Thứ Sáu, 3 tháng 9, 2010

Chính phủ Malaysia đã đạt tới 97% áp dụng phần mềm nguồn mở!

Malaysian Government has reached 97% OSS Adoption -- WOW!

Fri, 2010-07-09 13:41 — Michael Tiemann

Theo: http://opensource.org/node/535

Bài được đưa lên Internet ngày: 09/07/2010

Lời người dịch: Con số 97% các cơ quan chính phủ Malaysia sử dụng nguồn mở, trong đó hơn 87% sử dụng GNU/Linux trên máy chủ và 30% sử dụng GNU/Linux trên máy trạm đủ thấy họ có quyết tâm như thế nào và thực sự thấy xấu hổ cho Việt Nam, chỉ nói mà không làm.

Khi tôi bắt đầu làm việc về GNU C++ năm 1987, tôi có thể cảm thấy hầu như khóa học lịch sử đang thay đổi với mọi dòng mã lệnh mà tôi đã viết. Khi tôi bắt đầu Sygnus Support vào năm 1989, tôi đã bị thuyết phục rằng chỉ là vấn đề của thời gian trước khi các công ty bắt đầu nhận thức được rằng những hạn chế của phần mềm sở hữu độc quyền đã không làm được gì để giúp cho ưu thế cạnh tranh của chúng và mọi thứ để làm hại nó. Và dù việc cấp vốn sớm cho công việc của tôi tới từ các cơ quan chính phủ (DARPA Mỹ vào năm 1987 và INRIA của Pháp vào năm 1988), thì tôi không bao giờ đã mong đợi sẽ viếng thăm và khuyến khích nguồn mở tại Malaysia [phiên bản ngắn] [phiên bản dài hơn]. Vâng như vậy là vươn tới được phần mềm nguồn mở! Bây giờ chính phủ Malaysia tự hào tuyên bố tỷ lệ áp dụng đáng kinh ngạc 97% cho phần mềm nguồn mở trong báo cáo mới:

When I started working on GNU C++ in 1987, I could almost feel the course of history changing with every line of code I wrote. When I started Cygnus Support in 1989, I was convinced that it was only a matter of time before companies began to realize that proprietary software restrictions did nothing to help their competitive advantage and everything to harm it. And though early funding for my work came from government agencies (US DARPA in 1987 and French INRIA in 1988), I never quite expected to be visiting and promoting open source in Malaysia [short version] [longer version]. Yet such is the reach of open source software! Now the Government of Malaysia proudly reports an astonishing 97% adoption rate for open source software in this new report:

Search for the line "Agencies Adopting OSS" from this link, which shows:

Implementation - Triển khai cài đặt

Target - Mục tiêu


Actual - Thực tế

Variance -

Sai số

Target Hit

Đạt mục tiêu


Abs

%


Abs

%

Abs

%

F/A

Agencies Adopting OSS

Các cơ quan áp dụng PMNM

724

100


703

97.1

-21

-2.9

A

No - Không

Agencies Using Back-end Infrastructure

Các cơ quan sử dụng hạ tầng nền tảng

580

80


632

87.29

52

7.29

F

Yes - Có

Agencies Using OSS Desktop Solutions

Các cơ quan sử dụng PMNM máy trạm

218

30


490

67.68

272

37.68

F

Yes - Có

Báo cáo này được liên kết từ các đồ thị và bảng biểu về áp dụng phần mềm nguồn mở (PMNM) tại các cơ quan chính phủ Malaysia.

Nhưng công việc còn chưa hoàn thành. Trong khi 80% mục tiêu cho hạ tầng nền tảng (phía máy chủ) đã được đáp ứng, và 30% mục tiêu cho sử dụng máy tính để bàn đã được đáp ứng, thì mục tiêu 100% đối với ít nhất một số PMNM được sử dụng trong khắp tất cả các cơ quan chính phủ Malaysia còn chưa đạt được. 21 trong số 724 cơ quan đã triển khai hoặc OpenOffice trên máy trạm, Linux như một hệ điều hành, MySQL như cơ sở dữ liệu, Apache như một máy chủ web, hoặc JBoss như một máy chủ ứng dụng. Dù vậy, tôi tin tưởng điều này đại diện cho một thành tích lịch sử, và thế giới nên chúc mừng. Malaysia trong thế dẫn đầu nổi tiếng của mình và hoàn thành trong nỗ lực 5 năm qua.

Gần đây, Nguồn Mở vì nước Mỹ (OSFA) đã tung ra báo cáo cho các cơ quan chính phủ Mỹ để tính điểm về “tính mở” của họ. Tôi tự hỏi cách mà sự sử dụng phần mềm nguồn mở trong các cơ quan chính phủ Mỹ (hoặc bất kỳ chính phủ nào khác) so được với của Malaysia. Tháng sau tôi sẽ dự hội nghị CONSEGI tại Brasilia, Brazil. Tôi chắc chính phủ Brazil sẽ chào khách bằng sự tiến bộ của mình trong việc trở thành một người dẫn đầu thực sự khác trong áp dụng nguồn mở. Tôi mong thấy được các báo cáo của họ!

Trong khi chờ đợi, nếu bạn biết về bất kỳ báo cáo nào tương tự, xin hãy bình luật trên trang này sao cho chúng ta có thể thu thập và so sánh chúng. Xin cảm ơn!

This report is linked from the Malaysian government's OSS Agency Adoption Charts and Tables.

