Thứ Hai, 26 tháng 9, 2011

Google mua hàng ngàn bằng sáng chế khác của IBM


Google buys another thousand IBM patents
15 September 2011, 11:10
Bài được đưa lên Internet ngày: 15/09/2011
Lời người dịch: Google lại tiếp tục mua hàng ngàn bằng sáng chế của IBM về các công nghệ di động để bảo vệ Android và các đối tác của mình. Cho tới nay, Google đã có khoảng 20.000 bằng sáng chế trong kho vũ khí của mình. Đầu năm, Google chỉ có 809 bằng sáng chế. Google cũng vừa truyền cho HTC 9 bằng sáng chế để giúp HTC kiện Apple vi phạm bằng sáng chế. Cách đây không lâu, Microsoft kiện HTC vi phạm bằng sáng chế của mình và cũng chính Microsoft. Có thể thấy, các công ty di động đang kiện lẫn nhau vi phạm các bằng sáng chế.
Hồi tháng 7, Google đã mua 1030 bằng sáng chế từ IBM để trang bị cho kho bằng sáng chế của mình. Bây giờ, Google đã làm một lần nữa với một đợt mua thứ 2, lần này, 1022 bằng sáng chế từ IBM. Giao dịch này, dường như đã diễn ra vào ngày 17/08, đã được SEO của Sea blog tiết lộ, và đã được người phát ngôn của Google khẳng định khi nói với một nhà báo của Bloomberg.
Các bằng sáng chế trong vụ mua mới bao gồm các bằng sáng chế di động như truyền thông điện thoại cầm tay và cập nhật vị trí, và các bằng sáng chế tìm kiếm như trình bày một trang web ghi âm được, siêu văn bản động và cân bằng sử dụng băng thông trình duyệt. Cũng có những bằng sáng chế liên quan tới Java bao gồm “Ánh xạ các thuộc tính của EJB vào một sơ đồ cơ sở dữ liệu”, và các bằng sáng chế ngôn ngữ scripting như “Các khối ngôn ngữ scripting hỗ trợ các ngôn ngữ scripting trong một trang web duy nhất”.
Ước tính rằng - với lần giao dịch mới này, sự mua sắm Motorola Mobility, các vụ mua sắm bắng sáng chế khác và các bằng sáng chế của riêng Google - công ty máy tìm kiếm này bây giờ có khoảng 20.000 bằng sáng chế trong kho vũ khí của mình. Đầu năm, Google chỉ có 809 bằng sáng chế.
Google đã bắt đầu triển khai một số bằng sáng chế đó để bảo vệ các đối tác Android bằng việc truyền các bằng sáng chế cho họ. Hãng đã chuyển 9 bằng sáng chế cho HTC trước đó vào tháng này để hỗ trợ HTC trong bảo vệ chống lại Apple; các bằng sáng chế trước đó đã được Motorola Mobility và OpenWave Systmes sở hữu. HTC đã triển khai những bằng sáng chế này trong một vụ kiện mới tố cáo Apple vi phạm. Các kế hoạch của hãng là về các bằng sáng chế mà sẽ không liên quan tới công nghệ di động hiện còn chưa rõ.
In July, Google bought 1030 patents from IBM to bolster its patent portfolio. Now, Google has done it again with a second purchase of, this time, 1022 patents from IBM. The transaction, which appears to have taken place on 17 August, was discovered by the SEO by the Sea blog, and was confirmed by a Google spokesperson talking to a Bloomberg reporter.
It is estimated that – with this new transaction, the acquisition of Motorola Mobility, other patent purchases and Google's own patents – the search engine company now has around 20,000 patents in its arsenal. At the start of the year, Google had only 809 patents.
Google has begun deploying some of those 20,000 patents in defence of Android partners by transferring patents to them. It moved nine patents to HTC earlier this month to assist it in its defence against Apple; the patents were previously owned by Motorola Mobility and OpenWave Systems. HTC has already deployed these patents in a new lawsuit accusing Apple of infringement. What its plans are for the patents which aren't related to mobile technology is currently unclear.
Dịch tài liệu: Lê Trung Nghĩa

