hóa dữ liệu, tất cả các cách thức
Quá là thường xuyên, an ninh là một tính năng lựa chọn mà ít người thông thường thậm chí sẽ biết, ít hơn nhiều những người tìm ra và xúc tác.
Hơn nữa, các công ty công nghệ lớn cần ôm lấy công nghệ mã hóa từ đầu chí cuối. Đó là, họ cần khóa các sản phẩm của họ, sao cho chúng sẽ không có khả năng thấy các dữ liệu các khách hàng của họ. Dạng công nghệ mã hóa này, nếu được vài nhà cung cấp dịch vụ chính triển khai, sẽ phá hỏng đáng kể khả năng của các cơ quan tình báo, tại Mỹ và ở những nơi khác, để nhảy vào trong sự giám sát cả đống. Càng nhiều các dữ liệu và giao tiếp truyền thông được mã hóa, thì càng ít sự giám sát ồ ạt có thể bảo vệ được.
Nó làm giảm về kinh tế đơn giản, thực sự: nếu NSA phải bỏ ra nhiều thời gian hơn để tìm kiếm một cách thức để phá hoặc nối không phá hủy các giao tiếp truyền thông được mã hóa, thì nó sẽ bị ép phải làm những gì nó sẽ phải làm tất cả cùng - sử dụng các sức mạnh cực kỳ của nó vào các mục tiêu giá trị cao, thay vì hàng trăm triệu những người vô tội hiện phải tuân theo sự giám sát của NSA. Nếu bạn yêu cầu sức mạnh mã hóa đó, hãy cân nhắc điều này: chính phủ Mỹ vẫn không biết những tài liệu nào Edward đã lấy, vì anh ta đã mã hóa mọi thứ.
2. Hạn chế thu thập, dịch chuyển thời hạn lưu trữ
Như Edward đã nhấn mạnh, các công ty công nghệ cũng có thể bắt đầu hạn chế dữ liệu mà họ thu thập từ các khách hàng của họ và chỉ lưu trữ nó càng lâu càng tốt nếu cần cho các mục đích kinh doanh đích thực - và không một giây nào dài hơn. Tác động đối với khả năng của chính phủ để đòi hỏi các dữ liệu từ các công ty như Google và Facebook được khuếch đại vì các công ty công nghệ đó thu thập và lưu trữ mọi điều. Nếu các công ty đó không có dữ liệu mà chính phủ Mỹ và các chính phủ khác đang tìm kiếm, thì họ không thể cưỡng bách hợp pháp để chuyển những gì không còn tồn tại hoặc chưa từng tồn tại ngay từ đầu.
Tuy nhiên, vấn đề là một xung đột cơ bản về lợi ích giữa mô hình kinh doanh của vô cùng nhiều người khổng lồ công nghệ - sự thu thập, lưu trữ và thương mại hóa các dữ liệu của bạn - và tính riêng tư và an ninh của bạn.
Đây là nơi mà người sử dụng thông thường Internet có thể tạo ra sự khác biệt. Ngay bây giờ, các dịch vụ số theo đó tất cả chúng ta dựa vào cho các giao tiếp truyền thông nhanh và việc duyệt web dễ dàng phần lớn là dựa vào tiền quảng cáo. Họ bán các dữ liệu mà bạn tạo ra cho các bên thứ 3, hoặc sử dụng nó để phân phối các quảng cáo có mục đích cho các bên thứ 3 đó. Toàn bộ các doanh nghiệp sẽ chuyên tâm cho việc thu thập, phân tích và sau đó thương mại hóa bất kỳ dữ liệu nào mà bạn sản xuất. Kết quả là, các ứng dụng, các hệ điều hành và các dịch vụ mà họ cung cấp cho chúng ta được tối ưu hóa cho một điều chính yếu: thu thập các dữ liệu riêng tư của chúng ta.
3. Nghĩ lại mối quan hệ của chúng ta với các công ty công nghệ
Chúng ta, những người tiêu dùng hàng ngày, phải làm cho tính riêng tư và an ninh có lợi nhuận. Nếu chúng ta muốn các công ty đó đặt ra các lợi ích của chúng ta lên trước, thì chúng ta phải trả tiền cho các dịch vụ mà họ cung cấp cho chúng ta. Chúng ta phải đòi hỏi rằng các sản phẩm đó giữ lại tính riêng tư - một lần nữa, một cách mặc định. Cho tới khi mô hình kinh doanh này thay đổi, các dịch vụ mà được làm cho thị trường đám đông sẽ vẫn là không an ninh, bị tổn thương và được tối ưu hóa cho sự thu thập dữ liệu.
