Thứ Năm, 11 tháng 5, 2023

Khoảng trống nguồn lực đầu tư về khoa học mở cho giáo dục đại học trong bối cảnh tự chủ

(Lack of investment resources in open science for higher education in the context of autonomy)

--------------------

Tóm tắt: Tự chủ cơ sở trong giáo dục đại học có ở hai dạng: (1) tự chủ thực chất liên quan tới học thuật và nghiên cứu; và (2) tự chủ thủ tục liên quan tới các lĩnh vực phi học thuật, đặc biệt là các vấn đề tài chính. Tự chủ cơ sở sẽ không thành công nếu chỉ tập trung vào tự chủ thủ tục và/hoặc không phù hợp với xu thế không thể đảo ngược của thế giới ngày nay về khoa học mở trong tự chủ thực chất.

Từ khóa: (quyền) tự chủ thực chất; (quyền) tự chủ thủ tục; khoa học mở; bộ công cụ khoa học mở của UNESCO.

Abstract: Institutional autonomy in Higher Education is distinguished into two: (1) substantive autonomy related to academics and research; and (2) procedural autonomy related to non-academic areas, especially financial matters. Institutional autonomy will not succeed if it focuses solely on procedural autonomy and/or does not match today's irreversible world trend of open science in substantive autonomy.

Key words: substantive autonomy; procedural autonomy; open science; UNESCO’s Open Science Toolkit.

---------------------

1. Bối cảnh quốc tế

Trong giáo dục đại học, tự chủ cơ sở đã được đề cập tới từ ít nhất là 25 năm trước trong tài liệu của UNESCO có tên là ‘Khuyến nghị liên quan đến tình trạng của đội ngũ giảng viên giáo dục đại học’. Nó nêu rằng “Quyền tự chủ là một dạng quyền tự do học thuật của cơ sở và là điều kiện tiên quyết cần thiết để đảm bảo thực hiện đúng chức năng được giao cho đội ngũ giảng viên và các cơ sở giáo dục đại học”[1].

Cũng về khía cạnh tự chủ cơ sở trong giáo dục đại học, tài liệu ‘Xem xét tự chủ và trách nhiệm giải trình trong các cơ sở đại học công và tư’ do Ngân hàng Thế giới xuất bản tháng 11/2009 đã chỉ ra hai dạng cơ bản của tự chủ trong các cơ sở giáo dục đại học, cả công lẫn tư, đó là: (1) tự chủ thực chất có liên quan tới học thuật và nghiên cứu; và (2) tự chủ thủ tục có liên quan tới các lĩnh vực phi học thuật, như trong Bảng 1.

Bảng 1. Các dạng khác nhau của (quyền) tự chủ cơ sở

Thực chất (học thuật và nghiên cứu)

Thiết kế chương trình giảng dạy

Chính sách nghiên cứu

Các tiêu chuẩn đầu vào

Bổ nhiệm nhân viên học thuật

Cấp bằng

Thủ tục (các lĩnh vực phi học thuật)

Lập ngân sách

Quản lý tài chính

Bổ nhiệm nhân viên phi học thuật

Mua sắm

Ký kết hợp đồng


Một trong các nguyên tắc chung trong phần kết luận của tài liệu đó nêu rằng: “Cần phải suy nghĩ hơn nữa về sự cân bằng giữa quyền tự chủ thực chất và quyền tự chủ thủ tục. Các quốc gia khác nhau đã nhấn mạnh quyền tự chủ thủ tục hoặc thực chất. Tuy nhiên, việc thúc đẩy quyền tự chủ trong lĩnh vực này hoặc kia có thể mang lại lợi ích ngắn hạn nhưng trừ khi chúng được thực hiện cùng nhau, những cải cách này không thể mang lại sự thay đổi có ý nghĩa trong hành vi”[2].

Từ một góc nhìn khác, để giáo dục Việt Nam không bị tụt hậu với thế giới, nguồn lực đầu tư về khoa học mở cho giáo dục đại học trong bối cảnh tự chủ ở Việt Nam cần phải được quan tâm đúng mức, khi mà Khuyến nghị Khoa học Mở của UNESCO[3] đã được 193 quốc gia thành viên của nó thông qua ngày 23/11/2021, biến khoa học mở thành xu thế không thể đảo ngược của thế giới ngày nay. Về khía cạnh này, hiện nay UNESCO, thông qua các nhóm làm việc về khoa học mở của mình và bằng việc lần lượt xuất bản hàng loạt các tài liệu của Bộ công cụ Khoa học Mở[4], tích cực hỗ trợ cho các quốc gia thành viên và các tổ chức có liên quan, bao gồm các cơ sở giáo dục đại học và các viện nghiên cứu, khắp trên thế giới để triển khai các nội dung của Khuyến nghị vào thực tế cuộc sống.


2. Bối cảnh trong nước

Kể từ khi Nghị quyết số 14/2005/NQ-CP về đổi mới cơ bản và toàn diện giáo dục đại học Việt Nam giai đoạn 2006-2020, trong đó có việc “Hoàn thiện chính sách phát triển giáo dục đại học theo hướng bảo đảm quyền tự chủ và trách nhiệm xã hội của cơ sở giáo dục đại học, sự quản lý của Nhà nước và vai trò giám sát, đánh giá của xã hội đối với giáo dục đại học”, đã có những triển khai thí điểm trong thực tế và chứng minh rằng cơ chế tự chủ đại học là đúng và cần thiết dù còn rất nhiều khó khăn, vướng mắc, dù được bàn luận nhiều suốt trong thời gian qua vẫn chưa có hồi kết, và có thể được liệt kê vắn tắt qua một vài đoạn trích dẫn như sau:

  • "Các vấn đề liên quan tới tự chủ đại học có rất nhiều...: Chiến lược phát triển và hội nhập quốc tế; Đổi mới quản trị đại học và quản lý nhà nước; Nguồn lực cho phát triển giáo dục đại học”[5].

  • “Việc tự chủ đại học đã có chủ trương chính thức, có nghị quyết của Trung ương và có luật quy định, 23 trường đã được Chính phủ cho phép thực hiện thí điểm. Nhìn chung việc thực hiện thí điểm đã cho thấy, mặc dù còn rất nhiều trở ngại, nhưng kết quả có khá lên đáng kể so với trước, góp phần khẳng định một lần nữa bằng thực tế rằng tự chủ là một cơ chế đúng và cần thiết”[6].

  • “Tự chủ đại học đã được đặt ra mười mấy năm nay, nhưng vẫn cứ phải bàn, rất sốt ruột, tiến triển rất chậm, rất nhiều vướng mắc... hiện vẫn còn nhầm lẫn giữa việc Nhà nước trao quyền cho các cơ sở giáo dục đại học tự chủ với việc phân quyền quản lý nhà nước đối với các cơ sở giáo dục đại học, nhầm lẫn giữa tự chủ với tự túc tài chính”[7].

  • “Tự chủ giáo dục đại học (GDĐH) đã được thực hiện từ năm 2015, sau khi có Nghị quyết 77/NQ-CP của Chính phủ; đặc biệt từ khi có Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Giáo dục đại học (Luật 34) và Nghị định 99/2019/NĐ-CP hướng dẫn thi hành Luật 34. Trong quá trình triển khai thực hiện, có những vướng mắc liên quan tới các cơ quan quản lý; đồng bộ trong hệ thống văn bản pháp luật liên quan chưa được sửa đổi, bổ sung; quản trị tài chính,…”

Có thể thấy từ những trích dẫn ở trên, cùng với những bàn luận liên quan trong thời gian vừa qua về tự chủ đại học, những vấn đề nổi cộm rất cần được giải quyết như sự cần thiết xóa bỏ cơ chế “xin - cho” bằng việc xóa bỏ cơ quan chủ quản đối với các cơ sở giáo dục đại học như một hình thức “giấy phép con” để thực sự chuyển từ các hệ thống nhà nước kiểm soát sang nhà nước giám sát; xử lý mối quan hệ và sự cân bằng tối ưu giữa quyền tự chủ với trách nhiệm giải trình của các cơ sở giáo dục đại học; xác định rõ vai trò/trách nhiệm và mối quan hệ giữa bí thư đảng ủy với chủ tịch hội đồng trường và hiệu trưởng; làm rõ tự chủ hay tự túc tài chính; xử lý các mâu thuẫn trong các văn bản quy phạm pháp luật có liên quan đến tự chủ đại học; và nhiều thách thức và rào cản khác cần phải được giải quyết nhằm mục đích cuối cùng là để nâng cao chất lượng giáo dục đại học, và vì thế nâng cao năng lực và sức mạnh quốc gia.

