Thứ Tư, 23 tháng 1, 2013

Danh sách các lựa chọn nguồn mở cho giáo dục được OSS Watch xuất bản


List of open source options for education published by OSS Watch
Submitted by Gijs Hillenius on January 18, 2013
Bài được đưa lên Internet ngày: 18/01/2013
Một danh sách để giúp các trường học tìm các lựa chọn thay thế bằng nguồn mở cho các ứng dụng phần mềm sở hữu độc quyền đã được xuất bản đầu tuần này từ OSS Watch, một dịch vụ cho các cơ quan giáo dục từ phổ thông trung học trở lên tại nước Anh. Việc giới thiệu danh sách này, giám đốc phát triển Mark Johnson của OSS Watch nói: “Ở những nơi có khả năng, chúng tôi đã đưa vào những ví dụ sử dụng thế giới thực của chúng”.
A list to help schools find open source alternatives to proprietary software applications was published earlier this week by OSS Watch, a service for higher and further education institutions in the UK. Introducing the list, OSS Watch development manager Mark Johnson says: "Where possible, we’ve included real-world examples of their usage."
Lời người dịch: OSS Watch đã đưa ra danh sách để giúp các trường học tìm các lựa chọn thay thế bằng nguồn mở cho các ứng dụng phần mềm sở hữu độc quyền. Một số nơi có những ví dụ sử dụng cụ thể. Danh sách này được chia thành 9 lĩnh vực giáo dục, như các Công cụ Học tập Điện tử E-Learning, Đánh giá và Lớp học. Trong phần E-Learning, ví dụ, nó liệt kê Moodle, Sakai và Canvas như những lựa chọn thay thế nguồn mở. “Đại học Thủ đô Manchester (Manchester Metropolitan University) đã chọn Moodle sau một rà soát lại tăng cường... Danh sách cũng bao gồm các lựa chọn nguồn mở cho các chủ đề bao gồm sản xuất Âm nhạc, Phim và Phương tiện, Nhà hát và Kịch, Thiết kế và Công nghệ. OSS Watch: “Các dịch vụ CNTT của Đại học Oxford quản lý một khóa về Xuất bản bằng máy tính để bàn với Scribus””. Danh sách này là rất tốt cho các cơ quan giáo dục ở Việt Nam tham khảo. Xem danh sách này ở đây.
Danh sách này được chia thành 9 lĩnh vực giáo dục, như các Công cụ Học tập Điện tử E-Learning, Đánh giá và Lớp học. Trong phần E-Learning, ví dụ, nó liệt kê Moodle, Sakai và Canvas như những lựa chọn thay thế nguồn mở. “Đại học Thủ đô Manchester (Manchester Metropolitan University) đã chọn Moodle sau một rà soát lại tăng cường”, OSS Watch bổ sung, đưa vào một đường liên kết tới một báo cáo năm 2010 của đại học này.
Danh sách cũng bao gồm các lựa chọn nguồn mở cho các chủ đề bao gồm sản xuất Âm nhạc, Phim và Phương tiện, Nhà hát và Kịch, Thiết kế và Công nghệ. OSS Watch: “Các dịch vụ CNTT của Đại học Oxford quản lý một khóa về Xuất bản bằng máy tính để bàn với Scribus”.
Ngữ cảnh giáo dục
Johnson đã công bố danh sách hôm thứ năm trong một bài viết trên blog của ông. Ông viết rằng 'Các lựa chọn Nguồn Mở cho Giáo dục' của OSS Watch bổ sung thêm cho các Lựa chọn Nguồn Mở của Văn phòng Nội các Vương quốc Anh, mà đã được làm công khai từ tháng 04/2012.
Để biên dịch danh sách này, tổ chức có trụ sở ở Oxford đã làm việc với cộng đồng giáo dục và với các cộng đồng nguồn mở xung quanh nhiều dự án đặc sắc. Dánh sách này có vài gói chung, Johnson viết, “nhưng chúng tôi đã xem xét chúng đặc biệt trong ngữ cảnh ứng dụng của chúng cho tình huống giáo dục, như việc sử dụng một gói phần mềm văn phòng để làm tác giả cho các sách điện tử”.
Có hơn nữa
Cuối năm ngoái, 3 ứng dụng quản lý trường học, Opensis, Epoptes và Fedena đã được rà soát lại từ blog nguồn mở của Ý là Linuxaria. Bài báo đã được tái xuất bản đầu tháng này trên site Opensource.com của Red Hat. Các độc giả ở đó đã chỉ ra hệ thống thông tin sinh viên nguồn mở thứ 4, schooltool.org
The list is divided in seven education areas, such as E-Learning, Assessment and Classroom Tools. In the E-Learning section, for example, it lists Moodle, Sakai and Canvas as open source alternatives. "The Manchester Metropolitan University selected Moodle after an extensive review", OSS Watch adds, adding a link to a 2010 report by the university.
The list also contains open source options for subjects including Music, Film and Media production, Theatre and Drama, Design and Technology. OSS Watch: "University of Oxford IT Services run a course on Desktop Publishing with Scribus."
Educational context
Johnson announced the list on Thursday in a post on his blog. He writes that the OSS Watch 'Open Source Options For Education' complements the UK Cabinet Office’s Open Source Options, which was made public last April.
To compile the list, the Oxford-based organisation worked with the educational community and with the open source communities around many of the featured projects. The list contains several generic packages, Johnson writes, "but we've looked at them specifically in the context of their application to an educational situation, such as using an office package to author e-books."
There's more
Late last year, three school management applications, Opensis, Epoptes and Fedena were reviewed by the Italian open source blog Linuxaria. The article was republished earlier this month on Red Hat's Opensource.com. Readers there pointed to a fourth open source student information system, schooltool.org.
Dịch: Lê Trung Nghĩa