Philippines chuyển dịch mạnh theo hướng của Phần mềm Tự do


The Philippines’ Bold Move Towards Free Software
Bài được đưa lên Internet ngày: 22/09/2011
Lời người dịch: Dự luật số 1011 của Hạ viện Philippine về sử dụng phần mềm tự do đã được phê chuẩn và chờ Thượng viện phê chuẩn mới trở thành luật có hiệu lực. Tuy nhiên, nó cũng đã tạo nên một tiếng vang ngay từ bây giờ. Nó đưa ra những lợi ích của FOSS, trong đó có cả việc tiết kiệm tiền, như: “Intel đã tiết kiệm 200 triệu USD bằng việc chuyển từ phần mềm Unix sở hữu độc quyền sang phần mềm tự do chạy trên GNU/Linux. Amazon đã tiết kiệm 17 triệu USD bằng việc chuyển khỏi Microsoft Windows và các sản phẩm có liên quan của nó sang GNU/Linux và phần mềm tự do. Câu hỏi của tôi là thế này: các chính trị gia không ngu xuẩn. Cần bao lau trước khi các quan chức chính phủ tại các quốc gia khác trên thế giới có thể nhìn vào dự luật này của Philippines và hỏi: vì sao chúng ta lại không làm thế? ”. “Thậm chí một người hoài nghi mà tin tưởng rằng một vài công ty sở hữu độc quyền trái luân thường đạo lý có thể cố gắng trả tiền cho các nhà chính trị để biểu quyết “không” cho một dự luật như thế này phải nhận thức được điều này: không ai có thể thanh toán trang trải cho TẤT CẢ MỌI NGƯỜI được. Tới lúc nào đó, sẽ không có khả năng kìm hãm được phần mềm tự do. Thị trường tự do LUÔN chọn những người chiến thắng, giải pháp mà có thể cung cấp những gì thị trường cần ở chi phí thấp nhất”. Tải về dự luật đã được Hạ viện Philippines phê chuẩn ở đây.
Hai năm gần đây, suy thoái kinh tế toàn cầu đã ép các công ty, cá nhân và các chính phủ tìm các cách thức để tiết kiệm tiền. Con đường nào tốt hơn để tiết kiệm tiền hơn là chuyển sang phần mềm tự do? Các công ty không muốn trả tiền cho ai đó bên ngoài đất nước để sửa các lỗi có thể thuê người sửa các mã nguồn phần mềm tự do tại chỗ. Philippines là một quốc gia nơi mà một sự chuyển dịch chậm nhưng chắc hướng tới phần mềm tự do đang có được một số hỗ trợ chính thức.
Dự luật của hạ viện số 1011 tại Hạ Viện Philippines được bắt đầu bằng việc nhấn rất mạnh: “Kỷ nguyên của Phần mềm Tự do Nguồn mở (FOSS) đã tới”. Nó không chỉ làm tốt hơn từ đó. Dự luật này đã được ủy quyền bởi 2 người đi tiên phong dũng cảm về phần mềm tự do: Hạ nghị sỹ Teodoro A. Casiño và Neri Javier Colmenares. Thứ đầu tiên mà dự luật này làm là thiết lập vì sao FOSS lại tốt hơn so với phần mềm sở hữu độc quyền. Đây là tóm tắt của tôi về các điểm mở của dự luật này:
  1. FOSS là rẻ hơn so với phần mềm sở hữu độc quyền. Không chỉ mã nguồn tự do, mà nó có thể được phân phối một cách tự do. Hãy thử cài đặt MS Office Ultimate 299 USD của bạn lên cả máy tính của bạn và đồng nghiệp của bạn xem sao.
  2. FOSS là mềm dẻo và phát triển thân thiện. Phần mềm sở hữu độc quyền thì không. FOSS trao cho bạn mã nguồn mà bạn có thể sửa và thay đổi được để đáp ứng các nhu cầu của bạn. Phần mềm sở hữu độc quyền thì không.
  3. FOSS là tương hợp được. Phần mềm sở hữu độc quyền thì không. FOSS gắn với các tiêu chuẩn mở trong khi phần mềm sở hữu độc quyền thường cố gắng khóa trói người sử dụng vào một nhà cung cấp đặc biệt.
  4. FOSS là an toàn. Phần mềm sở hữu độc quyền là không. Hàng ngàn hoặc hàng triệu con mắt nhìn vào mã nguồn để bắt và sửa lỗi nhanh hơn nhiều so với những gì xảy ra trong chế độ sở hữu độc quyền.
For at least two years, the global economic meltdown has forced companies, individuals, and governments to find ways to save money. What better way to save cash than to move to free software? Companies that don’t want to pay someone outside the company to fix problems can hire people to modify free software source code in house. The Philippines is one nation where a slow but steady move towards free software is about to get some official backing.
House bill number 1011 in the Philippines House of Representatives starts off very boldly: “The era of Free/open Source Software (FOSS) has come.” It only gets better from there. The bill was authored by two brave free software pioneers: Representatives Teodoro A. Casiño and Neri Javier Colmenares. The first thing that the bill does is to establish why FOSS is better than proprietary software. Here is my summary of the bill’s opening points:
  1. FOSS is cheaper than proprietary software. Not only is the code free, but it can be freely distributed. Try installing your $299 MS Office Ultimate on both your computer and your co worker’s.
  2. FOSS is flexible and development-friendly. Proprietary software is not. FOSS gives you the source code which you can edit and modify to meet your needs. Proprietary software does not.
  3. FOSS is interoperable. Proprietary software often is not. FOSS adheres to open standards while proprietary software often tries to lock the customer in to a particular vendor.
  4. FOSS is safe. Proprietary software often is not. Thousands or millions of eyeballs looking at the source code catch and fix mistakes far faster than what occurs in the proprietary regime.