Có vẻ như hiện nay ở Việt Nam, quyền tự chủ thủ tục đang được tập trung bàn luận nhiều hơn so với quyền tự chủ thực chất.


3. Bộ công cụ Khoa học Mở của UNESCO và khoảng trống nguồn lực đầu tư về khoa học mở trong các cơ sở giáo dục đại học ở Việt Nam?

Để giúp các quốc gia và các bên liên quan triển khai các nội dung của Khuyến nghị Khoa học Mở, cuối năm 2022, UNESCO đã xuất bản 8 tài liệu đầu tiên của Bộ công cụ Khoa học Mở, và hiện đang gấp rút chuẩn bị để xuất bản hàng loạt các tài liệu khác của Bộ công cụ này trong năm 2023.


Hình 1
. Khuyến nghị Khoa học Mở của UNESCO, tất cả các khía cạnh

Tất cả 8 tài liệu của bộ công cụ khoa học mở đã được UNESCO xuất bản cuối năm 2022 đều có một trang dành riêng để tóm tắt những điểm nội dung chính yếu nhất được nêu trong Khuyến nghị Khoa học Mở, như sau:

“Khuyến nghị Khoa học Mở, công cụ thiết lập tiêu chuẩn quốc tế đầu tiên về khoa học mở, đã được 193 quốc gia thông qua vào tháng 11/2021 tại phiên 41 Hội nghị Toàn thể UNESCO. Khuyến nghị này cung cấp một định nghĩa được quốc tế đồng thuận và một tập hợp các giá trị và các nguyên tắc định hướng chung cho khoa học mở. Nó cũng xác định một tập hợp các hành động giúp tiến hành hoạt động công bằng và hợp lý của khoa học mở cho tất cả các bên ở các mức cá nhân, cơ sở, quốc gia, khu vực và quốc tế.”

Một trong số 8 tài liệu đã được xuất bản nêu trên được dành riêng cho các cơ sở giáo dục đại học với hàng loạt các câu hỏi và gợi ý các câu trả lời cho từng câu hỏi trong số đó để giúp các cơ sở giáo dục đại học kiểm tra xem liệu họ có đang trong quá trình triển khai khoa học mở hay không. Bên dưới đây nêu tóm tắt nội dung tài liệu và các câu hỏi đó, với hy vọng các cơ sở giáo dục đại học ở Việt Nam có thể tự đánh giá thông qua việc tự trả lời các câu hỏi đó để xem liệu họ có đang đi đúng theo xu hướng khoa học mở không thể đảo ngược của thế giới ngày nay hay không khi đề cập tới “Chiến lược phát triển và hội nhập quốc tế” trong bối cảnh của tự chủ giáo dục đại học như được nhắc tới ở phần trên.

Tên tài liệu: Danh sách kiểm tra cho các trường đại học trong triển khai Khuyến nghị Khoa học Mở của UNESCO[8]

Mục đích của tài liệu: “để cung cấp hỗ trợ thực hành cho cộng đồng các trường đại học để hiểu tốt hơn Khuyến nghị Khoa học Mở, đặc biệt bằng việc nêu bật các lĩnh vực áp dụng cho các nhà lãnh đạo đại học nào mong muốn hỗ trợ triển khai nó.”

Các câu hỏi (CH) chính và các vấn đề có liên quan tới từng câu hỏi đó:

CH1: Như một trường đại học thực hành khoa học mở, bạn làm thế nào để…

  1. Nuôi dưỡng các phương pháp mở, ví dụ: Liệu các thực hành khoa học ở trường đại học của bạn có là mở mặc định? Liệu các nhà đổi mới sáng tạo trong trường đại học của bạn có được khuyến khích và được ưu đãi để làm cho các thực hành và các sản phẩm của họ là mở? Liệu những người mới đến cơ sở của bạn có được giới thiệu về khoa học mở từ rất sớm?

  2. Đưa các thực hành mở vào dòng chính: ví dụ, xây dựng tính mở trong các chính sách cốt lõi cho khoa học, quản lý dữ liệu, tài nguyên giáo dục; lồng ghép các thực hành khoa học mở vào các mối quan hệ đối tác của trường đại học với các đối tác trong và ngoài nước.

  3. Sử dụng và tạo lập các hạ tầng khoa học: ví dụ: Liệu các công cụ được các nhà khoa học và sinh viên sử dụng trong cơ sở của bạn có sẵn sàng mở trên các nền tảng mở hay không? Các hạ tầng có thể vừa vật lý và ảo.

  4. Suy nghĩ vượt ra khỏi các bài báo khoa học: Liệu tất cả các giai đoạn của quy trình khoa học, từ khái niệm hóa và đồng thiết kế các dự án nghiên cứu tới truyền thông sau xuất bản, có là mở hay không? Các xuất bản phẩm là kết quả đầu ra của nghiên cứu khoa học có được cấp phép mở hoặc hiến tặng vào phạm vi công cộng hay không? Chúng có được ký gửi vào một kho mở phù hợp hay không?

  5. Hỗ trợ tham gia và đối thoại hòa nhập toàn diện: Khoa học mở bao gồm tất cả các ngành khoa học và các khía cạnh thực hành học thuật và xây dựng dựa trên 4 trụ cột chính: (1) Truy cập mở tới kiến thức khoa học; (2) Các hạ tầng khoa học mở; (3) Sự tham gia mở của các tác nhân xã hội; và (4) Đối thoại mở với các hệ thống kiến thức khác. Ví dụ: (1) Các hoạt động nghiên cứu khoa học ở cơ sở giáo dục đại học của bạn có sự tham gia của các đối tượng không phải là các nhân viên hàn lâm và các nhà nghiên cứu khoa học hay không? (2) Bạn có tiến hành đối thoại mở với các hệ thống kiến thức khác, ví dụ như hệ thống kiến thức của các dân tộc thiểu số, hay không?

CH2: Liệu các giá trị ở cơ sở của bạn có phù hợp với các giá trị cốt lõi của Khuyến nghị Khoa học Mở của UNESCO?

Bốn giá trị cốt lõi: (1) Chất lượng và liêm chính; (2) Lợi ích tập thể; (3) Công bằng và không thiên vị; (4) Đa dạng và hòa nhập toàn diện.

Sáu nguyên tắc hướng dẫn được điều chỉnh cho phù hợp với bốn giá trị cốt lõi gồm: (1) Minh bạch, giám sát, phê bình & tái tạo lại được; (2) Bình đẳng về cơ hội; (3) Trách nhiệm, tôn trọng và giải trình; (4) Hợp tác, tham gia và hòa nhập; (5) Linh hoạt nhờ tính đa dạng; và (6) Tính bền vững.

CH3: Bạn có kết hợp các lĩnh vực hành động sau đây vào các hoạt động trong trường đại học của bạn? Nếu không, bạn đã lên kế hoạch cho một lộ trình thời gian biểu để kết hợp lĩnh vực hành động này trong tương lai chưa? Ứng với mỗi lĩnh vực được liệt kê bên dưới đây đều có nhiều diễn giải chi tiết trong tài liệu. Tuy nhiên, trong khuôn khổ của một bài báo, dưới đây chỉ nêu một trong số các diễn giải đó cho từng lĩnh vực hành động như là ví dụ.

  1. Thúc đẩy sự hiểu biết chung về khoa học mở, những lợi ích và thách thức có liên quan của nó, cũng như các con đường khác nhau tới khoa học mở. Ví dụ: Đảm bảo rằng nghiên cứu được nhà nước cấp vốn được thực hiện dựa trên các nguyên tắc khoa học mở phù hợp với các điều khoản của Khuyến nghị này, và rằng kiến thức khoa học từ nghiên cứu được nhà nước cấp vốn, bao gồm các xuất bản phẩm khoa học, dữ liệu nghiên cứu mở, phần mềm nguồn mở, mã nguồn mở và phần cứng mở, là được cấp phép mở hoặc được hiến tặng vào phạm vi công cộng.

