Thứ Năm, 21 tháng 8, 2014

Các cao thủ GNU phát hiện ra giám sát HACIENDA của chính phủ và trao cho chúng ta cách để đánh lại

GNU hackers discover HACIENDA government surveillance and give us a way to fight back
by Free Software Foundation — Published on Aug 20, 2014 04:57 PM
Bài được đưa lên Internet ngày: 20/08/2014
Các thành viên và các cộng tác viên của cộng đồng GNU đã phát hiện ra các chi tiết đe dọa về một chương trình giám sát của chính phủ 5 nước với tên mã HACIENDA. Tin tốt lành ư? Chính các cao thủ đó đã khắc phục được rồi bằng một biện pháp đối phó bằng phần mềm tự do để phá ngang chương trình đó. Xem thêm: Chương trình gián điệp của NSA trên không gian mạng.
Theo tờ báo Heise, các cơ quan tình báo của Mỹ, Canada, Anh, Úc và New Zealand đã sử dụng HACIENDA để ánh xạ từng máy chủ ở 27 nước, sử dụng một kỹ thuật gọi là quét cổng. Các cơ quan đó đã chỉ sẻ bản đồ này và sử dụng nó để lên kế hoạch thâm nhập trái phép vào các máy chủ đó. Đáng lo ngại, hệ thống HACIENDA thực sự cướp ngang các máy tính dân sự để làm một số công việc bẩn thỉu của nó, cho phép nó lọc các tài nguyên tính toán và phủ các luồng của nó.
Nhưng điều này không đủ để dừng đội các cao thủ GNU và các cộng tác viên của họ. Sau khi thực hiện những phát hiện chính về các chi tiết của HACIENDA, Julian Kirsch, Christian Grothoff, Jacob Appelbaum, và Holger Kenn đã thiết kế ra hệ thống Giấu TCP (TCP Stealth System) để bảo vệ các máy chủ không quảng bá khỏi việc quét cổng. Họ đã tiết lộ mạng của họ trong cuộc gặp các Cao thủ GNU thường niên gần đây ở Đức.
Hãy chắc chắn chia sẻ video này với bất kỳ ai bạn biết muốn quan tâm về sự giám sát ồ ạt.

Chúng ta phải đấu tranh chính trị cho sự chấm dứt giám sát ồ ạt và làm giảm lượng dữ liệu bị thu thập về mọi người trước tiên. Ở mức cá nhân chúng ta phải làm mọi điều chúng ta có thể để phá ngang các chương trình giám sát ồ ạt đang diễn ra rồi.
Bất kể kỹ năng của bạn ở mức nào, bạn đều có thể tham gia vào trang giám sát của Quỹ Phần mềm Tự do - FSF (Free Software Foundation).
Các lập trình viên có đạo đức bên trong và bên ngoài GNU đã và đang làm việc nhiều năm về phần mềm tự do mà không giữ bí mật đối với những người sử dụng, và các chương trình mà bất kỳ ai cũng có thể rà soát lại được để loại bỏ các chỗ bị tổn thương tiềm tàng. Các khả năng đó trao cho những người sử dụng phần mềm tự do một cơ hội đấu tranh chống lại sự giám sát. Bây giờ cộng đồng của chúng tôi đang biến sự chú ý của mình sang việc vạch ra và làm xói mòn các chương trình quỷ quyệt giống như HACIENDA. Phần mềm tự do và các lý tưởng của nó là sống còn để đặt dấu chấm hết cho sự giám sát ồ ạt của chính phủ.
Hãy chia sẻ tin này với các bạn bè, để giúp làm cho mọi người nhận thức được về tầm quan trọng của phần mềm tự do trong việc đấu tranh chống sự giám sát ồ ạt.
Jacob Appelbaum của đội Giấu TCP đã trình bày một bài chính ở xa cho hộ nghị LibrePlanet của FSF vào năm nay. Hãy xem băng ghi hình “Phần mềm Tự do vì sự tự do: Sự giám sát và bạn”.
GNU community members and collaborators have discovered threatening details about a five-country government surveillance program codenamed HACIENDA. The good news? Those same hackers have already worked out a free software countermeasure to thwart the program.
According to Heise newspaper, the intelligence agencies of the United States, Canada, United Kingdom, Australia, and New Zealand, have used HACIENDA to map every server in twenty-seven countries, employing a technique known as port scanning. The agencies have shared this map and use it to plan intrusions into the servers. Disturbingly, the HACIENDA system actually hijacks civilian computers to do some of its dirty work, allowing it to leach computing resources and cover its tracks.
But this was not enough to stop the team of GNU hackers and their collaborators. After making key discoveries about the details of HACIENDA, Julian Kirsch, Christian Grothoff, Jacob Appelbaum, and Holger Kenn designed the TCP Stealth system to protect unadvertised servers from port scanning. They revealed their work at the recent annual GNU Hackers' Meeting in Germany.
Please be sure to share this with everyone you know who cares about bulk surveillance.
We must fight the political battle for an end to mass surveillance and reduce the amount of data collected about people in the first place. On an individual level we have to do everything we can to thwart the surveillance programs that are already in place.
No matter your skill level, you can get involved at the FSF's surveillance page.
Ethical developers inside and outside GNU have been working for years on free software that does not keep secrets from users, and programs that anyone can review to remove potential vulnerabilities. These capabilities give free software users a fighting chance against surveillance. Now, our community is turning its attention to uncovering and undermining insidious programs like HACIENDA. Free software and its ideals are crucial to putting an end to government bulk surveillance.
Share this news with your friends, to help make people aware of the importance of free software in fighting bulk surveillance.
Jacob Appelbaum of the TCP Stealth team gave a remote keynote address at the FSF's LibrePlanet conference this year. Watch the recording of "Free Software for freedom: Surveillance and you."
Dịch: Lê Trung Nghĩa


Thứ Tư, 20 tháng 8, 2014

North Carolina nói 'không' với các quỷ lùn bằng sáng chế


North Carolina says "no" to patent trolls
Posted 11 Aug 2014 by Melanie Chernoff
Bài được đưa lên Internet ngày: 11/08/2014
Lời người dịch: Trong khi chờ Quốc hội Mỹ có luật rõ ràng chống lại các quỷ lùn bằng sáng chế, một loạt các bang ở Mỹ đã có các qui định chống lại việc gửi thư tống tiền từ các quỷ lùn bằng sáng chế cùng một lúc tới nhiều công ty trong bang, đặc biệt tới các doanh nghiệp ngân hàng và bán lẻ. Các bang có qui định như vậy gồm North Carolina, Georgia, Idaho, Maine, Maryland, Oregon, South Dakota, Tennessee, Utah, Vermont, Virginia, và Wisconsin. 13 bang khác cũng đang cân nhắc các dự luật tương tự. Xem thêm: TPP, ACTA, bằng sáng chế phần mềm và hơn thế nữa.
North Carolina (NC) đã trở thành bang mới nhất có quan điểm chống lại các quỷ lùn bằng sáng chế khi Thống đốc NC Pat McCrory đã ký một luật mới vào tuần trước nhằm vào ngăn chặn sự đòi quyền lợi với niềm tim xấu đối với sự vi phạm bằng sáng chế. Các quỷ lùn bằng sáng chế (Patent troll) (chính thức hơn được gọi là “các thực thể đòi quyền lợi bằng sáng chế” (PAE) hoặc “các thực thể không hoạt động thực tiễn” (NPE)) được biết tới về việc gửi đi rất nhiều thư mập mờ, thường với các yêu sách vô giá trị, cho các doanh nghiệp khác với hy vọng bóp nặn một sự dàn xếp để tránh phiền toái của một vụ kiện.
Quỷ lùn bằng sáng chế, từ lâu là nguyên nhân sụp đổ của nền công nghiệp công nghệ, đôi khi đã đi theo các cuộc thảo luận ở mức liên bang. Tuy nhiên, trong những năm gần đây, các quỷ lùn bằng sáng chế đã bắt đầu nhằm vào các doanh nghiệp vừa và nhỏ ở tất cả các nền công nghiệp, đặc biệt trong các lĩnh vực ngân hàng và bán lẻ. Thực tế của việc gửi đi các thư yêu cầu mù mờ tới hàng trăm doanh nghiệp cùng một lúc đã nhắc nhở việc gia tăng soi xét từ các chính quyền các bang, dẫn đầu ban hành các qui định tương tự ở Georgia, Idaho, Maine, Maryland, Oregon, South Dakota, Tennessee, Utah, Vermont, Virginia, và Wisconsin. 13 bang khác cũng đang cân nhắc các dự luật tương tự.
Tổng trưởng lý (AG) Vermont Bill Sorrell đã lưu ý vào năm ngoái khi ông đã đệ trình một vụ kiện theo luật bảo vệ người tiêu dùng đang tồn tại ở bang này chống lại MPHJ Technology Inc. vì việc gửi các thư yêu cầu tới ít nhất 75 doanh nghiệp nhỏ ở Vermont tố cáo vi phạm các bằng sáng chế có liên quan tới việc quét các tài liệu và gửi chúng qua thư điện tử. Đây là nỗ lực được biết tới đầu tiên của một tổng trưởng lý sử dụng luật bảo vệ người tiêu dùng của bang trong thực tế kiện tụng bằng sáng chế, và ít tổng chưởng lý ở các bang khác đã đệ trình các vụ kiện tương tự hoặc mở ra các cuộc điều tra chống lại các quỷ lùn bằng sáng chế kể từ đó.
Trong khi Tổng chưởng lý đã có rồi quyền để điều tra hoặc kiện các quỷ lùn bằng sáng chế theo các luật bảo vệ người tiêu dùng đang tồn tại, thì nhiều dự luật trong làn sóng mới này của qui định bang đưa ra một quyền hành động riêng tư cho các công ty đích nhận thư yêu cầu tống tiền. Một công ty bị tố cáo vi phạm bằng sáng chế phải tuân thủ với các yêu cầu nhất định trong thư yêu cầu của họ, như số bằng sáng chế, và những cáo buộc đặc thù và có thật về vi phạm được thấy, và những trả lời mất nhiều thời gian hơn để làm rõ các yêu cầu từ đích. Không tuân thủ cho phép đích mang tới một hành động chống lại quỷ lùn bằng sáng chế ở tòa án bang và có thể làm cho quỷ lùn phải trả tiền cho những thiệt hại của công ty đích, sự giảm nhẹ hợp lý, các phí luật sư, và các thiệt hại mẫu.
Chúng tôi chưa bao giờ thấy một công ty đích hoặc AG bang thực sự kiện một quỷ lùn bằng sáng chế theo một trong các luật như vậy. Các bang đang hy vọng rằng bằng việc đặt ra mối đe dọa kiện tại chỗ, có thể ngăn chặn được một số quỷ lùn bằng sáng chế khỏi việc gửi các thư yêu cầu vô nghĩa ngay từ đầu. Thông điệp lớn hơn là tôi lấy đi khỏi hành động mới nhất này từ các bang là nó phản ánh sự khó chịu gia tăng mà thiếu hành động pháp lý ở mức Liên bang. Trong khi chờ đợi, nỗ lực đó đang được treo. Thậm chí nếu các luật mới của bang làm việc đầy đủ, thì vẫn còn cần thiế cho những cải cách pháp lý có ý nghĩa từ Quốc hội - càng sớm càng tốt.
North Carolina became the latest state to take a stand against patent trolls when NC Governor Pat McCrory signed a new law last week aimed at preventing bad faith assertions of patent infringement. Patent trolls (more officially called "patent assertion entities" or "non-practicing entities") are known for sending very vague letters, with often meritless claims, to other businesses in the hopes of extorting a settlement to avoid the nuisance of a lawsuit.
Patent trolling, long the bane of the technology industry, has been the subject of discussions at the federal level for some time. However, in recent years, patent trolls started targeting small and medium businesses in all industries, particularly in the retail and banking sectors. The practice of sending vague demand letters to hundreds of businesses at a time prompted increasing scrutiny by state governments, leading to enactment of similar legislation in Georgia, Idaho, Maine, Maryland, Oregon, South Dakota, Tennessee, Utah, Vermont, Virginia, and Wisconsin. Thirteen other states are also considering similar bills.
Vermont Attorney General (AG) Bill Sorrell made headlines last year when he filed a suit under his state's existing consumer protection law against MPHJ Technology, Inc. for sending demand letters to at least 75 small businesses in Vermont alleging infringement of patents related to scanning documents and sending them via email. It was the first known effort by an attorney general to use state consumer protection law in the realm of patent litigation, and a few attorneys general in other states have filed similar suits or opened investigations against patent trolls since then.
While Attorneys General already had authority to investigate or sue patent trolls under existing consumer protection laws, many bills in this new wave of state legislation provide a private right of action to the target companies receiving demand letter shakedowns. A company alleging patent infringement must comply with certain requirements in their demand letter, such as the patent number, and factual and specific allegations regarding the alleged infringement, and more timely responses to clarification requests from the target. Failure to comply allows a target to bring an action against the patent troll in state court and could result in the troll having to pay the target company damages, equitable relief, attorney's fees, and exemplary damages.
We may never see a target company or State AG actually sue a patent troll under one of these laws. States are hoping that by putting the threat of suit in place, it might deter some patent trolls from sending meritless demand letters in the first place. The bigger message that I take away from this latest action by the states is that it reflects the growing frustration with lack of legislative action at the Federal level. For the moment, that effort is on hold. Even if these new state laws work fully, there is still need for meaningful legislative reforms from Congress—sooner rather than later.
Dịch: Lê Trung Nghĩa

