Thứ Hai, 3 tháng 10, 2011

Giá thành thật của các quỷ lùn bằng sáng chế: 500 ngàn tỷ USD


The True Cost of the Patent Trolls: Half a Trillion Dollars
Published 10:45, 20 September 11, by Glyn Moody
Bài được đưa lên Internet ngày: 20/09/2011
Lời người dịch: Chúng ta đã làm quen với những quỷ lùn bằng sáng chế, những thực thể chuyên mua bán các bằng sáng chế phần mềm để kiện các công ty phần mềm ra tòa và moi tiền của những người bị kiện. Bài viết này nói về một cuốn sách, có tên “Sự thất bại của Bằng sáng chế” (Patent Failure), đưa ra một con số mà đám quỷ lùn đã gây ra cho các nền công nghiệp, mà hàng đầu là phần mềm, là “500.000 tỷ USD của cải bị mất đối với những người bị kiện từ 1990 qua 2010”: có đủ tồi tệ đối với bạn không?” “Trong vòng 4 năm qua của cải bị mất trung bình hơn 80 tỷ USD mỗi năm. Những người bị kiện hầu hết là các công ty công nghệ đầu tư mạnh vào nghiên cứu & phát triển (R&D). Ở mức độ mà sự kiện cáo này thể hiện một chi phí kinh doanh không thể tránh khỏi đối với những người phát triển công nghệ, nó làm giảm lợi nhuận mà các hãng đã tạo ra trong những đầu tư công nghệ của họ. Đó là, những vụ kiện pháp lý làm giảm đi một cách to lớn những động lực của họ để đổi mới sáng tạo”. End Software Patent.
Tôi đã viết một số bài về những lỗi cố hữu của các bằng sáng chế, đặc biệt trong lĩnh vực phần mềm. Chúng là những gì phải làm với những ý định tốt về các bằng sáng chế sẽ không được phát hành. Nhưng cùng với những thứ đó thì những ai cố gắng sử dụng các bằng sáng chế khi họ được cho là có ý định là một nhóm khác mà họ về cơ bản là những kẻ ăn bám - những người kiếm cách chơi hệ thống này, và rút tiền từ những yếu kém của nó: những con quỷ lùn về bằng sáng chế (Patent Troll).
Ngoài bản thân những quỷ lùn bằng sáng chế ra, ít ai có được một từ tốt đẹp cho chúng, vì khá là rõ ràng đối tới từng người rằng chúng bòn rút tiền của các công ty làm ra của cải, và vì thế hành động như một chiếc phanh đối với đổi mới sáng tạo thực sự. Nhưng những cảm giác đó đa phần không lượng hóa được. Bây giờ, nhờ có công việc gần đây của các tác giả cuốn sách còn phôi thai “Sự thất bại của Bằng sáng chế” (Patent Failure), James Bessen và Michael Meurer, cùng với một tác giả thứ 3, Jennifer Laurissa Ford, chúng tôi có thể lần đầu tiên đánh giá được chặt chẽ thiệt hại mà chúng gây ra. Nó thậm chí còn tệ hại hơn chúng ta tưởng:
Các hãng mà cấp phép bằng sáng chế mà không sản xuất ra hàng hóa - “các thực thể không hoạt động thực tiễn” NPEs (Non-Practicing Entities) - về mặt lịch sử có các thị trường công nghệ được tạo thuận lợi và đã gia tăng được lợi nhuận mà những nhà phát minh sáng chế nhỏ kiếm được từ những phát minh sáng chế của họ.
Nhưng một vụ gặt mới tự được mô tả của NPEs đã nổi lên, đánh giá các bằng sáng chế và kiện cáo tranh chấp chúng ở một mức độ phạm vi chưa từng thấy, liên quan tới hàng ngàn người bị kiện cáo mỗi năm trong hàng trăm vụ kiện. Liệu những NPEs hay kiện cáo này có thúc đẩy được các thị trường cho công nghệ và làm gia tăng các động lực cho các phát minh sáng chế nhỏ không nhỉ? Hay là có những “quỷ lùn bằng sáng chế” khai thác những điểm yếu trong hệ thống bằng sáng chế này?
I've written a number of pieces about the inherent flaws of patents, especially in the field of software. Those are mostly to do with how the good intentions of patents are not realised. But alongside those who try to use patents as they were supposedly intended are another group who are essentially parasites - those who seek to game the system, and extract money from its weaknesses: the patent trolls.
Aside from the patent trolls themselves, few have a good word for them, since it's pretty obvious to everyone that they suck money out of companies that make stuff, and thus act as a brake on real innovation. But those feelings have been largely unquantified. Now, thanks to recent work of the authors of the seminal book “Patent Failure”, James Bessen and Michael Meurer, along with a third author, Jennifer Laurissa Ford, we have perhaps the first rigorous estimate of the damage they cause. It's even worse than we thought:
Firms that license patents without producing goods—“ non-practicing entities” (NPEs)— have historically facilitated technology markets and increased the profits that small inventors earn from their inventions.
But a self-described new crop of NPEs has emerged that asserts patents and litigates them on an unprecedented scale, involving thousands of defendants every year in hundreds of lawsuits. Do these litigating NPEs improve markets for technology and increase incentives for small inventors? Or are they “patent trolls” who exploit weaknesses in the patent system?
Tài liệu này có vài phát hiện về sự kiện cáo này. Trước hết, bằng việc quan sát những gì xảy ra đối với giá cổ phiếu của những người bị kiện xung quanh việc đệ trình một vụ kiện bằng sáng chế, chúng ta có khả năng đánh giá được tác động của vụ kiện lên sự giàu có của các hãng đó, sau khi tính tới những xu thế thị trường chung và các yếu tố ngẫu nhiên ảnh hưởng tới cổ phần một cách riêng rẽ. Chúng tôi thấy rằng các vụ kiện của NPE có liên quan tới 500.000 tỷ USD mất của cải đối với những người bị kiện từ 1990 qua 2010. Trong vòng 4 năm qua của cải bị mất trung bình hơn 80 tỷ USD mỗi năm. Những người bị kiện hầu hết là các công ty công nghệ đầu tư mạnh vào nghiên cứu & phát triển (R&D). Ở mức độ mà sự kiện cáo này thể hiện một chi phí kinh doanh không thể tránh khỏi đối với những người phát triển công nghệ, nó làm giảm lợi nhuận mà các hãng đã tạo ra trong những đầu tư công nghệ của họ. Đó là, những vụ kiện pháp lý làm giảm đi một cách to lớn những động lực của họ để đổi mới sáng tạo.
“500.000 tỷ USD của cải bị mất đối với những người bị kiện từ 1990 qua 2010”: có đủ tồi tệ đối với bạn không?
Thú vị là, tài liệu mới phát hiện rằng công nghiệp phần mềm bị ảnh hưởng còn hơn tất cả: đặc điểm của sự kiện cáo này là dễ phân biệt được: nó tập trung vào phần mềm và các công nghệ có liên quan, nó nhằm vào các hãng mà đã phát triển công nghệ rồi, và hầu hết những vụ kiện đó có liên quan tới nhiều hãng lớn như là những người bị kiện. Những đặc tính này gợi ý rằng sự kiện cáo này khai thác những điểm yếu trong hệ thống bằng sáng chế. Trong cuốn sách Thất bại của Bằng sáng chế của chúng tôi, chúng tôi viện lý rằng trong phần mềm và các phương pháp kinh doanh bị kiện cáo thường xuyên hơn nhiều vì chúng có “các đường biên mù mờ”. Phạm vi của các bằng sáng chế này là không rõ ràng, chúng thường được viết theo các ngôn ngữ mơ hồ, và các công ty công nghệ không thể dễ dàng thấy chúng và hiểu chúng nói cái gì. Dường như nhiều sự kiện cáo của các NPE tận dụng được những điểm yếu này.
This paper makes several findings about this litigation. First, by observing what happens
to a defendant’s stock price around the filing of a patent lawsuit, we are able to assess the effect of the lawsuit on the firm’s wealth, after taking into account general market trends and random factors affecting the individual stock. We find that NPE lawsuits are associated with half a trillion dollars of lost wealth to defendants from 1990 through 2010. During the last four years the lost wealth has averaged over $80 billion per year. These defendants are mostly technology companies who invest heavily in R&D. To the extent that this litigation represents an unavoidable business cost to technology developers, it reduces the profits that these firms make on their technology investments. That is, these lawsuits substantially reduce their incentives to innovate.
“Half a trillion dollars of lost wealth to defendants from 1990 through 2010”: bad enough for you? Interestingly, the new paper finds that the software industry is affected more than most:
the characteristics of this litigation are distinctive: it is focused on software and related technologies, it targets firms that have already developed technology, and most of these lawsuits involve multiple large companies as defendants. These characteristics suggest that this litigation exploits weaknesses in the patent system. In our book Patent Failure, we argue that patents on software and business methods are litigated much more frequently because they have “fuzzy boundaries.” The scope of these patents is not clear, they are often written in vague language, and technology companies cannot easily find them and understand what they claim. It appears that much of the NPE litigation takes advantages of these weaknesses.
Tài liệu cũng xem xét lý lẽ rằng các quỷ lùn bằng sáng chế là tốt cho những nhà phát minh sáng chế nhỏ, những người có thể được cho là sử dụng chúng để có được một phần thưởng cho công việc của họ mà nếu khác đi có thể không được thừa nhận. Nhưng tác động này hóa ra là bé tí xíu so với những mất mát khổng lồ được giáng xuống:
chúng tôi có thể nói rằng ít hơn 2% những mất mát của những người bị kiện có thể đại diện cho sự truyền sang các nhà phát minh sáng chế độc lập và có lẽ hoàn toàn đúng con số là còn nhỏ hơn nhiều so với 2%.
Hơn nữa:
những động lực được đưa ra cho những người nắm các bằng sáng chế đối với sự thu hoạch hiện hành của các NPE có thể là một dạng các động lực sai trái. Sự kiện tụng gia tăng mạnh có thể khuyến khích các động lực để giành được các bằng sáng chế, đặc biệt các bằng sáng chế rộng lớn và mù mờ, hơn là những động lực để thực sự đổi mới sáng tạo.
Các tác giả kết luận:
Để tổng kết, có nhiều kẻ thua lớn từ sự kiện cáo của các NPE, trong khi khó có ai đó hưởng được nhiều lợi. Các hãng bị kiện và các khách hàng của họ thua thiệt trong khi những người nắm các bằng sáng chế giành được rất ít nếu so sánh.
Thậm chí các nhà đầu tư vào các hãng NPE cũng đã giành được ít - những hãng này ngắt đều một cách trần trụi dựa vào doanh thu thực cộng dồn của họ trong bảng 4. Hình như, những kẻ hưởng lợi thực sự duy nhất là các luật sư và có lẽ là những người đứng đầu các hãng NPE.
Điều đó là quan trọng, vì nó có nghĩa là bất kể giành được các bằng sáng chế thế nào cũng có thể mang lại cho nền kinh tế kinh doanh - và giả thiết chúng có mang lại, chẳng là cái gì cho thế giới phần mềm, xét về các con số được bàn thảo trong “Sự thất bại của Bằng sáng chế” - hầu hết được cân nhắc chống lại sự mất 500.000 tỷ USD về tiền mà có thể nếu không sẽ được chi cho đổi mới sáng tạo thực sự, hơn là cho việc hỗ trợ cách sống phồn vinh giả tạo của đám quỷ lùn và những luật sư của họ.
The paper also examines the argument that patent trolls are good for smaller inventors, who can allegedly use them to obtain a reward for their work that might not otherwise be recognised. But the effect turns out to be minuscule against the backdrop of the losses inflicted:
we can state that less than 2% of the defendants’ losses could represent a transfer to independent inventors and quite possibly the true figure is much smaller than 2%.
Moreover:
the incentives provided to patent holders by the current crop of NPEs may be the wrong kind of incentives. The extensive litigation may encourage incentives to obtain patents, especially overly broad and vague patents, rather than incentives to actually innovate.
The authors conclude:
To summarize, there are a lot of big losers from NPE litigation, while hardly anyone benefits much. The defendant firms and their customers lose while patent holders gain very little by comparison. Even the investors in NPE firms have gained little—these firms barely break even based on their cumulative net income in Table 4. Apparently, the only real beneficiaries are the lawyers and perhaps the principals of the NPE firms.
That's important, because it means whatever gains patents may bring to the business economy - and that's assuming they do bring any, which seems not to be the case for the software world, judging by the figures discussed in “Patent Failure” - most be weighed against the half-trillion-dollar loss in terms of money that could otherwise have been spent on real innovation, rather than on supporting the luxuriant lifestyle of trolls and their lawyers.
Dịch tài liệu: Lê Trung Nghĩa