  2. Phát triển và xúc tác cho môi trường chính sách về khoa học mở. Ví dụ: Phát triển hoặc khuyến khích các môi trường chính sách, bao gồm những thứ đó ở các mức cơ sở, quốc gia, khu vực và quốc tế để hỗ trợ cho việc vận hành khoa học mở và triển khai hiệu quả các thực hành khoa học mở, bao gồm các chính sách ưu đãi cho các thực hành khoa học mở giữa các nhà nghiên cứu. Thông qua quy trình nhiều bên liên quan, tham gia minh bạch bao gồm đối thoại với cộng đồng khoa học, đặc biệt với các nhà nghiên cứu sự nghiệp sớm, và các tác nhân khoa học mở khác.

  3. Đầu tư vào các hạ tầng và dịch vụ khoa học mở. Ví dụ: Thúc đẩy các hạ tầng khoa học mở phi thương mại.

  4. Đầu tư vào nguồn nhân lực, đào tạo, giáo dục, sáng số và xây dựng năng lực cho khoa học mở. Ví dụ: Đồng thuận về một khung năng lực khoa học mở phù hợp với các nguyên tắc đặc thù cho các nhà nghiên cứu ở các giai đoạn sự nghiệp khác nhau, cũng như cho các tác nhân tích cực trong các khu vực công và tư hoặc xã hội dân sự, những người cần các năng lực cụ thể để đưa vào sử dụng các sản phẩm khoa học mở trong sự nghiệp nghề nghiệp của họ; và phát triển các kỹ năng và các chương trình đào tạo được thừa nhận để hỗ trợ đạt được các năng lực đó.

  5. Nuôi dưỡng văn hóa khoa học mở và điều chỉnh các ưu đãi cho khoa học mở. Ví dụ: Tham gia tích cực trong việc loại bỏ các rào cản đối với khoa học mở, đặc biệt là những rào cản có liên quan tới các hệ thống đánh giá và khen thưởng cho sự nghiệp và nghiên cứu.

  6. Thúc đẩy các cách tiếp cận đổi mới sáng tạo cho khoa học mở ở các giai đoạn khác nhau của quy trình khoa học. Ví dụ: Thúc đẩy khoa học mở ngay từ đầu quy trình nghiên cứu và mở rộng các nguyên tắc của tính mở trong tất cả các giai đoạn của quy trình nghiên cứu để cải thiện chất lượng và khả năng tái tạo lại, bao gồm việc khuyến khích cộng tác và các mô hình đổi mới sáng tạo khác do cộng đồng dẫn dắt, .v.v.

  7. Thúc đẩy hợp tác quốc tế và nhiều bên liên quan trong bối cảnh khoa học mở và với quan điểm giảm thiểu các khoảng trống về kỹ thuật số, công nghệ và kiến thức. Ví dụ: Thúc đẩy và tăng cường hợp tác quốc tế giữa tất cả các tác nhân khoa học mở, dù dựa trên cơ sở song phương hay đa phương.

  8. Việc giám sát. Ví dụ: Giám sát các chính sách và cơ chế có liên quan tới khoa học mở bằng việc sử dụng sự kết hợp các cách tiếp cận định tính và định lượng, khi thích hợp.


4. Thay cho lời kết

Tự chủ cơ sở trong giáo dục đại học hiện đang là chủ đề rất nóng và sẽ còn được tranh luận rất nhiều trong thời gian tới.

Từ kinh nghiệm của thế giới để tự chủ cơ sở thành công trong giáo dục đại học, các tranh luận, cũng như các hành động, nên được tập trung không chỉ vào (quyền) tự chủ thủ tục, mà cần có sự tập trung nhiều hơn vào (quyền) tự chủ thực chất để có sự cân bằng giữa hai dạng (quyền) tự chủ đó để có thể giúp mang lại sự thay đổi có ý nghĩa trong hành vi.

Để chuyển đổi tư duy và các hoạt động liên quan tới học thuật và nghiên cứu, và vì thế (quyền) tự chủ thực chất, từ đóng sang mở, chắc chắn là công việc rất khó khăn, đòi hỏi rất nhiều sự đầu tư trong cả ngắn - trung - dài hạn mọi nguồn lực, bao gồm cả nhân lực, tiền bạc, thời gian và khác.

Thách thức đối với các quyền tự chủ cơ sở giáo dục đại học ở Việt Nam trong giai đoạn hiện nay là lớn hơn nhiều và chưa từng có khi mà khoa học mở đã trở thành một xu thế không thể đảo ngược của thế giới ngày nay, trong khi hầu hết những gì được trình bày về khoa học mở trong bài viết này là thuộc về (quyền) tự chủ thực chất, có liên quan tới học thuật (mở) và nghiên cứu (mở) và hầu như chưa từng có trong giáo dục đại học Việt Nam.

Nói cách khác, (quyền) tự chủ cơ sở trong các cơ sở giáo dục đại học có thể sẽ không thành công và giáo dục đại học của Việt Nam sẽ tụt hậu hơn nữa so với thế giới nếu khoảng trống nguồn lực đầu tư về khoa học mở cho giáo dục đại học trong bối cảnh tự chủ không được lấp đi càng nhanh càng tốt.


Các chú giải

[1] UNESCO, 1997: Recommendation the regarding Status of Higher-Education Teaching Personnel: https://unesdoc.unesco.org/ark:/48223/pf0000113234, p.8. Bản dịch sang tiếng Việt: https://www.dropbox.com/s/p5p0d7h9i3wscj9/113234qaab_Vi-02022023.pdf?dl=0, trang 8-9, đoạn 18.

[2] The World Bank, November 2009: Examining Autonomy and Accountability in Public and Private Tertiary Institutions by Reehana Raza for Human Development Network: https://documents1.worldbank.org/curated/en/267671468158063464/pdf/526540WP0Auton145574B01PUBLIC110pdf.pdf, p.32. Bản dịch sang tiếng Việt: https://www.dropbox.com/s/3rqx8fooxcjv9ov/526540WP0Auton145574B01PUBLIC110_Vi-28012023.pdf?dl=0, trang 34, mục 4.

[3] UNESCO, 2021: Recommendation on Open Science: https://unesdoc.unesco.org/ark:/48223/pf0000379949. Bản dịch sang tiếng Việt: https://www.dropbox.com/s/l3q04t99nil5mgo/379949eng_Vi-25112021.pdf?dl=0

[4] Đến hết năm 2022, Bộ công cụ Khoa học Mở của UNESCO gồm 8 tài liệu đã được xuất bản và hàng loạt các tài liệu dự kiến sẽ được xuất bản trong năm 2023, xem: https://www.unesco.org/en/open-science/toolkit. Cả 8 tài liệu hiện có đều đã được dịch sang tiếng Việt, xem: https://giaoducmo.avnuc.vn/khoa-hoc-mo/chao-don-bo-cong-cu-khoa-hoc-mo-cua-unesco-cac-ban-dich-sang-tieng-viet-852.html

[5] Tạp chí Giáo dục Việt Nam, 2022: Khó khăn vướng víu của tự chủ ĐH do những thói quen cũ, cách nghĩ cũ, tư duy cũ. https://giaoduc.net.vn/kho-khan-vuong-viu-cua-tu-chu-dh-do-nhung-thoi-quen-cu-cach-nghi-cu-tu-duy-cu-post228581.gd

[6] TS.Vũ Ngọc Hoàng: Năm 2023 rất cần thiết tổng kết 10 năm thực hiện Nghị quyết 29. https://giaoduc.net.vn/tsvu-ngoc-hoang-nam-2023-rat-can-thiet-tong-ket-10-nam-thuc-hien-nghi-quyet-29-post232307.gd.

