Thứ Sáu, 20 tháng 8, 2021

Tọa đàm về hợp tác nghiên cứu, vận động chính sách về quản trị dữ liệu


 Chiều 20/08/2021, Viện Nghiên Cứu Chính sách và Phát triển truyền thông - IPS (Institute for Policy Studies and Media Development) - đơn vị trực thuộc Hội Truyền thông Số Việt Nam - VDCA (Vietnam Digital Communications Association) đã tổ chức tọa đàm về hợp tác nghiên cứu, vận động chính sách về quản trị dữ liệu với 2 phần:

  • Phần 1: Định hướng hợp tác nghiên cứu, vận động chính sách về quản trị dữ liệu

  • Phần 2: Dữ liệu mở phục vụ cho Giáo dục Mở, với bài trình bày ‘Dữ liệu mở phục vụ cho Giáo dục Mở và Khoa học Mở’. Tự do tải về bài trình bày tại địa chỉ: https://www.dropbox.com/s/bxi1mfx6ye1tk09/Open_Data_for_OED_And_OS.pdf?dl=0

Tweet: https://twitter.com/nghiafoss/status/1428864493270962179



Blogger: Lê Trung Nghĩa

letrungnghia.foss@gmail.com

Thứ Năm, 19 tháng 8, 2021

Các thách thức và chiến lược để Khoa học Mở thành công

Challenges and strategies for the success of Open Science

Theo: https://www.fosteropenscience.eu/node/1424

Bài báo

Lý lẽ cho Khoa học Mở là rõ ràng, vài câu hỏi nảy sinh như vì sao nó đã không được hiện thực hóa sớm hơn, và đâu là những thách thức và cơ hội để làm cho sự thay đổi này xảy ra.

Những phát triển trong các công nghệ thông tin và truyền thông đã lát đường cho Khoa học Mở trở nên có thể trong thực tế. Các khả năng về sản xuất, xử lý, lưu trữ, chia sẻ và truy cập thông tin đã tiến bộ vượt bậc và đã biến đổi từng môi trường hoạt động của con người, và cả nghiên cứu. Sự sẵn sàng của thông tin, lượng dữ liệu khổng lồ đang được tạo ra, phương tiện cho cộng tác, hoặc những tiến bộ trong các kỹ thuật mô phỏng tính toán đã trở thành công cụ cơ bản thứ 3 cho khoa học ngoài lý thuyết và thí nghiệm, đã làm thay đổi cách thức khoa học được làm. Cũng có ý tưởng rằng điều này đại diện cho mô hình thứ 4 của khoa học (như Gray, 2009), và thậm chí được Ủy ban châu Âu coi như là một phần của cách mạng công nghiệp lần thứ tư (CMCN4). Bây giờ, hơn bao giờ hết, có cơ hội, và cùng lúc, yêu cầu, tận dụng tất cả các khả năng đó để hoàn thành Khoa học Mở như nó cần phải.

Các thách thức

Tuy nhiên, vẫn có các lo ngại và vấn đề phải xử lý mà nhiều người coi như là các thách thức đối với Khoa học Mở ở các khía cạnh khác nhau của nó:

  • Văn hóa - xã hội: chúng chủ yếu tới từ các nhà nghiên cứu và có liên quan tới: sự thiếu nhận thức về những lợi ích và tầm quan trọng của việc mở nghiên cứu ra; sự miễn cưỡng phải thay đổi các tiến trình và các thực hành hiện hành của họ về việc phát hành dữ liệu cùng với quy trình nghiên cứu; các nhà nghiên cứu coi nó như là một hoạt động tốn thời gian và sức lực chất thêm lên các tải công việc hiện có của họ; các tiếp cận khác nhau có thể có mà các nhà nghiên cứu từ các lĩnh vực khác nhau hoặc ở một giai đoạn khác nhau trong sự nghiệp của họ; hoặc thiếu sự công nhận và hệ thống thưởng rõ ràng để thúc đẩy các thực hành Khoa học Mở. Nhưng cũng có sự thay đổi được tiến hành ở phần của các cơ sở nghiên cứu, các nhà cấp vốn, các cơ quan chính phủ, các thư viện và bất kỳ các bên liên quan nào khác, trong tầm nhìn, các chính sách, các thực hành và tiếp cận của họ đối với khoa học.

  • Công nghệ: dù các công nghệ thông tin và truyền thông hiện hành đã nhanh chóng được cải thiện, và các hạ tầng điện tử nghiên cứu của châu Âu đã phát triển cả về chất lượng và số lượng, vẫn có dải rộng lớn các khía cạnh phải cải thiện để hỗ trợ và làm nhẹ các tiến trình của các nhà nghiên cứu để chuyển sang văn hóa tính mở.

  • Chính trị: có nhu cầu rõ ràng cho cam kết chính trị để thúc đẩy Khoa học Mở và tích hợp nó vào các chương trình nghị sự của chính phủ. Các chính sách mới cần phải được hình thành và phát triển trong các chiến lược rõ ràng. Hơn nữa, các tài nguyên cần thiết cần phải được phân bổ để cho các chính sách đó thành công. Bối cảnh Khoa học Mở thực sự chỉ có thể xảy ra ở mức quốc tế, vì thế các bước và các tiếp cận khác nhau của các quốc gia sẽ ảnh hưởng tới thành quả của nó. Nhưng còn cả ở trong các bản thân các cơ sở nghiên cứu, có nhu cầu phát triển chính sách và lập kế hoạch chiến lược.

  • Tổ chức: vì nghiên cứu thường diễn ra trong khuôn khổ của một cơ sở, bản thân tổ chức đó phải sẵn sàng cho sự chuyển đổi quá độ trơn tru hướng tới văn hóa nghiên cứu mở, phù hợp với các đơn vị, các dịch vụ và nguồn nhân lực của nó để dàn xếp được tiến trình của Khoa học Mở, vì thế phát triển hoặc giành được các kỹ năng đúng thích hợp.