Cuộc gặp của Microsoft với đại sứ Mỹ ở Brazil về chính trị của ODF


Microsoft meeting with US Ambassador to Brazil regarding politics of Open Document Format (ODF) proposal to ISO
Submitted by James Love on 4. September 2011 – 16:56
Bài được đưa lên Internet ngày: 04/09/2011
Lời người dịch: Nhiều người lớn tiếng về việc thị trường là thị trường, không dính dáng gì đến chính trị. Nhưng Microsoft không làm thế. Microsoft cần các nhà chính trị để bù đắp cho sự yếu kém sản phẩm của hãng. Câu chuyện này liên quan trực tiếp tới vụ tiêu chuẩn OOXML có trong bộ phần mềm văn phòng Microsoft Office của hãng từ năm 2007. Bạn hãy đọc, chiêm nghiệm và cố gắng đừng có mắc bẫy khi phải sự dụng hàng như thế này. Đọc thêm: [01] và [02].
Vào ngày 21/12/2007, Tổng lãnh sự Mỹ ở São Paulo, Thomas White, đã viết một điện tin với đầu đề: MICROSOFT XEM CHÍNH PHỦ BRAZIL TẤN CÔNG CHỐNG LẠI QUYỀN SỞ HỮU TRÍ TUỆ (IPR). Điện tin này đã được coi là mật của James Story, người đứng đầu của Econ/Pol.
Trong điện tin, White báo cáo trong một cuộc gặp ngày 20/12 tại Sao Paulo giữa Đại sứ Mỹ ở Brazil, Clifford Sobel, và Chủ tịch Micrsoft Brazel Michel Levy. Chủ đề của cuộc gặp là những lo lắng của Microsoft rằng Brazil từng:
“thúc đẩy các quốc gia để áp dụng định dạng tài liệu mở ODF trong sự mất mát phí tổn của XML trong cuộc họp hồi tháng 03 của Tổ chức Tiêu chuẩn Quốc tế ISO tại Geneva”.
Levy được cho là sở hữu các bức thư không được ký từ Bộ Ngoại giao (được tham chiếu tới như là “Itamaraty” trong điện tin), cho các chính phủ nước ngoài, yêu cầu rằng họ cộng tác để hỗ trợ chuẩn mở ODF như là tiêu chuẩn quốc tế. Tất nhiên, nếu điều này là đúng, thì điều này có thể không ngạc nhiên, vì khi đó, đã có sự ủng hộ rộng rãi giữa các chính phủ không phải Mỹ, các công ty phần mềm phi Microsoft, các nhóm người tiêu dùng và những người bảo vệ phần mềm tự do để thúc đẩy cho ODF như một tiêu chuẩn mở cho các định dạng tệp.
Điện tin nói rằng Microsoft đã đang tìm tư vấn bí mật, hơn là biện hộ, từ ngài Đại sứ. Sự tư vấn như vậy sắp diễn ra: “Đại sứ Sobel đã đưa ra sự tư vấn về một loạt các tiếp cận SIPDIS mà Microsoft có thể nắm lấy trong việc tạo ra sự hỗ trợ cho các tiêu chuẩn mà có thể có chỗ cho cả các phần mềm ODF và XML”.
Michel Levy đã biểu lộ những lo lắng về Tham mưu Trưởng của Lula (cựu tổng thống Brazil), Dilma Rousseff:
On December 21, 2007, the U.S. Consul General for São Paulo, Thomas White, wrote a cable titled: MICROSOFT SEES GOB ATTACKS AGAINST IPR. The cable was classified by James Story, the Econ/Pol Chief.
In the cable, White reports on a December 20 meeting in Sao Paulo between the U.S. Ambassador to Brasil, Clifford Sobel, and Microsoft Brazil President Michel Levy. The subject of the meeting was Microsoft's concerns that Brasil was:
"pushing for countries to adopt the ODF (Open Document Format) at the expense of XML at the March meeting of the International Standards Organization in Geneva."
Levy claimed to be in possession of unsigned letters from the Ministry of Foreign Affairs (which is referred to as "Itamaraty" in the cable), to foreign governments, asking that they collaborate to support the open source ODF as the international standard. Of course, if this was true, it would not be surprising, since at the time, there was broad support among non-US governments, non-Microsoft software companies, consumer groups and free software advocates to push for ODF as an open standard for file formats.
The cable says that Microsoft was seeking confidential advice, rather than advocacy, from the Ambassador. Such advice was forthcoming: "Ambassador Sobel did offer advice on various SIPDIS approaches Microsoft could take in generating support for standards that would have room for both ODF and XML software."
Michel Levy expressed concerns about Lula's Chief of Staff, Dilma Rousseff:
Levy tin tưởng rằng vấn đề này đã biến thành tư tưởng và là một biểu thị chống Mỹ trong Itamaraty. Ông đã trích lời Tham mưu trưởng của Tổng thống Lula Dilma Rousseff cũng như cố vấn cao cấp Celso Alvarez đang là kiến trúc sư trưởng của một chiến lược chống lại tiền bản quyền, chống các quyền sở hữu trí tuệ bên trong chính phủ Brazil. Theo Levy, các cố vấn này đã thuyết phục Tổng thống Lula rằng không có sự khác biệt giữa các phần mềm ODF và XML sở hữu độc quyền. Mối lo chính của ông ta là việc chính phủ Brazil sẽ sử dụng ABNT để áp dụng chỉ tiêu chuẩn ODF bằng sắc lệnh hơn là đi qua Quốc hội nơi mà Microsoft có thể ít nhất có một cơ hội để giải thích những khác biệt giữa các hệ thống phần mềm. Levy đã sử dụng như một ví dụ rằng tất cả các thiết kế của Embraer được tạo ra thông qua XML và rằng phần mềm ODF hiện hành đơn giản không thể làm được công việc y hệt. Nếu ODF là tiêu chuẩn duy nhất, Levy đã viện lý, thì có thể có những sự rẽ nhánh kinh tế đối với Brazil.
Điện tin kết luận với lời nhận xét rằng: “Những lo lắng của Microsoft rằng chính phủ Brazil đang tìm cách áp dụng tiêu chuẩn duy nhất mà không cho phép phần mềm sở hữu độc quyền, hãy canh chừng”.
Xem bức điện tin ở đây:
Levy believes that this issue has turned ideological and is a manifestation of anti-Americanism within Itamaraty. He cited President Lula's Chief of Staff Dilma Rousseff as well as high-ranking advisor Celso Alvarez as being the chief architects of an anti-IPR, anti-royalties strategy within the GOB. According to Levy, these advisors have convinced President Lula that there is no difference between ODF and proprietary XML software. His main concern is that the GOB will use the ABNT to adopt an ODF only standard by decree rather than going through Congress where Microsoft would at least have an opportunity to explain the differences between the software systems. Levy used as an example that all of Embraer's designs are created through XML and that the current ODF software simply can't do the same job. If ODF is the only standard, Levy argued, there could be economic ramifications for Brazil.
The cable concludes with the observation that: "Microsoft's concerns that the GOB is seeking to adopt one standard that does not allow for proprietary softwear, bears watching."
Dịch tài liệu: Lê Trung Nghĩa