[7] Tạp chí Giáo dục Việt Nam, 2022: Tọa đàm khoa học: Giải pháp để phát triển tự chủ đại học. https://giaoduc.net.vn/toa-dam-khoa-hoc-giai-phap-de-phat-trien-tu-chu-dai-hoc-post223783.gd

[8] UNESCO, 2022: Checklist for universities on implementin8g the UNESCO recommendation on open science: https://unesdoc.unesco.org/ark:/48223/pf0000383328. Bản dịch sang tiếng Việt: https://www.dropbox.com/s/yq7k0dhtwmudwf8/383328eng_Vi-22012023.pdf?dl=0




Giấy phép nội dung
: CC BY-SA Quốc tế

Lê Trung Nghĩa

* Bài đăng trong Kỷ yếu hội thảo ‘Nguồn lực đầu tư cho giáo dục đại học trong bối cảnh tự chủ’ do Hiệp hội các trường đại học cao đẳng Việt Nam tổ chức ngày 12/05/2023 tại Cần Thơ, các trang 105-111. DOI: 10.5281/zenodo.7927408

Tải về bài trình chiếu tại địa chỉ: https://www.dropbox.com/s/rb5ujpuqeqqzbpp/Lack_of_OS_Investment_in_HEI_Autonomy_Present.pdf?dl=0


Thứ Tư, 10 tháng 5, 2023

Kỷ niệm 10 năm của chúng tôi (Zenodo)

Celebrating our 10th anniversary!

by Lars Holm Nielsen, on May 8, 2023

Theo: https://blog.zenodo.org/2023/05/08/2023-05-08-10years/

Bài được đưa lên Internet ngày: 08/05/2023

Zenodo đã được CERN and OpenAIRE. khởi xướng 10 năm trước vào ngày 08/05. Mục tiêu ngay từ ngày đầu đã từng là xúc tác cho bất kỳ nhà nghiên cứu nào từ bất cứ đâu trên thế giới tham gia vào thực hành khoa học mở. Hôm nay, 10 năm sau, Zenodo hỗ trợ hơn 300.000 nhà nghiên cứu ở hơn 7.500 tổ chức ở 153 quốc gia làm chính điều đó. Một nghiên cứu gần đây[1] đã thận trọng ước tính tác động về kinh tế xã hội của Zenodo trong xã hội tới 95 triệu EUR mỗi năm nhưng nhiều khả năng hơn tới gần 1 tỷ EUR/năm. Tất cả để hỗ trợ cho sứ mệnh cung cấp một nền tảng cho tất cả các nhà nghiên cứu chia sẻ công khai tác phẩm của họ và tham gia phong trào khoa học mở.

Chúng tôi luôn tin tưởng rằng dữ liệu nghiên cứu nên được kết thúc ở nơi các nhà nghiên cứu có thể chăm sóc tốt nhất cho chúng, dù là một kho lưu trữ theo chủ đề/của viện/của quốc gia, nhưng chúng tôi cũng biết rằng khoảng trống trong các bản chào vẫn để lại lượng dữ liệu nghiên cứu khổng lồ không biết đi đâu, điều chúng tôi có thể chào để giúp một cách hữu ích.

Zenodo bây giờ là một bộ xúc tác cốt lõi của thực hành khoa học mở bằng việc cung cấp nơi lưu trữ nghiên cứu dài hạn tin cậy, đặc biệt cho những người cần nhất và không có phương tiện. CERN là nhà lãnh đạo của lưu trữ Dữ liệu Lớn (Big Data), tạo ra các công nghệ ở phạm vi rộng khắp, duy trì rồi hầu như 1 exabyte dữ liệu vật lý năng lượng cao an toàn. Bằng việc đặt Zenodo vào một góc của Trung tâm Dữ liệu CERN, chúng tôi sử dụng sự tinh thông này để chia sẻ những gì chúng tôi thấy dễ dàng với những người khác đang thấy khó khăn.

Cảm ơn

Chúng tôi cũng muốn gửi lời cảm ơn LỚN tới tất cả các nhà cấp vốn và nhà tài trợ của chúng tôi, các bên đã duy trì sự tăng trưởng của chúng tôi và thấy giá trị những gì chúng tôi cung cấp.

Đặc biệt cảm ơn tới:

  • Liên minh châu Âu

  • Quỹ Alfred P. Sloan

  • Quỹ Arcadia

  • Viện Y học Quốc gia Mỹ

  • CERN và OpenAIRE

Các thành tích

Bên dưới bạn sẽ thấy một ít các thành tích của chúng tôi suốt 10 năm qua:

  • 2013: Zenodo được khởi xướng ngày 08/05/2023 - hồ sơ đầu tiên được tải lên Zenodo từng là Tin tức Chandra của Chris Erdmann.

  • 2014: tích hợp GitHub được khởi xướng - ngày nay Zenodo có hơn +85% các phần mềm có DOI trên thế giới.

  • 2016: Nền tảng kỹ thuật mới cho phép tải lên hơn 50GB cho tất cả mọi người.

  • 2017: tính năng quản lý phiên bản DOI ra đời, tiên phong Khái niệm DOI.

  • 2018: Số liệu thống kê sử dụng khởi chạy bằng cách sử dụng tiêu chuẩn Make Data Count.

  • 2019: Tiên phong trong trích dẫn phần mềm.

  • 2022: Zenodo có tới 300.000 người sử dụng ở hơn 7500+ tổ chức nghiên cứu ở 153 quốc gia.

Điều gì tiếp theo? Xem Nền tảng thế hệ tiếp sau của Zenodo - InvenioRDM. Gợi ý: Bạn có thể xem trước tại https://zenodo-rdm.web.cern.ch

Zenodo was launched 10 years ago on May 8th by CERN and OpenAIRE. The goal since day one has been to enable any researcher from anywhere in the world to participate in practising open science. Today, 10 years later, Zenodo supports more than 300,000 researchers in 7500+ research organisations in 153 countries to do just that. A recent study[1] conservatively estimated the socio-economic impact of Zenodo in society to 95 million EUR per year but more likely close to 1 billion EUR/year. All in support of the mission to provide the platform for all researchers to publicly share their work and join the open science movement.

We always believed that research data should end up where researchers can care best for them, whether that be a subject/institute/national repository, but we also knew that gaps in the offerings still left an enormous quantity of research data with nowhere else to go, that we could usefully offer help to.

Zenodo is now a core enabler of open science practice by providing trusted long-term storage of research, especially to those in most need and without the means. CERN is a leader of Big Data storage, creating technologies at the scale frontier, already keeping almost 1 exabyte of high-energy physics data safe. By housing Zenodo in a corner of the CERN Data Centre, we use this expertise to share what we find easy with others that find it hard.

Thank you

We would also like to send a BIG thank you to all our funders and donors who have sustained our growth and seen the value of our offering.

A special thank you goes to:

  • European Union

  • Alfred P. Sloan Foundation

  • Arcadia Fund

  • US National Institute of Health

  • CERN and OpenAIRE

Achievements

Below you'll find some few of our achievements throughout the past 10 years:

  • 2013: Zenodo launched on May 8th - the first record uploaded on Zenodo was Chandra News by Chris Erdmann.

  • 2014: GitHub integration launched - today Zenodo hosts +85% of the world's software DOIs.

  • 2016: New technical platform enables +50GB uploads for all.

  • 2017: DOI versioning feature launches, pioneering the Concept DOI.

  • 2018: Usage statistics launches using the Make Data Count standard.

  • 2019: Pioneering work in software citations.

  • 2022: Zenodo reaches 300.000 users in 7500+ research organisations in 153 countries.

What's next? See Zenodo’s next generation platform - InvenioRDM. Hint: You can already take the preview for a spin at https://zenodo-rdm.web.cern.ch

Dịch: Lê Trung Nghĩa

letrungnghia.foss@gmail.com

Thứ Ba, 9 tháng 5, 2023

Kho lưu trữ Mở Zenodo hợp lý hóa việc chia sẻ khoa học

Zenodo’s Open Repository Streamlines Sharing Science

Theo: https://sparcopen.org/impact-story/zenodos-open-repository-streamlines-sharing-science/

Một thập kỷ trước, cộng đồng khoa học đã nhận thức được rằng để chuyển đổi từ truy cập mở sang khoa học mở, đã có nhu cầu về truy cập tự do không giới hạn tới kiến thức khoa học. Điều này ngụ ý việc đánh giá, chia sẻ và bảo tồn dữ liệu, phần mềm và các chế tác kỹ thuật số khác từ nghiên cứu, nhưng trên con đường để tham gia đó phải nhanh hơn và đơn giản hơn nếu việc thực hành thu hút được sự chú ý.