Thứ Ba, 19 tháng 8, 2014

USPTO cố dấu Tổng thanh tra về sự lạm dụng và gian lận của những người kiểm tra


USPTO Tried To Hide Abuse And Fraud By Patent Examiners From Inspector General
from the part-II dept
by Mike Masnick, Mon, Aug 11th 2014
Bài được đưa lên Internet ngày: 11/08/2014
Lời người dịch: Vài năm trở lại đây, nhiều báo chí đưa tin về việc Văn phòng Bằng sáng chế và Thương hiệu Mỹ (USPTO) đã trao rất nhiều bằng sáng chế và một thực tế khác là đã có rất nhiều các vụ kiện liên quan tới các bằng sáng chế. Nay thì người ta lại phát hiện ra rằng, “hình như đã có khá nhiều sự lạm dụng và gian lận tràn lan đối với những người kiểm tra các bằng sáng chế, hầu hết những người làm việc từ nhà, trong việc đưa ra số giờ mà họ bỏ ra và được trả tiền vì công việc họ đã làm. Tuy nhiên, những gì đáng lo hơn nhiều là thực tế rằng USPTO đã cố dấu điều này không Tổng thanh tra, người đang điều tra sự việc này. Như tờ Washington nêu, một báo cáo nội bộ đã chi tiết hóa nhiều ví dụ hơn về sự gian lận và lạm dụng, nó đã biến mất khỏi báo cáo cuối cùng đã được chuyển đi”. Xem thêm: TPP, ACTA, bằng sáng chế phần mềm và hơn thế nữa.
Thế là, chúng tôi vừa mới viết về thực tế là hình như đã có khá nhiều sự lạm dụng và gian lận tràn lan đối với những người kiểm tra các bằng sáng chế, hầu hết những người làm việc từ nhà, trong việc đưa ra số giờ mà họ bỏ ra và được trả tiền vì công việc họ đã làm. Tuy nhiên, những gì đáng lo hơn nhiều là thực tế rằng USPTO đã cố dấu điều này không Tổng thanh tra, người đang điều tra sự việc này. Như tờ Washington nêu, một báo cáo nội bộ đã chi tiết hóa nhiều ví dụ hơn về sự gian lận và lạm dụng, nó đã biến mất khỏi báo cáo cuối cùng đã được chuyển đi.
Nhưng tới mùa hè năm ngoái đối với văn phòng bằng sáng chế phải chuyển các phát hiện tới cơ quan giám sát của mình, thì hầu hết các phát hiện gây thiệt hại đã biến mất. Báo cáo được gửi tới cho Tổng thanh tra Bộ Thương mại Todd Zinser đã kết luận rằng là không thể biết liệu những cáo buộc của những người thổi còi về những lạm dụng có hệ thống có là đúng hay không.
Những gì chúng tôi đã hy vọng thấy là một câu trả lời không bị kiểm duyệt”, Zinser nói. “Đó không phải là những gì điều này như vậy. Điều đó ít sự giật gân hơn rất nhiều. Mức độ đúng của vấn đề từng không được truyền đạt tới chúng ta”.
Những phát hiện ban đầu, ngược lại, làm nảy sinh “các vấn đề cơ bản” với mô hình kinh doanh của văn phòng bằng sáng chế, nó giám sát một chức năng cơ bản của thương mại Mỹ, Zinser nói, người đã được cung cấp một bản sao của bản gốc từ một quan chức về bằng sáng chế.
Việc rửa sạch sự lạm dụng dường như đặc biệt có vấn đề, biết rằng nói vẽ ra một bức tranh rất khác, nơi mà các vấn đề sẽ không lan tràn đến thế, và rằng các vấn đề không đi ngược về lãnh đạo …
Cả 2 báo cáo đều kết luận rằng các chính sách được thương lượng với liên đoàn những người kiểm tra các bằng sáng chế để lại cho các nhà lãnh đạo ít công cụ để giám sát các nhân viên của họ. Cả 2 đều thừa nhận rằng những người giám sát đã có sự truy cập hạn chế tới các hồ sơ có thể chứng minh sự gian lận thời gian bị nghi ngờ, làm cho kết quả xử lý kỷ luật là không đáng kể.
But the original one describes a culture of fraud that is overlooked by senior leaders, lax enforcement of the rules and the resulting frustration of many front-line supervisors. The version provided to the watchdog was far less conclusive, saying that managers who were interviewed held “inconsistent” views on whether examiners were gaming the system.
Nhưng sự việc gốc mô tả một văn hóa gian lận được các lãnh đạo cao cấp bỏ qua, ép tuân thủ lỏng lẻo các qui tắc và làm hỏng nhiều nhà giám sát ở tuyến đầu. Phiên bản được cung cấp cho cơ quan giám sát là ít xác định hơn nhiều, nói rằng các lãnh đạo từng được phỏng vấn đã giữ các quan điểm “không nhất quán” về việc liệu những người kiểm tra có lừa dối hệ thống hay không.
USPTO đang cố đóng khung dấu hiệu đặc biệt này khi báo cáo đầu tiên từng là một “bản nháp thô” và sau đó từng là một phiên bản hoàn chỉnh hơn, nhưng nó dường như giống điều ngược lại. Bản đầu từng khá hoàn chỉnh, còn bản thứ 2 là... thiếu nhiều.
Thực tế là USPTO đã cố che dấu sự lạm dụng này - và thực tế là nó dường như là có hệ thống - cũng là những gợi ý cho một hoạt động mà không tìm cách sửa các vấn đề, mà phủi bụi chúng. Nó nhất định không truyền cảm hứng cho nhiều sự tin cậy.
So, we just wrote about the fact that there was apparently fairly widespread abuse and fraud by patent examiners, mostly those working from home, in lying about the hours they put in and getting paid for work they didn't do. However, what may be much more concerning was the fact that the USPTO tried to hide this from the Inspector General who was investigating this. As the Washington Post notes, an initial internal report detailed many more examples of fraud and abuse, which disappeared from the final report that was handed over.
But when it came time last summer for the patent office to turn over the findings to its outside watchdog, the most damaging revelations had disappeared. The report sent to Commerce Department Inspector General Todd Zinser concluded that it was impossible to know if the whistleblowers’ allegations of systemic abuses were true.
What we hoped to see was an unfiltered response,” Zinser said.“That’s not what this was. It’s a lot less sensational. The true extent of the problem was not being conveyed to us.”
The original findings, by contrast, raise “fundamental issues” with the business model of the patent office, which oversees an essential function of U.S. commerce, said Zinser, who was provided a copy of the original by a patent official.
The white washing of the abuse seems particularly problematic, given that it paints a very different picture, where the problems aren't so pervasive, and that the problems don't go back to leadership (hmm...).
Both reports conclude that policies negotiated with the patent examiners’ union have left managers with few tools to monitor their staffs. Both acknowledge that supervisors have limited access to records that could prove suspected time fraud, resulting in negligible disciplinary action.
The USPTO is trying to frame this distinction as being that the first report was a "rough draft" and the latter was a more complete version, but it seems like the opposite. The first was pretty complete, and the second is... missing a bunch.
The fact that the USPTO tried to hide this abuse -- and the fact that it appears to be systemic -- also suggestions an operation that is not looking to fix the problems, but to brush them under the rug. It certainly does not inspire much confidence.
Dịch: Lê Trung Nghĩa