Chủ Nhật, 2 tháng 10, 2011

Kiến nghị Nhà Trắng Chấm dứt Bằng sáng chế Phần mềm đang nóng


White House Petition to End Software Patents Is a Hit
Bây giờ Quốc hội đã thất bại trong cải cách các bằng sáng chế phần mềm, liệu chính quyền Obama có tiếp bước?
Now that Congress failed to reform software patents, will the Obama administration step up?
Christopher Mims 09/23/2011
Bài được đưa lên Internet ngày: 23/09/2011
Lời người dịch: Từ ngày 23/09/2011, trên website của Nhà Trắng, có kiến nghị “Ra lệnh cho Văn phòng Bằng sáng chế Chấm dứt Trao các Bằng sáng chế Phần mềm” đang được lấy chữ ký của mọi người. Nếu đủ 5.000 chữ ký cho tới thời hạn hết 1 tháng (hết hạn vào ngày 23/10/2011) thì chính quyền sẽ trả lời các công dân bằng văn bản. Chỉ trong ngày đầu tiên, nó đã thu được chỉ còn thiếu 531 chữ ký là đủ 5.000. Còn tại thời điểm bài này được dịch xong, con số đó đã là gần 13.000 rồi. Thế mới biết, những người Mỹ còn không chịu nổi chế độ bằng sáng chế của chính họ, huống gì người Việt Nam chúng ta. Vì nó có thể đưa đường cho tất cả các công ty phần mềm Việt Nam đến với sự tuyệt chủng một cách nhanh chóng.
Vào lúc này, trên website chính thức của Nhà Trắng về kiến nghị cho chính phủ, thứ duy nhất phổ biến như việc hợp pháp hóa cần sa và tách nhà thờ khỏi nhà nước là một kiến nghị để “Ra lệnh cho Văn phòng Bằng sáng chế Chấm dứt Trao các Bằng sáng chế Phần mềm”.
Có nhiều lý do tốt để chấm dứt thực tiễn về bằng sáng chế phần mềm, bao gồm thực tế rằng các bằng sáng chế là động cơ trước hết cho việc truyền của cải từ các nhà phát minh sáng chế, những người tạo ra nó cho các quỷ lùn bằng sáng chế với “sản phẩm” duy nhất của họ là kiện cáo tranh chấp. (Các bằng sáng chế phần mềm đôi khi cũng được các công ty lớn sử dụng để hạ gục các đối thủ cạnh tranh của họ chỉ bằng một hai cái, trong những gì dường như giống một nỗ lực chất đống vô số các phí cấp phép chồng chéo nhau mà chúng tất cả đều xóa bỏ lẫn nhau).
Vì thế, nếu bạn đồng ý rằng sự điên rồ này phải chấm dứt, tốt hơn hết bạn hãy tự tới WhiteHouse.gov, vì như lần cuối tôi tải lại site đó, thì kiến nghị vẫn còn cần 531 chữ ký nữa để được một câu trả lời chính thức.
Không may, “câu trả lời chính thức đó” - một tuyên bố được viết xuống - là tất cả những gì mà bất kỳ ai có thể mong đợi từ nỗ lực này. Dường như là thậm chí dù Hiến pháp Mỹ đưa ra một con đường cho các công dân để kiến nghị với chính phủ của họ, thì nó chẳng nói lên được gì về cách mà chính phủ nên xử lý những kiến nghị này.
Hy vọng ít nhất ai đó đặt chúng qua được vũng nước mát hơn, sao cho các nhà ra chính sách của chính quyền có thể nhận ra được ý nghĩa về cách mà các nhánh khác của chính phủ đang không giải quyết một trong những vấn đề thúc bách nhất của nền công nghiệp công nghệ.
At this moment, on the White House's official website for petitioning the government, the only thing as popular as legalizing marijuana and separating church from state is a petition to "Direct the Patent Office to Cease Issuing Software Patents."
There are lots of good reasons to end the practice of patenting software, including the fact that software patents are primarily a vehicle for transferring wealth from the innovators who create it to patent trolls whose sole "product" is litigation. (Software patents are also sometimes used by big companies to take their rivals down a peg or two, in what seems like an effort to pile up so many cross-licensing fees that they all cancel each other out.)
Anyway, if you agree that this madness must stop, you'd better get yourself over to WhiteHouse.gov, because as of the last time I reloaded that site, the petition still needed 531 more signatures in order to merit an official response.
Unfortunately, that "official response"—a written statement—is about all anyone can expect from this effort. It seems that even though the U.S. Constitution provides an avenue for citizens to petition their government, it says nothing about how the government should handle those petitions.
Hopefully someone's at least posting them over the water cooler, so administration decision-makers can get a sense of how those other branches of the government are failing to address one of the technology industry's most pressing issues.
Dịch tài liệu: Lê Trung Nghĩa