Bằng việc làm cho nó khó khăn hơn đối với NSA để tham gia vào sự giám sát ồ ạt, chúng ta ép cơ quan đó nhằm vào các giao tiếp truyền thông và các thiết bị của những người bị tình nghi trên thực tế vì làm sai mà không có việc thỏa hiệp các quyền về tính riêng tư của những người khác. Tôi không thể nhấn mạnh đủ những gì tôi đã nói hôm qua: mục tiêu ở đây không phải là làm mù NSA. Mục tiêu ở đây là để chắc chắn họ không thể gián điệp những người ngây thơ, cả đống. Bắt đầu ngay từ bây giờ.
Được nói rằng các cao thủ sẽ kế thừa Trái đất. Nếu điều đó là đúng, thì cũng là trách nhiệm của chúng ta để đảm bảo an ninh cho nó. Một người đã tự mình, Edward Snowden, bắt đầu cuộc cách mạng này. Bây giờ là lúc chúng ta kết thúc nó bằng việc sử dụng các kỹ năng và tri thức của chúng ta để giữ lại tính riêng tư và các quyền tự do dân sự của chúng ta, không chỉ từ đầu.
“You are the firefighters,” National Security Agency whistleblower Edward Snowden told a tech savvy audience here yesterday, during my conversation with him at the SXSW festival. “The people in Austin are the ones who can protect our rights through technical standards.”
Ed’s comments were a call to arms for the tech community to protect its users from indiscriminate mass surveillance by the NSA and the insecurity it creates. Despite the talk from Washington DC regarding cybersecurity threats – and you’ll hear more of it today during a confirmation hearing for the would-be next head of the NSA – it is now clear that the NSA’s mass surveillance efforts are not meant for good. Whether it’s systematically undermining global encryption standards, hacking communications companies’ servers and data links or exploiting so-called zero-day vulnerabilities, the nation’s cyberspies are focused on attacking online privacy and weakening the security of systems that we all trust.
Forget all the government rhetoric on cybersecurity: the NSA simply isn’t here to make the Internet more secure. But that doesn’t mean the agency has to win. The global tech community can fight back, if developers ramp up efforts to build privacy and security into their products. By zeroing in on practical steps Ed and I discussed in our conversation here, we can build a more open, free and secure Internet.
Unfortunately, for far too long, security has been an afterthought. Even for a lot of my fellow geeks here at SXSW.
Until recently, many of the free email and social networking services used by consumers failed to integrate the most basic of encryption technology. That made the NSA’s job far too easy, so the real challenge for the NSA often became processing all of the intercepted communications data, rather than grabbing it in the first place.
Right now, the most widely used communications tools and services – the ones we use to do business, have fun and connect with those we love – fail to deliver the reasonable and realizable trifecta of privacy, security and simplicity. As a result, people are forced to choose between technology that’s incredibly intuitive but fundamentally weak on privacy (such as Google’s Chrome browser and Android operating systems) and technology (like PGP email encryption and Tor) that remains far too difficult for the average person to use … even if those tools do a much better job of protecting private data.
Nine months after Snowden’s documents leaked in these pages, though, the standards and practices of everyday security are truly beginning to change. Over the past few years, and even more so after Ed’s revelations, Silicon Valley companies have begun to enable – by default – basic security features, such as the use of HTTPS encryption to protect data as it is transmitted from their customers’ to the companies’ servers. While HTTPS encryption by default is a great start, isn’t enough. The tech companies must offer apps and services that are safe and secure by default.
1. Disable data, all the way
Far too often, security is an opt-in feature that few regular people will even know about, much less seek out and enable.
In addition, big tech companies need to embrace end-to-end encryption technology. That is, they need to lock their products down, so they won’t be able to see their customers’ data. This kind of encryption technology, if deployed by several major service providers, will significantly thwart the ability of intelligence agencies, in the US and elsewhere, to engage in bulk surveillance. The more communications and data are encrypted, the less tenable mass surveillance becomes.