Thứ Ba, 22 tháng 1, 2013

Phần mềm độc hại mức độ Stuxnet làm gián điệp trong các mạng nhà nước

-->
Stuxnet-Level Malware Spying on State Networks
Các site của Nga bị phần mềm độc hại 'Tháng 10 đỏ' (Red October) đánh khốc liệt nhất trong các năm vừa qua, Kaspersky Labs nói.
Russian sites hit hardest by 'Red October' in recent years, says Kaspersky Labs
By John Johnson, Newser Staff
Posted Jan 15, 2013 4:03 PM CST
Bài được đưa lên Internet ngày: 15/01/2013
Lời người dịch: Trích đoạn: “Một mạng phức tạp các tin tặc đã và đang gián điệp hàng trăm máy tính ngoại giao khắp thế giới mà không ai biết từ khoảng 5 năm qua... Phần mềm độc hại “Tháng 10 đỏ” (Red October) đang được sử dụng cùng với các virus nổi tiếng và Stuxnet và Flame... Đây là cuộc tấn công đầu tiên có thể được so sánh, xét về độ phức tạp của nó, với các cuộc tấn công do các nhà nước bảo trợ như Flame... các sứ quán, các trung tâm thương mại, các trung tâm nghiên cứu hạt nhân, và cơ sở dầu và khí là các mục tiêu... Những kẻ tấn công dường như có “gốc gác nói tiếng Nga”, nhưng phần mềm được sử dụng gợi ý rằng các tin tặc Trung Quốc cũng đóng một vai trò”. Chi tiết xem ở đây. Đáng chú ý là Việt Nam cũng có 6 lây nhiễm. Và một lần nữa, trojan 'Red October' là mặc định cho Windows, và cả Word và Excel nữa. 'Red October' hoạt động từ tháng 05/2007 (cùng thời điểm với GhostNet) và tới tháng 01/2013 vẫn đang hoạt động.
(Newser) - Một mạng phức tạp các tin tặc đã và đang gián điệp hàng trăm máy tính ngoại giao khắp thế giới mà không ai biết từ khoảng 5 năm qua, Christian Science Monitor nêu. Phần mềm độc hại “Tháng 10 đỏ” đang được sử dụng cùng với các virus nổi tiếng và Stuxnet và Flame, nhưng các tội phạm lần này - chống lại các chính phủ - có lẽ đứng đằng sau nó, hãng an ninh Internet của Nga - Kaspersky Labs, nói. Các site tại Nga và các quốc gia vệ tinh thời Liên Xô cũ là những cái đích thường xuyên nhất, nhưng Mỹ cũng được xem là một nhúm các cuộc tấn công.
“Đây là cuộc tấn công đầu tiên có thể được so sánh, xét về độ phức tạp của nó, với các cuộc tấn công do các nhà nước bảo trợ như Flame”, một chuyên gia của Kaspersky nói. Các chi tiết chính xác những gì bị ăn cắp còn ít, nhưng các sứ quán, các trung tâm thương mại, các trung tâm nghiên cứu hạt nhân, và cơ sở dầu và khí là các mục tiêu, TheNextWeb nêu. Những kẻ tấn công dường như có “gốc gác nói tiếng Nga”, nhưng phần mềm được sử dụng gợi ý rằng các tin tặc Trung Quốc cũng đóng một vai trò. Kaspersky đưa ra các viên sạn về những phát hiện của mình ở đây.
(Newser) – A highly sophisticated network of hackers has been spying on hundreds of diplomatic computers around the world unnoticed for about five years, reports the Christian Science Monitor. The "Red October" malware being used is on par with the notorious Stuxnet and Flame viruses, but this time criminals—as opposed to governments—may be behind it, says Russian Internet security firm Kaspersky Labs. Sites in Russia and the former Soviet satellite states have been the most frequent targets, but the US has seen a handful of attacks, too.
"This is the first attack that can be compared, judging by its complexity, with state-sponsored attacks like Flame," says an expert with Kaspersky. Details on exactly what got stolen are skimpy, but embassies, trade centers, nuclear research centers, and oil and gas facilities were targets, reports TheNextWeb. The attackers appear to have "Russian-speaking origins," but the software used suggests that Chinese hackers also played a role. Kaspersky provides the nitty gritty of its findings here.
Dịch: Lê Trung Nghĩa

Iran nâng trò chơi chiến tranh KGM của mình sau Stuxnet, tướng Mỹ nói


Iran Raised Its Cyberwar Game After Stuxnet, U.S. General Says
By Arik Hesseldahl, January 18, 2013 at 5:55 am PT
Bài được đưa lên Internet ngày: 18/01/2013
Lời người dịch: Tướng Mỹ phụ trách về chiến tranh không gian mạng (CTKGM) trong không quân cho rằng chính cuộc tấn công bằng Stuxnet vào Iran làm bật dậy các cuộc tấn công trả đũa của Iran vào các ngân hàng Mỹ cuối năm 2012 và các mối đe dọa từ Iran sẽ còn tiếp tục đối với Mỹ. “Các cuộc tấn công phần lớn được xem như là sự trả đũa không chỉ vì Stuxnet, mà còn vì những chiến dịch khác dựa vào các phần mềm độc hại mà được cho là đã nhằm vào chống lại Iran: Flame, mà đã biến các máy tính thành các công cụ gián điệp phức tạp, có sử dụng các máy quay video và các microphone được xây dựng sẵn bên trong: và Gauss, mà đã tìm cách để can thiệp vào các thông tin tài khoản của ngân hàng. Shelton đã không nói trực tiếp liệu có hay không việc Iran đã tấn công các mạng của chính phủ Mỹ, nhưng nói rằng các nỗ lực của họ đang diễn ra... Rõ ràng là sự kiện Natanz đã tạo ra phản ứng của họ. Họ đang trở thành một lực lượng được thừa nhận, với các khả năng tiềm tàng rằng họ sẽ phát triển qua năm tháng và mối đe dọa tiềm tàng sẽ thể hiện đối với nước Mỹ”.
Sau các cuộc tấn công của phần mềm độc hại Stuxnet mà được cho là đã làm cho vài máy li tâm hạt nhân của Iran bị nổ, Iran đã lập tức thúc đẩy khả năng triển khai các cuộc tấn công chống lại các mạng máy tính, và đang gia tăng trong “một lực lượng sẽ được tính tới”.
Đó là cảnh báo mà tướng William Shelton, người đứng đầu Chỉ huy Không gian của Không lực Mỹ đưa ra, người còn có trách nhiệm về nhóm chiến tranh không gian mạng (CTKGM) của Không lực, trong một bài nói chuyện tại Washington, D.C., ngày hôm qua, mà Reuters đã ghi lại.
Cảnh báo của Shelton tới 9 ngày sau khi các chuyên gia an ninh quen thân với các quan chức chính phủ Mỹ đã nói cho tờ New York Times rằng Iran đứng đằng sau một loạt các cuộc tấn công từ chối dịch vụ vào cuối năm 2012 định phá hoại dòng chảy thông thường của ngành tài chính. Các ngân hàng đã bị ảnh hưởng bao gồm Bank of America, Citigroup, Wells Fargo, U.S. Bancorp, J.P. Morgan Chase và PNC.
Các cuộc tấn công phần lớn được xem như là sự trả đũa không chỉ vì Stuxnet, mà còn vì những chiến dịch khác dựa vào các phần mềm độc hại mà được cho là đã nhằm vào chống lại Iran: Flame, mà đã biến các máy tính thành các công cụ gián điệp phức tạp, có sử dụng các máy quay video và các microphone được xây dựng sẵn bên trong: và Gauss, mà đã tìm cách để can thiệp vào các thông tin tài khoản của ngân hàng.
Shelton đã không nói trực tiếp liệu có hay không việc Iran đã tấn công các mạng của chính phủ Mỹ, nhưng nói rằng các nỗ lực của họ đang diễn ra.
Shelton đã tham chiếu tới cuộc tấn công của Stuxnet vào năm 2010 như là “Sự kiện Natanz”. Trong sự kiện phá hoại số phức tạp đó, như tờ New York Times nêu, phần mềm độc hại nhằm vào Windows đã đào bới theo cách của nó trong các máy tính kiểm soát công nghiệp được gọi là các Kiểm soát Logic Lập trình được (Programmable Logic Controllers), nhằm vào một thiết lập đặc biệt trong một cấu hình đặc biệt. Phần mềm độc hại đó sau đó chiếm quyền kiểm soát của các hệ thống đó và gây ra cho một số máy li tâm quay ngoài tầm kiểm soát và cuối cùng bị nổ, trong khi các màn hình máy tính hiển thị điều kiện của các máy li tâm đã chỉ ra cho họ là bình thường. Cùng lúc, sự thiệt hại được cho là đã làm cho chương trình nghiên cứu hạt nhân của Iran bị chậm lại khoảng 2 năm.
Shelton nói nó đã có một hiệu ứng khác: Một sự gia tăng trong quyết định của Iran đánh vào các kẻ địch trong thực tế KGM. “Tình hình Iran là khó để nói”, Reuters trích lời Shelton. “Rõ ràng là sự kiện Natanz đã tạo ra phản ứng của họ. Họ đang trở thành một lực lượng được thừa nhận, với các khả năng tiềm tàng rằng họ sẽ phát triển qua năm tháng và mối đe dọa tiềm tàng sẽ thể hiện đối với nước Mỹ”.
After the Stuxnet malware attacks that are thought to have caused several Iranian nuclear centrifuges to explode, Iran has been steadily boosting its ability to carry out attacks against computer networks, and is growing into “a force to be reckoned with.”
That was the warning given by Gen. William Shelton (pictured in a file photo), head of the U.S. Air Force’s Space Command, which is also in charge of the Air Force’s cyberwar group, in a speech in Washington, D.C., yesterday, which was covered by Reuters.
Shelton’s warning comes nine days after security experts familiar with the opinion of U.S. government officials told the New York Times that Iran is behind a series of denial-of-service attacks in late 2012 meant to disrupt the normal flow of financial business. Banks affected included Bank of America, Citigroup, Wells Fargo, U.S. Bancorp, J.P. Morgan Chase and PNC.
The attacks were largely seen as a retaliation not only for Stuxnet, but for other malware-based campaigns that are thought to have been targeted against Iran: Flame, which turned computers into sophisticated spying tools, using their built-in video cameras and microphones; and Gauss, which sought to intercept bank account information.
Shelton didn’t speak directly to whether or not Iran has attacked U.S. government networks, but said that its efforts are ongoing.
Shelton referred to the Stuxnet attack in 2010 as the “Natanz situation.” In that instance of sophisticated digital sabotage, as reported by the New York Times, malware targeting Windows burrowed its way into industrial control computers called Programmable Logic Controllers, targeting a specific setup in a specific configuration. The malware then seized control of those systems and cause some centrifuges to spin out of control and ultimately explode, while computer monitors displaying the condition of those centrifuges showed them to be normal. At the time, the damage was thought to have set the Iranian nuclear research program back by about two years.
Shelton says it had another effect: An increase in Iranian resolve to strike its enemies in the cyber realm. “The Iranian situation is difficult to talk about,” Reuters quotes Shelton as saying. “It’s clear that the Natanz situation generated reaction by them. They are going to be a force to be reckoned with, with the potential capabilities that they will develop over the years and the potential threat that will represent to the United States.”
Dịch: Lê Trung Nghĩa