Kiến nghị chống lại bằng sáng chế phần mềm tới Nhà Trắng


Open source activists push anti-software-patent petition to White House top 10
Nhà Trắng mở cửa cho các kiến nghị trực tuyến
White House opens door to online petitions
By Patrick Thibodeau | Computerworld US | Published 09:20, 29 September 11
Bài được đưa lên Internet ngày: 29/09/2011
Lời người dịch: Hiện trên site kiến nghị của Nhà Trắng, với kiến nghị “chỉ thị cho văn phòng bằng sáng chế chấm dứt việc cấp các bằng sáng chế phần mềm” đã thu được cỡ 13.000 chữ ký, đứng hàng thứ 10 trong số các kiến nghị, thừa đủ để Nhà Trắng, theo lời hứa của mình là kiến nghị nào vượt ngưỡng 5.000 chữ ký trong 30 ngày, phải trả lời đối với kiến nghị đó. Hiện Nhà Trắng còn chưa trả lời cho bất kỳ kiến nghị nào. “vào năm 2009, Red Hat đã đệ trình một tóm tắt trong một vụ kiện nhằm vào vấn đề bằng sáng chế phần mềm và đã viện lý rằng các bằng sáng chế phần mềm “từ một bãi mìn làm chậm đi và không khuyến khích đổi mới sáng tạo trong phần mềm. Red Hat đã giải thích rằng “vì các sản phẩm phần mềm có thể có hàng ngàn các thành phần được trao bản quyền, nên các lập trình viên đối mặt với rủi ro phải bảo vệ trước các vụ kiện vi phạm bằng sáng chế vừa yếu và vừa tốn tiền”. Một lớp các doanh nghiệp kinh doanh mới - quỷ lùn bằng sáng chế - đã phát triển để đệ trình các vụ kiện nhằm khai thác hệ thống này”. Xem thêm: [01], [02].
Nhà Trắng tháng này đã bắt đầu cho phép mọi người tạo những kiến nghị (petitions) trên website của Nhà Trắng, và một thứ được ưa thích sớm hỏi tổng thống “chỉ thị cho văn phòng bằng sáng chế chấm dứt việc cấp các bằng sáng chế phần mềm”.
Kiến nghị này đã có hơn 12.000 chữ ký, đặt nó thành 10 kiến nghị hàng đầu trên website của Nhà Trắng.
Kiến nghị hàng đầu, hiện tại, liên quan tới việc hợp pháp hóa cần sa, với hơn 41.000 chữ ký.
Nhà Trắng đã thiết lập một qui trình khá đơn giản cho mọi người để tạo hoặc ký một kiến nghị. Nó yêu cầu tên và địa chỉ thư điện tử, và sau đó kiểm tra thư.
Nhà Trắng đang hứa hẹn trả lời cho bất kỳ kiến nghị nào mà đáp ứng được ngưỡng 5.000 chữ ký trong vòng 30 ngày. Nhà Trắng còn chưa trả lời cho bất kỳ kiến nghị nào.
Kiến nghị về bằng sáng chế phần mềm viện lý rằng các bằng sáng chế đã trở thành một cách “để bóp nghẹt đổi mới sáng tạo và ngăn cản sự cạnh tranh hơn là hỗ trợ cho đổi mới sáng tạo và cạnh tranh thị trường. Chúng đã trở thành một công cụ chống độc quyền được các công ty lớn sử dụng chống lại các công ty nhỏ”.
Tác giả của kiến nghị này không được công bố, như lý lẽ rằng sự nổi lên của kiến nghị này là có từ lâu.
Ví dụ, vào năm 2009, Red Hat đã đệ trình một tóm tắt trong một vụ kiện nhằm vào vấn đề bằng sáng chế phần mềm và đã viện lý rằng các bằng sáng chế phần mềm “từ một bãi mìn làm chậm đi và không khuyến khích đổi mới sáng tạo trong phần mềm”.
Red Hat đã giải thích rằng “vì các sản phẩm phần mềm có thể có hàng ngàn các thành phần được trao bản quyền, nên các lập trình viên đối mặt với rủi ro phải bảo vệ trước các vụ kiện vi phạm bằng sáng chế vừa yếu và vừa tốn tiền”. Một lớp các doanh nghiệp kinh doanh mới - quỷ lùn bằng sáng chế - đã phát triển để đệ trình các vụ kiện nhằm khai thác hệ thống này.
The White House this month began allowing people to create petitions on its website, and an early favourite asks the president to "direct the patent office to cease issuing software patents.""
The petition has more than 12,000 signatures, which puts it among the top 10 petitions on the White House website.
The leading petition, at the moment, concerns legalizing marijuana, with more than 41,000 signatures.
The White House has set up a relatively simple process for people to create or sign a petition. It asks for a name and email address, and then verifies the email.
The White House is promising a response for any petition that meets a 5,000-signature threshold within 30 days. It has not yet responded to any petition.
The software patent petition argues that patents have become a way "to stifle innovation and prevent competition rather than to support innovation and competitive markets. They've become an antitrust tool employed by large companies against small ones."
The petition's author is not disclosed, but the argument that the petition raises is longstanding.
In 2009, for instance, Red Hat filed a brief in a case that looked at the software patent issue and argued that software patents "form a minefield that slows and discourages software innovation."
Red Hat went on to explain that "because software products may involve thousands of patentable components, developers face the risk of having to defend weak but costly patent infringement lawsuits. A new class of business enterprise -- patent trolls -- has developed to file lawsuits to exploit this system."
Các lập trình viên phần mềm có thể có bản quyền cho các phần mềm của họ, ngăn cản những người khác khỏi việc sao chép tác phẩm của họ mà không được phép. Một bằng sáng chế trao cho người chủ quyền dừng ai đó khỏi việc làm, sử dụng và bán bất kỳ thứ gì đã được công bố trong bằng sáng chế, Leigh Martinson, một luật sư về bằng sáng chế tại McDermott Will & Emery ở Boston, nói.
Trong khi một bản quyền ngăn cản ai đó khỏi sao chép thứ gì đó, thì nó không dừng được ai đó khỏi áp dụng một phương pháp là một tính năng của một hệ thống phần mềm. Các bằng sáng chế được áp dụng cho các phương pháp này. Các bằng sáng chế cung cấp cho các công ty với “một ưu thế cạnh tranh, và nó giữ mọi người phải thuê”, Martinson nói. Điều khó cho lập trình viên làm việc bên ngoài cái nhà để xe phải biết liệu những gì họ đang làm có một bằng sáng chế hay chưa, ông nói.
Một điều khoản mới trong luật về bằng sáng chế, gần đây được Quốc hội phê chuẩn, trao cho một “vi thực thể” nhiều tới 75% giảm giá đối với một ứng dụng bằng sáng chế.
Liệu site đề xuất của Nhà Trắng có bất kỳ ảnh hưởng nào tới các bằng sáng chế hay tới bất kỳ vấn đề nào khác vẫn còn là một câu hỏi.
Anthony Figliola, phó chủ tịch của Empire Government Strategies, một hãng vận động hành lang có quan hệ với chính phủ có trụ sở ở New York, nói site kiến nghị của Nhà Trắng có thể bị hỏng nếu các nhóm bảo vệ chuyên nghiệp “đánh bom” site này bằng các kiến nghị và chữ ký.
Software developers can copyright their software, preventing people from making copies of their work without authorization. A patent gives the holder the right to stop someone from making, using or selling whatever has been proclaimed in the patent, said Leigh Martinson, a patent attorney at McDermott Will & Emery in Boston.
While a copyright prevents someone from making a copy of something, it doesn't stop someone from applying a method that is a feature of a software system. The patents are applied to these methods. Patents provide companies with "a competitive advantage, and it keeps people employed," said Martinson. What's hard for the developer working out of his garage is knowing whether what they are working on has a patent, he said.
A new provision in a patent law, recently approved by Congress, gives a "micro entity" as much as a 75% discount on a patent application.
Whether the White House petition site has any influence on patents or on any other issue is questionable.
Anthony Figliola, vice president of Empire Government Strategies, a New York-based grassroots lobbying and government relations firm, said the White House's petition site could be corrupted if professional advocacy groups "just bombard" the site with petitions and signatures.
Dịch tài liệu: Lê Trung Nghĩa