Tôi phải nói, TÔI THÍCH NHỮNG NGƯỜI ĐÓ VÀ TÔI THÍCH CÁI DỰ LUẬT ĐÓ! Việc đọc dự luật này sẽ là nỗi kinh sợ đến kinh ngạc cho nhiều người. Tuy nhiên, mọi thứ mà các tác giả dự luật này nói là đúng. Dự luật này đã trích dẫn những sự việc đặc thù nơi mà các công ty đã tiết kiệm được nhiều tiền với FOSS. Dự luật này đã trích một vài ví dụ đáng chú ý:
Intel đã tiết kiệm 200 triệu USD bằng việc chuyển từ phần mềm Unix sở hữu độc quyền sang phần mềm tự do chạy trên GNU/Linux.
Amazon đã tiết kiệm 17 triệu USD bằng việc chuyển khỏi Microsoft Windows và các sản phẩm có liên quan của nó sang GNU/Linux và phần mềm tự do.
Câu hỏi của tôi là thế này: các chính trị gia không ngu xuẩn. Cần bao lau trước khi các quan chức chính phủ tại các quốc gia khác trên thế giới có thể nhìn vào dự luật này của Philippines và hỏi: vì sao chúng ta lại không làm thế?
Dự luật số 1011 của Hạ viện Philippines dài 9 trang. Tôi đọc toàn bộ mọi thứ từ đầu chí cuối, và đây là một mẩu pháp dự luật tuyệt vời. Hy vọng, nó sẽ được thông qua. Tôi chỉ lướt qua các nội dung của dự luật, nhưng bạn có thể đọc nó toàn bộ ở đây:
I have to say, I LIKE THESE GUYS AND I LIKE THIS BILL! Reading this bill has to be incredibly scary for a lot of people. However, everything that the bill’s authors say is true. The bill went on to cite specific instances where companies saved a lot of money with FOSS. The bill cited a couple of remarkable examples:
Intel saved $200 million by switching from proprietary Unix software to free software running on GNU/Linux.
Amazon saved $17 million by switching from Microsoft Windows and its associated products to GNU/Linux and free software.
My question is this: politicians are not stupid. How long will it take before government officials in other countries around the world look at the Philippines bill and ask: why aren’t we doing this? Philippines House Bill 1011 is 9 pages long. I read the entire thing from beginning to end, and it is a great piece of legislation. Hopefully, it will get passed. I only gave a brief glimpse of the contents of the bill, but you can read it in its entirety here: http://www.congress.gov.ph/download/basic_15/HB01011.pdf
Kết luận
Dự luật số 1011 của Hạ viện Philippines là tột độ của hàng thập kỷ làm việc cật lực của nhiều người tuyệt vời. Tôi đã bị thổi bay khi tôi thấy định nghĩa của Phần mềm Tự do Nguồn mở trong dự luật với 7 gạch đầu dòng trong đó. Điều này đảm bảo rằng sẽ không có sự lẫn lộn như những gì xác định FOSS như dự luật này được viện lý. Thậm chí một người hoài nghi mà tin tưởng rằng một vài công ty sở hữu độc quyền trái luân thường đạo lý có thể cố gắng trả tiền cho các nhà chính trị để biểu quyết “không” cho một dự luật như thế này phải nhận thức được điều này: không ai có thể thanh toán trang trải cho TẤT CẢ MỌI NGƯỜI được. Tới lúc nào đó, sẽ không có khả năng kìm hãm được phần mềm tự do. Thị trường tự do LUÔN chọn những người chiến thắng, giải pháp mà có thể cung cấp những gì thị trường cần ở chi phí thấp nhất. Sự kết hợp giữa chất lượng cao của phần mềm tự do và giá thành thấp của nó, bằng 0, làm cho kết quả là không thể tránh khỏi: phần mềm tự do cuối cùng sẽ thắng. Tôi dự đoán rằng các công ty sẽ có khả năng kiếm được nhiều tiền bằng việc cung cấp các dịch vụ. Red Hat là một ví dụ đầu tiên điều này làm được.
Tôi chân thành hy vọng rằng bạn hưởng thụ được khi đọc xuất bản phẩm TLWIR lần thứ 18. Tôi cố gắng làm cho mỗi lần tốt hơn lần trước. Chúc một tuần tốt lành. Hy vọng thấy bạn quay lại đây với xuất bản phẩm lần sau về... Tuần Linux Rà soát lại!
Conclusions
Philippines House Bill 1011 is the culmination of decades of hard work by a lot of great people. I was blown away when I saw the definition of Free-Open Source Software in the bill with 7 bullets under it. This ensures that there will be no confusion as to what defines FOSS as the bill is argued. Even a cynical person who believes that some unethical proprietary companies might try to pay politicians to vote “no” on such a bill has to realize this: no one can afford to pay EVERYBODY off. At some point, free software will not be able to be held back. The free market ALWAYS picks the winner, the solution that can provide what the market needs at the lowest cost. The combination of the high quality of free software and its low price, zero, make the outcome inevitable: free software will win in the end. I predict that companies will still be able to make a great deal of money by providing services. Red Hat is a prime example that this does work.
I sincerely hope that you have enjoyed reading the eighteenth TLWIR edition. I strive to make each one better than the last. Have a great week. I look forward to seeing you back here for the next edition of…The Linux Week in Review!
Dịch tài liệu: Lê Trung Nghĩa