It comes down to simple economics, really: if the NSA has to spend more time finding a way to break or otherwise circumvent encrypted communications, it will be forced to do what it should have done all along – use its extraordinary powers on high-value targets, rather than the hundreds of millions of innocent people currently subject to NSA surveillance. If you question the power of encryption, consider this: the US government still doesn’t know what documents Ed took, because he encrypted everything.
2. Limit collection, move up storage deadlines
As Ed stressed, tech companies can also begin to limit the data they collect from their customers and only store it for as long as it’s needed for genuine business purposes – and not one second longer. The impact of the government’s ability to demand data from companies like Google and Facebook is amplified because these tech companies collect and store everything. If the companies don’t have the data that the US government and other governments are seeking, they cannot be legally compelled to hand over what no longer exists or never existed in the first place.
The problem, however, is a fundamental conflict of interest between the business model of so many tech giants – the collection, storage and monetization of your data – and your privacy and security.
This is where the average Internet user can make a difference. Right now, the digital services upon which we all rely for swift communications and easy web browsing are largely reliant on advertising dollars. They sell the data you generate to third parties, or use it to deliver targeted advertisements for those third parties. Entire businesses are devoted to collecting, analyzing and then monetizing whatever data you produce. As a result, the apps, operating systems and services they provide us are optimized for one major thing: the collection of our private data.
3. Rethink our relationship with tech companies
We, the everyday consumers, must make privacy and security profitable. If we want these companies to put our interests first, we must pay for the services that they provide us. We must demand that those products preserve privacy – again, by default. Until this business model changes, the services that are made for the mass market will remain insecure, vulnerable and optimized for data collection.
By making it harder for the NSA to engage in mass surveillance, we force the agency to target the communications and devices of people genuinely suspected of wrongdoing without compromising the privacy rights of everyone else. I cannot stress enough what I said yesterday: the goal here isn’t to blind the NSA. The goal here is to make sure they cannot spy on innocent people, in bulk. Starting right now.
It’s been said that the geeks shall inherit the Earth. If that’s true, it’s also our responsibility to secure it. One of our own, Edward Snowden, started this revolution. Now it’s time we finished it by using our skills and knowledge to preserve our privacy and civil liberties, not just the bottom line.
Dịch: Lê Trung Nghĩa

Các công ty an ninh và giám sát thiết lập các cổng khai thác lỗi ngày số 0 cho các chính phủ để sử dụng trong các hành động 'tấn công'

Surveillance And Security Companies Set Up Zero-Day Exploit Portals For Governments To Use In 'Offensive' Actions
by Glyn Moody, Thu, Mar 13th 2014
Bài được đưa lên Internet ngày: 13/03/2014
from the portals-are-so-90s dept
Lời người dịch: Trên thế giới, có các nơi chuyên cung cấp các phần mềm độc hại, các lỗi ngày số 0 và ngày số 1 cho các chính phủ để tấn công vào các máy tính bị ngắm đích. Một số nơi như vậy là “Cổng khai thác Finfly” hoặc website VUPEN (http://www.vupen.com/). “Chúng ta biết từ những rõ rỉ của Snowden rằng NSA sử dụng các khai thác ngày số 0 để gây tổn thương cho các hệ thống máy tính được các chính phủ sử dụng. Điều đó có thể có nghĩa là Mỹ có thể có thiện chí tạo ra bất kỳ ràng buộc nào trong việc sử dụng chúng (thậm chí sử dụng thông thường), cũng như các chính phủ khác trên khắp thế giới sẽ làm mà không nghi ngờ gì đang biến các phần mềm độc hại như là một cách thức gián điệp các mục tiêu theo cùng cách y hệt. Cách duy nhất để làm cùn các cuộc tấn công đó là đối với các thành viên của cộng đồng phần mềm để tìm kiếm, xuất bản và vá các chỗ bị tổn thương, càng nhanh càng tốt. Vâng, điều đó là một lý do cuốn hút khác cho việc sử dụng phần mềm tự do: thậm chí nếu nguồn mở có khả năng có các lỗi hệt như các chương trình nguồn đóng (và các ý kiến sẽ khác nhau về điểm đó), là không có khả năng biện hộ được rằng chúng là dễ dàng hơn để tìm và sửa khi mà các rào cản để làm điều như vậy là thấp hơn nhiều”. Việt Nam, với hơn 5 triệu máy tính còn đang chạy Windows XP sẽ hết hạn bảo hành toàn cầu vào ngày 08/04/2014, có thể sẽ không phải chỉ có vài lỗi ngày số 0 và số 1, mà có thể là vô vàn các lỗi như vậy, có lẽ sẽ biến các mạng ở Việt Nam thành các bãi rác thử nghiệm cho các cuộc tấn công không gian mạng của bất kỳ kẻ xấu nào, bất luận là từ Trung Quốc, Mỹ hay bất kỳ nước nào khác. Xem thêm: 'Chương trình gián điệp PRISM trên không gian mạng'.