  • Kinh tế: thậm chí nếu một trong những lý lẽ chính của Khoa học Mở là hiệu quả cao hơn của nghiên cứu trong dài hạn sẽ dẫn tới sử dụng tốt hơn các nguồn lực và thúc đẩy lan tỏa trong các hệ thống khoa học và đổi mới sáng tạo, các đầu tư đáng kể phải được tiến hành ngay từ đầu để phát triển hệ sinh thái kỹ thuật, chính trị và tổ chức của Khoa học Mở.

  • Pháp lý: khung pháp lý rõ ràng phải được phát triển ở mức quốc tế, nó thiết lập các quy định mở dữ liệu và các đầu vào và đầu ra khác của nghiên cứu, trong khi bảo vệ các quyền không bị khước từ như quyền riêng tư, thông tin cá nhân, lợi ích thương mại, an toàn và an ninh quốc gia.

Các rào cản

Bảo vệ các quyền đó đang tạo ra các rào cản của Khoa học Mở. Có vài lĩnh vực nơi có các hạn chế được đảm bảo về tính mở, chúng liên quan tới (Xã hội Hoàng gia, 2012:4):

  • Các lợi ích thương mại và các lợi ích kinh tế: sự cân bằng là cần thiết giữa việc tạo ra các ưu đãi cho các cá nhân hoặc các nhóm để khai thác kiến thức khoa học mới là sẵn sàng rộng rãi và có thể được khai thác một cách sáng tạo theo các cách thức khác nhau rộng rãi. Các đặc tính sau đây rào cản hiện hành về tính mở như nó được định hình bởi các lợi ích thương mại, gợi ý cách để chính sách phải tùy chỉnh để khuyến khích sử dụng lại có lợi dữ liệu của nghiên cứu mở:

    • Quyền sở hữu dữ liệu và thực thi các quyền sở hữu trí tuệ: giá trị thương mại tiềm tàng của việc sử dụng lại dữ liệu nghiên cứu được nhà nước cấp vốn được thừa nhận rộng rãi nhưng việc đòi quyền sở hữu nó không luôn được các nhà cấp vốn yêu cầu. Các chính sách Khoa học Mở cần thúc đẩy sử dụng lại và khai thác các kết quả đó trong khi giữ lại quyền đòi quyền sở hữu về sở hữu trí tuệ sao cho nó có thể được khai thác vì lợi ích quốc gia.

    • Quan hệ đối tác công – tư: sự cộng tác giữa các công ty và khu vực hàn lâm về nghiên cứu và đổi mới sáng tạo là thực hành chung và đòi hỏi sự chú ý đặc biệt và định nghĩa rõ ràng về những gì có thể được phát hành mở và những gì là các hạn chế. Điều này cần được làm thận trọng không làm xấu đi các mối quan hệ cần thiết với khu vực tư nhân, đặc biệt trong tình huống hạn hẹp ngân sách nhà nước đòi hỏi phải tìm kiếm các nguồn vốn thông qua sự hợp tác với các công ty.

    • Mở ra các thông tin thương mại về lợi ích của công chúng: có trường hợp mạnh cho tính mở lớn hơn của dữ liệu và thông tin từ nghiên cứu được tư nhân cấp vốn mà có tiềm năng ảnh hưởng tới công chúng, trong khi tôn trọng các hàng rào được mô tả ở đây.

  • Quyền riêng tư: khi sử dụng các tập hợp dữ liệu chứa các thông tin cá nhân có thể là cơ bản cho nghiên cứu trong các khoa học y học và xã hội, chú ý đặc biệt cần tập trung vào việc bảo vệ quyền riêng tư trong việc xử lý dữ liệu cá nhân, cả từ quan điểm pháp lý và kỹ thuật. Không may, một giải pháp vừa cho tất cả là không dễ để xác định và triển khai, vì thế lợi ích và các rủi ro của công chúng về tính bí mật cần phải được giải quyết và cân bằng một cách riêng rẽ cá nhân.

  • Bảo mật và an toàn: vì chia sẻ dữ liệu bí mật, nhạy cảm hoặc sở hữu độc quyền đặt ra các thách thức rõ ràng cho bảo vệ chống lại các sự cố hoặc các cuộc tấn công có chủ đích, và đòi hỏi nỗ lực đặc biệt về xây dựng các hạ tầng và phát triển các phương pháp và kỹ thuật nhằm đảm bảo sự bảo mật của các hệ thống thông tin khoa học.

Các chiến lược

Vào chiến lược và hành động là cần thiết để đạt được sự chuyển đổi nghiên cứu, và chúng phải là toàn cầu (được mở rộng cho bất kỳ lĩnh vực và môn khoa học nào), quốc tế (trong và xuyên các quốc gia, các ngôn ngữ và văn hóa), theo chiều dọc (từ các nhà nghiên cứu và các công dân cho tới các chính phủ, các nhà cấp vốn và những người làm chính sách) và theo chiều ngang (ở bất kỳ giai đoạn nào và bất kỳ vai trò liên quan nào trong quá trình nghiên cứu).

Ở mức châu Âu, Chương trình nghị sự Số của Ủy ban châu Âu xác định 5 dòng các hoạt động chính sách tiềm năng:

1.**Thúc đẩy và tạo ra các ưu đãi cho Khoa học Mở, ** bằng việc thúc đẩy Khoa học Mở trong các chương trình giáo dục, thúc đẩy các thực hành và gia tăng đầu vào của các nhà sản xuất kiến thức trong một môi trường Khoa học Mở nhiều hơn (khoa học công dân). Lĩnh vực này cũng liên quan tới việc đảm bảo chất lượng, ảnh hưởng của liêm chính nghiên cứu của Khoa học (Mở); 2. ** Loại bỏ các rào cản đối với Khoa học Mở **: điều này ngụ ý, trong số những người khác, rà soát lại sự nghiệp của các nhà nghiên cứu để tạo ra các ưu đãi và phần thưởng cho việc tham gia trong Khoa học Mở; 3. ** Lồng ghép** và thúc đẩy hơn nữa **các chính sách truy cập mở** cho cả dữ liệu nghiên cứu và các xuất bản phẩm nghiên cứu; 4. **Phát triển các hạ tầng nghiên cứu cho Khoa học Mở**, thúc đẩy việc đặt chỗ cho dữ liệu, truy cập và điều hành, với sự phát triển khung chung cho dữ liệu nghiên cứu và tạo lập một Đám mây Khoa học Mở châu Âu, một sáng kiến chính để xây dựng hạ tầng Khoa học Mở cần thiết ở châu Âu; và, 5. **Nhúng Khoa học Mở vào xã hội như một động lực kinh tế - xã hội**, bằng cách đó Khoa học Mở trở thành công cụ làm cho khoa học có trách nhiệm hơn với các kỳ vọng kinh tế và xã hội, đặc biệt bằng việc giải quyết các thách thức chính mà xã hội đối mặt (Ủy ban châu Âu, 2016b:45).