Thứ Hai, 18 tháng 8, 2014

Bộ Y tế Nga sẽ thay thế các sản phẩm của Microsoft và Oracle bằng Linux và PostgreSQL


Russian Ministry of Health to Replace Microsoft and Oracle Products with Linux and PostgreSQL
August 7th, 2014, 09:09 GMT · By Silviu Stahie
Bài được đưa lên Internet ngày: 07/08/2014
Lời người dịch: “Theo một báo cáo được xuất bản trên gov.cnews.ru, website chính thức của chính phủ Nga, Bộ Y tế có ý định bỏ tất cả các phần mềm sở hữu độc quyền do Oracle và Microsoft cung cấp và thay thế chúng bằng các PMNM”. “Một phần lớn Hệ thống Thông tin Y tế Nhà nước Thống nhất (EGISZ) làm việc trên các PMNM, từ các máy trạm Linux, các máy chủ Linux/Unix cho tới các phần mềm ứng dụng và các cơ sở dữ liệu (PostgreSQL và những thứ khác)”. “Còn chưa rõ liệu quyết định này có cũng sẽ được triển khai trong các lĩnh vực khác của chính phủ hay không, điều sẽ còn được xem xét”.
Chính phủ Nga đang cân nhắc thay thế các sản phẩm của Microsoft và Oracle bằng Linux và các sản phẩm nguồn mở, ít nhất cho Bộ Y tế.
Nga đã bị đánh với số lượng lớn các trừng phạt từ Ủy ban châu Âu và Mỹ, có nghĩa là họ sẽ đáp trả. Một trong các cách thức họ có thể làm là dừng các nhà chức trách khỏi việc mua các giấy phép của Microsoft hoặc giữ kéo dài các giấy phép.
Theo một báo cáo được xuất bản trên gov.cnews.ru, website chính thức của chính phủ Nga, Bộ Y tế có ý định bỏ tất cả các phần mềm sở hữu độc quyền do Oracle và Microsoft cung cấp và thay thế chúng bằng các PMNM.
Thông tin này được Phó Giám đốc phòng CNTT Bộ Y tế, Roman Safronov tiết lộ. Ông nói rằng điều này thực sự đã có kế hoạch từ năm 2011, với sự tạo ra các dịch vụ liên bang về Hệ thống Thông tin Y tế Nhà nước Thống nhất (EGISZ).
“Biết rằng nhiều giao dịch đi với EGISZ có hạn chế về ngân sách, chúng tôi đã quyết định chúng tôi có thể không đủ điều kiện để trả tiền hàng chục triệu rúp giấy phép một năm”, Safronov nói.
“Một phần lớn Hệ thống Thông tin Y tế Nhà nước Thống nhất (EGISZ) làm việc trên các PMNM, từ các máy trạm Linux, các máy chủ Linux/Unix cho tới các phần mềm ứng dụng và các cơ sở dữ liệu (PostgreSQL và những thứ khác)”. Trung tâm Tình huống của Bộ Y tế cũng được xây dựng trên các PMNM, ông nói.
Chuyển đổi sang nguồn mở từ các sản phẩm của Microsoft vả Oracle không phải là thứ gì đó có thể làm nhanh chóng được. Trong thực tế, trước 2015 dường như là quá sớm và đáng ngờ là họ sẽ có khả năng để chuyển đổi tất cả các hệ thống của họ sang các cơ sở dữ liệu và hệ điều hành khác.
Thậm chí nếu quyết định này của chính phủ Nga dường như tuân theo một xu thế từ các nền hành chính khác ở châu Âu, thì nó có ít điểm chung với họ. Các thành phố như Toulouse ở Pháp và Munich ở Đức đã làm việc nhiều năm để cắt giảm chi phí bằng việc áp dụng các giải pháp nguồn mở, nhưng người Nga chỉ đang cố trừng phạt các tập đoàn Mỹ và tận dụng các dạng trừng phạt của riêng họ. Còn chưa rõ liệu quyết định này có cũng sẽ được triển khai trong các lĩnh vực khác của chính phủ hay không, điều sẽ còn được xem xét. Hơn nữa, Roman Safronov nói rằng họ sẽ sử dụng PostgreSQL thay vì Oracle, nhưng ông không nhắc tới phát tán Linux nào sẽ được sử dụng để thay thế Windows. Họ có thể thử sử dụng thứ gì đó được xây dựng ở Nga, nhưng không có hệ điều hành Linux chính nào được phát triển ở nước này mà có thể làm được công việc đó.
The Russian government is considering the replacement of Microsoft and Oracle products with Linux and open source counterparts, at least for the Ministry of Health.
Russia has been slapped with a large number of sanctions by the European Union and the United States, which means that they are going to respond. One of the ways they can do that is by stopping the authorities from buying Microsoft licenses or prolonging existing ones.
According to a report published on gov.cnews.ru, the official website of the Russian government, the Ministry of Health intends to abandon all the proprietary software provided by Oracle and Microsoft and replace it with open source software.
This information is revealed by the Deputy Director of the IT department of Ministry of Health, Roman Safronov. He says that this has been actually planned since 2011, with the creation of the federal services of the Unified State Health Information System (EGISZ).
“Given the many transactions coming EGISZ scale and limited budget, we decided that we can not afford to pay for a license tens of millions of rubles a year,” says Safronov.
“A large part of the Unified State Health Information System (EGISZ) works on open source software, "from the Linux terminal stations, the linux / unix servers to application software and databases (PostgreSQL, and others.)". Situation Centre of Ministry of Health is also built on open source software,” he continues.
The migration to open source from Microsoft and Oracle products is not something that can be done rapidly. In fact, the advanced 2015 date seems to be way too early and it's doubtful that they will be able to migrate all of their systems to other databases and operating systems.
Even if this decision of the Russian government seems to follow a trend from other administrations in Europe, it has little in common with them. Cities like Toulouse in France and Munich in Germany have worked for many years to cut costs by adopting open source solutions, but the Russians are just trying to punish American corporations and leverage their own kinds of sanctions.
It's unclear whether this decision will also be implemented in other areas of the government, but that remains to be seen. Also, Roman Safronov says that they will use PostgreSQL instead of Oracle, but he fails to mention what Linux distribution will be used to replace Windows. They might try to use something built in Russia, but there are no major Linux operating systems developed in that country that can do the job.
Dịch: Lê Trung Nghĩa

Chủ Nhật, 17 tháng 8, 2014

Microsoft vs Linux: Qua con mắt của Microsoft


Microsoft versus Linux: Through the eyes of Microsoft
Trong ván nguồn mở hôm nay: site “Vì sao Microsoft” của Microsoft đọc thật buồn cười đối với những người sử dụng Linux.
Cộng thêm: Liệu Microsoft có sẵn sàng ôm lấy nguồn mở hay không? Và khi nào thì phần mềm không nên là nguồn mở?
In today's open source roundup: Microsoft's "Why Microsoft" site is fun reading for Linux users. Plus: Is Microsoft ready to embrace open source? And when should software not be open source?
By Jim Lynch, Itworld, August 06, 2014, 10:12 AM
Bài được đưa lên Internet ngày: 06/08/2014
Lời người dịch: Hỏi: Khi nào thì phần mềm không nên là nguồn mở? Và đây là câu trả lời: “Chân thành ư? Khi bạn muốn có khả năng đi vào các cửa hậu, các phần mềm gián điệp, hoặc các tính năng độc hại khác cho người sử dụng đầu cuối”. Và Microsoft dù mon men đi với nguồn mở, vẫn phải 'nói bậy' về nguồn mở để quảng cáo cho các sản phẩm của hãng.
Microsoft chưa bao giờ từng là ... fan hâm mộ của Linux, ít nhất nói được thế. Cựu CEO Steve Ballmer của Microsoft thậm chí từng so sánh Linux với bệnh ung thư vào năm 2001. Bây giờ Microsoft có một sự so sánh vui nhộn không có chủ tâm về các sản phẩm máy chủ của hãng và Linux trên một site gọi là Vì sao lại Microsoft. Hãy kiểm tra, tôi nghĩ bạn sẽ có chút cười thầm từ nó.
Microsoft đã xây dựng một nền tảng máy chủ toàn diện thế hệ tiếp sau mà trải rộng các dịch vụ đám mây và hạ tầng trong khuôn viên. Chúng tôi đang hy vọng bạn nhận thức được giá trị gia tăng từ những đầu tư hiện có về Linux của bạn thông qua ảo hóa Hyper-V và các công cụ quản lý Trung tâm Hệ thống, và chúng tôi đã làm việc với các đối tác của chúng tôi để cho phép Ubuntu, OpenLogic, CentOS, Oracle Linux, và openSUSE và SUSE Linux Enterprise Server chạy được với hiệu năng cao trong đám mây Microsoft Azure.
Tuy nhiên, đôi khi giải pháp của bạn được tập trung chỉ vào các hệ điều hành phía máy chủ, và đó là nơi mà Linux yếu thế. Windows Server trao cho bạn một nền tảng có khả năng quản trị cao, an ninh, hiệu quả về chi phí, sẵn sàng cho đám mây mà bạn cần để hỗ trợ cho các mục tiêu CNTT đổi mới của công ty bạn.