Thứ Năm, 29 tháng 9, 2011

Người sử dụng thông thái xét đoán từng kịch bản sử dụng Internet kỹ lưỡng


A Wise User Judges Each Internet Usage Scenario Carefully
main-pic
Nếu khái niệm “Điện toán Đám mây” (ĐTĐM) có bất kỳ ý nghĩa nào, thì nó chỉ có thể là một thái độ chắc chắn nào đó hướng tới điện toán: một thái độ không nghĩ cẩn thận về một kịch bản được đề xuất sẽ gây ra những gì và những rủi ro mà nó gây ra là những gì.
If the term “Cloud Computing” has any meaning, it can only be a certain attitude towards computing: an attitude of not thinking carefully about what a proposed scenario entails or what risks it implies.
Lời người dịch: Nếu bạn làm việc trong một cơ quan chịu trách nhiệm về an ninh thông tin và các hệ thống thông tin, thì bạn nhất định phải đọc hết bài viết này để biết được về một cách nhìn thực tiễn khác đối với điện toán đám mây (ĐTĐM). Đương nhiên, việc tin hay không tin và việc hành động ra quyết định cuối cùng là tùy ở bạn. Đây là bài viết của Richard Stallman, người sáng lập phong trào phần mềm tự do nguồn mở và Quỹ Phần mềm Tự do.
Các doanh nghiệp bây giờ đưa ra cho những người sử dụng điện toán những khả năng thèm muốn để cho phép những người khác giữ những dữ liệu của họ và thực hiện điện toán của họ. Nói một cách khác, để quẳng đi sự thận trọng và trách nhiệm theo chiều gió.
Những doanh nghiệp này, và những kẻ khoác lác, thích kêu gọi những thực tiễn điện toán này là “điện toán đám mây”. Họ cũng áp dụng cùng khái niệm này cho những kịch bản khác nhau hoàn toàn, như việc thuê một máy chủ ở xa, làm cho khái niệm này quá rộng và mù mờ tới độ không có gì có nghĩa có thể được nói với nó. Nếu điều này có bất kỳ ý nghĩa gì, thì nó chỉ có thể là một thái độ chắc chắn nào đó hướng tới điện toán: một thái độ không nghĩ cẩn thận về một kịch bản được đề xuất sẽ gây ra những gì và những rủi ro mà nó gây ra là những gì. Có lẽ đám mây mà họ nói được mong đợi sẽ thành hình trong đầu khách hàng.
Để thay thế đám mây đó bằng thứ rõ ràng, bài viết này thảo luận vài sản phẩm và dịch vụ khác có liên quan tới các kịch bản sử dụng rất khác (xin đừng nghĩ về chúng như là “ĐTĐM”), và những vấn đề khác biệt mà chúng nảy sinh.
Businesses now offer computing users tempting opportunities to let others keep their data and do their computing.  In other words, to toss caution and responsibility to the winds.
These businesses, and their boosters, like to call these computing practices “cloud computing”. They apply the same term to other quite different scenarios as well, such as renting a remote server, making the term so broad and nebulous that nothing meaningful can be said with it.  If it has any meaning, it can only be a certain attitude towards computing: an attitude of not thinking carefully about what a proposed scenario entails or what risks it implies. Perhaps the cloud they speak of is intended to form inside the customer’s mind.
To replace that cloud with clarity, this article discusses several different products and services that involve very different usage scenarios (please don’t think of them as “cloud computing”), and the distinctive issues that they raise.
“There are two kinds of issues that a usage scenario “can” raise:  one is “treatment of your data”, and the other is “control of your computing”.”
Possible issues
Các vấn đề có thể
Trước hết, hãy phân loại các dạng vấn đề mà một kịch bản sử dụng “có thể” nảy sinh. Nói chung, sẽ có 2 dạng vấn đề sẽ được cân nhắc. Một là vấn đề “đối xử với các dữ liệu của bản”, và hai là “kiểm soát điện toán của bạn”.
Trong việc đối xử với các dữ liệu của bạn, vài vấn đề có thể được đặc biệt chú ý: một dịch vụ có thể đánh mất dữ liệu của bạn, sửa nó, trình bày nó cho ai đó nữa mà không có sự đồng ý của bạn, và/hoặc làm cho nó khó cho bạn lấy trở ngược lại dữ liệu. Mỗi trong số những vấn đề này là dễ dàng để hiểu; chúng quan trọng thế nào phụ thuộc vào dạng các dữ liệu có liên quan.
Hãy giữ trong đầu rằng một công ty Mỹ (hoặc một nhánh của nó) được yêu cầu phải truyền tay gần như tất cả các dữ liệu mà nó có về một người sử dụng theo yêu cầu của FBI, mà không có lệnh của tòa án, theo “Luật YÊU NƯỚC CỦA MỸ”, tên của những người trắng đen là như tù mù như những điều khoản của nó. Chúng ta biết rằng mặc dù các yêu cầu mà luật này đặt lên FBI là rất lỏng lẻo, thì FBI vi phạm một cách có hệ thống chúng. Nghị sỹ Wyden nói rằng nếu ông có thể nói công khai cách mà FBI lợi dụng pháp luật, thì công chúng có thể sẽ tức giận về nó. Các tổ chức châu Âu có thể vi phạm tốt các luật bảo vệ dữ liệu của các quốc gia của họ nếu họ giao phó các dữ liệu cho các công ty như vậy.
First, let’s classify the kinds of issues that a usage scenario “can” raise.  In general, there are two kinds of issues to be considered. One is the issue of “treatment of your data”, and the other is “control of your computing”.
Within treatment of your data, several issues can be distinguished: a service could lose your data, alter it, show it to someone else without your consent, and/or make it hard for you to get the data back.  Each of these issues is easy to understand; how important they are depends on what kind of data is involved.
Keep in mind that a US company (or a subsidiary of one) is required to hand over nearly all data it has about a user on request of the FBI, without a court order, under the “USA PATRIOT Act”, whose blackwhiting name is as orwellian as its provisions.  We know that although the requirements this law places on the FBI are very loose, the FBI systematically violates them.  Senator Wyden says that if he could publicly say how the FBI stretches the law, the public would be angry at it.1 European organizations might well violate their countries’ data protection laws if they entrust data to such companies.
Kiểm soát điện toán của bạn là chủng loại vấn đề khác
Những người sử dụng đáng có sự kiểm soát điện toán của họ. Không may, hầu hết trong số họ đã trao sự kiểm soát đó thông qua sự sử dụng các phần mềm sở hữu độc quyền (không tự do).
Với phần mềm, có 2 khả năng: hoặc những người sử dụng kiểm soát các phần mềm hoặc những phần mềm kiểm soát người sử dụng. Trường hợp đầu chúng tôi gọi là “phần mềm tự do”, tự do như trong tự do nói, vì những người sử dụng có sự kiểm soát hiệu quả đối với các phần mềm nếu họ có những quyền tự do nhất định nào đó. Chúng tôi cũng gọi nó là “tự do” để nhấn mạnh rằng đây là một câu hỏi về quyền tự do, không phải về giá tiền. Trường hợp thứ 2 là phần mềm sở hữu độc quyền. Windows và MacOS là sở hữu độc quyền; cả iOS nữa, những phần mềm trong iPhone. Một hệ thống như vậy kiểm soát những người sử dụng nó, và một công ty kiểm soát hệ thống.
Khi một tập đoàn có sức mạnh với những người theo cách đó, thì có thể sẽ lạm dụng sức mạnh đó. Không nghi ngờ là Windows và iOS nổi tiếng có các tính năng gián điệp, các tính năng hạn chế người sử dụng, và các cửa hậu.
Khi những người sử dụng nói về “vượt ngục” iPhone, họ nhận thức được rằng sản phẩm này cùm xích người sử dụng.
Khi một dịch vụ thực hiện điện toán của người sử dụng, thì người sử dụng đánh mất sự kiểm soát đối với điện toán đó. Chúng tôi gọi thực tế này là “Phần mềm như một dịch vụ” hoặc “SaaS”, và nó là tương đương việc chạy một chương trình sở hữu độc quyền với một tính năng gián điệp và một cửa hậu. Điều này tuyệt đối phải được tránh.
Control of your computing is the other category of issue.
Users deserve to have control of their computing. Unfortunately, most of them have already given up such control through the use of proprietary software (not free/libre).
With software, there are two possibilities: either the users control the software or the software controls the users.  The first case we call “free software”, free as in freedom, because the users have effective control of the software if they have certain essential freedoms.  We also call it “free/libre” to emphasize that this is a question of freedom, not price.2 The second case is proprietary software.  Windows and MacOS are proprietary; so is iOS, the software in the iPhone.  Such a system controls its users, and a company controls the system.
When a corporation has power over users in that way, it is likely to abuse that power.  No wonder that Windows and iOS are known to have spy features, features to restrict the user, and back doors.  When users speak of “jailbreaking” the iPhone, they acknowledge that this product shackles the user.
When a service does the user’s computing, the user loses control over that computing.  We call this practice “Software as a Service” or “SaaS”, and it is equivalent to running a proprietary program with a spy feature and a back door.  It is definitely to be avoided3.
Different Internet usage scenarios
Các kịch bản sử dụng Internet khác nhau
Đã phân loại những vấn đề có khả năng, hãy cân nhắc cách mà một vài sản phẩm và dịch vụ đưa ra chúng. Đầu tiên, hãy cân nhắc iCloud, một dịch vụ sắp tới của Apple, chức năng của nó (theo thông tin biết trước) sẽ là những người sử dụng có thể sao chép các thông tin tới một máy chủ và truy cập nó sau đó từ bất kỳ đâu, hoặc cho phép những người sử dụng truy cập nó từ đó. Đây không phải là Phần mềm như một Dịch vụ vì nó không tiến hành bất kỳ sự tính toán nào của người sử dụng, nên vấn đề đó sẽ không nảy sinh.
Thế iCloud sẽ đối xử với các dữ liệu của người sử dụng như thế nào? Khi viết điều này, chúng tôi không biết, nhưng chúng tôi có thể phỏng đoán dự vào những dịch vụ khác làm. Apple sẽ có thể có khả năng khóa các dữ liệu đó, cho những mục đích của riêng họ và cho những mục đích của những người khác. Nếu thế, các tòa án sẽ có khả năng có được nó với một trát hầu tòa đối với Apple (“không” đối với người sử dụng). FBI cũng có khả năng nhìn vào đó nữa. Cách duy nhất có thể tránh được điều này là nếu các dữ liệu được mã hóa trên máy tính của người sử dụng trước khi nó được tải lên, và được giải mã trên máy của người sử dụng sau khi nó được truy cập.