Từ 5 hành động đó, vài yếu tố có thể được xác định như là các thành phần chính của bất kỳ chiến lược nào: con người (giáo dục và phát triển kỹ năng, các ưu đãi và phần thưởng, và sự tham gia của xã hội); hạ tầng (cần để hỗ trợ cho các thực hành Khoa học Mở và nghiên cứu tăng cường dữ liệu ở mức kỹ thuật và thực hành); các chính sách (thúc đẩy, điều chỉnh và bảo vệ các thực hành mở ở mức cơ sở, quốc gia và quốc tế); và đầu tư kinh tế (để phát triển và triển khai các hạ tầng, chính sách, hệ thống các ưu đãi cần thiết và phát triển các kỹ năng).

Ủy ban châu Âu theo chiến lược Thị trường Số Duy nhất của mình đề xuất thiết lập Đám mây Khoa học Mở châu Âu để hỗ trợ cho chuyển đổi sang Khoa học Mở và tận dụng tối đa khoa học do dữ liệu dẫn dắt. Mục tiêu là để làm cho dữ liệu nghiên cứu có liên quan thành tìm kiếm được, truy cập được, tương hợp được và sử dụng lại được - FAIR (Findable, Accessible, Interoperable and Re-useable) cho tất cả các nhà nghiên cứu châu Âu. Đám mây đó sẽ tập hợp các hạ tầng dữ liệu hiện có và đang nổi lên để tạo ra môi trường ảo cho tất cả các nhà nghiên cứu châu Âu để lưu trữ, quản lý, phân tích và sử dụng lại dữ liệu (Ủy ban châu Âu, 2016a).

Ở mức quốc gia, là đáng lưu ý Open Sáng kiến Khoa học và Nghiên cứu Mở- ATT (Open Science and Research Initiative) được Bộ Giáo dục và Văn hóa Phần Lan khởi xướng, vì nó là tiếp cận tiên phong và toàn diện để hoàn thành tầm nhìn Khoa học Mở.

Các tài nguyên tương tự

Article

The rationale for Open Science being clear, some questions arise as to why it has not been realized sooner, and what are the challenges and opportunities to make this change happen.

The current developments in information and communication technologies have paved the way for Open Science to be possible in practice. The capabilities for producing, processing, storing, sharing and accessing information have progressed tremendously and have transformed every sphere of human activity, notably research. The availability of information, the vast amounts of data that are being produced, the means for collaboration, or the advances on computational simulation techniques that have become a third basic tool to science besides theory and experimentation, have changed the way science is done. There is also the idea that this represents the fourth paradigm of Science (e.g. Gray, 2009), and it is even claimed by the European Commission to be part of the 4th Industrial revolution. Now, more than ever, there is an opportunity and at the same time a requirement, to take advantage of all these possibilities to accomplish Open Science as it should be.

Challenges

However, there are still concerns and issues to be tackled that many consider as challenges to Open Science at its various dimensions:

  • Socio-cultural: these mainly come from researchers and are related to: the lack of awareness on the benefits and importance of opening up their research; the reluctance to change their current workflows and practices regarding the release of data along the research process; researchers consider it as a time and effort-consuming activity adding to their existing workloads; the diverse approaches that may have researchers from different disciplines or at a different stage at their career; or the lack of a clear recognition and a reward system that promotes Open Science practices. But there is also a change to be made on the part of the research institutions, funders, government bodies, libraries and any other stakeholder on their vision, policies, practices and approach to science.

  • Technological: although current information and communication technologies have rapidly improved, and European research e-infrastructures have grown both in quality and quantity, there is still a wide range of aspects to improve in order to support and ease researchers’ workflows to transit to a culture of openness.

  • Political: there is a clear need for political commitment to promote Open Science and integrate it into the government agendas. New policies need to be formulated and developed into clear strategies. Also, the necessary resources need to be allocated in order for these policies to succeed. A true Open Science landscape can only happen at an international level, thus the different paces and approaches of countries will influence its achievement. But also within research institutions themselves, there is a need for policy development and strategic planning.

  • Organisational: as research usually takes place within an institutional framework, the organisation itself has to be ready to smooth the transition towards an open research culture, suiting its units, services and human resources to accommodate an Open Science workflow, therefore developing or acquiring the appropriate skills.

  • Economic: even if one of the main arguments for Open Science is a higher efficiency of research that at the long term will result in a better use of resources and foster spill overs in the scientific and innovation systems, significant investments have to be made at the beginning in order to develop the technical, political and organisational ecosystem of Open Science.

  • Legal: a clear legislation framework must be developed at the international level, that set the rules for disclosure of data and other inputs and outputs of research, while protecting those rights not to be waived as privacy, personal information, commercial interests, safety and national security.

Boundaries

Protection of these rights is setting the boundaries of Open Science. There are some areas where there are warranted restrictions on openness, which relate to (The Royal Society, 2012:44):

  • Commercial interests and economic benefits: a balance is needed between creating incentives for individuals or groups to exploit new scientific knowledge for financial gain and societal benefits through the products and services that are developed and the macroeconomic benefits that accrue when knowledge is broadly available and can be exploited creatively in a wide variety of ways. The following characterises the current boundary of openness as it is shaped by commercial interests, suggesting how policy might adapt to encourage beneficial reuse of open research data:

    • Data ownership and the exercise of Intellectual Property rights: the potential commercial value of reusing publicly funded research data is widely recognised but asserting its ownership is not always required by funders. Open Science policies should promote the reuse and exploitation of results whilst retaining the right to assert ownership of the intellectual property so that it can be exploited for national benefit.