Tôi chưa từng nghe về site này trước đó, nhưng tôi đã đụng với nó qua một luồng bài của Reddit. Nói về một sự so sánh một chiều được đầm mình trong “giọng marketing!” tôi đặc biệt thú vị buồn cười một chút về các mối đe dọa an ninh mà Microsoft nói thế này: “Các mối đe dọa thường trực và các kẻ tấn công chuyên tâm có thể làm chậm lại các dự án của bạn và đặt môi trường CNTT của bạn vào rủi ro với các dự án của Linux”.
Đọc thấy buồn cười sáng nay khi tôi vừa thưởng thức hết tách cà phê đầu tiên của mình. Từng là may không cười ra cà phê qua lỗ mũi khi đọc qua nó. Cảm ơn Microsoft vì làm buồn cười.
Microsoft và văn hóa nguồn mở
Mặt khác, Dev Ops có một bài báo dường như nói rằng Microsoft đang bắt đầu ôm lấy văn hóa nguồn mở hoặc thứ gì đó như vậy.
“Các bài báo gần đây đã chỉ ra rằng Microsoft đang “mở nguồn” mã cho các đội nội bộ của họ. Thực tế là điều đó được quảng cáo như là sự đổi mới đang nói tới”, Michael LaVista, CEO và người sáng lập ra Caxy, đã công bố. “Đó là những gì các tổ chức thông minh luôn làm. Trên thực tế, Microsoft bằng cách nào đó đã tự thấy bản thân là người thua thiệt theo nghĩa này và có lẽ cần làm điều gì đó như thế này để lôi cuốn tài năng”.
Việc tận dụng các khái niệm nguồn mở nội bộ không hoàn toàn là thứ y hệt, dù, như thực sự làm cho mã của Microsoft thành nguồn mở. Các dự án nguồn mở như Apache, Project Libre, hoặc Docker chia sẻ mã nguồn với công chúng nói chung, và bất kỳ ai cũng có thể rà soát lại mã đó, và đệ trình những thay đổi để cải thiện hoặc sửa mã đó. Các cộng đồng nguồn mở cộng tác để cải thiện liên tục mã đó. Microsoft dường như đang làm thứ gì đó tương tự, nhưng không phơi mã nguồn của hãng ra cho công chúng nói chung.
Hơn nữa về Dev Ops

Hãy thoải mái đặt tôi vào chủng loại yếm thế khi nói về Microsoft và nguồn mở. Tôi nghĩ site Vì sao lại Microsoft là một chỉ số rõ ràng hơn nhiều về việc Microsoft đang suy nghĩ sẽ về đâu hơn là phỏng đóng trong bài viết này của Dev Ops. Nói cách khác, tôi sẽ tin rằng Microsoft thực sự đang ôm lấy cộng đồng nguồn mở khi nó thực sự xảy ra.
Khi nào phần mềm không nên là nguồn mở
Linux subreddit có một thảo luận thú vị về khi nào phần mềm không nên là nguồn mở.
Theo Reddit:
Những người sử dụng Linux: Theo những hoàn cảnh nào phần mềm KHÔN là nguồn mở?

Như bạn có thể tưởng tượng ra, đã có nhiều câu trả lời say mê cho câu hỏi này. Một câu trả lời có nhiều sự tán thành nhất là ngắn và ngọt ngào:
“Chân thành ư? Khi bạn muốn có khả năng đi vào các cửa hậu, các phần mềm gián điệp, hoặc các tính năng độc hại khác cho người sử dụng đầu cuối”.
Hãy kiểm tra toàn bộ luồng, đây là câu hỏi thú vị mà tôi tôi không thấy được hỏi rất thường xuyên trong quá khứ.
Bạn thấy thế nào về tất cả điều này? Hãy nói cho tôi trong các bình luận bên dưới nhé.
Microsoft has never been a...er...fan of Linux, to say the least. Former Microsoft CEO Steve Ballmer even likened Linux to cancer back in 2001. Now Microsoft has an unintentionally hilarious comparison of its server products and Linux on a site called Why Microsoft. Check it out, I think you'll get a few chuckles from it.
According to Why Microsoft:
Microsoft has built a comprehensive next-generation server platform that spans on-premises infrastructure and cloud services. We're helping you realize added value from your existing Linux investments through Hyper-V virtualization and System Center management tools, and we have worked with our partners to enable Ubuntu, OpenLogic, CentOS, Oracle Linux, and openSUSE and SUSE Linux Enterprise Server to run with high performance on the Microsoft Azure cloud.
However, sometimes your solution is focused solely on server-side operating systems, and that's where Linux falls short. Windows Server gives you the highly manageable, secure, cost-effective, cloud-ready platform you need to support your company's innovative IT goals.

I hadn't heard of this site before, but I bumped into it via a Reddit thread. Talk about a one-sided comparison bathed in "marketing-speak!" I particularly enjoyed the ridiculous bit about security threats where Microsoft just says this: "Persistent threats and dedicated attackers can slow your projects and put your IT environment at risk with Linux projects."
It was a fun read this morning while I finished my first cup of coffee. I was fortunate not to snort coffee through my nose while reading through it. Thanks for the laughs, Microsoft.
Microsoft and open source culture
On the other hand, Dev Ops has an article that seems to say that Microsoft is beginning to embrace open source culture or something like that.
“Recent articles have shown that Microsoft is “open sourcing” code to their internal teams. The fact that that is advertised as innovation is telling,” declared Michael LaVista, CEO and Founder of Caxy. “That’s what smart organizations have always done. In fact, Microsoft has somehow found itself the underdog in this sense and probably needs to do things like this to attract talent.”
Leveraging open source concepts internally isn’t quite the same thing, though, as actually making Microsoft code open source. Open source projects like Apache, Project Libre, or Docker share source code with the general public, and anyone can review the code, and submit changes to improve or fix the code. Open source communities collaborate to continuously enhance the code. Microsoft appears to be doing something similar, but without exposing its source code to the general public.

Feel free to put me in the cynic category when it comes to Microsoft and open source. I think the Why Microsoft site is a much clearer indication of where Microsoft's thinking is at than the speculation in this Dev Ops article. In other words, I'll believe that Microsoft is actually embracing the open source community when it actually happens.
When software shouldn't be open source
The Linux subreddit has an interesting discussion about when software shouldn't be open source.

According to Reddit:
Linux Users: Under what circumstances should software NOT be open source?

As you might imagine, there were a lot of passionate responses to this question. The one that got the most upvotes is short and sweet:
"Honestly? When you want to be able to slip in back doors, spyware, or other hostile features to the end user."
Check the entire thread out though, it's an interesting question that I haven't seen asked very often in the past.
What's your take on all this? Tell me in the comments below.
Dịch: Lê Trung Nghĩa