Liên minh châu Âu đã quyết định cấp vốn cho Tổ chức Nghiên cứu Hạt nhân châu Âu - CERN (European Organisation for Nuclear Research) thông qua dự án OpenAIRE để xây dựng một kho nắm giữ tất cả nhằm đảm bảo tất cả các nhà nghiên cứu có nơi dễ dàng để tải lên phần mềm, dữ liệu, các bài báo chưa được rà soát lại ngang hàng (Preprint) và các kết quả đầu ra kỹ thuật số khác.

Đó là sự bắt đầu của Zenodo, nó đã được CERN và OpenAIRE khởi xướng vào năm 2013. Kể từ đó, nền tảng toàn cầu tự do không mất tiền này đã mở rộng nhanh hơn so với dự kiến. Nó bây giờ có 25 triệu lượt viếng thăm một năm, chứa hơn 3 triệu bản tải lên và hơn 1 PB dữ liệu. Năm nay đánh dấu 10 năm nền tảng này và ngày nay Zenodo được rộng rãi coi như một nơi tin cậy để bảo tồn các tư liệu nghiên cứu có thể được những người khác sử dụng trong khoa học tiến bộ.

Ở CERN, Lars Holm Nielsen, là kỹ sư phần mềm và giám đốc dự án, và Tim Smith, người điều hành dự án và trưởng nhóm, có trách nhiệm hiện thực hóa kho mới này. Nielsen chỉ vừa mới rời khỏi một vị trí ở Đài quan sát Nam Âu - ESO (European Southern Observatory) nơi ông đã làm việc với Christopher Erdmann, một thủ thư, để giúp làm cho dữ liệu thiên văn học thành mở và khai phá được cho cả công chúng và các nhà khoa học. Họ vẫn liên lạc với nhau sau khi cả hai đã rời ESO.

Dù là một phần của đại dương, cả ba người đều đã là những người sáng tạo ra Zenodo - Nielsen ở CERN đã phát triển kỹ thuật, trong khi Smith và Erdmann đã thiết kế các giải pháp cho các thách thức và đã tập trung vào tiếp cận cộng đồng. Cả cơ sở của OpenAIRE ở châu Âu và cơ sở của Erdmann ở nước Mỹ và mạng nghề nghiệp rộng lớn đều quan trọng trong việc thu hút sự chú ý cho Zenodo.

Sau khi cân nhắc vài cái tên phổ biến hơn (Research Share - Chia sẻ Nghiên cứu, ví dụ thế), hệ thống đó đã được đặt tên là Zenodo, một cái gật đầu với Zenodotus, thủ thư đầu tiên tại Thư viện Cổ Alexandria và là người đầu tiên được ghi nhận là người tạo ra siêu dữ liệu.

Kho này đã được thúc đẩy như một cửa hàng một cửa đã chào đón nghiên cứu từ khắp trên thế giới và từ mọi ngành. Nó làm tăng tốc việc chia sẻ khoa học bằng việc cho phép các nhà nghiên cứu chia sẻ các chế tác bất cứ khi nào mà không phải chờ cho tới khi xuất bản các kết quả.

“Đây là nền tảng được xây dựng để trao quyền cho người sử dụng để mọi việc được hoàn thành, bảo tồn dữ liệu nghiên cứu và hỗ trợ cho khoa học”, Nielsen nói. “Chúng tôi muốn đảm bảo không có lý do gì để không chia sẻ dữ liệu”.

Bằng việc chỉ định cho từng hạng mục một Mã nhận diện Đối tượng Số - DOI (Digital Object Identifier), Zenodo cung cấp một dịch vụ có giá trị giám tuyển phần mềm, dữ liệu, các bài báo, các tư liệu hội nghị - bất kỳ thứ gì cần thiết để hiểu quy trình học thuật. Các nhà khoa học có khả năng có được sự thừa nhận cho các bước quan trọng trọng quy trình họ đã đóng góp thay vì tình trạng ‘bất kỳ ai hoặc không ai cả’ theo cách tiếp cận về danh sách các tác giả của tài liệu. Các bản tải lên được làm cho sẵn sàng trên trực tuyến một cách tức thì và DOI được đăng ký trong vài giây đồng hồ.

“Các nhà nghiên cứu từng có thời kỳ khó khăn để đi qua tất cả các bước đó để làm cho dữ liệu nằm trong một kho”, Erdmann nói, bây giờ sống ở Bắc Carolina và là phó giám đốc khoa học mở cho Quỹ Michael J. Fox. “Chúng tôi muốn cung cấp một cách tiếp cận linh hoạt hơn và loại bỏ vài rào cản để mọi người chỉ việc bắt đầu chia sẻ”.

Trong một thập kỷ qua, Nielsen, Smith, và Erdmann đã tiếp tực cộng tác về Zenodo, đặc biệt làm việc với Jose Benito Gonzalez Lopez và Alex Ioannidis trong một nhóm nhỏ đã giúp mở rộng Zenodo nhằm đáp ứng nhu cầu gia tăng theo cấp số mũ. Hệ thống này đã được phát triển theo chương trình OpenAIRE của châu Âu và được CERN vận hành cho cộng đồng nghiên cứu toàn thế giới, dựa vào uy tín của CERN và sự tinh thông về quản lý dữ liệu phạm vi rộng, bổ sung thêm sự tin cậy và tính bền vững của Zenodo.

Ban đầu, Zenodo từng được coi như là một kẻ phá bĩnh.

“Việc để cho các nhà nghiên cứu tự họ giám tuyển từng là một suy nghĩ cấp tiến”, Smith nói về khái niệm của họ. “Đây là một sự thay đổi trong quy trình, từ bỏ quyền kiểm soát và hạ thấp các rào cản để mọi người gửi tới.”

Vâng, sự tham gia trong Zenodo đã vượt quá các kỳ vọng của nhiều người - đặc biệt những người chỉ trích ban đầu nghĩ nó là quá mở. Qua thời gian, nó đã chiến thắng những kẻ hoài nghi khi các nhà nghiên cứu nói cho nhau và sự dễ sử dụng đã dẫn tới việc ký gửi nhiều hơn tác phẩm của họ.

“Đặc tính ‘các cộng đồng’ trên Zenodo đã cho phép bất kỳ ai tạo ra một kho cho các tài nguyên của họ và nó đã giúp hạ thấp các rào cản đối với một cộng đồng lớn hơn để bắt đầu chia sẻ nghiên cứu”, Erdmann nói.

Các học giả đã bắt đầu chia sẻ các tư liệu từ các cuộc họp và hội nghị lên Zenodo với một đường liên kết nên mọi thứ đã có thể khám phá được và trích dẫn được.

Trong số các ví dụ học thuật có tác động lớn được chia sẻ trên Zenodo:

Một mô hình vũ trụ 3D in được, một nghiên cứu rà soát lại tư liệu về COVID và phần mềm được sử dụng như một phần của Sự kiện Kính viễn vọng Horizon.

Nền tảng kỹ thuật của Zenodo là nguồn mở từ đầu, nhưng chưa bao giờ từng có ý định được những người khác sử dụng. Vâng, các cơ sở đã bắt đầu sử dụng nó để xây dựng các kho lưu trữ của riêng họ vì họ đã muốn cung cấp kinh nghiệm của Zenodo cho các nhà nghiên cứu của riêng họ.

Điều đó đã khiến Gonzalez Lopez và Nielsen nhận được một khoản tài trợ nhỏ từ Chuyển giao Tri thức CERN vào năm 2018 để làm cho nền tảng này có thể tái sử dụng dễ dàng. Ngày nay, nền tảng này có tên là InvenioRDM được đồng phát triển bởi sự hợp tác của 25 tổ chức nghiên cứu trên toàn thế giới – đôi bên cùng có lợi cho cả Zenodo và từng trong số các tổ chức đó.

“Là quan trọng rằng chúng tôi có một hạ tầng mở do cộng đồng quản lý”, Gonzalez Lopez nói. “Tư duy của chúng tôi là để kho lưu trữ đó được sử dụng khắp trên thế giới cho những ai không có các tài nguyên và một sân chơi bình đẳng”.

Nielsen nói ông hy vọng Zenodo tiếp tục là nơi hữu ích cho các nhà nghiên cứu để chia sẻ tác phẩm của họ và nền tảng đó tiếp tục dài lâu sau khi ông tham gia vào.