Chỉ ít hơn 1 năm trước chúng tôi đã viết về sử dụng thương hiệu Mozilla của Gamma International để lừa mọi người vào việc cài đặt phần mềm độc hại giám sát từ công ty đó. Một bài viết từ Privacy International chỉ ra công ty đó bây giờ đã thiết lập những gì gọi là “Cổng khai thác Finfly” cung cấp: sự truy cập tới một thư viện lớn các khai thác ngày số 0 và ngày số 1 cho các phần mềm phổ biến như Microsoft Office, Internet Explorer, Adobe Acrobat Reader và hơn nữa.
Đây là cách mà nó áp dụng các khai thác đó, như được Privacy International mô tả:
Bằng việc sử dụng Cổng Khai thác FinFly, các chính phủ có thể phân phối công nghệ thâm nhập tinh vi phức tạp, như FinSpy, vào các máy tính đích. Trong khi điều này trước đó được quảng cáo là Gamma sử dụng các cập nhật phần mềm giả mạo từ một số công ty công nghệ hàng đầu thế giới để phân phối FinSpy vào một máy tính đích, thì cổng khai thác thậm chí trang bị nhiều hơn trong tay của chính phủ bằng việc chào nhiều lựa chọn hơn cho sự triển khai. Đáng ngạc nhiên, Cổng Khai thác FinFly đảm bảo những người sử dụng 4 khai thác có khả năng trụ vững cho một số sản phẩm phần mềm được sử dụng nhiều nhất trên thế giới, như chương trình Microsoft Internet Explorer và Adobe Acrobat.
Thật buồn, Gamma không phải là duy nhất trong khía cạnh này. Một công ty khác đang chào các khai thác cho các cơ quan chính phủ vì mục đích đột nhập vào các hệ thống - đó là, các hành động tấn công hơn là các hành động phòng thủ - là Vupen Security. Như website của nó giải thích:
Như là nguồn hàng đầu của nghiên cứu tính bị tổn thương tiên tiến, VUPEN cung cấp các khai thác mức số 0 cho các chính phủ đặc biệt được thiết kế cho các cơ quan ép tuân thủ pháp luật và cộng đồng tình báo để giúp họ đạt được các nhiệm vụ không gian mạng tấn công của họ và các hoạt động mạng có sử dụng các mã ngày số 0 đặc biệt và tinh vi phức tạp cực kỳ được Đội Nghiên cứu Tổn thương của VUPEN (VRT) tạo ra.
Trong khi các công ty khác trong lĩnh vực an ninh không gian mạng tấn công hành động chủ yếu như các nhà môi giới (mua các chỗ bị tổn thương từ các nhà nghiên cứu bên thứ 3 và sau đó bán cho các khách hàng), thì các mã và tri thức chỗ bị tổn thương của VUPEN rõ ràng là kết quả từ các nỗ lực nghiên cứu trong nội bộ được đội các nhà nghiên cứu cấp thế giới của chúng ta tiến hành.
Các bình luận của Privacy International:
Các khai thác có giá trị siêu hạng cho các nhà nghiên cứu an ninh, các cơ quan ép tuân thủ pháp luật, các chính phủ nói chung, và các công ty giám sát. Họ có các mục đích hợp pháp hoàn toàn và nghiên cứu có liên quan cho sự phát triển của họ, đặc biệt nghiên cứu các chỗ bị tổn thương, sẽ được khuyến khích.
Tuy nhiên, khả năng lạm dụng đã dẫn tới các lời kêu gọi ngày một gia tăng cho một dố dạng điều chỉnh trong nền công nghiệp đó mà đi vượt ra khỏi sự tự điều chỉnh của bản thân nền công nghiệp đó. Chúng là các quyết định chính sách khó khăn; các yếu tố và các vấn đề sẽ được cân nhắc là phức tạp và thách thức. Quả thực điều này là khó để trù liệu một dạng điều chỉnh thực tế mà có thể đạt được sự cân bằng đúng. Privacy International tin tưởng chắc chắn rằng các kiểm tra xuất khẩu về các khai thác lúc này không phải là một lời giải đáp phù hợp.