Khi Linux đã đủ tuyệt vời


When Linux Was Perfect Enough
By Christine Hall, August 3rd, 2014
Bài được đưa lên Internet ngày: 03/08/2014
Lời người dịch: Bây giờ, dù “Linux đang thắng cuộc chiến di động vì Google chắc chắn rằng Android “chạy ngay” được”, thì Linux trên các máy tính để bàn vẫn còn nhiều việc phải làm. “Chắc chắn, Linux đã thay đổi với thời gian. Trong những năm gần đây bạn có thể chắc chắn khá nhiều rằng khi bạn cài đặt một phát tán Linux chính lên một máy xách tay, thì Wifi sẽ làm việc ngay. Hơn nữa, hầu hết mọi thời gian bạn phải làm là cắm một máy in mới vào cổng USB và, hết chuyện!, nó đã sẵn sàng và chạy. Nhưng vẫn còn có quá nhiều vấn đề vụn vặt mà cần phải được chỉnh sửa - thứ mà nên được sửa từ lâu rồi”.
Một ngày khác đồng nghiệp, người bạn của tôi và đôi khi là đối tác của tôi, Ken Starks, đã xuất bản một bài báo ở đây trên FOSS Force về một trong những phàn nàn ưa thích của ông: những điều không làm việc được trong Linux. Lần này ông phàn nàn về vấn đề phông chữ trong Mint khi sử dụng KDE. Điều này không có gì mới từ Ken. Trong quá khứ ông đã viết các bài báo khác về những khía cạnh bị hỏng của nhiều distro Linux mà dường như không bao giờ được sửa. Chính sự tranh luận của ông mà những lỗi “nhỏ” đó, những lỗi còn chưa được sửa từ phiên bản này tới phiên bản khác, phần lớn có trách nhiệm cho sự thất bại của Linux trên máy tính để bàn đối với công chúng bình thường để sử dụng.
Ông có lẽ đúng.
Nhân dịp Giáng sinh tôi đã mua cho người bạn cùng phòng của tôi một máy tính bảng Nexus 7 thế hệ mới thứ 2 chạy Android, một hệ điều hành (OS) được xây dựng xung quanh nhân Linux. Nó “chỉ làm việc”, ngay lập tức, không cần phải vặn vẹo gì. Trong 7 tháng cuối bà ta đã sử dụng nó nhiều giờ hàng ngày. Như tôi được biết, bà ta không thấy sự cố nhỏ nào cần phải chỉnh sửa cả. Tôi khá chắc chắn tôi biết nếu bà đã có các sự cố, vì lý do chính tôi trao cho bà Nexus để bắt đầu là vì tôi đã mệt khi thử giữ lại máy tính xách tay Windows của bà chạy vì sự thỏa mãn của bà. Bà không có vấn đề gì nói với tôi khi máy tính của bà bị phá sạch, và bà luôn muốn nó được sửa ngay. Facebook khôgn chờ ai, bạn biết đấy.
Tôi chỉ ra điều này vì Linux có tất cả nhưng thực hiện ở đầu cuối của các máy tính bảng và điện thoại trong phổ tính toán. Apple kiếm khá tiền với iPhone và iPad, nhưng đó là vì giá thành cao của chúng. Theo thị phần, chúng đứng sau các thiết bị Android. Và Microsoft đã chứng minh rằng Windows không phải là người khổng lồ không thể chiến bại như nó từng nghĩ. Thậm chí với số tiền khổng lồ được bỏ ra cho quảng cáo trên TV và đặt sản phẩm đập ngay vào mắt ở gần như từng vở kịch được viết trên CBS, thì các thiết bị di động chạy Windows vẫn chỉ là một dấu sao khi nhìn vào thị phần.
Nói cách khác, Linux đang thắng cuộc chiến di động vì Google chắc chắn rằng Android “chạy ngay” được.
Những người sử dụng máy tính trung bình ngày nay (tôi không ưa từ “người tiêu dùng”) muốn mọi điều được làm trên các máy tính của họ mà không phải bới ra chiếc mũ trùm đầu để phải sửa mọi điều. Điều này là hiểu được và giống như những chủ nhân chiếc ô tô bình thường, những người chỉ muốn lái các ô tô đó mà không biết hoặc quan tâm nó làm việc như thế nào. Hệt như hầu hết những người lái xe đưa ô tô của họ tới cửa hàng sửa chữa để giải quyết các vấn đề liên quan tới kỹ thuật và máy tính, hầu hết những người sử dụng máy tính mang các thiết bị của họ tới cửa hàng mà không quan tâm tới việc liệu vấn đề đó có liên quan tới phần cứng hay phần mềm. Họ chỉ muốn mọi điều làm việc được.
Không phải lúc nào mọi việc cùng theo cách này.
Ngược về năm 2002 tôi đã cài đặt GNU/Linux lần đầu tiên. Khi đó, giống như hầu hết những người Mỹ, tôi đã được cột vào với kết nối quay số (dial-up), với băng thông rộng còn chưa có ở vùng hoang vu của tôi. Tôi đã bỏ ra 70 USD hoặc khoảng đó để mua bản Powerpack của Mandrake 9.0 ở một cửa hàng Bán Chạy nhất ở địa phương, mà trong những ngày đó bán cả Mandrake và Red Hat, hệ điều hành vẫn còn trong kinh doanh ở các máy trạm.
Trong những năm tháng khủng long, Mandrake từng được xem là tiếng kêu của con mèo đối với những phát tán Linux dễ sử dụng. Nó được cài đặt dễ dàng, một số nói còn dễ dàng hơn so với Windows, và công cụ phân vùng của nó giúp chia một ổ cứng dễ dàng hơn so với cắt lát một mẩu bánh nhân táo băm. Quả thực, những người sử dụng Linux đời cũ đôi khi cười lớn Mandrake, bóng gió rằng đôi khi dễ sử dụng làm cho Linux ít giống Linux hơn.
Nhưng tôi đã yêu nó và thấy nó sẽ là toàn bộ một thế giới mới. Đã qua thời màn hình xanh da trời chết chóc và gần như hỏng hàng ngày mà từng là công việc thông thường với Windows. Không may, cũng đi cả với nhiều thiết bị ngoại vi mà đã “chỉ làm việc” được trong Windows.
Điều đầu tiên tôi từng phải làm sau khi cài đặt Mandrake là đưa cái máy tính màu trắng của tôi tới Michelle ở Dragonware Computers và có một winmodem giá rẻ được chuyển đổi thành một modem cứng. Được bảo đảo, một modem cứng có nghĩa là một máy tính thích ứng được hơn, nhưng với cửa hàng máy tính xa 40 dặm, thì điều này hơi bất tiện một chút và là một chi tiêu mà tôi có thể kham được một chút.
Nhưng không sao đối với tôi. Tôi đã được giải phóng khỏi Microsoft - và việc sử dụng một hệ điều hành “khác” đã làm cho tôi cảm thấy dường như tôi từng là dạng nào đó của dân máy tính.
Các máy in cũng là một vấn đề, nhưng không nhiều như vấn đề với Mandrake như với hầu hết các phát tán khác mà đòi hỏi công việc gõ dòng lệnh để cài đặt. Mandrake đã đưa ra một giao diện đồ họa hợp thời trang cho việc thiết lập cấu hình các máy in - nếu bạn đủ may mắn có một máy in mà có thể làm việc được trong Linux. Nhiều, nếu không nói là hầu hết, có lẽ không.
Tôi còn có bảo đảo của Lexmark, nó trong Windows đã có nhiều hơn tiếng huýt sáo và tiếng chuông so với bất kỳ máy in nào cần, từng không được nhà sản xuất hỗ trợ, nhưng tôi từng có khả năng để tìm ra một trình điều khiển được thiết kế ngược mà còn làm việc được. Tôi đã làm việc tốt đối với việc in các trang web từ trình duyệt Mozilla, nhưng việc in các trang trong Star Office ở các phông nhỏ thì bị tống vào góc cao bên phải của trang. Máy in cũng tạo ra một vài tiếng ồn cơ khí rất lớn mà gợi tôi nhớ tới tiếng ồn mà một chiếc ô tô tạo ra ngay trước khi nó chết.
Sự khắc phục vấn đề của Star Office từng là để cứu mọi điều khi một tệp văn bản và in từ một trình soạn thảo văn bản. Tiếng ồn chi ra máy in từng ở chế độ tự hủy chăng? Hãy cố tránh in càng nhiều càng tốt có thể từng là giải pháp của tôi.
Các vấn đề khác có nhiều - quá nhiều đối với tôi để nhớ.
Một vấn đề tôi còn nhớ là tôi không thể có được card âm thanh để làm việc với máy của tôi, dù giao diện Mandrake đã chỉ ra là card âm thanh đã được thấy và được cài đặt. Sau những ngày cày ải qua các diễn đàn không có kết quả, ai đó cuối cùng đã gợi ý tôi có thể có một vấn đề với các quyền. Tôi đã xem và, để ý, anh ta đã đúng. Mandrake đã cài đặt card âm thanh với các quyền mà không cho nó làm việc trogn một tài khoản người sử dụng, vâng một tài khoản của những điều nên được sửa trước khi phát tán đó được tung ra, như Ken có thể chỉ ra. Đặc biệt trong một phát tán đang được bán trong một mahý được đóng gói với 70 USD - nó được cho là nhiều tiền hơn trong năm 2002 so với nó bây giờ.
Ô vâng, và tôi còn có một máy quét cổng song song mà tôi từng mua mới khoảng 2 tuần trước khi tôi chuyển sang Linux mà từng không có gì ngoài một cục gạch vì, còn chưa có trình điều khiển Linux cho nó.
Quan điểm của tôi là ngược lại những ngày đó không ích gì. Hầu hết chúng ta từng quan phải vật lộn với các tệp cấu hình và như vậy, thậm chí khi sử dụng các máy tính “tương thích với IBM” chạy các sản phẩm của Microsoft. Giống như hầu hết những người sử dụng trong những ngày đó, tôi đã cắn răng trên các dòng lệnh của máy tính cài DOS, nơi mà các máy tin phải được cấu hình riêng rẽ cho từng chiếc và mỗi chương trình và nơi mà khả năng viết một tệp autoexec.bat từng là cần thiết.
Việc chắp vá với các công việc bên trong của hệ điều hành từng là phần đơn giản của việc sở hữu một máy tính. Hầu hết chúng ta sử dụng máy tính khi đó từng là những cao thủ hoặc muốn trở thành các cao thủ. Chúng ta từng tự hào về khả năng của chúng ta để chắp vá và làm cho máy chạy được hệt như chúng ta muốn. Chúng ta từng là phiên bản công nghệ cao của hàng hóa mà các cậu bé từ một kỷ nguyên sớm, những người bỏ ra các buổi chiều ngày thứ bảy dưới tán cây để sửa đổi những chiếc ô tô đầy cơ bắp của họ với các bộ góp điện, bộ chế hòa khí hay ống xả và tương tự.
Và đó hầu như không ai ai cũng đang sử dụng máy tính như ngày nay.
Người sử dụng máy tính ngày nay muốn máy tính làm việc, không có các vấn đề, ngay lập tức. Họ không muốn phải chỉ ra vì sao Hulu hoặc Netflix không làm việc hoặc vì sao các phông chữ của họ hiển thị đúng trong một số ứng dụng này mà không trong những ứng dụng kia. Họ không muốn nghe rằng một sự đánh lửa hãm chiếu Chevy mới của họ trên đường là “chỉ là một trục trặc nhỏ mà chúng ta sẽ sửa một ngày nào đó”.