“Các vấn đề sẽ tới từ việc trở nên lớn hơn”, Nielsen nói. “Tầm nhìn của tôi về Zenodo là duy trì giải quyết các vấn đề đó trong khi chúng tôi vẫn đổi mới sáng tạo ở khía cạnh hàng đầu của truyền thông học thuật”.

A decade ago, the scientific community recognized that to move from open access to open science, there was a need for free unrestricted access to scientific knowledge. This meant valuing, sharing and preserving data, software and other digital artifacts from research, but the on-ramp to participate had to be faster and simpler if the practice was going to gain traction.

The European Union decided to fund CERN (the European Organisation for Nuclear Research) through the OpenAIRE project to build a catch-all repository to ensure all researchers had a place to easily upload software, data, preprints and other digital outputs.

That was the beginning of Zenodo, which CERN and OpenAIRE launched in 2013. Since, the free global platform has expanded faster than imagined. It now has 25 million visits a year, hosts 3+ million uploads and over 1 petabyte of data. This year marks the platform’s 10th anniversary and today Zenodo is widely viewed as a trusted place to preserve research materials that could be of use to others in advancing science.

At CERN, Lars Holm Nielsen, software engineer and project manager, and Tim Smith, project executive and group leader, were responsible for realizing the new repository. Nielsen had just left a position at the European Southern Observatory (ESO) where he had worked with Christopher Erdmann, a librarian, on helping to make astronomy data open and discoverable for both the public and scientists. They stayed in touch after they both left ESO.

Although an ocean apart, the three were instrumental in the creation of Zenodo — Nielsen at CERN did the technical development, while Smith and Erdmann designed solutions for challenges and focused on community outreach. Both OpenAIRE’s base in Europe as well as Erdmann’s base in the U.S. and large professional network were critical in gaining traction for Zenodo.

After considering several more generic names (Research Share, for example), the system was named Zenodo, a nod to Zenodotus, the first librarian at the Ancient Library of Alexandria and first recorded creator of metadata.

The repository was promoted as a one-stop-shop that welcomed research from all over the world and from every discipline. It accelerates the sharing of science by allowing researchers to share artifacts anytime without having to wait until publication of results.

“It’s a platform built to empower users to get things done, preserve research data and support science,” Nielsen said. “We wanted to make sure there wasn’t any excuse not to share data.”

By assigning each item a Digital Object Identifier (DOI), Zenodo provides a valued service of curating software, data, articles, conference materials—anything needed to understand the scholarly process. Scientists are able to get credit for important steps in the process they contributed to rather than the current ‘everyone or no-one’ on the paper author-list approach. Uploads are made available online immediately and the DOI is registered within seconds.

“Researchers were having a hard time going through all the steps to get data into a repository,” said Erdmann, now living in North Carolina and associate director of open science for the Michael J. Fox Foundation. “We wanted to provide a more flexible approach and to remove some of the barriers so people would just start sharing.”

In the past decade, Nielsen, Smith, and Erdmann continued to collaborate on Zenodo, working in particular with Jose Benito Gonzalez Lopez and Alex Ioannidis in a small team that helped expand Zenodo in response to the exponentially growing demand. The system was developed under the European OpenAIRE program and is operated by CERN for the research community worldwide, relying on CERN’s reputation and large-scale data management expertise, adding to Zenodo’s credibility and stability. 

Initially, Zenodo was seen as a disruptor of sorts.

“Letting researchers curate themselves was a radical thought,” said Smith of their concept. “This was a change in the process, relinquishing control and lowering the barriers for people to submit.”

Yet, participation in Zenodo exceeded the expectations of many—especially early critics who thought it was too open. Over time, it has won over skeptics as researchers told others and the ease of use drew more to deposit their work.

“The ‘communities’ feature in Zenodo allowed anyone to create a repository for their resources and it helped lower barriers for the greater community to start sharing research,” Erdmann said.

Scholars began to share materials from meetings and conferences on Zenodo with one link so everything was discoverable and citable.

Among the examples of impactful scholarship shared on Zenodo: 

a 3D-printable model of the universe, a COVID literature review study and software used as part of the Event Horizon Telescope.

Zenodo’s technical platform was open source from the beginning, but was never intended to be used by others. Yet, institutions started using it to build their own repositories because they wanted to provide the Zenodo-experience to their own researchers.

That sparked Gonzalez Lopez and Nielsen to get a small grant from CERN Knowledge Transfer in 2018 to make the platform easily reusable. Today, the platform named InvenioRDM is co-developed by a collaboration of 25 research institutions world-wide–a win-win for both Zenodo and each of the institutions.

“It’s important that we have an open, community-run infrastructure,” Gonzalez Lopez said. “Our mindset was for the repository to be used all over the world by people who don’t have resources and level the playing field.”

Nielsen said he hopes Zenodo continues to be a useful place for researchers to share their work and that the platform continues long after his involvement.

“Problems come from getting bigger,” Nielsen said. “My vision for Zenodo is to keep solving those problems while we stay innovative at the leading edge of scholarly communication.”

Dịch: Lê Trung Nghĩa

letrungnghia.foss@gmail.com

Thứ Hai, 8 tháng 5, 2023

Dữ liệu Mở / dữ liệu FAIR

Open / FAIR Data

Theo: https://sparceurope.org/what-we-do/open-data/

Trong kỷ nguyên số, dữ liệu là vật liệu thô dựa vào đó các phát hiện được xây dựng, và quyền truy cập không có ràng buộc tới dữ liệu nghiên cứu, dù trong Khoa học Đời sống hay Khoa học Xã hội. Là rất quan trọng để tăng tốc sự tiến bộ trong nghiên cứu. Dữ liệu đóng vai trò trung tâm trong khả năng của chúng ta để giúp giải quyết cuộc khủng hoảng Coronavirus, dự báo trước và đối phó chống các thảm họa tự nhiên, để hiểu sinh học của con người, hoặc để phát triển các tiến bộ trong công nghệ điện toán.

Bất kể tầm quan trọng khổng lồ của nó, ngày nay, dữ liệu nghiên cứu phần lớn vẫn bị phân mảnh - bị cô lập khắp hàng triệu máy tính cá nhân, bị khóa bởi các hạn chế khác nhau về kỹ thuật, pháp lý và tài chính.

Lượng dữ liệu khoa học và học thuật tăng trưởng theo số mũ mỗi năm, chúng ta vẫn còn thiếu hạ tầng, các chính sách và thực hành để khai thác nguồn rất quan trọng này. Trong khi vài dự án nổi tiếng — ví dụ như Dự án Gen của con người và Máy va đập Hạt Lớn (Large Hadron Collider) — làm cho dữ liệu của chúng sẵn sàng mở, rất thường thấy dữ liệu không được chia sẻ ngoài những người đã tạo ra nó. Internet đã được các nhà nghiên cứu xây dựng để chia sẻ dữ liệu, nhưng việc chia sẻ dữ liệu còn chưa là chuẩn mục trong nghiên cứu. Dữ liệu nghiên cứu cũng cần phải là Tìm thấy được, Truy cập được, Tương hợp được, Sử dụng lại được - FAIR (Findable, Accessible, Interoperable or Reusable).

Khoảng trống khổng lồ giữa những gì là có thể với công nghệ số và hạ tầng lỗi thời của chúng ta đã dẫn tới lời kêu gọi về Dữ liệu Mở.

Những lợi ích của Dữ liệu Mở và dữ liệu FAIR là rõ ràng (bản dịch sang tiếng Việt).

In the digital age, data is the raw material on which discoveries are built, and unfettered access to research data, whether in the Life Sciences or the Social Sciences. It is crucial to accelerating progress in research. Data plays a central role in our ability to help solve the Coronavirus crisis, predict and counter natural disasters, to understand human biology, or to develop advances in computing technology.

Despite its tremendous importance, today, research data remains largely fragmented—isolated across millions of individual computers, blocked by disparate technical, legal and financial restrictions.

The amount of scientific and scholarly data grows exponentially each year, yet we still lack the infrastructure, policies, and practices to harness this vital resource. While some high profile projects—such as the Human Genome Project and the Large Hadron Collider—make their data openly accessible, too often data isn’t shared beyond those who generate it. The Internet was built by researchers to share data, but data sharing isn’t yet the norm in research. Research data also needs to be FAIR (Findable, Accessible, Interoperable or Reusable).