    • Public-private partnerships: the collaboration among companies and the academic sector for research and innovation is a common practice and requires specific attention and clear definition on what could be openly released and what are the restrictions. This should be done carefully not to deteriorate the necessary relations with the private sector, especially in a situation of public budget constraints requiring the search for funds through collaboration with companies.

    • Opening up commercial information in the public interest: there is a strong case for greater openness of data and information from privately funded research that has the potential to impact the public, while respecting the boundaries described here.

  • Privacy: as the use of datasets containing personal information could be essential for research in the medical and social sciences, special attention should be put into the protection of privacy at personal data processing, both from a legal and a technical perspective. Unfortunately, a one-fits-all solution is not easy to define and implement, so public benefit and risks to confidentiality need to be assessed and balanced individually.

  • Security and safety: as sharing confidential, sensitive or proprietary data poses clear challenges for protection against incidents or deliberate attacks, and requires a special effort on building architectures and develop methods and techniques that ensure security of scientific information systems.



Strategies

Some strategies and actions are needed in order to achieve the transformation of research, and they have to be global (extended to any scientific domain and discipline), international (within and across countries, languages and cultures), vertical (from researchers and citizens to governments, funders and policy makers) and horizontal (at any stage and for any role involved at the research process).

At the European level, the European Commission Digital Agenda defines five lines of potential policy actions:

1. **Fostering and creating incentives for Open Science,** by fostering Open Science in education programmes, promoting best practices and increasing the input of knowledge producers into a more Open Science environment (citizen science). This area is also concerned with guaranteeing the quality, impact and research integrity of (Open) Science; 2. **Removing barriers to Open Science**: this implies, among other issues, a review of researchers’ careers so as to create incentives and rewards for engaging in Open Science; 3. **Mainstreaming** and further promoting **open access policies** with regard to both research data and research publications; 4. **Developing research infrastructures for Open Science**, to improve data hosting, access and governance, with the development of a common framework for research data and creation of a European Open Science Cloud, a major initiative to build the necessary Open Science infrastructure in Europe; and, 5. **Embedding Open Science in society as a socio- economic driver**, whereby Open Science becomes instrumental in making science more responsive to societal and economic expectations, in particular by addressing major challenges faced by society (European Commission, 2016b:45).

From these five actions, some elements can be identified as the key components of any strategy: people (education and skills development, incentives and rewards, and society involvement); infrastructure (needed to support Open Science practices and data intensive research at the technical and practical level); policies (promoting, regulating and protecting open practices at the institutional, national and international levels); and economic investment (in order to develop and implement the necessary infrastructures, policies, incentives system and skills development).

The European Commission under its Digital Single Market strategy proposes the establishment of a European Open Science Cloud to support the transition to Open Science and to make the most of data-driven science. The aim is to make relevant research data findable, accessible, interoperable and re-useable (‘FAIR’) to all European researchers. The Cloud will bring together existing and emerging data infrastructures to create a virtual environment for all European researchers to store, manage, analyse and re-use data (European Commission, 2016a).

At the national level, it is worth mentioning the Open Science and Research Initiative (ATT) launched by the Finnish Ministry of Education and Culture, as it constitutes a pioneer and holistic approach for the fulfilment of the Open Science vision.

Similar resources

Dịch: Lê Trung Nghĩa

letrungnghia.foss@gmail.com

Thứ Tư, 18 tháng 8, 2021

Những lợi ích của Khoa học Mở là gì?

What are the benefits of Open Science?

Theo: https://www.fosteropenscience.eu/node/1422

Bài báo

Tổng thể các lý lẽ hỗ trợ cho Khoa học Mở có thể được tóm tắt trong các yếu tố sau (OECD, 2015:18):

  • Hiệu quả: truy cập lớn hơn tới các đầu vào và đầu ra khoa học, có thể cải thiện tính hiệu quả và năng suất của hệ thống nghiên cứu, bằng việc (1) giảm đúp bản và các chi phí tạo lập, chuyển đổi và sử dụng lại dữ liệu; (2) cho phép nghiên cứu nhiều hơn từ cùng các dữ liệu; (3) nhân bản các cơ hội cho sự tham gia trong nước và toàn cầu trong quá trình nghiên cứu. Hơn nữa, người sử dụng các công cụ nghiên cứu mở có thể giúp nâng cao hiệu quả của nghiên cứu và sự lan tỏa của chúng (Xã hội Hoàng gia, 2012).

  • Chất lượng và liêm chính: truy cập mở tới các kết quả đầu ra, dữ liệu và các tài sản khác của nghiên cứu hỗ trợ cho quy trình nghiên cứu chào cơ hội đánh giá và soi xét rộng rãi hơn từ cộng đồng khoa học, vì thế cho phép nhân bản và thẩm định chính xác lớn hơn và nhiều hơn các kết quả nghiên cứu. Tính mở này cũng tạo thuận lợi cho việc xác định sớm bất kỳ sơ suất nào trong khoa học, như gian lận hoặc sai sót, và vì thế dễ dàng hơn trong việc tố cáo và từ bỏ các hoạt động này vì lợi ích của liêm chính khoa học. Theo nghĩa này, tính mở đối với dữ liệu đóng góp để duy trì nguyên tắc tự sửa của khoa học.

  • Các lợi ích kinh tế: gia tăng truy cập tới các kết quả nghiên cứu có thể thúc đẩy sự lan tỏa không chỉ tới các hệ thống khoa học mà còn các hệ thống đổi mới sáng tạo rộng lớn hơn, cũng như nâng cao nhận thức và các lựa chọn có ý thức của người tiêu dùng. Khoa học đóng vai trò chính trong các nền kinh tế tri thức ngày nay (Xã hội Hoàng gia 2012:19), và hiệu quả cao hơn liên quan tới Khoa học Mở không chỉ làm lợi cho các nền kinh tế tiên tiến mà còn cho các quốc gia đang phát triển.