Những ngày này, là bao gồm cả tôi. Trong hi tôi hạnh phúc vì tôi có đủ các kỹ năng để thường sửa một lỗi mà trong quá khứ tôi phải đưa tới các lập trình viên ở Mint hoặc Fedora, tôi muốn sớm không phải làm với nó. Tôi có công việc để phải hoàn thành. Và khi tôi không làm việc, tôi muốn bỏ thời gian với các bạn của tôi trên Facebook, chứ không phải bực mình với máy tính của tôi.
Chắc chắn, Linux đã thay đổi với thời gian. Trong những năm gần đây bạn có thể chắc chắn khá nhiều rằng khi bạn cài đặt một phát tán Linux chính lên một máy xách tay, thì Wifi sẽ làm việc ngay. Hơn nữa, hầu hết mọi thời gian bạn phải làm là cắm một máy in mới vào cổng USB và, hết chuyện!, nó đã sẵn sàng và chạy. Nhưng vẫn còn có quá nhiều vấn đề vụn vặt mà cần phải được chỉnh sửa - thứ mà nên được sửa từ lâu rồi.
Có lẽ nếu Ken vẫn tiếp tục phàn nàn đủ...
The other day my colleague, friend and sometimes partner-in-crime, Ken Starks, published an article here on FOSS Force on one of his favorite gripes: things that don’t work right in Linux. This time he was complaining about a font issue in Mint when using KDE. This is nothing new from Ken. In the past he’s written other articles about broken aspects of various Linux distros that never seem to get fixed. It’s his contention that these “small” bugs, which remain unfixed release after release after release, are largely responsible for desktop Linux’s failure to take hold with the general public.
He might be right.
For Christmas I bought my roommate a new second generation Nexus 7 tablet running Android, an OS built around the Linux kernel. It “just worked,” out of the box, with no tweaking necessary. During the last seven months she’s used it for hours daily. As far as I know, she’s found no glitches that require fixing. I’m reasonably certain I’d know if she did, since the main reason I gave her the Nexus to begin with was because I had tired of trying to keep her Windows laptop running to her satisfaction. She has no trouble telling me when her computer goes kaput, and she always wants it fixed right now. Facebook waits for no one, you know.
I point this out because Linux has all but taken over the tablet and phone end of the computing spectrum. Apple makes plenty of money with the iPhone and iPad, but that’s due to their high prices. In market share, they lag far behind Android devices. And Microsoft has proven that Windows isn’t the unbeatable giant it was once thought to be. Even with massive money spent on television ads and conspicuous product placement in nearly every scripted drama on CBS, mobile devices running Windows remain a mere asterisk when looking at market share.
In other words, Linux is winning the mobile war because Google makes certain that Android “just works” out of the box.
Today’s average computer users (I loath the word “consumers”) want to get things done on their computers without having to delve under the hood to fix things. This is understandable and isn’t unlike the average automobile owners, who just want to drive their cars without knowing or caring how it works. Just as most drivers take their car to the shop for repair to solve mechanical and computer related issues, most computer users take their devices to the shop with no concern about whether the problem is hardware or software related. They just want the damn thing to work.
It wasn’t always this way.
Back in 2002 I installed GNU/Linux for the first time. At that time, like most Americans, I was tethered to a dial-up connection, with broadband not yet being available in my part of the boondocks. I spent seventy bucks or so for a shrink wrapped Powerpack edition of Mandrake 9.0 at a local Best Buy store, which in those days sold both Mandrake and Red Hat, which was still in the desktop business.
During that age of the dinosaur, Mandrake was considered to be the cat’s meow of easy-to-use Linux distributions. It installed easily, some said easier than Windows, and its partitioning tool made cutting up a disk easier than slicing a piece of mincemeat pie. Indeed, Linux old-timers sometimes openly laughed at Mandrake, insinuating that ease-of-use somehow made Linux less Linux.
But I loved it and found it to be a whole new world. Gone was the blue screen of death and the nearly daily crashes that were business as usual with Windows. Unfortunately, also gone were a lot of peripherals that had “just worked” in Windows.
The first thing I had to do after installing Mandrake was to take my white box to Michelle at Dragonware Computers and have the cheap winmodem swapped out for a hardware modem. Granted, a hardware modem means a more responsive computer, but with the computer store forty miles away, this was a bit of an inconvenience and an expense I could little afford.
But I didn’t mind. I was free of Microsoft –- and using a “different” operating system made me feel as if I was some sort of computing genus.
Printers were also a problem, but not as much a problem with Mandrake as with most other distros which required command line work to install. Mandrake offered up a snazzy graphical interface for configuring printers – if you were lucky enough to have a printer that would work in Linux at all. Many, if not most, wouldn’t.
My still under warranty Lexmark, which in Windows had more whistles and bells than any printer needs, wasn’t supported by the manufacturer, but I was able to find an open source, backwards engineered driver that kinda, sorta worked. It worked fine for printing web pages from the Mozilla browser, but printed Star Office pages in tiny fonts that were crammed up into the upper right corner of the page. The printer also made some very loud mechanical clunking noises which reminded me of the noise a car transmission makes just before it dies.
The workaround for the Star Office problem was to save everything as a text file and print from a text editor. For the noise that indicated the printer was in self-destruct mode? Try to avoid printing as much as possible was my solution.
Other problems abounded – too many for me to remember.
One problem I do remember is that I couldn’t get the sound card to work out of the box, although Mandrake’s interface showed the sound card detected and installed. After days of digging through the forums with no luck, someone finally suggested I might have a problem with permissions. I looked and, lo and behold!, he was right. Mandrake had installed the sound card with permissions which wouldn’t let it work in a user account, yet another one of those things that should have been fixed before the distro was released, as Ken would point-out. Especially in a distro being sold in a shrink wrapped box for seventy dollars a pop – which was considerably more money in 2002 than it is now.
Oh yes, and I still have a parallel port scanner that I bought new about two weeks before my move to Linux which has been nothing but a brick since, as there’s still no Linux driver for it.
My point is that back in those days none of this mattered. Most of us were already used to having to fiddle with configuration files and such, even when using “IBM compatible” computers running Microsoft products. Like most users in those days, I’d cut my teeth on command line DOS machines, where printers had to be configured separately for each and every program and where the ability to write a succinct autoexec.bat file was a necessity.
Tinkering with the inner workings of the operating system was simply part of owning a computer. Most of us using computers back then were either geeks or wanna be geeks. We were proud of our ability to tinker and get our machines working just like we wanted. We were the high tech version of the good ol’ boys from an earlier age, who spent their Saturday afternoons under a shade tree modifying their muscle cars with headers, breathers, trick carburetors and the like.
And that’s mostly not who’s using computers today.
Today’s computer user just wants the computer to work, without problems, out of the box. They don’t want to have to figure out why Hulu or Netflix doesn’t work or why their fonts display properly in some applications and not in others. They don’t want to hear, “oh, that’s just an easily fixed small bug” after a Linux install any more than they want to hear that an ignition switch that stalls their new Chevy in heavy traffic is “only a glitch which we’ll fix one day.”
These days, that includes me. While I’m happy I have enough skills to usually fix a bug that made it past the developers at Mint or Fedora, I’d just as soon not have to deal with it. I have work to get done. And when I’m not working, I want to be wasting time with my friends on Facebook, not getting aggravated with my computer.
To be sure, Linux has changed with the times. In recent years you can pretty much be sure that when you install a major Linux distro on a laptop, Wi-Fi will work out of the box. Also, most of the time all you have to do is plug a new printer into a USB port and, presto!, it’s already up and running. But there are still way too many little niggling problems that need to get fixed – stuff that should have been fixed long ago.
Maybe if Ken keeps complaining enough…
Dịch: Lê Trung Nghĩa