Trong trường hợp cụ thể của iCloud, tất cả những người sử dụng sẽ chạy các phần mềm của Apple, nên Apple sẽ có toàn bộ sự kiểm soát đối với các dữ liệu của họ dù thế nào đi nữa. Một tính năng gián điệp đã được tiết lộ trong các phần mềm iPhone và iPad vào đầu năm 2011, dẫn mọi người nói về “gián điệp điện thoại”. Apple có thể đưa ra một tính năng gián điệp khác trong bản “nâng cấp” tiếp sau, và chỉ Apple mới có thể biết. Nếu bạn ngu ngốc đủ để sử dụng một iPhone hoặc iPad, có thể iCloud sẽ không làm thứ gì tồi tệ cả, nhưng điều đó không được khuyến cáo.
Bây giờ hãy cân nhắc Amazon EC2, một dịch vụ nơi mà một khách hàng thuê một máy tính ảo (được đặt trên một máy chủ trong một trung tâm dữ liệu của Amazon), làm bất kỳ thứ gì mà khách hàng lập trình cho nó để làm.
Having classified the possible issues, let’s consider how several products and services raise them.
First, let’s consider iCloud, an upcoming Apple service, whose functionality (according to advance information) will be that users can copy information to a server and access it later from elsewhere, or let users access it from there.  This is not Software as a Service since it doesn’t do any of the user’s computing, so that issue doesn’t arise.
How will iCloud treat the user’s data?  As of this writing, we don’t know, but we can speculate based on what other services do.  Apple will probably be able to look at that data, for its own purposes and for others’ purposes.  If so, courts will be able to get it with a subpoena to Apple (“not” to the user).  The FBI may be able to get it without a subpoena.  Movie and record companies, or their lawsuit mills, may be able to look at it too.  The only way this might be avoided is if the data is encrypted on the user’s machine before it is uploaded, and decrypted on the user’s machine after it is accessed.
In the specific case of iCloud, all the users will be running Apple software, so Apple will have total control over their data anyway.  A spy feature was discovered in the iPhone and iPad software early in 2011, leading people to speak of the “spyPhone”.  Apple could introduce another spy feature in the next “upgrade”, and only Apple would know.  If you’re foolish enough to use an iPhone or iPad, maybe iCloud won’t make things any worse, but that is no recommendation.
Now let’s consider Amazon EC2, a service where a customer leases a virtual computer (hosted on a server in an Amazon data center) that does whatever the customer programs it to do.
pic-2
Những máy tính này chạy hệ điều hành GNU/Linux và khách hàng sẽ chọn tất cả các phần mềm được cài đặt, với một ngoại lệ: Linux, thành phần mức thấp nhất (hoặc “nhân”) của hệ thống. Các khách hàng phải chọn một trong những phiên bản Linux mà Amazon đưa ra; họ không thể làm và chạy của riêng họ được. Nhưng họ có thể thay thế phần còn lại của hệ thống. Vì thế, họ có hầu hết nhiều sự kiểm soatas đối với tính toán của họ khi họ có thể với các máy tính của riêng họ, nhưng không hoàn toàn.
EC2 có một số hạn chế. Một là, vì những người sử dụng không thể cài đặt những phiên bản nhân Linux của riêng họ, có khả năng là Amazon đã đặt vào thứ gì đó hư đốn, hoặc chỉ là không thuận tiện, vào trong các phiên bản mà họ chào. Nhưng điều này có thể khổng thực sự là vấn đề, biết rằng còn có những thứ sai sót khác. Một sai sót khác là việc Amazon có sự kiểm soát tối hậu đối với máy tính và các dữ liệu của nó. Nhà nước có thể đòi trát hầu tòa đối với tất cả các dữ liệu đó từ Amazon. Nếu bạn đã có nó ở nhà hoặc ở văn phòng của bạn, thì nhà nước có thể có trát hầu tòa đối với nó từ bạn, và bạn có thể còn có cơ hội để đấu tranh với trát hầu tòa đó tại tòa. Amazon có thể không quan tâm đấu tranh với trát hầu tòa nhân danh bạn.
These computers run the GNU/Linux operating system4 and the customer gets to choose all the installed software, with one exception:  Linux, the lowest-level component (or “kernel”) of the system.  Customers must select one of the versions of Linux that Amazon offers; they cannot make and run their own.  But they can replace the rest of the system. Thus, they get almost as much control over their computing as they would with their own machines, but not entirely.
EC2 does have some drawbacks.  One is, since users cannot install their own versions of the kernel Linux, it is possible that Amazon has put something nasty, or merely inconvenient, into the versions they offer.  But this may not really matter, given the other flaws.  One other flaw is that Amazon does have ultimate control of the computer and its data.  The state could subpoena all that data from Amazon.  If you had it in your home or office, the state would have to subpoena it from you, and you would have the chance to fight the subpoena in court.  Amazon may not care to fight the subpoena on your behalf.
Amazon đặt các điều kiện lên những gì bạn có thể làm với các máy chủ này, và có thể cắt dịch vụ của bạn nếu nó phân tích các hành động của bạn xung đột với chúng. Amazon không cần chứng minh bất kỳ thứ gì, nên trong thực tế nó có thể cắt bạn nếu nó thấy bạn không thuận tiện. Như WikiLeaks đã phát hiện, khách hàng không có sự trông cậy nào nếu Amazon đưa các sự thực cho xét xử được yêu cầu.
Bây giờ hãy cân nhắc Google ChromeOS, một biến thể của GNU/Linux vẫn còn đang được phát triển. Theo những gì Google ban đầu đã nói, thì nó sẽ là phần mềm tự do, ít nhất là hệ thống cơ bản, dù kinh nghiệm vói Android gợi ý nó có thể đi với cả các chương trình không tự do.
Tính năng đặc biệt của hệ thống này, mục tiêu của nó, từng để từ chối những người sủ dụng 2 khả năng cơ bản mà GNU/Linux và các hệ điều hành khác thường đưa ra: để lưu trữ các dữ liệu một cách cục bộ và để chạy các ứng dụng một cách cục bộ. Thay vào đó, ChromeOS có thể được thiết kế để yêu cầu những người sử dụng lưu các dữ liệu của họ trong các máy chủ (thường là các máy chủ của Google, tôi đoán thế) và cũng để các máy chủ đó làm chuyện tính toán của họ. Điều này ngay lập tức làm nảy sinh cả các dạng vấn đề ở dạng đầy đủ nhất của chúng. Cách duy nhất mà ChromeOS vì thế được dự tính có thể trở thành thứ gì đó mà những người sử dụng buộc phải chấp nhận là nếu họ cài đặt một phiên bản có sửa đổi của hệ thống, phục hồi các khả năng lưu trữ các dữ liệu cục bộ và các ứng dụng cục bộ.
Gần đây nhất tôi đã nghe rằng Google đã xem xét lại quyết định này và có thể sát nhập trở lại những cơ sở cục bộ đó. Nếu thế, ChromeOS có thể chỉ là thứ gì đó mà mọi người có thể sử dụng trong tự do - nếu nó tránh được nhiều vấn đề khác mà chúng tôi quan sát thấy ngày hôm nay trong Android. (Xem bài viết về Android mà tôi sẽ xuất bản sau đó).
Amazon places conditions on what you can do with these servers, and can cut off your service if it construes your actions to conflict with them.  Amazon has no need to prove anything, so in practice it can cut you off if it finds you inconvenient.  As Wikileaks found out, the customer has no recourse if Amazon stretches the facts to make a questionable judgment.
Now let’s consider Google ChromeOS, a variant of GNU/Linux which is still in development.  According to what Google initially said, it will be free/libre software, at least the basic system, though experience with Android suggests it may come with non-free programs too.
The special feature of this system, its purpose, was to deny users two fundamental capabilities that GNU/Linux and other operating systems normally provide: to store data locally and to run applications locally.  Instead, ChromeOS would be designed to require users to save their data in servers (normally Google servers, I expect) and to let these servers do their computing too.  This immediately raises both kinds of issues in their fullest form.  The only way ChromeOS as thus envisaged could become something users ought to accept is if they install a modified version of the system, restoring the capabilities of local data storage and local applications.
More recently I’ve heard that Google has reconsidered this decision and may reincorporate those local facilities.  If so, ChromeOS might just be something people can use in freedom — if it avoids the many other problems that we observe today in Android.  (See the article about Android I will have published by then.)
Như những ví dụ này chỉ ra, mỗi kịch bản sử dụng Internet làm nảy sinh tập hợp các vấn đề của riêng nó, và chúng cần phải được xét đoán dựa vào sự cụ thể rành mạch rõ ràng. Những tuyên bố mù mờ, như bất kỳ tuyên bố nào được hình thành về “ĐTĐM”, có thể chỉ theo con đường đó.
Được xuất bản gốc trong Rà soát Nghiệp vụ châu Âu, tháng 09/2011. Bản quyền 2011 của Richard Stallman. Được tung ra theo giấy phép Creative Commons Attribution Noderivs 3.0 license.
Về tác giả:
Richard Stallman đã khởi xướng phong trào phần mềm tự do vào năm 1983 và đã bắt đầu phát triển hệ điều hành GNU (xem www.gnu.org) vào năm 1984. GNU là phần mềm tự do: bất kỳ ai cũng có quyền tự do sao chép nó và phân phối nó, cũng như tiến hành những thay đổi dù nhỏ hay lớn. Hệ điều hành GNU/Linux, về cơ bản là hệ điều hành GNU với nhân Linux được bổ sung vào, được sử dụng trong hàng chục triệu máy tính ngày nay. Stallman đã nhận được phần thưởng ACM Grace Hopper Award, MacArthur Foundation fellowship, the Electronic Frontier Foundation’s Pioneer Award, và Takeda Award for Social/Economic Betterment, cũng như vài học vị tiến sĩ danh dự.
As these examples show, each Internet usage scenario raises its own set of issues, and they need to be judged based on the specifics. Vague statements, such as any statement formulated in terms of “cloud computing,” can only get in the way.
Originally published in The European Business Review, September 2011. Copyright 2011 Richard Stallman. Released under the Creative Commons Attribution Noderivs 3.0 license
About the author
Richard Stallman launched the free software movement in 1983 and started the development of the GNU operating system (see www.gnu.org) in 1984.  GNU is free software: everyone has the freedom to copy it and redistribute it, as well as to make changes either large or small.  The GNU/Linux system, basically the GNU operating system with Linux added, is used on tens of millions of computers today.  Stallman has received the ACM Grace Hopper Award, a MacArthur Foundation fellowship, the Electronic Frontier Foundation’s Pioneer Award, and the Takeda Award for Social/Economic Betterment, as well as several honorary doctorates.
Dịch tài liệu: Lê Trung Nghĩa