Chủ Nhật, 25 tháng 9, 2011

Chính phủ Mỹ lo lắng về cuộc tấn công vào các hãng quân sự Nhật Bản


U.S. govt concerned at hacking of Japan arms firms
Wed Sep 21, 2011 2:26am EDT
(Lặp lại để mở rộng phân phối)
  • Mỹ ép Nhật Bản chống đỡ phòng vệ không gian mạng
  • Các chuyên gia không gian mạng: cuộc tấn công có thể từng là Stuxnet
(Repeats to widen distribution)
  • U.S. pressuring Japan to shore up cyber defenses -source
  • Cyber experts: attack may have been Stuxnet
Bài được đưa lên Internet ngày: 21/09/2011
Lời người dịch: Những người Mỹ lo ngại về các cuộc tấn công KGM vào các nhà thầu quân sự hàng đầu của Nhật Bản, như “Mitsubishi Heavy Industries, nhà thầu đang xây dựng các máy bay phản lực chiến đấu F-15, các tên lửa Patriot và các phần của lò phản ứng hạt nhân, và vào các nhà thầu khác”, và họ cho rằng các cuộc tấn công đó có thể đã tới từ một quốc gia. “Mitsubishi Heavy nói rằng hãng cho tới nay đã tìm thấy 8 virus, trong số đó không có Stuxnet”. “An ninh KGM phải là một ưu tiên của khu vực nhà nước”, người phát ngôn sứ quán Mỹ Karen Kelley nói. Một nguồn tin công nghiệp nói Washington đã và đang ép Nhật Bản tiến bộ trong an ninh chống lại các cuộc tấn công KGM.
Tokyo, ngày 21/09 (Reuters) - Mỹ hôm thứ tư đã thể hiện lo lắng về các cuộc tấn công gần đây vào các nhà thầu Nhật Bản, các nhà thầu xây dựng các tên lửa, tàu chiến và máy bay quân sự do Mỹ thiết kế, kêu gọi các cuộc tấn công phải được xem xét nghiêm túc.
Các chuyên gia đồ rằng các cuộc tấn công KGM đã công bố tuần này, lần đầu tiên vào nền công nghiệp quốc phòng Nhật Bản, có thể đã bao gồm virus máy tính Stuxnet mà đã được mô tả như một tên lửa KGM có dẫn đường từng nhằm vào các hệ thống kiểm soát công nghiệp.
“An ninh KGM phải là một ưu tiên của khu vực nhà nước”, người phát ngôn sứ quán Mỹ Karen Kelley nói. Một nguồn tin công nghiệp nói Washington đã và đang ép Nhật Bản tiến bộ trong an ninh chống lại các cuộc tấn công KGM.
Các cuộc tấn công vào nhà thầu quân sự hàng đầu của Nhật Bản, Mitsubishi Heavy Industries, nhà thầu đang xây dựng các máy bay phản lực chiến đấu F-15, các tên lửa Patriot và các phần của lò phản ứng hạt nhân, và vào các nhà thầu khác, có thể đã tới từ một quốc gia, một số chuyên gia nói.
Mitsubishi Heavy cũng có liên quan trong sự phát triển một tên lửa đất đối không bắn từ tàu được thiết kế cho lá chắn tên lửa đạn đạo của Mỹ và vì thế là cơ mật đối với công nghệ vũ khí nhạy cảm cao.
TOKYO, Sept 21 (Reuters) - The United States on Wednesday expressed concern about recent cyber attacks on defence contractors in Japan, which build U.S.-designed missiles, warships and military aircraft, calling for the attacks to be taken seriously.
Experts speculated that the cyber assaults announced this week, the first on Japan's defence industry, may have included the Stuxnet computer virus which has been described as a guided cyber missile which targets industrial control systems.
"Cyber security must be a public-sector priority," U.S. embassy spokeswoman Karen Kelley said.
One industry source said Washington has been pressuring Japan to step up security against cyber assaults.
The attacks on Japan's top defence contractor Mitsubishi Heavy Industries , which builds F-15 fighter jets, Patriot missiles and nuclear reactor parts, and on other contractors, may have come from a nation state, some experts said.
Mitsubishi Heavy is also involved in the development of a ship-launched surface-to-air missile designed for the U.S. ballistic missile shield and is therefore privy to highly-sensitive weapons technology.
Tương tự các cuộc tấn công đầu năm nay, bao gồm một cuộc vào nền công nghiệp quốc phòng Mỹ, đã được nói có xuất xứ từ Trung Quốc. Các nhà chức trách Trung Quốc đã từ chối đã làm bất kỳ thứ gì với chúng hoặc với các cuộc tấn công mới nhất được cho là tại Nhật Bản.
Nền công nghiệp quốc phòng Nhật Bản, được một số hãng vừa và nhỏ cung cấp với các công nghệ chủ chốt, được xem như là đặc biệt có khả năng bị tổn thương đối với các cuộc tấn công KGM.
“Nhiều trong số các hãng nhỏ này có thể đã bị thâm nhập trong quá khứ, mà không ai hay biết gì”, Giáo sư Masakatsu Morii tại Đại học Kobe nói.
Các máy tính tại Mitsubishi Heavy, hãng làm vũ khí lớn nhất của Nhật Bản, đã từng là mục tiêu cho một cuộc tấn công trực tuyến vào tháng 8. Hãng này cung cấp hơn 20% các thiết bị quân sự của Nhật Bản, đã nói rằng một số thông tin mạng, như các địa chỉ IP, có thể đã bị lộ.
Một nhà thầu bên ngoài bây giờ đang kiểm tra để xem liệu có bất kỳ dữ liệu nhạy cảm nào đã bị rò rỉ hay chưa.
“Tôi tin tưởng điều này có khả năng là ví dụ đầu tiên của một cuộc tấn công Stuxnet tại Nhật Bản”, Yoshiyasu Takefuji, một chuyên gia an ninh KGM tại Đại học Keio nói.
Mitsubishi Heavy nói rằng hãng cho tới nay đã tìm thấy 8 virus, trong số đó không có Stuxnet.
Sâu máy tính Stuxnet, mà một số người nghi đã được Mỹ và Israel tạo ra, nhằm vào các hệ thống kiểm soát công nghiệp được Siemens bán và được sử dụng rộng rãi trong hạ tầng bao gồm các lò phản ứng điện hạt nhân, các nhà máy hóa chất, các hệ thống cấp nước và các nhà máy dược phẩm. Mitsubishi Heavy đã chậm báo cáo về lỗ thủng cho bộ quốc phòng, có thể đã vi phạm các hợp đồng cung cấp quân sự của mình.
Nhà thầu quân sự Nhật Bản thứ 2, IHI Corp, mà xây dựng các phần động cơ cho các máy bay chiến đấu, nói các nhân viên của mình đã từng là mục tiêu của một số thư điện tử đáng ngờ ngày một gia tăng và đã thông báo điều này cho cảnh sát.
Kawasaki Heavy Industries, một nhà sản xuất máy bay, trực thăng và các hệ thống rocket, cũng đã từng nhận được các thư điện tử có chứa virus, hãng này đã khẳng định hôm thứ ba.
Similar attacks earlier this year, which included one on the U.S. defence industry, were said to have originated in China. Chinese authorities denied having anything to do with those or the latest ones reported in Japan.
Japan's defense industry, supplied by a slew of small and medium-size firms with key technologies, is seen as particularly vulnerable to cyber attacks.
"Many of these small firms could have been hacked in the past, without anyone noticing," Kobe University Professor Masakatsu Morii said.
Computers at Mitsubishi Heavy, Japan's biggest weapons maker, were subject to an online assault in August. The company, which supplies over 20 percent of Japan's defense equipment, said that some network information, such as IP addresses, may have leaked.
An outside contractor is now checking to see if any sensitive data had been breached.
"I believe this is probably the first example of a Stuxnet attack in Japan," said Yoshiyasu Takefuji, a cyber-security expert at Keio University.
Mitsubishi Heavy said that it has so far found eight viruses, none of which were Stuxnet.
The Stuxnet computer worm, which some suspect was created by the United States and Israel, targets industrial control systems sold by Siemens and used widely in infrastructure including nuclear power generators, chemical factories, water distribution systems and pharmaceutical plants.
Mitsubishi Heavy delayed reporting the breach to the defence ministry, which may have been a violation of its military supply contracts.
A second Japanese military contractor, IHI Corp , which builds engine parts for fighter planes, said its employees had been subject to a growing number of suspicious e-mails which it had informed the police about.
Kawasaki Heavy Industries , a maker of airplanes, helicopters and rocket systems, has also been receiving virus-tainted e-mails, the company confirmed on Tuesday.
Dịch tài liệu: Lê Trung Nghĩa