The tremendous gap between what is possible with digital technology and our outdated infrastructure has led to the call for Open Data.

The benefits of Open and FAIR Data are clear.

Dịch: Lê Trung Nghĩa

letrungnghia.foss@gmail.com

Chủ Nhật, 7 tháng 5, 2023

Những lợi ích chính của Dữ liệu Mở và dữ liệu FAIR

Key OD and FAIR data benefits

Theo: https://sparceurope.org/what-we-do/open-data/open-data-benefits/

  • Gia tăng nhịp độ phát hiện

Khi các tập hợp dữ liệu là sẵn sàng mở, chúng có thể dễ dàng truy cập được và được sử dụng để tạo ra bức tranh đầy đủ hơn về một lĩnh vực điều tra nghiên cứu, hoặc được phần mềm khai thác dữ liệu phân tích có thể mở ra các kết nối không rõ ràng cho những người đã sản xuất ra dữ liệu gốc ban đầu.

  • Giúp đảm bảo chúng ta không bỏ qua các đột phá

Có vô số cách thức sủ dụng hoặc phân tích bất kỳ tập hợp dữ liệu nào đó. Những gì dường như là nhiễu đối với người này có thể lại là một phát hiện quan trọng đối với ai đó khác với quan điểm hoặc kỹ thuật phân tích khác nhau.

  • Cải thiện liêm chính hồ sơ khoa học và học thuật

Khi dữ liệu nằm bên dưới các phát hiện là truy cập được, các nhà nghiên cứu có thể kiểm tra công việc của từng người khác và đảm bảo rằng các kết luận được xây dựng dựa trên một nền tảng vững chắc.

  • Dữ liệu Mở và FAIR đang ngày càng được nhiều cộng đồng nghiên cứu thừa nhận như một phần quan trọng của doanh nghiệp nghiên cứu ngày nay

Từ các nhà cấp vốn cho tới các nhà xuất bản, các cơ sở tham gia trong quá trình nghiên cứu đang bắt đầu yêu cầu rằng, ít nhất, dữ liệu nằm bên dưới các xuất bản phẩm được làm cho sẵn sàng mở.

Dữ liệu Mở và dữ liệu FAIR có tiềm năng tăng tốc quá trình nghiên cứu cùng lúc cải thiện sự tự tin của chúng ta vào các kết quả đó. Việc truy cập, sử dụng, và giám tuyển lượng dữ liệu khổng lồ và ngày một gia tăng này là trọng tâm đối với nghiên cứu.

  • Accelerates the pace of discovery

When datasets are openly available, they can be easily accessed and used to create a fuller picture of a given area of inquiry, or analysed by data mining software that can uncover connections not apparent to those who produced the original data.

  • Helps ensure we don’t miss breakthroughs

There are a huge number of ways to use or analyse any given dataset. What seems like noise to one person could be an important discovery to someone else with a different perspective or analytical technique.

  • Improves the integrity of the scientific and scholarly record

When the data that underlies findings is accessible, researchers can check each other’s work and ensure that conclusions are built upon a firm foundation.

  • Open and FAIR data is becoming recognised by many in the research community as an important part of today’s research enterprise
    From research funders to publishers, institutions involved in the research process are beginning to require that, at the very least, the data that underlies publications be made openly accessible.

Open Data and FAIR data have the potential to speed up the research process while simultaneously improving our confidence in those results. The access, use, and curation of this huge and growing body of data is central to research.

Dịch: Lê Trung Nghĩa

letrungnghia.foss@gmail.com

Thứ Năm, 4 tháng 5, 2023

‘Các nguyên tắc FAIR cho phần mềm nghiên cứu (Các nguyên tắc FAIR4RS) - Khuyến nghị của RDA’ - bản dịch sang tiếng Việt

Là tài liệu của các tác giả: Chue Hong, N. P., Katz, D. S., Barker, M., Lamprecht, A-L, Martinez, C., Psomopoulos, F. E., Harrow, J., Castro, L. J., Gruenpeter, M., Martinez, P. A., Honeyman, T., et al. (2022). Các nguyên tắc FAIR cho Phần mềm Nghiên cứu phiên bản 1.0. (Các nguyên tắc FAIR4RS v1.0). Liên minh Dữ liệu nghiên cứu. DOI: https://doi.org/10.15497/RDA00068.

“Tác phẩm này sẽ có giá trị cho các chủ dự án phần mềm, các nhà nghiên cứu, những người sử dụng dữ liệu và phần mềm nghiên cứu, cộng đồng khoa học, các kỹ sư phần mềm nghiên cứu, các lập trình viên phần mềm xuất bản các phần mềm của họ, những người duy trì danh mục phần mềm, các nhà quản lý kho, các chuyên gia duy trì và lưu trữ phần mềm, các nhà hoạch định chính sách có trách nhiệm xác định các chính sách kỹ thuật số, và các tổ chức tạo lập, sửa đổi, quản lý, chia sẻ, bảo vệ, và bảo tồn phần mềm nghiên cứu, các nhà cấp vốn nghiên cứu, và những người khác với mối quan tâm về các nguyên tắc FAIR cho phần mềm nghiên cứu. ”

Tự do tải về bản dịch sang tiếng Việt của tài liệu có 38 trang tại địa chỉ: https://www.dropbox.com/s/0bpt6ohsnokinpx/FAIR4RS%20Principles%20Final%20Recommendation%20Zenodo_Vi-30042023.pdf?dl=0

Xem thêm:

Blogger: Lê Trung Nghĩa

letrungnghia.foss@gmail.com

Thứ Tư, 3 tháng 5, 2023

Bộ công cụ của UNESCO có thể giúp tăng tốc chuyển đổi sang khoa học mở toàn cầu

UNESCO’s toolkit can help accelerate the transition to global open science


© Shutterstock/VectorMine

3 April 2023; Last update: 4 April 2023

Theo: https://www.unesco.org/en/articles/unescos-toolkit-can-help-accelerate-transition-global-open-science?hub=686

Bài được đưa lên Internet ngày: 03/04/2023; Cập nhật mới nhất: 04/04/2023

Bộ công cụ Khoa học Mở (bản dịch sang tiếng Việt) của UNESCO đã được thiết kế để hỗ trợ triển khai Khuyến nghị Khoa học Mở (bản dịch sang tiếng Việt) của UNESCO, công cụ thiết lập tiêu chuẩn quốc tế đầu tiên về khoa học mở.

Khuyến nghị này đã được 193 quốc gia phê chuẩn vào tháng 11/2021 tại phiên thứ 41 Hội nghị Toàn thể UNESCO. Khuyến nghị cung cấp một định nghĩa được quốc tế đồng thuận và một tập hợp các giá trị và nguyên tắc hướng dẫn được chia sẻ cho khoa học mở. Nó cũng xác định một tập hợp các hành động tiến hành để vận hành khoa học mở công bằng và không thiên vị cho tất cả các mức độ cá nhân, tổ chức, quốc gia, khu vực và quốc tế.

Khoa học Mở có ý nghĩa gì đối với chúng ta?

Khoa học mở kết hợp nhiều phong trào, thực hành và hành động khác nhau nhằm làm cho tất cả các lĩnh vực nghiên cứu khoa học truy cập được tới bất kỳ ai vì lợi ích không chỉ của các nhà khoa học mà còn của xã hội như một tổng thể. Khái niệm khoa học mở tham chiếu tới việc mở khoa học ra cho các độc giả, những người có thể không có khả năng kham được việc thanh toán để truy cập các bài báo khoa học thích hợp, mà còn mở khoa học ra xuyên các đường biên giới, giữa các ngành và vượt ra khỏi các cộng đồng riêng rẽ.

Bằng việc thúc đẩy khoa học mà truy cập được nhiều hơn, hòa nhập toàn diện và minh bạch hơn, khoa học duy trì quyền của bất kỳ ai để chia sẻ tiến bộ khoa học và những lợi ích của nó, như được nêu trong Điều 27.1 của Tuyên ngôn Nhân Quyền Phổ quát.