Thứ Năm, 14 tháng 8, 2014

Sở hữu trí tuệ tạo ra bao nhiêu công ăn việc làm?


How Many Jobs Does Intellectual Property Create?
Eli Dourado, Ian Robinson | Aug 06, 2014
Bài được đưa lên Internet ngày: 06/08/2014
Lời người dịch: Nhiều người nói rằng các nền công nghiệp tăng cường sở hữu trí tuệ ở Mỹ tạo ra nhiều công ăn việc làm và đóng góp nhiều cho nền kinh tế Mỹ. Tất cả những lý luận đó đến từ các báo cáo của các nhà vận động hành lang ủng hộ các đạng sở hữu trí tuệ như bản quyền, bằng sáng chế, và thương hiệu. Hóa ra là chúng không phải thế. “Trước khi đề cập tới một số vấn đề có liên quan tới phân tích sự làm công của từng trong 3 dạng IP chính đó, đáng để đánh giá một số vấn đề mà cắt ngang qua cả thương hiệu, bản quyền và bằng sáng chế. Thậm chí ở mức độ chung, là dối trá để đánh đồng sự làm công bên trong nền công nghiệp tăng cường IP với một lợi ích kinh tế của IP”. Xem thêm: TPP, ACTA, bằng sáng chế phần mềm và hơn thế nữa.
Hai năm qua, một khối lượng lớn các báo cáo lầm lạc về sở hữu trí tuệ (IP) đã tạo ra sự lúng túng đáng kể trong những người ra quyết định. Được đệ trình như là một nghiên cứu theo chủ nghĩa kinh nghiệm, các báo cáo đó nhằm thuyết phục những người ra chính sách và công chúng rằng các tỷ lệ cao đáng ngờ các kết quả đầu ra về công ăn việc làm ở Mỹ phụ thuộc vào các quyền sở hữu trí tuệ mở rộng.
Nhưng liệu có phải khoảng 1/3 toàn bộ công ăn việc làm Mỹ phụ thuộc vào sự bảo vệ IP mạnh? Liệu có phải hàng triệu công ăn việc làm bị mất nếu các luật về IP bị suy yếu chăng? Các báo cáo đó, chúng nhằm phát hiện sự liên kết giữa các con số thống kê về sự làm công và sự bảo vệ sở hữu trí tuệ, không trả lời cho các câu hỏi đó. Thay vào đó họ thực hiện một bước đi đáng kể khỏi thực tế rằng IP đang tồn tại trong một nền công nghiệp đặc biệt dẫn tới kết luận rằng sự tạo ra công ăn việc làm và sự làm công trong nền công nghiệp đó khớp với những bảo vệ IP mạnh. Vâng các nghiên cứu đó không đưa ra bằng chứng lý thuyết hay thực tế để hỗ trợ cho một tuyên bố như vậy.
Vào tháng 03/2012, Văn phòng Bằng sáng chế và Thương hiệu Mỹ (USPTO) và Cơ quan số liệu Thống kê và Kinh tế đã cùng xuất bản một báo cáo tìm cách cung cấp “một sự hiểu biết tốt hơn về các nền công nghiệp nơi mà IP đóng một vai trò đặc biệt quan trọng”. Có tên là Sở hữu Trí tuệ và nền Kinh tế Mỹ: Các nền công nghiệp Trọng tâm (ở đây được tham chiếu tới như là IPUSE), báo cáo này đã nhận diện 75 nhóm công nghiệp “tăng cường IP” và đã ước tính sự làm công Mỹ và kết quả đầu ra cho tập hợp các nền công nghiệp này vào năm 2010. Theo báo cáo, các nền công nghiệp tăng cường IP trực tiếp chiếm hơn 27 triệu công ăn việc làm (khoảng 1/5 tất cả sự làm công Mỹ) và đã bổ sung chỉ hơn 5.000 tỷ USD giá trị cho GDP.
Trung tâm Sở hữu Trí tuệ Toàn cầu của Phòng Thương mại và Công nghiệp Mỹ đã tung ra một chiến dịch gọi là IP Tạo Công ăn việc làm cho nước Mỹ, nó đưa ra một bản đồ tương tác, trực tuyến cũng như vài báo cáo mô tả về sự làm công và kết quả đầu ra của Mỹ được sự bảo vệ IP mạnh “dẫn dắt”. Nhiệm vụ của Trung tâm Sở hữu Trí tuệ Toàn cầu này là “để bảo vệ các quyền IP như là sống còn cho việc tạo ra công ăn việc làm”. Chiến dịch đó ước tính rằng IP chiếm tới 55.7% triệu công ăn việc làm và 5.800 tỷ USD trong GDP, các con số mà nó đạt được bằng việc nhấn mạnh các hiệu ứng sự làm công trực tiếp của IP.
Báo cáo của Ủy ban IP, được phát hành vào tháng 05/2013, ước tính rằng các hãng Mỹ trải nghiệm hơn 300 tỷ USD mất doanh thu hàng năm vì vi phạm IP. Báo cáo này nói rằng bảo vệ IP mạnh hơn ở nước ngoài có thể dẫn tới bổ sung thêm hàng triệu công ăn việc làm cho nền kinh tế Mỹ, đầu tư nghiên cứu và phát triển lớn hơn, và gia tăng được sự tăng trưởng quốc nội. Nó vẽ ra những kết luận như vậy dựa vào sự kết nối giữa tầm quan trọng của sở hữu trí tuệ đối với các doanh nghiệp nhỏ và vai trò được cho là của các doanh nghiệp nhỏ trong tìm kiếm công ăn việc làm. Báo cáo đó dắt các độc giả qua ví dụ cường điệu của một công ty công nghệ sinh học mới khởi nghiệp mà bị tổn thương đối với ăn cắp IP và bị ép phải đóng cửa và sa thải tất cả các nhân viên của mình nếu và khi IP của hãng bị một thực thể nước ngoài ăn cắp. Các bảo vệ IP mạnh hơn, còn gây tranh cãi, có thể ngăn chặn được những sự kiện như vậy khỏi xảy ra trong cuộc sống thực, dẫn tới sự làm công gia tăng ở Mỹ.
Cuối cùng, Liên minh Sở hữu Trí tuệ Quốc tế đã đưa ra Các nền công nghiệp Bản quyền trong nền Kinh tế Mỹ vào năm 2013. Báo cáo đó thấy rằng “các nền công nghiệp bản quyền cốt lõi” đã chiếm hơn 1.000 tỷ USD GDP trong những năm gần đây, và rằng số liệu đó nhanh chóng đang tăng. Tính tới các nền công nghiệp có liên quan, con số thống kê thậm chí còn cao hơn - 1.700 tỷ USD trong năm 2012.
Các số liệu mà các báo cáo đó thể hiện là nổi bật, và chúng được các câu chuyện tiếu lâm về ăn cắp và ăn trộm IP từ khắp thế giới hỗ trợ. Các báo cáo đó đã gây ảnh hưởng cho sự thảo luận về chính sách ở Washington. Ví dụ, vào tháng 7/2013, đại diện Marsha Blackburn mở bằng việc trích báo cáo của Phòng Thương mại Mỹ: “Các nền công nghiệp Mỹ dựa vào sở hữu trí tuệ đã hỗ trợ hơn 55 triệu công ăn việc làm, đã đóng góp 5.800 tỷ USD vào kết quả đầu ra của nền kinh tế và đã chiếm gần 74% tổng số xuất khẩu. Các con số đó chứng minh những gì là rõ ràng: Các quyền IP mạnh là cơ bản cho việc mở rộng sự tăng trưởng kinh tế và thúc đẩy đổi mới”.
Tuy nhiên, các tuyên bố đó không được bất kỳ bằng chứng có liên quan tới sự tạo ra công ăn việc làm đối với IP hỗ trợ cho cả. Các báo cáo đó sở hữu một giả thiết chung nằm bên dưới về cả thuyết nhân quả vả sự áp đảo của IP trong việc tạo ra các công ăn việc làm trong các hãng Mỹ. Ví dụ, IPUSE đóng khung phân tích của mình bằng việc mô tả IP như là “lực lượng chinhs đằng sau sự tăng trưởng kinh tế Mỹ và tính cạnh tranh quốc gia” và bảo vệ IP như là “chìa khóa cho việc tạo ra các công ăn việc làm mới và tăng trưởng xuất khẩu”.
Trong tài liệu này, chúng tôi khai thác giả thiết rằng công ăn việc làm trong các nền kinh tế tăng cường IP là tất yếu đối với các công ăn việc làm được IP tạo ra. Chúng tôi trước hết khai thác các vấn đề về tạo công ăn việc làm và hiệu quả kinh tế của IP bị cắt khắp các dạng IP khác nhau. Chúng tôi sau đó nhìn sát hơn vào các vấn đề đó khắp 3 dạng IP chính: thương hiệu, bằng sáng chế và bản quyền.
IP và nền kinh tế
Trước khi đề cập tới một số vấn đề có liên quan tới phân tích sự làm công của từng trong 3 dạng IP chính đó, đáng để đánh giá một số vấn đề mà cắt ngang qua cả thương hiệu, bản quyền và bằng sáng chế. Thậm chí ở mức độ chung, là dối trá để đánh đồng sự làm công bên trong nền công nghiệp tăng cường IP với một lợi ích kinh tế của IP. Có lẽ cơ bản nhất, công ăn việc làm sẽ không kết thúc tự trong bản thân chúng, và tính tới số lượng công ăn việc làm được tạo ra vì thế không phải là cách tốt nhất để đánh giá một chính sách. Như Bryan Caplan lưu ý, “Các nhà kinh tế từng ơ trong cuộc chiến với khuynh hướng tạo ra công việc từ nhiều thế kỷ. [Nhà kinh tế học Pháp thế kỷ 19 Frederic] Bastiat giễu cợt sự đánh đồng sự thịnh vượng với công ăn việc làm như là “'Sisyphism' (nhạo báng những người cho rằng năng suất lớn hơn gây ra sự bần cùng với việc làm gia tăng thất nghiệp), sau khi người Hy Lạp người Hy Lạp, một cách hoang đường, được thuê làm đầy đủ, người từng bị kết tội trong nội bộ vì lăn một tảng đá ngược lên đồi”. Sự tiến bộ về kinh tế, Bastiat nói, được xác định bằng tỷ lệ gia tăng kết quả đầu ra cho sự nỗ lực - quả thực, cõi niết bàn về kinh tế sẽ đạt được khi có kết quả đầu ra cao và nỗ lực lao động là 0”.
Các nhà làm luật có thể tạo ra các công ăn việc làm bằng việc yêu cầu các dự án xây dựng được thực hiện với các cái thìa thay vì các cái xẻng hoặc các máy kéo. Tuy nhiên, một chính sách như vậy có thể làm giảm năng suất của công nhân và làm giảm tổng kết quả đầu ra về kinh tế. Hệ quả là, sự ép buộc của cài thìa này có thể không khuyến khích tiến sự bộ về kinh tế.
Tương tự, một số công ăn việc làm do IP tạo ra có thể gây hại cho nền kinh tế thay vì giúp đỡ cho nó. Giả sử các luật IP đòi hỏi rằng mỗi hãng phải thuê thêm 10 luật sư về IP, mà nếu không thì kết quả đầu ra vẫn không bị thay đổi gì. IP có thể được nói sẽ tạo ra hàng triệu công ăn việc làm bổ sung, nhưng chúng có thể là những công ăn việc làm mà làm giảm đi kết quả đầu ra thực tế đối với từng nhân công, công ăn việc làm mà dịch chuyển xã hội đi xa hơn khỏi cõi niết bàn về kinh tế. Họ nên được nhận thức như là các chi phí kinh tế về IP, chứ không phải những lợi ích về kinh tế. Nếu (ngược lại) điều này là hiệu quả duy nhất của IP, thì sự bỏ qua IP có nghĩa là nỗ lực của các luật sư về IP được sử dụng không có năng suất ở đây có thể được tái định hướng tới các sử dụng có năng suất hơn.
Thứ 2, một việc thống kê sự làm công được tạo ra từ IP nhất thiết tập trung vào những gì Bastiat đã gọi là các hiệu ứng “thấy được”, nó ngược với “không thấy được” của IP. Những người tiêu dùng cuối cùng trả tiền lương của bất kỳ công nhân được thuê làm mới nào thông qua sự tiêu dungf của họ (bây giờ cao hơn) trong các sản phẩm tăng cường IP. Nhưng trong sự thiếu vắng “sự làm công mới”, thì những người tiêu dùng có thể có tiền dư thừa để chi tiêu trong các sản phẩm và dịch vụ khác, chúng có thể hỗ trợ cho sự tạo ra các công ăn việc làm khác, mà tất nhiên không thể được quan sát thấy. Trừ phi các công ăn việc làm mà IP tạo ra là tốt hơn cho nền kinh tế so với các công ăn việc làm được thay thế, thì IP tốt nhất chuyển các công ăn việc làm từ miền “không nhìn thấy” này sang miền nhìn thấy.
Thứ 3, như một vấn đề logic cơ bản, đây không phải trường hợp mà từng công ăn việc làm - hoặc thậm chí hầu hết công ăn việc làm - trong các nền công nghiệp tăng cường IP có thể không tồn tại nhưng vi sự tồn tại của IP. Thực tế là một nền công nghiệp là tăng cường IP, như được IPUSE xác định, không nhất thiết chỉ ra rằng một kết quả đầu ra của một nền công nghiệp hoặc sự thuê làm là phụ thuộc vào IP.
Như một nguyên tắc không có mâu thuẫn, hãy xem xét “nền công nghiệp” viết blog. Như một vấn đề của luật, tất cả các tác giả là tự động, không có sự đăng ký hay bất kỳ lưu ý chính thức nào khác, được ban tặng với một bản quyền trong các bài đăng trên blog của họ. Vì toàn bộ đầu ra của môi trường blog được ghi nhận bản quyền, theo phương pháp luận của IPUSE thì nó có thể định tính như một nền công nghiệp tăng cường IP (nếu nó từng được xem như một nền công nghiệp). Tuy nhiên, dường như rõ ràng rằng sự bảo vệ bản quyền tính cho tốt nhất cho một mảnh bé tẹo kết quả đầu ra của các blogger - đại đa số các blog là truy cập được mà không có sự đăng ký phải trả tiền nào, và nhiều blogger hoàn toàn không có ý định thương mại hóa các bài viết của họ (ví dụ, với các quảng cáo).
Nếu một số nền công nghiệp giống với việc viết blog - ví dụ, nếu các bản quyền tự động được tưởng thưởng nhưng không dựa vào, hoặc nếu việc trao bằng sáng chế được thực hiện trước hết vì các mục đích phòng vệ, hoặc nếu các thương hiệu tồn tại nhưng hiếm khi được những người tiêu dùng dựa vào - thì IPUSE và các báo cáo khác mà dựa vào các tính toán giản dị thái quá về IP sẽ cường điệu khổng lồ số lượng công ăn việc làm do có sở hữu trí tuệ. Đối với các nền công nghiệp đó, sự tăng cường IP không phải là một chỉ số tin cậy về sự phụ thuộc vào IP.
Thứ 4, IP không là cách duy nhất để khuyến khích phát minh và sáng tạo. Các giải thưởng và phần thưởng có thể khuyến khích sản xuất các tác phẩm mới đổi mới hoặc sáng tạo. Các hợp đồng bảo hiểm, như các hợp đồng được xúc tác bởi các nền tảng nguồn đám đông trực tuyến mới như Kickstarter và Indiegogo, là những cơ chế khác theo đó sự sáng tạo có thể được tưởng thưởng. Khi các nghiên cứu đó ước tính số lượng các công ăn việc làm được IP tạo ra, họ thường thực hiện một sự so sánh tĩnh với một đường nền tảng theo đó không chính sách hoặc cơ quan nào khác áp dụng để điều tiết nhu cầu khuyến khích sự sáng tạo. Các nghiên cứu đó vì thế sẽ tính quá số lượng công ăn việc làm từ IP.
Như một vấn đề chung, luật sở hữu trí tuệ có thể bảo vệ quá đáng cũng như bảo vệ không tới. Khi nó bảo vệ quá đáng, nó tạo ra các công ăn việc làm mà không có sự gia tăng tương ứng ở kết quả đầu ra thực tế, nó tạo ra các công ăn việc làm bằng việc phá hủy các công ăn việc làm khác mà chúng không được tính tới, và nó chiếm quá ít kết quả đầu ra thực tế được các nền công nghiệp tăng cường IP được cho là đã tạo ra. Những thực tế đó sẽ nảy sinh ra trong đầu khi chúng ta xem xét các tuyên bố đặc thù từng được thực hiện về các nền công nghiệp và các dạng IP đặc thù.
Thương hiệu
Sự làm công của tăng cường thương hiệu dường như tạo thành đống các công ăn việc làm được cho là IP tạo ra. Chiến dịch IP Tạo Công ăn việc làm cho nước Mỹ đã tính bất kỳ chỗ được IP tạo ra nào bên trong một công ty được cho là việc chi tiêu tích cực cho nghiên cứu và phát triển, cũng như bất kỳ chỗ nào trong một công ty rơi vào một trong 6 nền công nghiệp tăng cường bản quyền được xác định trước. Công ăn việc làm mà “phụ thuộc” vào thương hiệu từng được cho là được nắm lấy qua sử dụng các con số chi tiêu cho nghiên cứu và phát triển, nhưng bằng cách nào còn chính xác chưa rõ. Phân tích sau đó đã sử dụng “bộ nhân” tới hơn 3 lần tổng số công ăn việc làm được ghi nhận cho IP. Đặt sang một bên các phương pháp đáng ngờ đó, các xuất bản phẩm của IP Tạo ra Công ăn việc làm cho nước Mỹ thất bại để đưa ra một sự phân tích về con số công ăn việc làm được ghi nhận cho từng dạng IP; vì thế nó hoàn toàn không rõ theo tính toán của họ một cách chính xác có bao nhiêu công ăn việc làm có liên quan tới thương hiệu.
Ngược lại, các tác giả của IPUSE đã phát triển các phương pháp rõ ràng và có thể bảo vệ được cho việc phân loại các nhóm nền công nghiệp như là tăng cường IP cho từng trong số 3 dạng chính về IP ở nước Mỹ. Phân tích đó đã sử dụng các mã của Hệ thống Phân loại Công nghiệp Bắc Mỹ - NAICS (North American Industrial Classification System) để nhận diện 75 nhóm công nghiệp như là tăng cường IP. Hình bên dưới chỉ ra cấu thành của công ăn việc làm được ghi nhận cho các hãng bên trong các nền công nghiệp tăng cường IP dựa vào dạng IP.
