CA DigiNotar phá sản sau khi chứng thực SSL sụp đổ

CA DigiNotar bankrupt after SSL certificate debacle
21 September 2011, 11:36
Bài được đưa lên Internet ngày: 21/09/2011
Lời người dịch: Như vậy là sau khi bị tấn công lấy đi các thông tin chứng thực và bị làm giả tại cơ quan cấp chứng thực số, cơ quan chứng thực số (CA) DigiNotar đã chính thức bị phá sản. “Trong thông báo, Chủ tịch và CEO T. Kendall Hunt của VASCO nói rằng “vụ việc tại DigiNotar có một ảnh hưởng lên công nghệ chứng thực lõi của VASCO”, bổ sung thêm rằng hạ tầng của VASCO và DigiNotar tiếp tục được cách ly hoàn toàn. Các lãnh đạo cũng lưu ý rằng công ty có kế hoạch hợp tác đầy đủ với chính phủ Hà Lan trong điều tra trách nhiệm đối với cuộc tấn công vào DigiNotar”. Xem thêm [01], [02], [03], [04].
Công ty VASCO Data Security International có trụ sở ở Mỹ đã công bố rằng chi nhánh Hà Lan của hãng, Cơ quan Chứng thực CA DigiNotar, đã đệ trình xin phá sản tự nguyện tại Tòa án Quận Haarlem, Hà Lan vào ngày thứ hai 19/09 và đã chính thức tuyên bố phá sản vào ngày 20/09. Một ủy thác phá sản, dưới sự giám sát của một thẩm phán, bây giờ đã chiếm quyền quản lý DigiNotar và sẽ làm việc để thanh lý công ty này.
Chính phủ Hà Lan chiếm DigiNotar sau khi chính phủ đã phát hiện rằng hãng này đã bị tổn thương và đã bị sử dụng để đưa ra các chứng thực SSL rởm cho nhiều site chính, bao gồm cả những site đã được sử dụng để chặn đường thư điện tử tại Iran. Khi thông tin tiếp sau đó nổi lên, nhà điều chỉnh Dutch Telecommunications đã chặn không cho hãng này đưa ra các chứng thực có đủ tư cách và các nhà sản xuất trình duyệt web đã đưa ra các bản cập nhật cho các sản phẩm của họ để rút bỏ những chứng thực gốc không còn có giá trị nữa.
Trong thông báo, Chủ tịch và CEO T. Kendall Hunt của VASCO nói rằng “vụ việc tại DigiNotar có một ảnh hưởng lên công nghệ chứng thực lõi của VASCO”, bổ sung thêm rằng hạ tầng của VASCO và DigiNotar tiếp tục được cách ly hoàn toàn. Các lãnh đạo cũng lưu ý rằng công ty có kế hoạch hợp tác đầy đủ với chính phủ Hà Lan trong điều tra trách nhiệm đối với cuộc tấn công vào DigiNotar.
US-based company VASCO Data Security International has announced that its Dutch subsidiary, the DigiNotar certificate authority (CA), filed for voluntary bankruptcy in the Haarlem District Court, The Netherlands on Monday 19 September and was officially declared bankrupt on 20 September. A bankruptcy trustee, under the supervision of a judge, has now taken over the management of DigiNotar and will work to liquidate the company.
The Dutch government took over DigiNotar after it was discovered that the company had been compromised and had been used to issue bogus SSL certificates for various major sites, including ones which were used to intercept email in Iran. As further information emerged, the Dutch Telecommunications regulator barred the company from issuing qualified certificates and browser makers issued updates for their products to revoke the untrustworthy root certificates.
In the announcement, VASCO Chairman and CEO T. Kendall Hunt said that "the incident at DigiNotar has no impact on VASCO's core authentication technology," adding that the infrastructures of VASCO and DigiNotar continue to remain completely separated. The executive also notes that the company plans to fully cooperate with the Dutch government in its investigation into those responsible for the attack on DigiNotar.
Dịch tài liệu: Lê Trung Nghĩa