Thứ Hai, 21 tháng 1, 2013

Tính tương hợp của đám mây: Các vấn đề và các thực tiễn tốt nhất


Cloud interoperability: Problems and best practices
Submitted by Katleen Sledz on January 11, 2013
Bài được đưa lên Internet ngày: 11/01/2013
Lời người dịch: Bạn phải rất cẩn thận khi quyết định lên đám mây. “Khi sự thổi phồng về điện toán đám mây tiến hóa trong một thảo luận lớn hơn, thì một điều đã trở nên rõ ràng - những người tiêu dùng không muốn bị khóa trói vào một nhà cung cấp đám mây duy nhất. Họ muốn sự tự do để chuyển giữa các đám mây - lý tưởng từ đám mây công cộng sang đám mây riêng và ngược lại một lần nữa. Điều này có thể trao cho các khách hàng sự tự do để chuyển đổi nhà cung cấp khi các nhu cầu điện toán của họ tăng hoặc giảm, và khả năng chuyển các ứng dụng và tải công việc quanh đâu đó khi các yêu cầu nghiệp vụ của họ thay đổi”. Vào lúc này, nếu chọn một vài ứng dụng không mang tính sống còn để đưa lên đám mây và nên thử chứng minh khái niệm bằng cách thoát ra khỏi nó và chuyển sang nhà cung cấp khác xem thực tế diễn ra như thế nào.
Khi nhiều hơn các ứng dụng đi lên đám mây, thì tính khả chuyển dữ liệu và các vấn đề khác đang trở nên sống còn.
Khi sự thổi phồng về điện toán đám mây tiến hóa trong một thảo luận lớn hơn, thì một điều đã trở nên rõ ràng - những người tiêu dùng không muốn bị khóa trói vào một nhà cung cấp đám mây duy nhất. Họ muốn sự tự do để chuyển giữa các đám mây - lý tưởng từ đám mây công cộng sang đám mây riêng và ngược lại một lần nữa. Điều này có thể trao cho các khách hàng sự tự do để chuyển đổi nhà cung cấp khi các nhu cầu điện toán của họ tăng hoặc giảm, và khả năng chuyển các ứng dụng và tải công việc quanh đâu đó khi các yêu cầu nghiệp vụ của họ thay đổi.
Nhưng những người sử dụng và các nhà cung cấp đám mây nằm ở các vị trí rất khác nhau về vấn đề này, và tính tương hợp thực sự của đám mây có lẽ đôi khi sẽ không xảy ra - nếu không nói là cho tới nay. Các tiêu chuẩn là sơ khai và sẽ mất nhiều năm để phát triển đầy đủ. Joe Skorupa, một phó chủ tịch của Gartner, nói rằng thậm chí nếu một tiêu chuẩn đám mây mở sẽ tới, thì mỗi nhà cung cấp có thể vẫn sẽ tiếp tục triển khai những cải tiến sở hữu độc quyền của riêng họ để phân biệt đồ của mình khi cạnh tranh. Skorupa chỉ ra rằng các nhà cung cấp không muốn các đám mây trở thành các sản phẩm thế phẩm vì họ không muốn cạnh tranh chỉ về giá.
Bernard Golden, CEO của HyperStratus, một hãng tư vấn tại San Carlos, California, chuyên về ảo hóa và điện toán đám mây, nói có lẽ không thể có việc nền công nghiệp sẽ tới được điểm nơi mà có một số định dạng cho phép các ứng dụng sẽ được chuyển “một cách thần diệu” tới một hoặc nhiều đám mây khác. Một phần, ông nói, tình huống này được thực tế dẫn dắt rằng “có quá nhiều đổi mới đang diễn ra trong lĩnh vực này”.
Sự thiếu các tiêu chuẩn không làm dừng những người tiêu dùng chuyển vào đám mây, dù có khả năng nó chỉ cho họ thất vọng. Jim Chilton, CIO - Americas for Dassault Systemes, nơi làm thiết kế trợ giúp bằng máy tính và các phần mềm khác, nói rằng chiến lược công ty của ông từng thể hiện rằng sự chuyển đổi các ứng dụng nội bộ sang các đám mây công cộng là có thể. Ông thiết lập 2 kịch bản chứng minh khái niệm, một cho phục hồi thảm họa và một cho hỗ trợ kỹ thuật, và đã chọn CloudSwitch để chuyển đổi các ứng dụng do an ninh và sự dễ sử dụng của nó. Việc kiểm thử ban đầu đã thành công và đã được đội CNTT nội bộ quản lý làm việc với CloudSwitch.
Chilton đã học được rằng phải mất lâu hơn một chút so với mong đợi để thực hiện các chuyển đổi, trước hết là vì ông đã chuyển đổi các ứng dụng vật lý sang đám mây Amazon EC2 và cần phải chuyển đổi các ứng dụng đó sang một phiên bản được ảo hóa trước khi chúng có thể được chuyển đổi sang đám mây. Chilton nói, “khả năng sống sót của việc chuyển đổi một ứng dụng sang một đám mây đích phải làm với sự chín muồi của ứng dụng”, ông nói, và “các ứng dụng đã có trước đó là một cuộc vật lộn để được ảo hóa, không bao giờ nghĩ chuyển sang đám mây được”. Ảo hóa là bước đầu tiên hướng tới việc chuyển các ứng dụng vào đám mây, hầu hết các nhà quan sát đồng ý.
Kinh nghiệm của Chilton là các ứng dụng đã có trước đó không phải luôn làm việc tốt hoặc nhất quán khi được ảo hóa, và điều này bổ sung thêm sự phức tạp cho việc chuyển đổi. Chiến lược của ông trong việc chọn những gì để chuyển đổi là chọn ra các ứng dụng không phải là sống còn hàng ngày, như một cách để kiểm chứng mô hình đám mây và có được sự tin tưởng trong nội bộ.
As more applications find their way to the cloud, data portability and other issues are coming to the fore.
As the hype over cloud computing evolves into a more substantive discussion, one thing has become clear -- customers do not want to be locked into a single cloud provider. They would like the freedom to move among the clouds -- ideally from public to private and back again. This would give customers the freedom to switch providers as their computing needs grow or shrink, and the ability to move applications and workloads around as their business requirements change.
But users and cloud vendors are in very different places on this issue, and true cloud interoperability will likely not occur for some time -- if ever. Standards are nascent and will take years to fully develop. Joe Skorupa, a Gartner vice president, says that even if an open cloud standard should come to pass, every provider would still continue to implement its own proprietary enhancements to differentiate its wares from the competition. Skorupa points out that vendors do not want clouds to become commodity products because they do not want to compete on price alone.
Bernard Golden, CEO of HyperStratus, a consulting firm in San Carlos, Calif. that specializes in virtualization andcloud computing, says it's unlikely that the industry will get to the point where there is some format that lets applications be "magically" moved to one or more different clouds. In part, he says, this situation is driven by the fact that "there is so much innovation going on in this space."
This lack of standards isn't stopping customers from moving to the cloud, although it is likely slowing them down. Jim Chilton, CIO - Americas for Dassault Systemes, which makes computer-assisted design and other software, says that his company's strategy has been to demonstrate that the migration of internal applications to public clouds is possible. He set up two proof-of-concept scenarios, one for disaster recovery and one for technical support, and selected CloudSwitch to migrate the applications due to its security and ease of use. The initial testing was successful and was managed by an internal IT team working with CloudSwitch.
Chilton has learned that it takes a little longer to do the migrations than expected, primarily because he was migrating physical applications to the Amazon EC2 cloud and needed to convert the applications to a virtualized version before they could be moved to the cloud. Chilton says, "The viability of migrating an application to a target cloud has to do with the maturity of the application," he says, and "legacy applications are a struggle to get virtualized, never mind migrating to a cloud." Virtualization is a first step toward moving applications to the cloud, most observers agree.
Chilton's experience is that legacy applications don't always work well or consistently when virtualized, and this adds to the complexity of migrating. His strategy in choosing what to migrate is to pick applications that are not critical on a day-to-day basis, as a way to validate the cloud model and gain internal buy-in.
Dịch: Lê Trung Nghĩa