  • Đổi mới sáng tạo và chuyển giao công nghệ. Khoa học Mở có thể làm giảm sự chậm trễ trong sử dụng các kết quả nghiên cứu khoa học, bao gồm các bài báo và các tập hợp dữ liệu đối đối với các hãng và các cá nhân, và thúc đẩy con đường chuyển đổi từ nghiên cứu tới đổi mới sáng tạo để sản xuất ra các sản phẩm và dịch vụ mới.

  • Công khai và hòa nhập: khoa học cần là mở cho toàn bộ xã , nêu nó có thể thúc đẩy nhận thức của các công dân. Nó chứng kiến các kết quả đầu ra nghiên cứu được nhà nước cấp vốn, và có thể giúp xây dựng lòng tin và hỗ trợ cho các chính sách và đầu tư công. Ngoài ra, nó thúc đẩy sự tham gia của các công dân và thậm chí sự tham gia tích cực trong các thí nghiệm và thu thập dữ liệu khoa học.

  • Lợi ích toàn cầu: Khoa học Mở chắc chắn có tính quốc tế, và nó phải tận dụng tính quốc tế đó. Nó có thể thúc đẩy các nỗ lực cộng tác và làm tăng tốc chuyển giao tri thức vì sự hiểu biết tốt hơn các thách thức đòi hỏi các hành động quốc tế phối hợp như biến đổi khí hậu hoặc dân số già, và có thể giúp xác định các giải pháp hiệu quả hơn.

Là rõ ràng từ các yếu tố đó, các giá trị của Khoa học mở không bị ràng buộc đối với cộng đồng khoa học hoặc bản thân các nhà nghiên cứu. Họ mở rộng tới toàn bộ xã hội, bao gồm cả các công dân, khu vực nhà nước và tư nhân, và vì nó sẽ được đề cập tới sau trong khóa học này, tới các thư viện như là các bộ xúc tác của Khoa học Mở.


**Hình 4. Những lợi ích cho các bên khác nhau (Sáng kiến Khoa học và Nghiên cứu Mở, 2014)**

Các bên liên quan khác nhau hưởng lợi từ Khoa học Mở theo các cách thức khác nhau (Hình 4), bao gồm tính trực quan gia tăng (các trích dẫn, các đề cập lưu ý trên mạng xã hội và các phương tiện truyền thông khác), gia tăng lòng tin (các tham chiếu tới các xuất bản phẩm, dữ liệu và các phương pháp, phần thưởng cho tính mở), gia tăng cấp vốn (hần thưởng cho tính mở, phần thưởng cho các định nghĩa rõ ràng về bản quyền/các quyền sở hữu), và cải thiện việc kết nối mạng (các cơ hội mới, phân phối tải công việc tốt hơn, các phân tích có kết quả tốt hơn) (Sáng iện Khoa học và Nghiên cứu Mở, 2014).

Các tài nguyên tương tự

Article

The overall arguments for supporting Open Science can be summarised in the following factors (OECD, 2015:18):

  • Efficiency: greater access to scientific inputs and outputs, can improve the effectiveness and productivity of the research system, by 1) reducing duplication and the costs of creating, transferring and reusing data; 2) allowing more research from the same data; 3) multiplying opportunities for domestic and global participation in the research process. Also, the user of open search tools can help increasing the efficiency of research and of its diffusion (The Royal Society, 2012).

  • Quality and integrity: open access to scientific outputs, data and other assets that support the research process offer the opportunity of a wider evaluation and scrutiny by the scientific community, thus allowing a greater and more accurate replication and validation of research results. This openness also facilitates an early identification of any malpractice at science, such as fraud or errors, and therefore being easier to denounce and drop-out these practices in the benefit of scientific integrity. In this sense, openness to data contributes to maintain science’s self-correction principle.

  • Economic benefits: increased access to research results can foster spill overs not only to scientific systems but also innovation systems more broadly, as well as increase awareness and conscious choices among consumers. Science plays a key role in today’s knowledge economies (The Royal Society 2012:19), and the higher efficiency associated to Open Science would not only benefit advanced economies but also developing countries.

  • Innovation and knowledge transfer: Open Science can reduce delays in the re-use of the results of scientific research including articles and data sets by firms and individuals, and promote a swifter path from research to innovation to produce new products and services.

  • Public disclosure and engagement: science should be open for the whole society, so it may promote awareness among citizens. It evidences the outcomes of public funded research, and would help to build trust and support for public policies and investments. Moreover, it promotes citizen’s engagement and even active participation in scientific experiments and data collection.

  • Global benefits: Open Science is inevitably international, and it must take advantage of it. It can promote collaborative efforts and faster knowledge transfer for a better understanding of challenges that require coordinated international actions such as climate change or the ageing population, and could help identify solutions more effectively.

As is clear from these factors, the values of Open Science are not constrained to the scientific community or researchers themselves. They extend to the whole society, including citizens, the public and private sector, and as it will be addressed later on this course, to libraries as enablers of Open Science.

**Figure 4. Benefits to different parties (Open Science and Research Initiative, 2014)**

Different stakeholders benefit from Open Science in different ways (Figure 4), including increased visibility (citations, mentions in social and other media), increased credits (references to publications, data and methods, awards for openness), increased funding (rewards for openness, awards for clear definitions of copyright/proprietary rights), and improved networking (new opportunities, better workload distribution, better results analyses) (Open Science and Research Initiative, 2014).

Similar resources

Dịch: Lê Trung Nghĩa

letrungnghia.foss@gmail.com

Thứ Ba, 17 tháng 8, 2021

Lợi ích và thách thức của Khoa học Mở

Benefits and challenges of open science

Theo: https://blogs.uef.fi/ueflibrary-bors/benefits-and-challenges-of-open-science/

Khoa học Mở là cách làm việc mới

Điểm mạnh là làm việc cùng nhau, trong khi thách thức là phải cân bằng giữa việc tiến hành nghiên cứu càng mở càng tốt nhưng theo cách thức có trách nhiệm.