Nga kêu Mỹ và Israel vì sâu Stuxnet


Russia blames US and Israel for Stuxnet worm
Official describes malware as "only proven case of actual cyber-warfare"
By John E Dunn | Techworld | Published: 14:05, 26 September 2011
Bài được đưa lên Internet ngày: 26/09/2011
Lời người dịch: Lần đầu tiên, Cục trưởng Cục An ninh Bộ Ngoại giao Nga đã tố cáo Israel và Mỹ đứng đằng sau sâu Stuxnet, sâu đã gây hại cho các máy li tâm làm giàu uranium tại các nhà máy của Iran. Ông nói: “Các chuyên gia tin tưởng rằng những dấu vết của điều này dẫn ngược lại về các hành động của Israel và Mỹ... Chúng ta đang thấy những dự định không gian mạng đang được một số quốc gia sử dụng để hành động chống lại các quốc gia khác [và] nó đang được sử dụng vì những mục đích chính trị - quân sự... “Trường hợp duy nhất trong đó các chuyên gia tin tưởng các hành động của các nhà nước đã được chứng minh trong lĩnh vực này [...] là hệ thống Stuxnet đã được tung ra vào năm 2010 chống lại hệ thống kiểm soát các máy li tâm được sử dụng để làm giàu uranium tại Iran”.
Nga lần đầu tiên kêu vì sâu Stuxnet trước cửa của Mỹ và Israel, mô tả nó như “trường hợp được chứng minh duy nhất về chiến tranh không gian mạng thực sự”.
Trong các bình luận được dịch do cơ quan thông tấn AFP nêu, Cục trưởng An ninh Bộ Ngoại giao Nga Ilya Rogachyov đã nói toẹt về gốc gác của mẩu phần mềm độc hại đã làm ra vẻ bí ẩn đối với các chuyên gia kể từ lần xuất hiện đầu tiên vào tháng 06/2010.
“Các chuyên gia tin tưởng rằng những dấu vết của điều này dẫn ngược lại về các hành động của Israel và Mỹ”, ông nói. “Chúng ta đang thấy những dự định không gian mạng đang được một số quốc gia sử dụng để hành động chống lại các quốc gia khác [và] nó đang được sử dụng vì những mục đích chính trị - quân sự”, ông bổ sung.
Sau khi gắn nhãn cho Stuxnet như một hành động chiến tranh không gian mạng, Rogachyov đã tiếp tục. “Trường hợp duy nhất trong đó các chuyên gia tin tưởng các hành động của các nhà nước đã được chứng minh trong lĩnh vực này [...] là hệ thống Stuxnet đã được tung ra vào năm 2010 chống lại hệ thống kiểm soát các máy li tâm được sử dụng để làm giàu uranium tại Iran”.
Thời điểm của các bình luận sẽ được thấy là đáng kể trong một tuần khi Iran nói nước này đã yêu cầu Nga giúp xây dựng một cơ sở hạt nhân thứ 2 để bổ sung cho nhà máy tại Bushehr đã gây ra quá nhiều căng thẳng với phương Tây. Mỹ nghi ngờ Iran muốn công nghệ làm giàu để trở thành một nhà nước hạt nhân.
Russia has for the first time laid the blame for the Stuxnet worm at the door of the US and Israel, describing it as "the only proven case of actual cyber-warfare."
In translated comments reported by the AFP agency, foreign ministry security department chief Ilya Rogachyov was blunt about the origins of a piece of malware that has mystified experts since first appearing in June 2010.
"Experts believe that traces of this lead back to the actions of Israel and the United States," he said. "We are seeing attempts of cyberspace being used by some states to act against others [and] of it being used for political-military purposes," he added.
After branding Stuxnet as an act of cyberwarfare, Rogachyov continued. "The only case in which experts believe the actions of states have been proven in this area [...] is the Stuxnet system that was launched in 2010 against the centrifuge control system used to enrich uranium in Iran."
The timing of the comments will be seen as significant in a week when Iran said it had asked Russia to help it build a second nuclear facility to complement the Bushehr plant that has caused so much tension with the West. The US suspects Iran of wanting enrichment technology in order to become a nuclear state.
Đầu năm nay đại sứ của Nga tại NATO Dmitry Rogozi, đã kêu rằng phần mềm độc hại Stuxnet đã có một tác động lên nhà máy hạt nhân Bushehr của Iran nghiêm trọng đủ để gây ra cho các thiết bị vận hành không đúng, gây rủi ro tạo ra một Chernobyl thứ 2.
Tác động của Stuxnet đã lôi kéo sự chú ý tới chỗ bị tổn thương của các hệ thống kiểm soát công nghiệp mà sâu này nhằm vào. Các tác động của cuộc tấn công đùng đùng với các báo cáo thường xuyên sự nổi lên các chỗ bị tổn thương trong lớp thiết bị này.
Chính xác ai đã tạo ra Stuxnet vẫn còn chưa được chứng minh nhưng nhận thức của các chuyên gia là việc Israel đã đứng đằng sau phần mềm độc hại này, có thể đã có cả sự trợ giúp của Mỹ. Trong an ninh không gian mạng, nơi yêu sách thường khó phân lô, thì sự thừa nhận có thể là mạnh mẽ.
Iran cũng đã kêu Israel đứng đằng sau Stuxnet nhưng không đưa ra được nhiều bằng chứng. Vào cuối năm 2010, các nhà chức trách của nước này đã công bố bắt “các gián điệp” bị tố cáo có liên quan trong Stuxnet nhưng các mối liên hệ của họ với các sức mạnh nước ngoài, nếu có, đã không bao giờ được chi tiết hóa.
Earlier this year Russia’s NATO ambassador Dmitry Rogozi, claimed that the Stuxnet malware had had an effect on Iran’s Bushehr nuclear plant serious enough to cause equipment to malfunction, risking a second Chernobyl.  
The effect of Stuxnet was to draw attention to the vulnerability of the industrial control systems targeted by the worm. The effects of the attack rumble on with frequent reports emerging of new vulnerabilities in this class of device.
Exactly who created Stuxnet remains unproven but the expert perception is that Israel was behind the malware, possibly aided by the US. In cybersecurity, where blame is often hard to apportion, perception can be powerful.
Iran has also blamed Israel for being behind Stuxnet but without offering much evidence. In late 2010, the country's authorities announced the arrest  of "spies" accused of being involved in Stuxnet but their links with foreign powers, if any, were never detailed.
Dịch tài liệu: Lê Trung Nghĩa

Liệu Linux có vẫn là hệ điều hành an toàn nhất hay không?