Lý do khác để sử dụng nguồn mở: khả năng kiểm toán


Another Reason to Use Open Source: Auditability
Published 08:42, 11 January 13, by Glyn Moody
Bài được đưa lên Internet ngày: 11/01/2013
Lời người dịch: Tất cả các thiết bị đăng ký tiền mặt trong các ngân hàng tại Nauy có thể sẽ được thay thế trong thời gian sắp tới và hiện chúng đang được đề nghị phải làm việc với các phần mềm nguồn mở thì mới đáp ứng được các yêu cầu về kiểm toán. “Điều này là cho các ưu thế của việc sử dụng phần mềm nguồn mở đối với các dạng thiết bị này thậm chí còn quyến rũ hơn. Nguồn mở đang chiếm lấy thế giới các phần mềm nhúng vì nó là rẻ hơn, an ninh hơn, mạch lạc hơn và có khả năng tùy biến được hơn so với mã nguồn đóng. Có thể bổ sung thêm vào đó rằng nó còn dễ dàng kiểm toán được hơn, vì nó là mở cho bất kỳ ai, bất kỳ lúc nào - không chỉ cho các nhà thanh tra khi họ viếng thăm”. Nhiều người muốn chốn nguồn mở. Đáng tiếc, có muốn chốn cũng không được.
Bộ trưởng tài chính Nauy dường như có vấn đề một chút vào lúc này. Bộ muốn tất cả những người đăng ký tiền mặt đang tồn tại tại nước này bị bỏ đi và được thay thế với những đăng ký mới, như site E24 của Nauy nói (thông qua Thomas Steen và Google Translate).
Kế hoạch đó được nghị viện phê chuẩn trước khi Easter và tất cả các hệ thống ngân hàng cần phải được cập nhật/ được thay thế vào mùa hè sang năm.
NHO bây giờ đang kêu gọi một sự rà soát lại kỹ lưỡng trước khi các qui định thay đổi cho 80.000 doanh nghiệp của nước này mà sẽ bị ảnh hưởng.
Không hệ thống chuyển nhượng nào đang tồn tại đáp ứng được các yêu cầu kỹ thuật một khi có ý phải yêu cầu. Phân tích của riêng ban lãnh đạo chỉ ra rằng 90.000 hệ thống phải được làm mới lại, trong khi Hiệp hội Kế toán tin tưởng số liệu đó có thể là cao hơn nhiều, luật sư Halvor E. Sigurdsen của Technical Review nói.
Không ngạc nhiên, sự nâng cấp lớn này không phải là phổ biến. Nhưng hình như nó đang được thúc đẩy qua trong một nỗ lực ngăn chặn các số liệu của những người đăng ký tiền mặt bị trà sát trong sử dụng để giảm thuế. Đây là những yêu cầu chính cho các hệ thống mới:
  • các nhà cung cấp phải có khả năng chứng minh rằng hệ thống có thể tích hợp với các phần mềm bên ngoài cho phép việc thay đổi ghi nhật ký trực tuyến.
  • Nó sẽ không có khả năng thay đổi các đầu vào trong quá khứ hoặc thay đổi các văn bản được thiết lập rồi về hàng hóa và dịch vụ được đăng ký.
  • Nó sẽ không có khả năng ghi lại các bán hàng mà không có một hóa đơn được in.
  • Nó sẽ không có khả năng đưa ra hơn một bản sao hóa đơn.
  • Nó sẽ không có khả năng đánh dấu một số nhóm sao cho chúng được đưa vào trong các báo cáo.
Tất nhiên, vấn đề lớn là làm thế nào bạn chứng minh được tất cả những thứ đó? Đơn giản chỉ ra rằng đăng ký tiền mặt của bạn dừng bạn làm chúng là không đủ: có thể có chức năng ẩn cho phép nó được chuyển thành chế độ gian lận khi mọi người không xem xét, có lẽ sử dụng một số tổ hợp phím kỳ quặc.
The Norwegian Ministry of Finance seems to be taking a bit of stick at the moment. It wants all the existing cash registers in the country thrown out and replaced with new ones, as the Norwegian site E24 reports (via Thomas Steen and Google Translate)
The plan is to be adopted by Parliament before Easter and all bank systems need to be upgraded / replaced by next summer.
NHO is now calling for a thorough review before the rules change for the country's 80,000 businesses that will be affected.
No existing disposal systems meet the technical requirements one has thought to ask. Directorate's own analysis shows that up to 90 000 systems must be renewed, while Accounting Association believes the figure could be much higher, said attorney Halvor E. Sigurdsen the Technical Review.
Not surprisingly, this massive upgrade is not popular. But it is apparently being pushed through in an attempt to prevent cash registers' figures being massaged downwards in use so as to reduce tax. Here are the main requirements for the new systems:
suppliers must be able to prove that the system can integrate with external software that allows changing the online journal.
It shall not be possible to change the entries in retrospect or change preset text on goods and services at registration.
It shall not be possible to record sales without a receipt is printed.
It shall not be possible to drive out more than one copy of the receipt.
It shall not be possible to mark some groups so that they are included in the reports.
Of course, the big problem is how do you prove all these things? Simply showing that your cash register stops you doing them is not enough: there might be hidden functionality that allows it to be switched into fraudulent mode when people aren't looking, perhaps using some weird keypress combination.
Bài báo trên E24 trích lời hiệp hội Nauy những người kiểm toán thuế, có một gợi ý nhạy cảm cho việc giải quyết vấn đề này:
Mã nguồn phải được mở
Không có mã nguồn thì không thể xác định được liệu có hay không chức năng “ẩn” đang tồn tại hay không. Chỉ biết rằng các nhà chức trách thuế có sự truy cập tới mã nguồn ứng dụng, sẽ làm giảm nỗ lực triển khai chức năng ẩn trong phần mềm.
Dù điều này là trường hợp rất đặc biệt, nó làm dấy lên những vấn đề quan trọng sống còn có khả năng gặt hái ngày một thường xuyên. Về cơ bản, bất kỳ thiết bị điện tử nào mà có các khả năng số được xây dựng sẵn là một máy tính đủ lông đủ cánh ngày nay. Điều đó có nghĩa - tiềm tàng - mã nguồn mà cho phép hành vi ẩn có thể bị xuất đi với nó. Cách duy nhất chắc chắn để giải quyết vấn đề này là nhất quán về mã nguồn phải được lảm cho sẵn sàng - và đối với các nhà điều tra để kiểm tra điều đó thực sự là mã nguồn đang chạy trong các máy ngoài đó.
Điều này là cho các ưu thế của việc sử dụng phần mềm nguồn mở đối với các dạng thiết bị này thậm chí còn quyến rũ hơn. Nguồn mở đang chiếm lấy thế giới các phần mềm nhúng vì nó là rẻ hơn, an ninh hơn, mạch lạc hơn và có khả năng tùy biến được hơn so với mã nguồn đóng. Có thể bổ sung thêm vào đó rằng nó còn dễ dàng kiểm toán được hơn, vì nó là mở cho bất kỳ ai, bất kỳ lúc nào - không chỉ cho các nhà thanh tra khi họ viếng thăm.
The article in E24 quotes the Norwegian association of tax auditors, which has an eminently sensible suggestion for solving this problem:
The source code must be opened
Without source code it is not possible to determine whether or "hidden" functionality exists or not. Just knowing that the tax authorities have access to the source code of the application, will reduce the effort to implement hidden functionality in the software
Although this is a very particular case, it raises crucially important issues that are likely to crop increasingly frequently. Essentially, any electronic device that has built-in digital capabilities is a fully-fledged computer these days. That means - potentially - code that allows forbidden behaviour might be shipped with it. The only sure way to catch this problem is to insist upon the source code being made available - and for inspectors to check that it really is the code being run in units in the wild.
This makes the advantages of using open source software for these kind of devices even more compelling. Open source is already taking over the world of embedded software because it is cheaper, more secure, more compact and more customisable than comparable closed-source code. To that can be added that it is also more easily audited, because it is open for everyone, all the time - not just for inspectors when they make their visits.
Dịch: Lê Trung Nghĩa