Hãy xem giới thiệu ngắn gọn này về cách Khoa học Mở làm lợi cho bạn, cho cộng đồng học thuật và cho xã hội (CC BY SHB trên trực tuyến):

Video: https://www.youtube.com/watch?v=3m6p6w8oOw4&t=8s

Thực hành Khoa học Mở là tốt cho …

… Nghiên cứu

Thực hành Khoa học Mở ngụ ý các kết quả đầu ra nghiên cứu là truy cập được tới tất cả mọi người - không bị kẹt đằng sau các bức tường thanh toán. Điều này giúp đảm bảo rằng tất cả các nhà nghiên cứu, và các bên liên quan khác, có truy cập tới thông tin bất kể vị trí hay tình trạng kinh tế của họ. Nó ngụ ý là quy trình nghiên cứu có thể được tăng tốc và kiến thức mới có thể được sinh ra nhanh hơn và được xây dựng mới dựa vào nó để giúp giải quyết các thách thức lớn.

… Xã hội

Khoa học Mở chào hoàn vốn đầu tư tốt hơn từ nghiên cứu được tiền nhà nước cấp và đóng góp cho tăng trưởng kinh tế tốt hơn.

… Bạn!

Khi làm cho các kết quả đầu ra nghiên cứu của bạn tìm thấy được, truy cập được, tương hợp được và sử dụng lại được - FAIR (Findable, Accessible, Interoperable and Reusable; nhiều thông tin hơn về các nguyên tắc FAIR có trong Làm cho nó thành FAIR) yêu cầu vài nỗ lực bổ sung ở phía của bạn nhưng việc thực hành Khoa học Mở cũng làm lợi cho bạn.

Đối với nhà nghiên cứu, việc mở ra các kết quả đầu ra nghiên cứu (như, dữ liệu nghiên cứu) là một thành tích khoa học (a scientific merit). Ở Phần Lan, ví dụ, trong mẫu template sơ yếu lý lịch (CV) của Viện hàn lâm Phần Lan và Ban lãnh đạo Quốc gia Phần Lan về Liêm chính Nghiên cứu, việc thúc đẩy Khoa học và Nghiên cứu Mở và, ví dụ, phân phối và sử dụng lại có trách nhiệm tư liệu và các tập hợp dữ liệu nghiên cứu được coi là có ảnh hưởng về khoa học và xã hội trong công tác nghiên cứu, và vì thế, là đáng để bổ sung vào CV của bạn.

Bằng việc chia sẻ các bài báo, dữ liệu, mã và các phương pháp của bạn, bạn thậm chí đang nhân bản số lượng các kết quả đầu ra được trích dẫn cho mỗi dự án bạn làm trong đó. Nghiên cứu của bạn sẽ nhìn thấy được và hiểu được nhiều hơn đối với những người khác, điều có thể ngụ ý là bạn có lẽ thấy tỷ lệ trích dẫn của bạn gia tăng. Nếu mọi người có thể thấy được và truy cập được nghiên cứu của bạn, tác động tiềm năng nghiên cứu của bạn gia tăng. Ngoài ra, việc tham gia Khoa học Mở có thể thúc đẩy sự cộng tác và các đối tác nghiên cứu mới. Tất cả những điều đó có thể giúp bạn tiến bộ trong sự nghiệp của bạn.

Vì thế, có nhiều lợi ích của Khoa học Mở cả cho bạn và cho xã hội.

Có nhiều lợi ích của Khoa học Mở. CC BY Danny Kingsley & Sarah Brown.

Hãy đọc thêm bài báo của McKiernan et al. (2016) để thấy khoa học mở giúp cho các nhà nghiên cứu thành công như thế nào.

Các thách thức tiềm tàng của Khoa học Mở

Lập luận cho Khoa học Mở là rõ ràng nhưng vẫn có những lo ngại và vấn đề cần được xử lý. Sáu thách thức với Khoa học Mở theo các khía cạnh khác nhau là:

  • Thách thức 1 - văn hóa - xã hội:

Sự thiếu nhận thức về các lợi ích và tầm quan trọng của việc mở nghiên cứu ra. Sự miễn cưỡng phải thay đổi các tiến trình và thực hành hiện hành, ví dụ, phải chia sẻ dữ liệu cùng với quy trình nghiên cứu. Các nhà nghiên cứu coi điều này là một hoạt động tốn thời gian và nỗ lực bổ sung thêm cho tải công việc đang có của họ. Thiếu sự công nhận rõ ràng và thiếu hệ thống thưởng thúc đẩy các thực hành Khoa học Mở. Ngoài ra đối với các nhà nghiên cứu và các cơ sở nghiên cứu, còn có sự thay đổi phải được làm ở phía của các nhà nghiên cứu nghiên cứu, các cơ quan chính phủ và các bên liên quan khác.

  • Thách thức 2 - Công nghệ:

Các công nghệ thông tin và truyền thông đã nhanh chóng được cải tiến nhưng vẫn có việc cần phải làm để hỗ trợ và giảm nhẹ tải công việc của các nhà nghiên cứu hướng tới các thực hành mở.

  • Thách thức 3 - Chính trị:

Có nhu cầu rõ ràng về cam kết chính trị để thúc đẩy Khoa học Mở và tích hợp nó vào trong chương trình nghị sự của chính phủ, cả ở mức quốc tế. Các tài nguyên cần thiết cần phải được phân bổ để cho các chính sách đó thành công. Cam kết để phát triển chính sách và lên kế hoạch chiến lược là cần thiết, cả ở mức cơ sở và quốc gia.

  • Thách thức 4 - Tổ chức:

Môi trường làm việc (như, đại học, viện nghiên cứu) có thể có tác động đáng kể lên cách để nghiên cứu trở nên mở nhanh chóng và rộng rãi. Văn hóa đóng là thách thức cho cá nhân các nhà nghiên cứu và làm chậm lại toàn bộ tính mở của nghiên cứu. Các tổ chức cần phát triển và có được các kỹ năng đúng thích hợp để hỗ trợ cho Khoa học Mở trong tổ chức của họ.

Hãy cân nhắc: Tổ chức nghiên cứu của bạn đã phản ứng lại với Khoa học Mở như thế nào? Liệu nó có các kho Truy cập Mở, các dịch vụ và chính sách hỗ trợ cho Khoa học Mở hay không?