Nhiều chỗ bị tổn thương hơn được tìm thấy trong các hệ thống SCADA


More vulnerabilities found in SCADA systems
19 September 2011, 16:18
Bài được đưa lên Internet ngày: 19/09/2011
Lời người dịch: Thêm 13 chỗ bị tổn thương khác được chuyên gia an ninh của Ý mới tìm ra, trong đó có: “Beckhoff TwinCAT 2.11.0.2004, Rockwell RSLogix 19, Measuresoft ScadaPro 4.0.0, Cogent DataHub 7.1.1.63 và Azeotech DAQFactory 5.85. Auriemma cũng phát hiện các chỗ bị tổn thương trong Progea Movicon 11.2.1085 và Carel PlantVisor 2.4.4. Một số điểm trong các tư vấn của ông đối với các cuộc tấn công từ chối dịch vụ DoS hoặc chạy mã nguồn từ xa có thể là những mối nguy hiểm. Các chương trình được liệt kê được sử dụng trong một loạt các nền công nghiệp, bao gồm nhiều hệ thống tiện ích, sản xuất và của các cơ quan tài chính”. Xem thêm [01], [02], [03].
Chuyên gia an ninh người Ý Luigi Auriemma, người vào tháng 3 năm nay đã phát hiện 35 chỗ bị tổn thương trong các sản phẩm SCADA của Siemens và các hãng khác, bây giờ đã tung ra một tập hợp khác với 13 chỗ bị tổn thương, cùng với mã nguồn khai thác như để chứng minh nguyên lý, ảnh hưởng tới 8 sản phẩm SCADA khác nhau. Những phát hiện của ông đã nhắc tới sự đưa ra các tư vấn về an ninh từ ICS-CERT của Bộ An ninh Nội địa Mỹ.
Những tư vấn mới bao gồm: Beckhoff TwinCAT 2.11.0.2004, Rockwell RSLogix 19, Measuresoft ScadaPro 4.0.0, Cogent DataHub 7.1.1.63 và Azeotech DAQFactory 5.85. Auriemma cũng phát hiện ra các chỗ bị tổn thương trong Progea Movicon 11.2.1085 và Carel PlantVisor 2.4.4. Một số điểm trong các tư vấn của ông đối với các cuộc tấn công từ chối dịch vụ DoS hoặc chạy mã nguồn từ xa có thể là những mối nguy hiểm. Các chương trình được liệt kê được sử dụng trong một loạt các nền công nghiệp, bao gồm nhiều hệ thống tiện ích, sản xuất và của các cơ quan tài chính.
Italian security specialist Luigi Auriemma, who in March this year exposed 35 vulnerabilities in SCADA (Supervisory Control And Data Acquisition) products from Siemens and others, has now released another set of 13 vulnerabilities, together with exploit code as proof-of-concept, affecting eight different SCADA products. His findings have prompted the release of security advisories from the US Department of Homeland Security's ICS-CERT.
The new advisories cover: Beckhoff TwinCAT 2.11.0.2004, Rockwell RSLogix 19, Measuresoft ScadaPro 4.0.0, Cogent DataHub 7.1.1.63 and Azeotech DAQFactory 5.85. Auriemma also finds vulnerabilities in Progea Movicon 11.2.1085 and Carel PlantVisor 2.4.4. Some of his advisories point to possible Denial-of-Service (DoS) or remote code execution as possible dangers. The programs listed are used in a variety of industries, including various utilities, manufacturing systems and by financial institutions.
Dịch tài liệu: Lê Trung Nghĩa