In the past two years, a spate of misleading reports on intellectual property (IP) has generated significant confusion among policymakers. Billed as empirical research, the reports aim to convince policymakers and the public that implausibly high proportions of US output and employment depend on expansive intellectual property rights.
But do as many as one-third of all US jobs depend on strong IP protection? Would millions of jobs be lost if IP laws were weakened? These reports, which attempt to uncover the link between employment statistics and intellectual property protection, don’t answer such questions. Instead they make the substantial leap from the fact that IP exists within a particular industry to the conclusion that job creation and employment in that industry hinge on strong IP protections. Yet these studies provide no theoretical or empirical evidence to support such a claim.
In March 2012, the US Patent and Trademark Office and the Economics and Statistics Administration copublished a report that sought to provide “a better understanding of the industries where IP plays a particularly important role.” Titled Intellectual Property and the U.S. Economy: Industries in Focus (hereafter referred to as IPUSE), this report identified 75 “IP-intensive” industry groups and estimated US employment and output for this set of industries in 2010. According to the report, IP-intensive industries directly accounted for over 27 million jobs (roughly one-fifth of all US employment) and added just over $5 trillion in value to the domestic product.
The US Chamber of Commerce’s Global Intellectual Property Center launched a campaign called IP Creates Jobs for America, which provides an online, interactive map as well as several descriptive reports about US employment and output “driven” by strong IP protection. The Global Intellectual Property Center’s mission is “to champion intellectual property (IP) rights as vital for creating jobs.” The campaign estimates that IP accounts for 55.7 million jobs and $5.8 trillion of GDP, numbers it reaches by emphasizing the “indirect” employment effects of IP.
The IP Commission Report, released in May 2013, estimates that US firms experience over $300 billion in lost revenues annually due to IP infringement. This report claims that stronger IP protections overseas would lead to the addition of millions of jobs to the US economy, greater research-and-development investment, and increased domestic growth. It draws such conclusions based on the connection between the importance of intellectual property to small businesses and the supposed role of small businesses in job creation. The report walks readers through the example of a hypothetical start-up biotech company that is vulnerable to IP theft and is forced to close and lay off all its employees if and when its IP is stolen by a foreign entity. Stronger IP protections, it is argued, would prevent such events from happening in real life, leading to increased employment in the United States.
Finally, the International Intellectual Property Alliance released Copyright Industries in the U.S. Economy in 2013. The report finds that “core copyright industries” have accounted for more than $1 trillion of US GDP in recent years, and that the figure is rapidly rising. Counting related industries, the statistic is even higher—$1.7 trillion in 2012.
The figures presented by these reports are striking, and they are supported by anecdotes of piracy and IP theft from around the globe. The reports have influenced the policy discussion in Washington. For example, in a July 2013 op-ed, Rep. Marsha Blackburn opens by citing the US Chamber of Commerce’s report: “U.S. industries reliant on intellectual property supported more than 55 million jobs, contributed to $5.8 trillion in economic output and accounted for nearly 74 percent of total exports. These figures prove what should be obvious: Strong intellectual property (IP) rights are essential to expanding economic growth and fostering innovation.”
However, the claims are unsupported by any evidence linking job creation to intellectual property. These reports possess a common underlying assumption regarding both the causality and the predominance of intellectual property in creating jobs within US firms. For instance, IPUSE frames its analysis by describing intellectual property as the “key force behind U.S. economic growth and national competitiveness” and the protection of IP as the “key to creating new jobs and growing exports.”
In this paper, we explore the assumption that jobs in IP-intensive industries are necessarily IP-created jobs. We first explore issues regarding job creation and the economic efficiency of IP that cut across the various forms of intellectual property. We then take a closer look at these issues across three major forms of intellectual property: trademarks, patents, and copyrights.
IP and the Economy
Before addressing some issues associated with the employment analysis of each of the three major forms of intellectual property, it is worth evaluating some of the problems that cut across trademarks, copyrights, and patents. Even at a general level, it is fallacious to equate employment within an IP-intensive industry with an economic benefit of IP.
Perhaps most fundamentally, jobs are not ends in themselves, and counting the number of jobs created is therefore not the best way to evaluate a policy. As Bryan Caplan notes, “Economists have been at war with make-work bias for centuries. [19th-century French economist Frédéric] Bastiat ridicules the equation of prosperity with jobs as ‘Sisyphism,’ after the mythological fully employed Greek who was eternally condemned to roll a boulder up a hill.” Economic progress, Bastiat says, is defined by an increasing ratio of output to effort—indeed, economic nirvana is achieved when there is high output and zero labor effort.
Lawmakers could create jobs by requiring that construction projects be performed with spoons instead of shovels or tractors. Such a policy, however, would reduce worker productivity and decrease total economic output. Consequently, this spoon mandate would not promote economic progress.
Likewise, some of the jobs created by IP may harm the economy instead of helping it. Suppose IP laws necessitated that every firm hire 10 additional IP lawyers, but otherwise left output unchanged. IP could be said to create millions of additional jobs, but these would be jobs that reduced real output per worker, jobs that moved society further away from economic nirvana. They should be reckoned as economic costs of IP, not economic benefits. If (counterfactually) this were the only effect of IP, then abolition of IP would mean that the effort of the heretofore unproductively employed IP lawyers could be redirected to more productive uses.
Second, an accounting of the employment created by intellectual property necessarily focuses on what Bastiat called the “seen,” as opposed to the “unseen,” effects of IP. Consumers ultimately pay the salaries of any newly employed workers through their (now higher) expenditure on IP-intensive products. But in the absence of the “new employment,” consumers would have extra money to spend on other products and services, which would support the creation of different jobs, which of course cannot be observed. Unless the jobs that intellectual property creates are better for the economy than the ones that are replaced, IP at best moves jobs from this “unseen” domain to the seen one.
Third, as a matter of basic logic, it is not the case that every job—or even most jobs—in IP-intensive industries would not exist but for the existence of IP. The fact that an industry is IP-intensive, as defined by IPUSE, does not necessarily indicate that an industry’s output or employment is IP-dependent.
As a reductio ad absurdum, consider the blogging “industry.” As a matter of law, all authors are automatically, without registration or any other formal notice, bestowed with a copyright in their blog posts. Since the entire output of the blogosphere is copyrighted, under IPUSE’s methodology it would qualify as an IP-intensive industry (if it were considered an industry). Nevertheless, it seems clear that copyright protection accounts for at best a tiny sliver of bloggers’ output—the vast majority of blogs are accessible without a paid subscription, and many bloggers do not attempt to monetize their posts (with ads, say) at all.
If some industries resemble blogging—for example, if copyrights are automatically awarded but not relied on, or if patenting is done for primarily defensive purposes, or if trademarks exist but are rarely relied on by consumers—then IPUSE and the other reports that rely on simplistic counts of IP grossly overstate the number of jobs due to intellectual property. For these industries, IP intensity is not a reliable indicator of IP dependence.
Fourth, intellectual property is not the only way to incentivize creation and invention. Prizes and awards can stimulate production of new innovations or creative works. Assurance contracts, such as those enabled by new online crowdfunding platforms like Kickstarter and Indiegogo, are another mechanism by which creation can be rewarded. Governments or wealthy individuals can also commission creative works or fund research teams. When these studies estimate the number of jobs created by intellectual property, they typically make a static comparison to a baseline in which no other policies or institutions adapt to accommodate the need to incentivize creation. These studies will therefore overcount the number of jobs due to IP.
As a general matter, intellectual property law can overprotect as well as underprotect. When it overprotects, it creates jobs without a corresponding increase in real output, it creates jobs by destroying other jobs that are not accounted for, and at the margin it accounts for very little of the actual output created by supposedly IP-intensive industries. These facts should be borne in mind as we examine the specific claims that have been made about particular industries and kinds of IP.
Trademarks
Trademark-intensive employment appears to make up the bulk of the claimed IP-created jobs. The IP Creates Jobs for America campaign counted as IP-created any position within a company that reported positive research-and-development spending, as well as any position at a company falling within one of the six predefined copyright-intensive industries. Jobs that “depend” on trademarks were supposedly captured through the use of research-and-development spending figures, but how is not exactly clear. The analysis then used “multipliers” to more than triple the total number of jobs attributable to intellectual property. Putting aside these questionable methods, the IP Creates Jobs for America publications fail to provide a breakdown of the number of jobs attributable to each type of intellectual property; it is therefore not entirely clear by their account exactly how many jobs are associated with trademarks.
In contrast, the IPUSE authors developed clear and defensible methods for classifying industry groups as IP-intensive for each of the three major types of intellectual property in the United States. The analysis used four-digit North American Industrial Classification System (NAICS) codes to identify 75 industry groups as intellectual–property-intensive. Figure 1 shows the composition of jobs attributed to firms within IP-intensive industries based on IP type.
Dịch: Lê Trung Nghĩa