Chủ Nhật, 20 tháng 1, 2013

Bảo vệ dữ liệu và các tiêu chuẩn mở của EU


EU Data Protection and Open Standards
Published 13:44, 09 January 13
Bài được đưa lên Internet ngày: 09/01/2013
Lời người dịch: Người châu Âu tin tưởng rằng năm 2013 sẽ là năm đấu tranh cho việc bảo vệ dữ liệu điện tử, và để làm được điều này, điều cốt tử là phải sử dụng các tiêu chuẩn mở đúng, để thực thi được tính khả chuyển của dữ liệu cá nhân, bất kể nó được sử dụng ở đâu, với công nghệ nào, của nhà cung cấp dịch vụ nào. “Nhờ có bản chất tự nhiên toàn cầu của các hoạt động những ngày này, hiếm khi khả thi để thiết lập những hệ thống quá khác biệt cho các phần khác nhau của thế giới mà vận hành theo các cách thức khác nhau. Nếu các qui định của EU ép các công ty cung cấp các dịch vụ cho những người dân châu Âu để áp dụng các tiêu chuẩn mở để cho phép tính khả chuyển dữ liệu đúng, thì những tiêu chuẩn mở y hệt đó sẽ được triển khai toàn cầu. Đó là thứ gì đó thực sự đáng giá để đấu tranh”. Và ở Việt Nam cũng sẽ như vậy, dù có bất kỳ khó khăn nào giữa đường, cuối cùng thì chuẩn mở thực sự cũng sẽ ngự trị tại Việt Nam. Chắc chắn là như vậy!
Như đã xảy ra vào năm ngoái, 2013 không nghi ngờ gì sẽ thấy khá nhiều trận chiến trong các lĩnh vực các tiêu chuẩn mở, bản quyền và bằng sáng chế phần mềm, nhưng cũng sẽ có chủ đề mới: bảo vệ dữ liệu. Đó là hệ quả của một công bố do Ủy ban châu Âu đã thực hiện hầu như chính xác một năm trước: Ủy ban châu Âu hôm nay đã đề xuất một cuộc cải cách tổng thể các qui định bảo vệ dữ liệu năm 1995 của EU để tăng cường các quyền riêng tư trực tuyến và thúc đẩy nền kinh tế số của châu Âu. Sự tiến bộ và toàn cầu hóa của công nghệ đã thay đổi sâu sắc cách mả các dữ liệu của chúng ta được thu thập, được truy cập và được sử dụng. Hơn nữa, 27 nước thành viên EU đã triển khai các qui định 1995 khác nhau, gây ra những khác biệt trong sự ép tuân thủ. Một luật duy nhất sẽ loại bỏ được những phân mảnh và những gánh nặng hành chính tốn kém hiện nay, dẫn tới những tiết kiệm cho các doanh nghiệp khoảng 2.3 tỷ euro một năm. Sáng kiến đó sẽ giúp tăng cường lòng tin của người tiêu dùng vào các dịch vụ trực tuyến, đưa ra một sự khích lệ cần thiết nhiều cho sự tăng trưởng, công ăn việc làm và đổi mới tại châu Âu.
…
Những đề xuất của Ủy ban cập nhật và hiện đại hóa các nguyên tắc được cất giữ trong Chỉ thị Bảo vệ Dữ liệu năm 1995 để đảm bảo cho các quyền riêng tư trong tương lai. Chúng bao gồm một sự thiết lập các mục tiêu của Ủy ban về chính sách Truyền thông và 2 đề xuất pháp lý: một thiết lập Qui định khung chung của EU về bảo vệ dữ liệu và một Chỉ thị về bao vệ dữ liệu cá nhân được xử lý cho các mục đích ngăn chặn, dò tìm, điều tra hoặc tố cáo sự phạm tội của bọn tội phạm và các hoạt động pháp lý có liên quan.
Chúng ta bây giờ đã đề xuất văn bản Qui định đó, nó bao gồm nhiều sửa đổi bổ sung do Jan Alobrecht, nghị sỹ quốc hội châu Âu thuộc Đảng Xanh của Đức, người có trách nhiệm báo cáo của nghị viện châu Âu về vấn đề này. Ông có một trang hữu ích liên kết tới các tài liệu nền tảng phù hợp và các video các cuộc gặp, nhưng chúng hầu hết bằng tiếng Đức.
As happened for last year, 2013 will doubtless see plenty of battles in the domains of open standards, copyright and software patents, but there will also be a new theme: data protection. That's a consequence of an announcement made by the European Commission almost exactly a year ago:
The European Commission has today proposed a comprehensive reform of the EU's 1995 data protection rules to strengthen online privacy rights and boost Europe's digital economy. Technological progress and globalisation have profoundly changed the way our data is collected, accessed and used. In addition, the 27 EU Member States have implemented the 1995 rules differently, resulting in divergences in enforcement. A single law will do away with the current fragmentation and costly administrative burdens, leading to savings for businesses of around €2.3 billion a year. The initiative will help reinforce consumer confidence in online services, providing a much needed boost to growth, jobs and innovation in Europe.
…
The Commission's proposals update and modernise the principles enshrined in the 1995 Data Protection Directive to guarantee privacy rights in the future. They include a policy Communication setting out the Commission's objectives and two legislative proposals: a Regulation setting out a general EU framework for data protection and a Directive on protecting personal data processed for the purposes of prevention, detection, investigation or prosecution of criminal offences and related judicial activities.
We now have the proposed text of the Regulation [.pdf], which includes numerous amendments made by the German Green MEP Jan Albrecht, who is the European Parliament's Rapporteur for this matter. He has a useful page linking to relevant background documents and videos of meetings, but most of them are in German.
The Regulation is quite long, and written in the form of the original Commission text and the proposed changes, so it's not the easiest of reading. A better place to start is the commentary from the European Digital Rights organisation EDRI:
The draft Report of the European Parliament on the European Commission's proposed Data Protection Regulation was published today. The Parliamentarian responsible, German Green MEP Jan Albrecht, has sought to improve on the Commission's initial proposal and also to address many of the concerns raised by his colleagues in the discussions that have taken place so far in various Committees. The draft text is therefore a mix of straightforward attempts at positive improvements and attempts at compromise based on the opinions so far expressed by his colleagues.
One place where EDRI feels that Albrecht has improved the original text regards “legitimate interest”:
Qui định đó khá dài, và được viết ở dạng văn bản gốc của Ủy ban và những thay đổi được đề xuất, nên nó không thật dễ để đọc. Chỗ tốt hơn để bắt đầu là bình luận từ tổ chức các Quyền Số châu Âu - EDRI (European Digital Rights):
Báo cáo dự thảo của Nghị viện châu Âu về Qui định Bảo vệ Dữ liệu được EC đề xuất đã được xuất bản hôm nay. Nghị sỹ có trách nhiệm, Jan Albrecht của Đảng Xanh của Đức, đã tìm cách cải thiện về đề xuất ban đầu của Ủy ban và cũng đề cập tới nhiều quan tâm nảy sinh từ các đồng nghiệp của ông trong các thảo luận đã diễn ra cho tới nay trong một loạt các Ủy ban. Văn bản phác thảo vì thế là một sự pha trộn những ý định trực diện trong những cải thiện tích cực và những ý định thỏa hiệp dựa vào những ý kiến cho tới nay được các đồng nghiệp của ông thể hiện.
Một địa điểm nơi EDRI thấy Albrecht đã cải tiến văn bản gốc ban đầu về “lợi ích pháp lý”:
Theo tiếp cận này, các công ty có thể quyết định xử lý các dữ liệu cá nhân mà không có phép và không có điều đang cần thiết này cho kết luận của một hợp đồng. Họ có thể làm thế nếu họ cảm thấy rằng những lý do của họ để làm thế là quyến rũ hơn so với quyền về tính riêng tư của các cá nhân (dù quyết định này có thể bị thách thức tại các tòa án hoặc bởi một Nhà chức trách Bảo vệ Dữ liệu). Các đề xuất đối nghịch từ các đồng nghiệp đảng Xanh để xóa ngoại lệ này. Ông Albrechtgợi ý một sự thỏa hiệp - cho phép tiếp cận một phía này nếu đây là “ngoại lệ”. Người kiểm soát dữ liệu có thể được yêu cầu chứng minh sử dụng tiếp cận này và để thông báo chủ thể của dữ liệu 5 sự chứng minh rộng rãi được liệt kê để sử dụng ngoại lệ “lợi ích pháp lý” - một ví dụ là gửi các thư rác từ một công ty đang cung cấp các dịch vụ ruồi cho chủ thể của dữ liệu (như nó đang là theo luật EU về gửi thư rác).
EDRI không thật vui với câu hỏi về “việc định hình”:
theo sau logic của một loạt các quyền cơ bản khác nhau hạn chế các biện pháp được Ủy ban đề xuất trong lĩnh vực định hình cho các mục đích làm chính sách, báo cáo của ông Albrecht' gợi ý rằng các biện pháp mà đưa ra các hiệu ứng pháp lý về chủ thể dữ liệu có thể không “chỉ” dựa vào việc xử lý được tự động hóa. Câu chữ này quá hẹp mà bất kỳ sự can thiệp nào của con người cũng có thể đủ để làm thỏa mãn “sự bảo vệ” này.
Under this approach, companies can decide to process personal data without permission and without this being necessary for the conclusion of a contract. They may do so if they feel that their reasons for doing so are more compelling than the individual's right to privacy (although this decision may be challenged in the courts or by a Data Protection Authority). Contradicting proposals from Green colleagues to delete this exception, Mr Albrecht suggests a compromise - permitting this unilateral approach if it is “exceptional”. The data controller would be required to justify the use of this approach and to inform the data subject. Five broad justifications are listed for the use of the “legitimate interest” exception - one example being the sending of junk mail by a company that is already providing services to the data subject (as is currently the case under EU law for sending junk e-mail).
EDRI is less happy with the question of "profiling":
following the logic of various fundamental rights restricting measures proposed by the Commission in the area of profiling for policing purposes, Mr Albrecht's report suggests that measures that produce legal effects on the data subject may not be based “solely” on automated processing. This wording is so narrow that any human intervention at all would be enough to satisfy this “safeguard”.
All-in-all, though, EDRI feels that he has done a reasonable job in difficult circumstances:
Generally, many of the proposals from Mr Albrecht represent an improvement on suggestions already been made by lobbyists and certain Parliamentarians. However, it is far from certain whether his colleagues will accept the draft report as a genuine first attempt at compromise or simply a compromised position that can be further eroded during the remainder of the legislative process.
One of the vexed questions in this whole area is how the use of personal data from the EU would be regulated when gathered and processed by US companies. Indeed, there is something of a tussle going on here, as two opposing world-views slug it out.
On the European side, there is a greater focus on protecting the public's data from misuse; on the US side, the main concern is that US technology companies won't be inconvenienced when it comes to providing their services in Europe. Here's how the New York Times puts it:
Although the effort is intended to standardize and consolidate the enforcement of data protection regulation across the 27 European Union countries, some American regulators, industry groups and scholars have objected. They say the draft rule was overly broad and burdensome for technology companies to carry out.
Dù, tất cả, EDRI cảm thấy rằng ông đã làm một công việc hợp lý trong những hoàn cảnh khó khăn:
Nói chung, nhiều đề xuất từ ông Albrecht thể hiện một sự cải thiện trong các gợi ý đã được những người vận động hành lang và các nghị sỹ nhất định thực hiện. Tuy nhiên, nó còn xa với sự chắc chắn liệu các đồng nghiệp của ông có chấp nhận báo cáo phác thảo đó như là một ý định thực sự đầu tiên để thỏa hiệp hoặc đơn giản chỉ là một vị thế thỏa hiệp có thể bị xói mòn hơn nữa trong phần còn lại của quá trình làm luật.
Một trong những câu hỏi gây tranh cãi trong toàn bộ lĩnh vực này là làm thế nào sử dụng các dữ liệu cá nhân từ EU có thể được điều chỉnh khi được thu thập và được xử lý bởi các công ty Mỹ. Quả thực, có cái gì đó của một cuộc ẩu đả đang diễn ra ở đây, khi 2 quan điểm đối nghịch nhau của thế giới chia tách nhau ra.
Về phía châu Âu, có một sự tập trung lớn hơn vào việc bảo vệ dữ liệu công khỏi sử dụng sai; về phía Mỹ, lo ngại chính là các công ty công nghệ của Mỹ sẽ không thoải mái khi cung cấp các dịch vụ của họ ở châu Âu. Đây là cách mà NYT nêu nó ra:
Dù nỗ lực được mong đợi để tiêu chuẩn hóa và tăng cường ép tuân thủ qui định bảo vệ dữ liệu kháp 27 nước thành viên của EU, một số nhà điều chỉnh pháp luật của Mỹ, các nhóm công nghiệp và các học giả đã phản đối. Họ nói qui định phác thảo quá rộng và nặng nề đối với các công ty công nghệ để triển khai.
Bài viết trên NYT dấy lên một vấn đề cụ thể mà có thể trở thành mối quan tâm đặc biệt đối với các độc giả của blog này: tính khả chuyển các dữ liệu cá nhân. Đây là văn banr phù hợp từ người có trách nhiệm báo cáo:
2a. Ở những nơi mà chủ thể dữ liệu sẽ có quyền truyền đi những dữ liệu cá nhân đó, nơi mà về mặt kỹ thuật và khả thi và phù hợp, và được hệ thống xử lý tự động tiếp tục dùng, trong một nơi khác, ở định dạng điện tử thường được sử dụng, không có trở ngại từ người kiểm soát đối với những ai mà các dữ liệu cá nhân đó sẽ được rút đi.
Điều này là hợp lý, nó tạo nên một điểm chính:
Nếu các chủ thể dữ liệu muốn thực thi quyền của họ để truy cập các dữ liệu cá nhân của họ, thì nó nên được cung cấp cho họ ở một dạng điện tử mà họ có thể sử dụng. Sự sử dụng tiếp tục này bao gồm các quyền để dịch chuyển nó tới các nền tảng và dịch vụ khác nếu chủ thể dữ liệu muốn điều này. Quyền đối với tính khả chuyển dữ liệu, vì thế, chỉ là một đặc tả của quyền truy cập dữ liệu.
Nghĩa là, thiếu tính khả chuyển dữ liệu thì không có sự truy cập dữ liệu thực sự. Nhưng bài viết trên NYT nêu:
Việc trao cho mọi người quyền truyền các bản cập nhật và các ảnh chụp mà họ đã đưa lên Facebook và Google Plus, ví dụ, có thể là hợp lý tuyệt vời, Yianni Lagos, một đồng nghiệp về pháp lý và chính sách tại Đại học Bang Ohio và là đồng tác giả của phân tích gần đây về qui định phác thảo của châu Âu được xuất bản trên Maryland Law Review. Nhưng qui định được đề xuất đòi hỏi một cách rộng rãi rằng một công ty truyền dữ liệu của một cá nhân “không có cản trở” và ở định dạng được sử dụng rộng rãi.