Thứ Năm, 22 tháng 9, 2011

Từ nguồn mở đến công nghệ mở - Một hướng đi mặc định


Từ cách đây không lâu chúng ta mới chỉ nghe nói về phần mềm tự do nguồn mở, hoặc cùng lắm là chuẩn mở khi nói tới những gì có liên quan tới công nghệ thông tin và truyền thông. Thế nhưng mới chỉ vài tháng qua, thế giới cho thấy đã xuất hiện hàng loạt những khái niệm “mở” khác.
Dưới đây chúng ta thử tìm hiểu về những khái niệm “mở” với những định nghĩa và/hoặc giải thích tóm tắt, cơ bản nhất về chúng.
  1. Công nghệ mở. Công nghệ mở gồm 6 thành phần:
    1. Chuẩn mở
      • Chuẩn được áp dụng và được một tổ chức phi lợi nhuận duy trì, và sự phát triển hiện hành của nó diễn ra trên cơ sở của một thủ tục ra quyết định mở sẵn sàng cho tất cả các bên có quan tâm (quyết định đồng thuận hoặc theo số đông...).
      • Chuẩn đã được xuất bản và tài liệu đặc tả của chuẩn là sẵn sàng hoặc một cách tự do hoặc với một phí tượng trưng. Tất cả mọi người phải được phép sao chép, phân phối và sử dụng nó mà không mất phí hoặc với một phí tượng trưng.
      • Sở hữu trí tuệ - nghĩa là, các bằng sáng chế có thể là có - đối với (các phần) chuẩn và được làm cho sẵn sàng không thể hủy bỏ được trên cơ sở không có phí bản quyền.
      • Không có bất kỳ ràng buộc nào trong việc sử dụng lại chuẩn đó.
    2. Giao diện mở
      • Trong phần mềm, khái niệm thường được sử dụng là giao diện lập trình ứng dụng API (Application Programming Interface) mở (OpenAPI), thường được tham chiếu tới như là công nghệ mới OpenAPI. OpenAPI là một từ được sử dụng để mô tả các tập hợp công nghệ cho phép các website tương tác được với nhau thông qua việc sử dụng SOAP, Javascript và các công nghệ web khác. Trong khi các khả năng của nó không bị hạn chế chỉ cho các ứng dụng dựa trên web, thì điều này ngày càng trở thành một xu thế gia tăng trong các ứng dụng Web 2.0.
      • Khái niệm OpenAPI gần đây được sử dụng nhiều trong các phương tiện mạng xã hội và Web 2.0. Với sự ra đời của Facebook vào ngày 01/06/2007, thì Facebook đã kết hợp một OpenAPI vào trong mô hình nghiệp vụ của hãng.
      • OpenAPI cũng trở nên rất phổ biến trong kỹ thuật phần mềm, cho sự cộng tác giữa các kiến trúc sư và các kỹ sư các trường phái công nghệ khác nhau. Vì có các phần mềm khác nhau cho việc thiết kế các cấu trúc, những người này phải tìm ra một cách thức để sử dụng được công việc của nhau thông qua “OpenAPI”. Ví dụ, một kiến trúc sư phần mềm có thể vẽ trong một phần mềm CAD và các kỹ sư có thể triển khai được các bản vẽ đó trong các phần mềm của họ.
    3. Phần mềm tự do nguồn mở. Một chương trình là phần mềm tự do khi mà người sử dụng nó có được các quyền cơ bản sau:
      • Tự do chạy chương trình, vì bất kỳ mục đích nào (tự do 0).
      • Tự do nghiên cứu cách mà chương trình làm việc, và thay đổi nó để làm cho nó làm được những gì mà bạn muốn (tự do 1). Sự truy cập tới mã nguồn là một điều kiện tiên quyết cho điều này.
      • Tự do phân phối lại các bản sao để bạn có thể giúp được người hàng xóm của bạn (tự do 2).
      • Tự do phân phối các bản sao những phiên bản đã được sửa đổi của bạn cho những người khác (tự do 3). Bằng việc làm này bạn có thể trao cho toàn bộ cộng đồng một cơ hội hưởng lợi từ những thay đổi của bạn. Sự truy cập tới mã nguồn là một điều kiện tiên quyết đối với điều này.
    4. Thiết kế mở
      • Thiết kế mở là sự phát triển các sản phẩm vật lý, các máy móc và các hệ thống thông qua việc sử dụng các thông tin thiết kế được chia sẻ một cách công khai. Mục tiêu và triết lý là giống hệt như phong trào phần mềm nguồn mở, nhưng được triển khai để phát triển các sản phẩm vật lý hơn là các phần mềm. Chúng ta sẽ thấy rõ hơn khi đề cập tới khái niệm phần cứng mở ở bên dưới.
      • Ý tưởng của thiết kế mở được thực hiện, hoặc cùng một lúc hoặc nối tiếp nhau với sự tham gia của vài nhóm hoặc cá nhân khác nhau. Các nguyên lý của thiết kế mở gần tương tự như những nguyên lý về thiết kế phần cứng mở, nổi lên vào tháng 03/1998 khi mà Reinoud Lamberts của Đại học Công nghệ Delft đã đề xuất trên website của ông bài “Các mạng thiết kế mở” sự tạo ra một cộng đồng thiết kế phần cứng theo tinh thần của phần mềm tự do.
    5. Công cụ trực tuyến cộng tác và phân tán
      • Phần mềm tự do nguồn mở thường được các lập trình viên từ khắp nơi trên thế giới phát triển, thường với 2 nhánh: một nhánh với kho mã nguồn ổn định và nhánh còn lại với kho mã nguồn được kiểm thử, cả 2 nhánh đều có những phiên bản mới thường xuyên được đưa ra theo thời gian ngắn. Việc phát triển phần mềm vì thế thường cần tới một công cụ quản lý và kiểm soát phiên bản và mã nguồn đóng góp từ tất cả các lập trình viên đó. Thông thường, công cụ này làm giúp các lập trình viên làm việc tốt được một cách trực tuyến trên Internet.
      • Ví dụ về một công cụ trực tuyến cộng tác và phân tán là Git, một hệ thống kiểm soát phiên bản hiện đang được sử dụng trong nhiều dự án phần mềm tự do nguồn mở, đặc biệt là để phát triển nhân Linux với hàng ngàn lập trình viên từ vài trăm công ty và những người đóng góp tự nguyện nằm phân tán trên toàn thế giới thông qua môi trường Internet một cách trực tuyến.
      • c công cụ trực tuyến cộng tác và phân tán bây giờ được sử dụng một cách rộng rãi trong phát triển phần mềm.
    6. Sự thích nghi về công nghệ
      • Quá thường thấy tất cả các phần mềm và các hệ thống trong lịch sử đã và đang được phát triển như là những đồ nguyên khối. Những phần mềm hoặc hệ thống như vậy là khó để thay đổi và áp dụng khi công nghệ và và các nhu cầu thay đổi.
      • Khi phần mềm đã trở thành ngày một được kết nối mạng, thì thiết kế và các phương pháp luận kỹ thuật đã tiến bộ hướng tới các kiến trúc dựa vào dịch vụ mà chúng giao tiếp thông qua các giao diện mở và được tiêu chuẩn hóa. Một khi là dạng kiến trúc mở, dựa vào dịch vụ được triển khai, thì hệ thống về bản chất tự nhiên phân li thành một thiết kế theo module - mỗi dịch vụ là tự do để cải tiến và tiến hóa một cách độc lập miễn là nó giao tiếp thông qua các giao diện tiêu chuẩn.
      • Mấu chốt là hãy chia hệ thống thành các thành phần theo module, nhỏ hơn, có khả năng được sử dụng một cách riêng rẽ và có các giao diện tiêu chuẩn. Điều này cho phép thay đổi và thích nghi được khi công nghệ và các nhu cầu thay đổi.
  2. Phần cứng mở.
    1. Đưa các nguyên tắc của phần mềm tự do nguồn mở, như được nêu ở trên, vào cho phần cứng để điều hành việc sử dụng, sao chép, sửa đổi và phân phối các tài liệu thiết kế phần cứng, sản xuất và phân phối các sản phẩm phần cứng.
    2. Tài liệu thiết kế phần cứng bao gồm các sơ đồ, thiết kế, bản vẽ mạng và bảng mạch, các hình vẽ cơ khí, các đồ thị lưu trình và các văn bản mô tả, cũng như những tư liệu khác.
  3. Web mở.
    1. Định nghĩa thực sự của Web Mở vẫn còn trong quá trình hình thành, dù chắc chắn là nó sẽ được xây dựng dựa vào các nguyên lý cốt lõi của bản thân Web.
    2. Nguyên tắc quan trọng duy nhất cho Web mở là tính tương hợp, nghĩa là các hệ thống, phần mềm, các site, và các ứng dụng làm việc được với nhau mà không có xung đột.
    3. Khía cạnh đầu tiên và sống còn nhất đối với Web Mở là sự phi tập trung. Có nghĩa là Web Mở không bị bất kỳ cá nhân, công ty, hay tổ chức duy nhất nào kiểm soát. Thay vào đó, nó thuộc về bất kỳ ai muốn sử dụng nó. Có sự lựa chọn cách mà bạn được tham gia trong quá trình đó, từ việc sử dụng một dải rộng lớn các nhà cung cấp dịch vụ cho tới việc thiết lập site riêng tự làm của bạn.
    4. Về mặt kỹ thuật công nghệ, Web Mở có kiến trúc 4 lớp: cấu trúc, trình diễn, hành vi, và phương tiện.