  • Thách thức 5 - Kinh tế:

Thậm chí nếu các lý lẽ chính cho Khoa học Mở là hiệu quả nghiên cứu cao hơn mà về lâu dài sẽ dẫn tới sử dụng tốt hơn các tài nguyên và tăng tốc đổi mới sáng tạo, các khoản đầu tư đáng kể cần phải được thực hiện ngay từ đầu để phát triển hệ sinh thái kỹ thuật, chính trị và tổ chức cho Khoa học Mở.

  • Thách thức 6 - Pháp lý:

Khoa học Mở làm thay đổi cách thức chúng ta nhìn vào quyền sở hữu dữ liệu, bản quyền, quyền riêng tư và trách nhiệm giải trình trong nghiên cứu. Nhiều thách thức đó cần phải được phản ánh trong các hướng dẫn nghiên cứu và pháp luật. Một khung pháp luật rõ ràng phải được phát triển ở mức quốc tế v à các nhà nghiên cứu phải nhận biết được về pháp luật này.

Ngoài các thách thức được nêu ở trên, các nhà nghiên cứu có thể đối mặt nhiều thách thức mức cá nhân, ví dụ như:

  • Các thách thức về tài chính và sự nghiệp với các khoản phí xử lý của tác giả - APC (Article Processing Charges) đối với việc xuất bản truy cập mở vàng và lai (các khoản phí Truy cập Mở sẽ được thảo luận nhiều hơn trong việc Chọn lựa chọn phù hợp). Ngoài ra, thành tích nghiên cứu hiện tại còn hạn chế đạt được thông qua việc chia sẻ dữ liệu.

  • Các vấn đề về động lực: Vì sao tham gia vào Khoa học Mở trong khi các cơ cấu và các cơ hội cá nhân về thành tích và tiến bộ sự nghiệp có lẽ thưởng cho cách làm nghiên cứu truyền thống?

Những nghịch cảnh này có tiềm năng làm chậm lại các quy trình của Khoa học Mở. Các giải pháp có thể thấy bằng việc cộng tác, có thiện chí tiềm năng và điều chỉnh cấp vốn bằng các nguyên tắc chính.

Điều gì trong số này có thể tạo động lực cho bạn để tạo ra các thực hành nghiên cứu mở nhiều hơn?

  • Truy cập bình đẳng và dân chủ hơn tới kiến thức.

  • Sử dụng hiệu quả hơn thông tin khoa học và cơ hội lớn hơn cho đổi mới sáng tạo

  • Cộng tác lớn hơn và cơ hội để khám phá.

  • Cải thiện sự tham gia với xã hội và các công dân.

  • Nâng cao khả năng giải quyết các vấn đề phức tạp.

Tóm lại, hãy tóm tắt các lợi ích chính của Khoa học Mở cho các nhà nghiên cứu, các cơ sở, các nhà cấp vốn và công chúng. Video ngắn gọn này mô tả những lợi ích của Khoa học Mở ( CC BY NewMedia Centre):

Video: https://www.youtube.com/watch?v=tMrhrQyt5I8

Open science is a new way of working

The strength is working together, while the challenge is to balance between conducting research as openly as possible but in a responsible manner.

Watch this short introduction on how open science benefits you, the academic community and the society (CC BY SHB Online):

Video: https://www.youtube.com/watch?v=3m6p6w8oOw4&t=8s

Practicing open science is good for…

…Research

Practicing open science means that research outputs are accessible to all – not stuck behind pay walls. This helps to ensure that all researchers, and other stakeholders, have access to information regardless of their location or economic situation. It means that the research process can be accelerated and new knowledge can be more quickly generated and built upon to help solve grand challenges.

…Society

Open science offers a better return on investment from research funded by public money and contributes to better economic growth.

…You!

Making your research outputs findable, accessible, interoperable and reusable (FAIR, more information about the FAIR principles in Making it FAIR) does require some additional effort on your part but practicing open science benefits you too.

For a researcher, opening the research outputs (e.g., research data) is a scientific merit. In Finland, e.g., in the CV templates of the Academy of Finland and the Finnish National Board on Research Integrity, promoting open science and research and, for example, responsible distribution and reuse of research material and datasets count as scientific and societal impact in research work, and are, therefore, worth adding to your CV.

By sharing your articles, data, code and methods, you are even multiplying the number of citable outputs for every project you work on. Your research will be more visible and understandable to others, which may mean that you might see your citation rate increase. If people can find and access your research, the potential impact of your research increases. In addition, practicing open science can foster new collaborations and research partnerships. All of which can help you to advance in your career.

So, there are many benefits of open science both for you and for the society.

There are many benefits of open science. CC BY Danny Kingsley & Sarah Brown.

Read also an article by McKiernan et al. (2016) to find out how open science helps researchers succeed.

Potential challenges of open science

The rationale for open science is clear but there are still concerns and issues to be tackled. The six challenges with open science in its various dimensions are:

    • Challenge 1 ­­­­­- Socio-cultural:

The lack of awareness of the benefits and importance of opening up research. The reluctance to change current workflows and practices, e.g., to share data along the research process. Researchers consider this a time and effort-consuming activity to add to their existing workloads. The lack of a clear recognition and a reward system that promotes open science practices. In addition to researchers and research institutions, there is also a change to be made on the part of the research funders, government bodies and other stakeholders.

    • Challenge 2 – Technological:

Information and communication technologies have rapidly improved but there is still work to be done to support and ease researchers’ workflows towards more open practices.

    • Challenge 3 – Political:

There is a clear need for political commitment to promote open science and integrate it into the government agendas, also at the international level. The necessary resources need to be allocated in order for these policies to succeed. Commitment for policy development and strategic planning are needed both at the research institution and country level.

    • Challenge 4 – Organisational:

The working environment (e.g. university, research institution) can have a significant impact on how quickly and broadly research becomes open. A closed culture is a challenge for individual researchers and slows down the overall openness of research. Organisations need to develop and acquire the appropriate skills to support open science within their organisation.

Consider: How your own research organisation has reacted to open science? Does it have open access repositories, services and policies for supporting open science?