Chúng ta biết từ những rõ rỉ của Snowden rằng NSA sử dụng các khai thác ngày số 0 để gây tổn thương cho các hệ thống máy tính được các chính phủ sử dụng. Điều đó có thể có nghĩa là Mỹ có thể có thiện chí tạo ra bất kỳ ràng buộc nào trong việc sử dụng chúng (thậm chí sử dụng thông thường), cũng như các chính phủ khác trên khắp thế giới sẽ làm mà không nghi ngờ gì đang biến các phần mềm độc hại như là một cách thức gián điệp các mục tiêu theo cùng cách y hệt.
Cách duy nhất để làm cùn các cuộc tấn công đó là đối với các thành viên của cộng đồng phần mềm để tìm kiếm, xuất bản và vá các chỗ bị tổn thương, càng nhanh càng tốt. Vâng, điều đó là một lý do cuốn hút khác cho việc sử dụng phần mềm tự do: thậm chí nếu nguồn mở có khả năng có các lỗi hệt như các chương trình nguồn đóng (và các ý kiến sẽ khác nhau về điểm đó), là không có khả năng biện hộ được rằng chúng là dễ dàng hơn để tìm và sửa khi mà các rào cản để làm điều như vậy là thấp hơn nhiều.
Just under a year ago we wrote about Gamma International's use of Mozilla's trademark to trick people into installing surveillance malware from the company. A post from Privacy International points out the company has now set up what it calls the "Finfly Exploit Portal" providing:
access to a large library of 0-day and 1-Day Exploits for popular software like Microsoft Office, Internet Explorer, Adobe Acrobat Reader and many more.
Here's how it applies those exploits, as described by Privacy International:
By using the FinFly Exploit Portal, governments can deliver sophisticated intrusion technology, such as FinSpy, onto a target's computer. While it's been previously advertised that Gamma use fake software updates from some of the world's leading technology companies to deliver FinSpy onto a target's computer, the exploit portal puts even more power in the hands of government by offering more choices for deployment. Astonishingly, FinFly Exploit Portal guarantees users four viable exploits for some of the most-used software products in the world, such as Microsoft's Internet Explorer and Adobe's Acrobat programme.
Sadly, Gamma is not a one-off in this respect. Another company offering exploits to government agencies for the purpose of breaking into systems -- that is, offensive rather than defensive actions -- is Vupen Security. As its Web site explains:
As the leading source of advanced vulnerability research, VUPEN provides government-grade zero-day exploits specifically designed for law enforcement agencies and the intelligence community to help them achieve their offensive cyber missions and network operations using extremely sophisticated and exclusive zero-day codes created by VUPEN Vulnerability Research Team (VRT). While other companies in the offensive cyber security field mainly act as brokers (buy vulnerabilities from third-party researchers and then sell them to customers), VUPEN's vulnerability intelligence and codes result exclusively from in-house research efforts conducted by our team of world-class researchers.
Privacy International comments:
Exploits are supremely valuable to security researchers, law enforcement agencies, governments in general, and surveillance companies. They have completely legitimate purposes and the research related to their development, especially vulnerability research, should be encouraged.
However, the possibility for abuse has lead to increasing calls for some kind of regulation into the industry that goes beyond mere self-regulation by the industry itself. These are difficult policy decisions; the factors and issues to be weighed are complex and challenging. It is indeed difficult to envisage a realistic form of regulation that can achieve the right balance. Privacy International firmly believes that export controls on exploits at the moment are not an appropriate response.
We know from Snowden's leaks that the NSA uses zero-day exploits to compromise computer systems used by foreign governments. That probably means that the US would be unwilling to introduce any constraints on their use (even nominal ones), as will other governments around the world that are doubtless turning to malware as a way of spying on targets in the same way.
The only way to blunt those attacks is for members of the software community to find, publish and patch vulnerabilities, as fast as they can. That's yet another compelling reason for using free software: even if open source is just as likely to have flaws as closed-source programs (and opinions will differ on that score), it's inarguable that they are easier to find and fix since the barriers to doing so are much lower.
Dịch: Lê Trung Nghĩa