Kiến trúc Web Mở
  1. Đám mây mở. Thời gian gần đây, điện toán đám mây (ĐTĐM) trở thành một cụm từ được nhắc tới rất nhiều trong thế giới công nghệ thông tin. Nhiều người cho rằng, khi sử dụng ĐTĐM thì ranh giới giữa “mở” và “đóng” sẽ không còn nữa. Tuy nhiên, thực tế triển khai thời gian qua đã cho thấy ĐTĐM cũng cần có sự phân biệt rạch ròi giữa “đóng” và “mở”. Vì vậy, nhân sự kiện hội nghị nguồn mở OSCON 2011 vừa diễn ra vào cuối tháng 07/2011 vừa qua tại Portland, Oregon, Mỹ, sáng kiến đám mây mở (ĐMM) đã ra đời với mục tiêu của nó là truyền toàn bộ các nguyên lý của phần mềm nguồn mở vào trong ĐTĐM để tạo nên những ĐMM.
    1. ĐMM mở là đám mây mà những người sử dụng phải có khả năng đến (không có rào cản khi vào) và đi (không có rào cản khi ra) bất chấp họ là ai (không phân biệt đối xử) và bất chấp là hệ thống nào họ sử dụng (trung lập về công nghệ).
    2. Các nhà cung cấp hỗ trợ vì thế phải cộng tác trong các tiêu chuẩn mở, triển khai những chuẩn mở đang tồn tại (ở những nơi có khả năng) và cộng tác thông qua một qui trình mở để phát triển chúng, với một quan điểm cạnh tranh công bằng về chất lượng.
    3. ĐMM phải đáp ứng các yêu cầu sau:
      • Các định dạng mở: Tất cả các dữ liệu và siêu dữ liệu phải được trình bày trong các định dạng của các chuẩn mở.
      • Các giao diện mở: Tất cả chức năng phải được thể hiện theo cách của các giao diện theo các chuẩn mở.
Vĩ thanh:
Bài viết có lẽ còn chưa nhắc tới hết được những khái niệm mở, như dữ liệu mở hay chính phủ mở... và bạn chắc chắn sẽ nghe thấy ngày một nhiều hơn về những khái niệm “mở” này trong một thế giới mà nguồn mở đã và đang trở thành mặc định để mọi người hướng tới phát triển công nghệ thông tin trong tương lai. Bạn sẽ không có cách gì để có thể bỏ qua chúng được!!!
Trần Lê
PS: Bài được đăng trên tạp chí Tin học và Đời sống, số 09/2011, trang 54-56.

Intel muốn nguồn mở trong chương trình nghiên cứu của các đại học


Intel wants open source in university research programme
14 September 2011, 17:46
Bài được đưa lên Internet ngày: 14/09/2011
Lời người dịch: Intel đỡ đầu cho 4 Trung tâm Khoa học và Công nghệ của Intel ISTCs (Intel Science and Technology Centers) tại một số trường Đại học nổi tiếng của Mỹ với khoảng 2.5 triệu USD một năm cho 5 năm để nghiên cứu điện toán đám mây, nhúng, an ninh và trực quan, cụ thể : tại Stanford (Điện toán trực quan - Visual Computing), Berkeley (Điện toán an ninh - Secure Computing) và 2 dự án tai Carnegie Mellon (Điện toán đám mây và Điện toán nhúng - Cloud Computing and Embedded Computing). “Intel hy vọng ITSC sẽ tạo ra những cộng đồng nghiên cứu mới nơi mà thông tin và nghiên cứu chảy tự do hơn. Intel đã chỉ định rằng chính sách sở hữu trí tuệ IP được ưu tiên là mở nguồn bất kỳ phần mềm đáng kể nào và không đệ trình các bằng sáng chế, nhưng sẽ xuất bản tất cả các đổi mới sáng tạo có thể được cấp bằng sáng chế”.
Nền công nghiệp đã đỡ đầu cho nghiên cứu đại học trong quá khứ, nhưng Intel đã vừa có một động thái mới cho quá trình này: nguồn mở. Từ tháng 01, Intel đã và đang cấp vốn cho 3 trường đại học của Mỹ để tổ chức 4 Trung tâm Khoa học và Công nghệ của Intel ISTCs (Intel Science and Technology Centers) với khoảng 2.5 triệu USD một năm cho 5 năm để nghiên cứu điện toán đám mây, nhúng, an ninh và trực quan.
Nhưng ở những nơi, trong quá khứ, chính sách sở hữu trí tuệ có thể thấy một số dạng chia tách giữa đại học và người đỡ đầu, thì Intel đã chỉ định rằng chính sách IP được ưu tiên là mở nguồn bất kỳ phần mềm đáng kể nào và không đệ trình các bằng sáng chế, nhưng sẽ xuất bản tất cả các đổi mới sáng tạo có thể được cấp bằng sáng chế. Sự ưu tiên này bị hạn chế bởi thực tế rằng nó không thể bao trùm các IP hiện hành được mang tới trong dự án và rằng Intel sẽ thương thảo các thỏa thuận riêng biệt với từng trường đại học. Chương trình này hiện chỉ có tại Mỹ, tại Stanford (Điện toán trực quan - Visual Computing), Berkeley (Điện toán an ninh - Secure Computing) và 2 dự án tai Carnegie Mellon (Điện toán đám mây và Điện toán nhúng - Cloud Computing and Embedded Computing). Intel hy vọng ITSC sẽ tạo ra những cộng đồng nghiên cứu mới nơi mà thông tin và nghiên cứu chảy tự do hơn.
Industry has sponsored university research in the past, but Intel has just brought a new twist to the process: open source. Since January, Intel has been funding three US universities to host four ISTCs (Intel Science and Technology Centers) with around $2.5 million a year for five years to research cloud, embedded, secure and visual computing.
But where, in the past, the intellectual property policy would see some sort of split between the university and sponsor, Intel have specified that the preferred IP policy is to open source any significant software and to not file patents, but to publish all patentable inventions. This preference is limited by the fact that it cannot cover existing IP brought into the project and that Intel will be negotiating separate agreements with each of the universities. The program is currently only running in the US, at Stanford (Visual Computing), Berkeley (Secure Computing) and two projects at Carnegie Mellon (Cloud Computing and Embedded Computing). Intel hopes the ITSCs will create new research communities where information and research flows more freely.
(djwm)
Dịch tài liệu: Lê Trung Nghĩa