The NYT article raises one specific issue that may well be of particular interest to readers of this blog: personal data portability. Here's the relevant text from the Rapporteur:
2a. Where the data subject has provided the personal data and the processing is based on consent or on a contract, the data subject shall have the right to transmit those personal data, where technically feasible and appropriate, and retained by an automated processing system, into another one, in an electronic format which is commonly used, without hindrance from the controller from whom the personal data are withdrawn.
Here's the rationale, which makes a key point:
If data subjects want to exercise their right to access their personal data, it should be provided to them in an electronic format which they can use. This further use includes the right to move it to other platforms and services if the data subject wants this. The right to data portability, therefore, is a mere specification of the right to data access.
That is, without real data portability there is no real data access. But as the New York Times post notes:
Granting people the right to transfer the updates and photos they posted on Facebook to Google Plus, for example, may sound perfectly reasonable, said Yianni Lagos, a legal and policy fellow at Ohio State University and the co-author of a recent analysis of the European draft regulation published in the Maryland Law Review. But the proposed rule broadly requires that a company transfer a person’s data “without hindrance” and in a commonly used format.
“Chúng tôi không chắc chắn điều đó có nghĩa gì”, ông Lagos nói.
“Thách thức lớn nhất là khái niệm về tính tương hợp”, ông Lagos nói. “Việc dịch từ định dạng được mã hóa sang định dạng được sử dụng rộng rãi, đó là những gì sẽ khó và đắt để đạt được”.
Tất nhiên, điều này chính xác là những gì mọi người nên sử dụng các tiêu chuẩn thực sự mở. Rồi thì sẽ không cần phải “dịch” từ một định dạng được mã hóa, vì nó đã ở dạng mà có thể được xuất đi rồi. Vì thế quan trọng sống còn là Qui định mới về Bảo vệ Dữ liệu của EU sẽ làm cho điều này là chắn chắn, có lẽ bằng việc sửa đổi bổ sung phần phù hợp sau đây:
2a. Ở những nơi chủ thể dữ liệu đã cung cấp và xử lý các dữ liệu cá nhân là dựa vào sự thỏa thuận hoặc dựa vào một hợp đồng, chủ thể của dữ liệu sẽ có quyền truyền các dữ liệu cá nhân đó, ở những nơi mà khả thi và phù hợp về mặt kỹ thuật, và được hệ thống xử lý tự động tiếp tục sử dụng, trong một hệ thống khác, ở một định dạng diện tử dựa vào các tiêu chuẩn mở, không có cản trở từ người kiểm soát đối với những ai mà các dữ liệu cá nhân đó sẽ được rút đi.
Làm như vậy sẽ không chỉ đạt được các mục tiêu của tính khả chuyển dữ liệu - một mặt chính của những đề xuất đó - mà sẽ còn trao một sự khuyến khích hữu dụng cho toàn bộ ý tưởng về các tiêu chuẩn mở, với những lợi ích rộng lớn hơn cho điện toán tại EU.
“We’re not exactly sure what that means,” Mr. Lagos said.
“The largest challenge is the concept of interoperability,” Mr. Lagos said. “Translating from a coded format to a commonly used format, that is what will be difficult and costly to achieve.”
Of course, this is precisely why people should use truly open standards. Then there is no need to "translate" from a coded format, because it's already in a form that can be readily exported. It is therefore vitally important that the new EU Data Protection Regulation make this explicit, perhaps by amending the relevant section as follows:
2a. Where the data subject has provided the personal data and the processing is based on consent or on a contract, the data subject shall have the right to transmit those personal data, where technically feasible and appropriate, and retained by an automated processing system, into another one, in an electronic format based on open standards, without hindrance from the controller from whom the personal data are withdrawn.
Doing so will not only achieve the goals of data portability - a key facet of the proposals - but will also give a useful fillip to the whole idea of open standards, with wider knock-on benefits for computing in the EU.
As the EDRI piece notes, it's quite possible that the text will be changed substantially as it passes through the EU legislative system. Given the importance of this regulation, I'll be reporting on the key stages as they happen, and noting when it might be useful to contact your MEPs on the topic.
Data protection is an area that affects everyone online, and so it's important that we get a good solution here that offers protection to users while permitting companies to use personal information as easily as possible subject to basic rules. If, along the way, we can boost the use of open standards by major companies like Facebook and Google, that will be an added bonus.
Như mẩu tin của EDRI lưu ý, hoàn toàn có khả năng là văn bản đó sẽ bị thay đổi đáng kể khi nó truyền qua hệ thống làm luật của EU. Biết rằng tầm quan trọng của qui định này, tôi sẽ báo cáo về những bước chính khi chúng xảy ra, và lưu ý khi nó có thể là hữu dụng để liên hệ với các nghị sỹ nghị viện châu Âu (MEP) của các bạn về chủ đề này.
Bảo vệ dữ liệu là một lĩnh vực mà ảnh hưởng tới mọi người trên trực tuyến, và vì thế nó quan trọng rằng chúng ta có được một giải pháp tốt ở đây mà đưa ra sự bảo vệ cho những người sử dụng trong khi cho phép các công ty sử dụng thông tin cá nhân càng dễ dàng càng tốt tuân theo các qui định cơ bản. Nếu, trong quá trình, chúng ta có thể thúc đẩy sử dụng các tiêu chuẩn mở bởi các công ty chính như Facebook và Google, thì điều đó sẽ là một phần thưởng bổ sung thêm.
Sau tất cả, lý do mà các công ty Mỹ và chính phủ của họ quá thực thi về những gì được xem là một vấn đề thuần túy có tính địa phương cho EU là vì nó có những hệ quả khổng lồ ở mọi nơi trên thế giới. Nhờ có bản chất tự nhiên toàn cầu của các hoạt động những ngày này, hiếm khi khả thi để thiết lập những hệ thống quá khác biệt cho các phần khác nhau của thế giới mà vận hành theo các cách thức khác nhau. Nếu các qui định của EU ép các công ty cung cấp các dịch vụ cho những người dân châu Âu để áp dụng các tiêu chuẩn mở để cho phép tính khả chuyển dữ liệu đúng, thì những tiêu chuẩn mở y hệt đó sẽ được triển khai toàn cầu. Đó là thứ gì đó thực sự đáng giá để đấu tranh.
After all, the reason that the US companies and their government are so exercised about what looks to be a purely parochial issue for the EU is that it has huge knock-on consequences for everywhere in the world. Thanks to the global nature of operations these days, it's rarely feasible to set up very different systems for different parts of the world that operate in different ways. If EU regulations force companies providing services to Europeans to adopt open standards in order to allow true data portability, those same open standards will be rolled out worldwide. That's something really worth striving for.
Dịch: Lê Trung Nghĩa