    • Challenge 5 – Economic:

Even if one of the main arguments for open science is a higher efficiency of research that in the long term will result in a better use of resources and acceleration of innovations, significant investments have to be made at the beginning in order to develop the technical, political and organisational ecosystem for open science.

    • Challenge 6 – Legal:

Open science changes the way we look at ownership of data, copyright, privacy and accountability in research. Many of these changes need to be reflected in legislation and research guidelines. A clear legislation framework must be developed at the international level and researchers must be aware of this legislation.

In addition to the above mentioned challenges, researchers may face many individual level challenges, such as:

  • Financial and career challenges with author processing charges (APCs) for gold and hybrid open access publishing (OA fees will be more discussed in Choosing a suitable option). Also, currently limited research merit gained through data sharing.

  • Motivation issues: Why engage in open science when structures and personal opportunities for merit and career advancement may reward the traditional way of doing research?

These adversities have the potential to slow down the processes of open science. Solutions can be found by collaborating, having potential will and aligning funding with key principles.

Which of these could motivate you to create more open research practices?

  • More equal and democratic access to knowledge.

  • More efficient use of scientific information and greater opportunity for innovation.

  • Greater collaboration and opportunity for discovery.

  • Improved engagement with society and citizens.

  • Increased ability to resolve complex problems.

To sum up, let’s recapitulate the main benefits of open science for researchers, institutions, funders and the public. This short video describes the benefits of open science (CC BY NewMedia Centre):

Video: https://www.youtube.com/watch?v=tMrhrQyt5I8

Dịch: Lê Trung Nghĩa

letrungnghia.foss@gmail.com

Thứ Hai, 16 tháng 8, 2021

‘Xác định nền tảng mở’ - bản dịch sang tiếng Việt



Đây là tài liệu do Quỹ Appreta xuất bản năm 2017, giấy phép mở CC BY, với mục đích:

“Tài liệu này đề xuất định nghĩa nền tảng mở và các nguyên tắc cần phải được đáp ứng từ những người muốn nói họ có một nền tảng mở.”


“Tiếp cận các nền tảng mở là trung lập với nhà cung cấp và công nghệ, loại bỏ sự khóa trói, tạo thuận lợi cho đổi mới sáng tạo và cạnh tranh, và ép các nhà cung cấp cạnh tranh về chất lượng, giá trị, và dịch vụ.”

Một nền tảng mở gắn với 8 nguyên tắc sau:

  1. Dựa vào các tiêu chuẩn mở

  2. Các mô hình thông tin chung được chia sẻ

  3. Hỗ trợ tính khả chuyển của ứng dụng

  4. Lập thành liên đoàn được

  5. Trung lập với nhà cung cấp và công nghệ

  6. Hỗ trợ Dữ liệu Mở

  7. Cung cấp các API mở

  8. Có tính tương hợp (như trong DevOps)

Có lẽ nó rất cần, trước hết, cho các các doanh nghiệp CNTT-TT, rồi nhiều tác nhân khác trong việc xây dựng các hạ tầng/nền tảng cho Việt Nam trong chuyển đổi số.


Tự do tải về bản dịch sang tiếng Việt của tài liệu có 53 trang tại địa chỉ:

https://www.dropbox.com/s/u0he9euah9asfsi/Apperta_Defining_an_Open_Platform_Vi-14082021.pdf?dl=0


Xem thêm: trang các tài liệu dịch

Blogger: Lê Trung Nghĩa

letrungnghia.foss@gmail.com

Thứ Năm, 5 tháng 8, 2021

‘Khuyến cáo của Hội đồng ngày 15/03/2018 về Khung Học việc Chất lượng và Hiệu quả của châu Âu’ - bản dịch sang tiếng Việt

 


Là tài liệu do Hội đồng châu Âu xuất bản ngày 15/03/2018; đây là Khung Học việc Chất lượng và Hiệu quả của châu Âu với các khuyến cáo để các cơ sở giáo dục và các công ty có liên quan có thể tùy chỉnh cho phù hợp với bối cảnh địa phương, quốc gia và cơ sở của mình nhằm thúc đẩy học việc có chất lượng và hiệu quả.


Tự do tải về bản dịch sang tiếng Việt có 12 trang tại địa chỉ:

https://www.dropbox.com/s/kbuhz2uiztj6sij/CELEX%2032018H0502%2801%29%20EN%20TXT_Vi-01082021.pdf?dl=0


Xem thêm: Các tài liệu dịch sang tiếng Việt tới hết nửa đầu năm 2021


Blogger: Lê Trung Nghĩa

letrungnghia.foss@gmail.com

Thứ Tư, 4 tháng 8, 2021

‘Thực hành Khai thác Tài nguyên Giáo dục Mở’ trên trực tuyến cùng với Hội Giáo dục nghề nghiệp TP.HCM

Trong các ngày 05-06/08/2021, Hội Giáo dục nghề nghiệp TP.HCM đã tổ chức phần thực hành khóa tập huấn ‘Thực hành khai thác tài nguyên giáo dục mở’ với sự hỗ trợ kỹ thuật kết nối mạng và hạ tầng đường truyền từ trường Cao đẳng Viễn Đông. Phần thực hành này là tiếp tục của phần lý thuyết đã được tiến hành sáng ngày 29/07/2021 với sự tham gia của hơn 200 cán bộ giảng viên của các đơn vị thành viên của Hội. Khóa tập huấn phần thực hành lần này có 26 cán bộ và giảng viên các trường thành viên của Hội đã tham dự như danh sách trong bảng dưới đây: 


Các đại biểu tham dự đã nghe trình bày bài: “Thực hành: Khai thác Tài nguyên Giáo dục Mở (OER)”, trong đó có phần khai thác các trang phần cứng nguồn mở với nhiều vật tư y tế và thiết bị bảo vệ cá nhân phục vụ cho việc đối phó với đại dịch COVID-19. Tự do tải về bài trình bày tại địa chỉ:

https://www.dropbox.com/s/n0td1ygt6li9f4a/OER_Practice_H2_2021.pdf?dl=0

Tweet: https://twitter.com/nghiafoss/status/1423106488990461952

 

Xem thêm:



Blogger: Lê Trung Nghĩa

letrungnghia.foss@gmail.com