Tập hợp 8 hướng dẫn đầu tiên

Phiên bản này được mang vào thực tiễn sẽ đòi hỏi các nỗ lực có phối hợp đối với tất cả mọi người. UNESCO đã phát triển Bộ công cụ Khoa học Mở (bản dịch sang tiếng Việt), một bộ sưu tập các hướng dẫn, tóm tắt chính sách, tờ tin, và các bảng chỉ mục, để hỗ cho những nỗ lực cộng tác này.

Vào tháng 12/2022, UNESCO đã phát hành Bộ công cụ Khoa học Mở (bản dịch sang tiếng Việt) của nó nhân Ngày Khoa học Mở được Nền tảng Khoa học Mở châu Phi đồng tổ chức bên lề của Diễn đàn Khoa học ở Cape Town, Nam Phi. Diễn đàn này từng là địa điểm thích hợp đặc biệt cho việc ban hành, vì chủ đề khoa học của nó là về công bằng xã hội.

Tập hợp 8 hướng dẫn đầu tiên đã được chuẩn bị trong quan hệ đối tác với các Nhóm Làm việc về Khoa học Mở của UNESCO và với các chuyên gia từ các tổ chức đối tác.

“Việc cùng lúc đưa ra các hướng dẫn đo từng là một phần công việc cộng tác thực sự đối với OASPA, trước hết trong việc viết chúng và sau đó chia sẻ với cộng đồng xuất bản truy cập mở để có được phản hồi và phát triển tiếp”, cô Claire Redhead, Giám đốc Điều hành của Hiệp hội Xuất bản Học thuật Truy cập Mở, nói. “Thực sự là phấn khích để tháy chúng bây giờ như một phần của bộ công cụ của UNESCO và tôi hy vọng chúng làm lợi cho các nhà xuất bản truy cập mở trong lộ trình của họ để triển khai Khuyến nghị Khoa học Mở trong các thực hành xuất bản của họ. Chúng tôi biết ơn UNESCO vì tổ chức các hướng dẫn và cũng biết ơn Iryna Kuchma của EIFL vì làm việc với OASPA về chúng và tạo ra các hướng dẫn cho các nhà xuất bản truy cập mở một tài nguyên thực sự có giá trị và phù hợp toàn cầu”.

Mục đích là để xây dựng sự hiểu biết chung và xác định các bước nhằm tăng cường cho các hệ thống khoa học mở công bằng và bền vững, từ việc phát triển các chính sách cho tới ứng dụng các hạ tầng mở. Các phần của Bộ công cụ cung cấp hướng dẫn cho việc tích hợp các giá trị và các nguyên tắc của khoa học mở vào các quy trình và thực hành khoa học.

Điều gì tiếp theo?

“Việc chuyển đổi sang mô hình khoa học mở toàn cầu chỉ mới bắt đầu. Các quốc gia và các nhà khoa học khắp trên thế giới sẽ cần hỗ trợ và hướng dẫn mỗi bước đi của con đường này”, ông Ezra Clark, Giám đốc Bộ phận Chính sách Khoa học, Công nghệ và Đổi mới sáng tạo ở ngành Khoa học Tự nhiên của UNESCO, quan sát thấy.

Đối tác với các thành viên của các Nhóm Làm việc về Khoa học Mở của UNESCO, Ban thư ký của UNESCO đang chuẩn bị các bảng chỉ mục các tài nguyên khoa học mở sẽ sẵn sàng trong năm 2023 để giúp định vị các tư liệu đào tạo, các tài nguyên kiến thức mở về các chủ đề ưu tiên và các công cụ chính sách đang được sử dụng để tạo lập và hỗ trợ chuyển đổi sang khoa học mở khắp trên thế giới.

Các tài liệu sau đây sẽ sớm có:

Các bảng chỉ mục:

  • Chỉ mục Xây dựng Năng lực Khoa học Mở của UNESCO

  • Chỉ mục các Nền tảng Chia sẻ Kiến thức Khoa học Mở của UNESCO

  • Đài quan sát Toàn cầu của UNESCO về các Công cụ Chính sách Khoa học, Công nghệ và Đổi mới sáng tạo (GO-SPIN) - module Khoa học Mở

Các hướng dẫn

  • Thu hút xã hội vào khoa học mở

  • Nuôi dưỡng phần cứng nguồn mở cho khoa học mở

  • Trao quyền cho nghề nhà báo về khoa học mở

  • Thúc đẩy các đối thoại mở với các hệ thống kiến thức khác

Các danh sách kiểm tra

  • Danh sách kiểm tra cho kế hoạch hành động về khoa học mở của một cơ sở

Các tờ tin

  • Hướng tới việc xuất bản học thuật công bằng

  • Các quyền sở hữu trí tuệ và khoa học mở

  • Vượt qua các thách thức để triển khai khoa học mở

Thông tin thêm

The UNESCO Open Science Toolkit has been designed to support implementation of the UNESCO Recommendation on Open Science, the first international standard-setting instrument on open science.

This Recommendation was adopted by 193 countries in November 2021 at the 41st session of the UNESCO General Conference. The Recommendation provides an internationally agreed definition and a set of shared values and guiding principles for open science. It also identifies a set of actions conducive to a fair and equitable operationalization of open science for all at the individual, institutional, national, regional and international levels.

What do we mean by open science?

Open science combines various movements, practices and actions that aim to make all fields of scientific research accessible to everyone for the benefit not only of scientists but also society as a whole. The term open science refers to opening science up to readers who may not be able to afford to pay to access relevant scientific articles but also opening science across borders, between disciplines and beyond single communities.

By promoting science that is more accessible, inclusive and transparent, open science furthers the right of everyone to share in scientific advancement and its benefits, as stated in Article 27.1 of the Universal Declaration of Human Rights.

A first set of eight guides

Bringing this vision to reality will require coordinated efforts by all. UNESCO has developed the Open Science Toolkit, a collection of guides, policy briefs, factsheets and indices, in order to support this collective effort.

In December 2022, UNESCO launched its Open Science Toolkit during an Open Science Day co-hosted by the Africa Open Science Platform on the margins of the World Science Forum in Cape Town, South Africa. The forum was a particularly appropriate venue for the launch, given its theme of science for social justice.

The first set of eight guides were prepared in partnership with the UNESCO Working Groups on Open Science and with experts from partner organizations.

“Putting these guidelines together was a really collaborative piece of work for OASPA, first in writing them and then sharing with the open access publishing community for feedback and further development,” said Ms. Claire Redhead, Executive Director of the Open Access Scholarly Publishing Association. “It’s really exciting to see them now as part of UNESCO's toolkit and I hope they benefit open access publishers on their journey to implementing the Recommendation on Open Science in their publishing practices. We're grateful to UNESCO for hosting the guidelines and also to EIFL’s Iryna Kuchma for working with OASPA on these and making the guidelines for open access publishers a really valuable and globally relevant resource.”

The aim is to build a shared understanding and identify steps for strengthening equitable and sustainable open science systems, from the development of policies to the application of open infrastructures. The Toolkit pieces provide guidance for integrating the values and principles of open science into the processes and practices of science.

What is next?

“The transition to a global open science model has only just begun. Countries and scientists around the world will need support and guidance every step of the way,” observed Mr. Ezra Clark, Chief of Section, Science, Technology and Innovation Policy in UNESCO’s Natural Sciences sector.

In partnership with the members of the UNESCO Open Science Working Groups, the UNESCO Secretariat is preparing indices of open science resources that are available in 2023 to help in locating training materials, open knowledge resources on priority themes and policy instruments that are being used to create and support the transition to open science around the world.

The following will be available soon:

Open Indices

  • UNESCO Open Science Capacity Building index

  • UNESCO Index of Open Science Knowledge Sharing Platforms

  • UNESCO Global Observatory of Science, Technology and Innovation Policy Instruments (GO-SPIN) – Open Science module

Guides

  • Engaging society in open science

  • Nurturing open-source hardware for open science

  • Empowering journalism in open science

  • Promoting open dialogues with other knowledge systems

Checklists

  • Checklist for an institutional action plan for open science

Factsheets

  • Towards equitable scholarly publishing

  • Intellectual property rights and open science

  • Overcoming challenges to the implementation of open science

More information

Dịch: Lê Trung Nghĩa

letrungnghia.foss@gmail.com