Nghiên cứu tạm thời xuất bản về các dịch vụ CPĐT xuyên biên giới và các rào cản về tính tương hợp


Interim study published on cross-border eGovernment Services and Interoperability barriers
Submitted by Christophe Colas on January 10, 2013
Theo: https://joinup.ec.europa.eu/news/interim-study-published-cross-border-egovernment-services-and-interoperability-barriers
Bài được đưa lên Internet ngày: 10/01/2013
Ủy ban châu Âu gần đây đã xuất bản các kết quả tạm thời của một nghiên cứu về xác định và phân tích những nhu cầu và đòi hỏi hiện tại và trong tương lai đối với các dịch vụ chính phủ điện tử (CPĐT) xuyên biên giới.
The European Commission recently published the interim results of a study on the identification and analysis of existing and future needs and demand for cross-border eGovernment services.
Các kết quả tạm thời là một phần của nghiên cứu về phân tích các nhu cầu cho các dịch vụ xuyên biên giới và đánh giá các rào cản về tổ chức, pháp lý, kỹ thuật và ngữ nghĩa nhằm vào:
  • Giúp Ủy ban châu Âu và các quốc gia thành viên xác định và kiểm tra hợp lệ các dịch vụ công chủ chốt xuyên biên giới sẽ được triển khai;
  • Xác định các rào cản cần phải vượt qua;
  • Chỉ ra những lợi ích tiềm tàng của việc triển khai các dịch vụ công xuyên biên giới và
  • Đưa ra các kịch bản liệu và làm thế nào các dịch vụ đó có thể được triển khai tới năm 2015.
Các kết quả tạm thời, được xuất bản trước khi kết thúc nghiên cứu đầy đủ, dự định đưa ra một kho các dịch vụ CPĐT xuyên biên giới dựa vào các dữ liệu được tổng hợp từ các nguồn quốc gia và quốc tế, là cơ bản và được sử dụng chủ yếu trong các quốc gia thành viên khác nhau. Kết quả hiện hành của phân tích đề xuất danh sách các dịch vụ sau:
  • M1 Đăng ký nhà ở
  • M2 Yêu cầu ID cho các tài liệu
  • M9 Đăng ký trợ giúp pháp lý
  • H2 Truy cập tới tóm tắt của bệnh nhân
  • E2 Khai báo thuế thu nhập
  • B1 Đăng ký một thực thể pháp lý mới
  • B10 Tư vấn đăng ký doanh nghiệp
Tuyên bố Malmö về CPĐT, Kế hoạch hành động về CPĐT châu Âu 2011-2015 và Hội nghị Poznan các Bộ trưởng về CPĐT tất cả đều nhấn mạnh tới tầm quan trọng của các dịch vụ xuyên biên giới để đạt được sự thịnh vượng về kinh tế - xã hội và các dịch vụ công bền vững. Nghiên cứu và các kết quả tạm thời của nó là theo Hành động 91 của Chương trình Nghị sự Số cho châu Âu. Mục tiêu của hành động này là mà các nước thành viên và Ủy ban châu Âu lại với nhau để thảo luận và đồng thuận về một danh sách chung các dịch vụ chủ chốt xuyên biên giới, nơi mà tính tương hợp là một yếu tố thành công chính.
  • Helping the European Commission and the Member States identify and validate the key cross-border public services that should be deployed;
  • Identifying the barriers that need to be overcome;
  • Pointing to the potential benefits of the cross-border public services implementation; and
  • Providing scenarios on if and how these services could be implemented by 2015.
The interim results, published prior to the completion of the full study, attempt to deliver an inventory of cross-border eGovernment services based on the aggregated data from national and international sources, which are essential and principally used in the different Member States. The current outcome of the analysis proposes the following list of services:
  • M1 Register a domicile
  • M2 Request ID documents
  • M9 Register for legal aid
  • H2 Access to patient summary
  • E2 Income Tax Declaration
  • B1 Register a new legal entity
  • B10 Consult the business register
The Malmö Declaration on eGovernment, the European eGovernment Action Plan 2011-2015 and the Poznan Ministerial eGovernment Conference all emphasized the importance of cross-border services for achieving socio-economic prosperity and sustainable public services. The Study and its interim results take place in the context of Action 91 of the Digital Agenda for Europe. The objective of this action is to bring together Member States and the European Commission to discuss and agree on a common list of key cross-border public services, where interoperability is a key success factor.
Dịch: Lê Trung Nghĩa