Is Linux Still The Safest Operating System?
September 12, 2011 · 9 comments
Bài được đưa lên Internet ngày: 12/09/2011
Lời người dịch: Tác giả bài viết giải thích vì sao Linux là hệ điều hành an ninh: “Linux là một hệ điều hành giống như Windows hoặc Mac OS X. Sự khác biệt là nó là một hệ điều hành hoàn toàn nguồn mở, cho phép bất kỳ ai làm việc trên mã nguồn. Điều này có nghĩa là nếu có bất kỳ vấn đề gì với hệ điều hành thì mọi người có thể xem xét mã nguồn và chỉ ra một sự sửa chữa cho nó. Một khi sự sửa được làm, thì nó có thể được chia sẻ với những cài đặt Linux khác được. Và điều này là những gì làm cho hệ thống đó thật an ninh. Bạn có khả năng có được những sửa lỗi đó mọi lúc và chúng tới thường xuyên hơn so với các hệ điều hành khác làm. Hơn nữa những gì làm cho Linux an ninh hơn là việc nó dựa trên các hệ điều hành UNIX khi nó từng được xây dựng, đã được xây dựng với an ninh. Vài người cùng một lúc đã sử dụng các máy tính UNIX nên đã luôn có sự quan tâm rằng nó đã cần phải được xây dựng với sự bảo vệ”.
Khi bạn lần đầu thấy các máy tính cá nhân xuất hiện vào những năm cuối thập niên 70 và đầu những năm 80, từng không có nhiều ý nghĩ về an ninh và các thiết bị. Những người đã tạo ra chúng đã không hình dung được rằng chúng sớm có thể được sử dụng để nói cho mọi người tất cả trên thế giới. Khi bạn cuối cùng có được một vài dấu hiệu rằng máy tính cá nhân có thể được sử dụng cho việc kết nối mạng, thì hầu hết thời gian nó từng là giữa những người đã biết nhau hoặc những người chuyên nghiệp đã sử dụng nó cho công việc. Nhưng khi mọi người đã bắt đầu mua các máy tính về nhà và các mạng nhiều hơn đã bắt đầu lan rộng, thì an ninh máy tính đã trở thành một vấn đề.
Các tin tặc cả ở phía tốt và xấu của pháp luật đã bắt đầu thấy rằng họ có thể sử dụng máy tính của họ và truy cập vào máy tính của những người khác qua mạng mà không cần thông báo cho bất kỳ ai. Điều này đặc biệt đã trở thành một vấn đề khi những trẻ mới lớn không gì tốt hơn à bắt đầu thấy rằng họ cũng có thể làm thế. Những gì bắt đầu là những trò chơi khăm rồi đã trở thành một vấn đề thực sự vif chúng đã bắt đầu truy cập tới những thông tin nhạy cảm trên các máy tính đó. Các công ty đã làm ra những máy tính và các hệ điều hành đó đã biết rằng đã phải có một sự thay đổi.
Nhưng sự thay đổi đã không tới đủ nhanh. Trong khi an ninh thay đổi trong các hệ điều hành phổ biến khi đó đã dần dần tốt lên, thì các tin tặc đã tiến đi những bước và những phạm vi giới hạn lớn. Họ đã thấy rằng họ đã có khả năng truy cập các hệ thống thông qua vô số các số lượng lỗ hổng trong máy tính. Và thông qua tất cả thời gian này cả máy tính cá nhân và Internet đều đã bắt đầu trở thành phổ biến hơn và hơn. Đã có những mục tiêu ở khắp mọi nơi cho một tin tặc gây ra thiệt hại.
When you first started to see personal computers come on the scene back in the late 70’s and early 80’s there was not that much thought about the security of the devices. The people who created them did not envision that soon they would be used to talk to people all around the world. When you finally did get some of the signs that the personal computer would be used for networking, most of the time it was between people who already knew each other or professionals who were using it for work. But as more people started to purchase home computers and the more the networks started spreading, computer security became an issue.
Hackers both on the good side of the law and the bad started to figure out that they could use their computer and access another person’s computer over the network without anyone noticing. This especially became a problem when teenagers with nothing else better to do started figuring out that they could do this as well. What started out as little pranks started to become a real problem because they were started to access sensitive information on these computers. The companies that made personal computers and operating systems knew that there had to be a change.
But the change did not come quick enough. While the security changes in the popular operating systems at the time were incremental at best, the hackers got better in wide leaps and bounds. They found that they were able to access systems through a numerous amount of holes in the machine. And through all of this time both the personal computer and the internet started to become more and more popular. There were targets everywhere for a hacker to do damage.
Khi đó, Microsoft Windows từng là hệ điều hành lớn nhất thế giới. Nó từng cả là phổ biến ở công sở và ở nhà. Vì là như vậy, nên hầu hết các cuộc tấn công trên các mạng đã nhằm vào các hệ điều hành của Microsoft. Và Microsoft đã không quản lý điều này được thật tốt. Họ đã chờ đợi và chờ đợi cho tới khi uy tín của họ từng khá bị phỉ báng nhiều trước khi họ trở nên nghiêm túc khi đảm bảo an ninh cho máy tính của bạn. Và vì thế thậm chí khi này, trong khi Windows 7 là một trong những hệ điều hành an toàn nhất trên thị trường, thì nó vẫn có tiếng là có nhiều lỗ hổng nhất. Nhưng liệu điều đó có thực thế không? Thế còn những hệ điều hành khác thì sao như Mac OS X và Linux? Trong khi OS X đã thực hiện được một số cải tiến gần đây thì chính Linux lại luôn được biết tới như là một trong những hệ điều hành an toàn nhất để sử dụng. Liệu nó có còn như vậy không?
Linux là gì?
Trong khi hầu hết mọi người đang đọc bài báo này nên biết Linux là gì, thì có một số người còn chưa biết. Linux là một hệ điều hành giống như Windows hoặc Mac OS X. Sự khác biệt là nó là một hệ điều hành hoàn toàn nguồn mở, cho phép bất kỳ ai làm việc trên mã nguồn. Điều này có nghĩa là nếu có bất kỳ vấn đề gì với hệ điều hành thì mọi người có thể xem xét mã nguồn và chỉ ra một sự sửa chữa cho nó. Một khi sự sửa được làm, thì nó có thể được chia sẻ với những cài đặt Linux khác được.
Và điều này là những gì làm cho hệ thống đó thật an ninh. Bạn có khả năng có được những sửa lỗi đó mọi lúc và chúng tới thường xuyên hơn so với các hệ điều hành khác làm. Hơn nữa những gì làm cho Linux an ninh hơn là việc nó dựa trên các hệ điều hành UNIX khi nó từng được xây dựng, đã được xây dựng với an ninh. Vài người cùng một lúc đã sử dụng các máy tính UNIX nên đã luôn có sự quan tâm rằng nó đã cần phải được xây dựng với sự bảo vệ.
At the time, Microsoft Windows was the biggest operating system in the world. It was both popular in the work place and at home. Since this was the case, most of the attacks on networks were aimed at Microsoft systems. And Microsoft did not handle this very well. They waited and waited until their reputation was pretty much slandered before they got serious when it came to securing your computer. And so even in this time, while Windows 7 is one of the safest operating systems on the market, it still has the reputation of having the most holes. But does it really? What about the other operating systems out there such as Mac OS X and Linux? While OS X has made some improvements lately it is Linux that has always been known as one of the safest operating systems to use. Is it still that way?
What is Linux?
While most people who are reading this article should already know what Linux is, there are some people who do not. Linux is an operating system just like Windows or Mac OS X. The difference being is that it is a completely open sourced operating system that allows anyone to work on the code. This means that if there are any problems with the operating system people can examine the code and figure out a fix for it. Once the fix is made, then it can be shared with the other installations of Linux.
And this is what makes the system so secure. You are able to get fixes all of the time and they come in more regularly than the other operating systems do. Also what makes Linux more secure is that it is based on the UNIX operating systems which when it was built, was built for security. Several people at the same time used UNIX computers so there was always a concern that it needed to be built with protection.
Nhưng gần đây đã có nhiều hơn và nhiều hơn các lỗ hổng được tìm thấy trong Linux mà đã để cho những kẻ xấy gây ra thiệt hại nghiêm trọng hơn. Vấn đề với Linux là việc đây là máy chủ phổ biến nhất trên thế giới. Vì thế trong khi những kẻ xấu không có khả năng tìm thấy nhiều người sử dụng Linux ở nhà, thì chúng sẽ thấy Linux trong một đống máy chủ ngoài đó. Điều đó làm cho Linux trở thành một mục tiêu thực sự thèm muốn khi nói về sự khai thác.
Trong khi Linux đã có nhiều vấn đề hơn sơ với nó thường thấy, có lẽ chỉ an toàn như những hệ điều hành khác trên thị trường. Ở những đâu mà nó từng có một sự dẫn đầu rộng lớn khi nói về an ninh, thì khoảng cách đã làm hẹp lại nhiều và có ít sự khác biệt giữa nó và các hệ điều hành khác. Bạn có thể làm cho một máy chủ Linux rất khó để thâm nhập vào. Bạn chỉ phải có thiện chí học về nó và chắc chắn rằng bạn biết những gì bạn đang làm.
But recently there have been more and more holes found in Linux that have let the bad guys cause more serious damage. The problem with Linux is that it is the most popular server in the world. So while the bad guys are not able to find that many people using Linux at home, they will find Linux on a bunch of servers that are out there. That makes Linux a real tempting target when it comes to exploitation.
While Linux has had more problems than it used to, it is probably just as safe as the other operating systems that are on the market. Where once it had a wide lead when it came to security, that gap has narrowed a lot and there is very little difference between it and the other operating systems. But when it comes to using it as a server, it is still one of the safest operating systems out there. You can make a Linux server very hard to crack into. You just have to be willing to learn about it and make sure that you know what you are doing.
Dịch tài liệu: Lê Trung Nghĩa