But the work is not done yet. While the 80% target for back-end infrastructure has been met, and the 30% target for Desktop usage has been met, the 100% target for at least some OSS usage across all Malaysian government agencies has not been met. 21 of 724 agencies have yet to deploy either OpenOffice on the desktop, Linux as an operating system, MySQL as a database, Apache as a web server, or JBoss as an application server. Nevertheless, I believe this represents an historic achievement, and the world should congratulate Malaysia on its outstanding leadership and accomplishments in the past five years of effort.

Recently, Open Source for America launched a report card for US government agencies to rate their "openness" score. I wonder how the usage of open source software in US government agencies (or any other governments) compares with that of Malaysia. Next month I will attend the CONSEGI conference in Brasília, Brasil. There I am sure the Brazilian government will be touting its progress in becoming another true leader in the adoption of open source. I look forward to seeing their reports!

In the mean time, if you know of any similar reports, please comment on this page so we can collect and compare them. Thanks!

Dịch tài liệu: Lê Trung Nghĩa

letrungnghia.foss@gmail.com

Brazil và Ấn Độ: Thế hệ tiếp sau của Nguồn mở

Brazil and India: The Next Generation of Open Source

Tue, 2010-06-15 23:54 — alolita

Theo: http://opensource.org/node/528

Bài được đưa lên Internet ngày: 15/06/2010

Lời người dịch: Ấn Độ và Brazil, 2 quốc gia trong nhóm BRIC, đều có sự áp dụng nguồn mở một cách rộng rãi. “Ấn Độ và các nền công nghiệp outsourcing có thể học được chắc chắn một hoặc hai thứ từ cam kết của Brazil với nguồn mở để thúc đẩy đổi mới sáng tạo và phát triển các thị trường nội địa và xuất khẩu. Việc cam kết sâu hơn áp dụng nguồn mở có thể chỉ giúp cho cả 2 quốc gia phát triển các nền kinh tế của họ trong khi chia sẻ các kinh nghiệm và những thực tiễn tốt nhất. Các nền kinh tế tri thức chỉ có thể thịnh vượng được trong việc tiếp tục sự theo đuổi giáo dục tốt hơn, sự tinh thông sâu hơn, đổi mới sáng tạo nhiều hơn và hợp tác dài lâu hơn”. Liệu Việt Nam có học được gì từ 2 quốc gia này?

Những ai trong chúng ta mà dõi theo sự tăng trưởng của nguồn mở trong các quốc gia BRIC (Brazil, Nga, Ấn Độ, Trung Quốc) biết rằng cả Brazil và Ấn Độ đang thúc đẩy nguồn mở ở một tốc độ cao hướng tới sự phát triển kinh tế.

Ấn Độ

Ấn Độ là một người sử dụng nguồn mở nặng ký. Các khu vực thúc đẩy nguồn mở bao gồm outsourcing phát triển phần mềm, outsourcing qui trình nghiệp vụ, các dịch vụ chính phủ, giáo dục kỹ thuật cũng như các ngành công nghiệp như ngân hàng, bảo hiểm, sản xuất, dầu khí, quốc phòng và vũ trụ. Theo Wikipedia, Ấn Độ đã sản xuất ra 2.5 triệu sinh viên tốt nghiệp mỗi năm từ đó chỉ có một số phần trăm nhỏ, khoảng 700.000 người được thuê làm bởi nền công nghiệp BPO của Ấn Độ. Nền công nghiệp BPO mà đã nở rộ trên sức lao động rẻ và có kỹ năng đã bắt đầu thúc đẩy phần mềm nguồn mở dựa trên sự tự động hóa để giành được những ưu tiên về giá thành xa hơn.

Those of us who follow the growth of open source in the BRIC nations (Brazil, Russia, India, China) know that both Brazil and India are leveraging open source at a rapid pace towards economic development.

India

India is a heavy user of open source. Sectors leveraging open source include software development outsourcing, business process outsourcing, government services, technical education as well as industries such as banking, insurance, manufacturing, oil and gas, defense and space. According to Wikipedia, India produces 2.5 million graduates every year from which only a small percentage, about 700,000 people are employed by India's BPO industry. The BPO industry which has flourished on cheap, skilled labor has started to leverage open source software based automation to gain further cost advantages.

Brazil

Brazil cũng từng là một lò các hoạt động phần mềm trong những năm gần đây. Các cơ quan chính phủ, nền công nghiệp tư nhân, các trường đại học đã và đang dạy và triển khai các giải pháp nguồn mở để tạo ra các trung tâm bản địa về tri thức và giành được những tri thức xung quanh nguồn mở ở đất nước này. Nhìn thành công của Ấn Độ trong outsourcing về IT, Brazil cũng đã tuyên bố quan tâm trong sử dụng phần mềm nguồn mở để giành sự dẫn đầu trong thị trường outsourcing phát triển phần mềm.

Theo những bài viết gần đây trong Network Worrld và Computer Weekly, Brazil có một ít khó khăn phải vượt qua để thúc đẩy hoàn toàn sức mạnh của nguồn mở cho outsourcing phần mềm. Những thách thức bao gồm chủ yếu một nền công nghiệp IT không nói tiếng Anh và lương theo giờ cao hơn. Nhưng người Brazil là lạc quan rằng tri thức sâu về nguồn mở có thể vượt qua được những yếu tố như vậy và giúp họ cạnh tranh được toàn cầu.

Brazil

Brazil has also been a hotbed of open source activity in recent years. Government agencies, private industry, universities have been teaching and implementing open source solutions to create local centers of knowledge and gain expertise around open source in the country. Seeing India's success in IT outsourcing, Brazil has also declared an interest in using open source to gain leadership in the market of software development outsourcing.

According to recent articles in Network World and Computer Weekly, Brazil has a few humps to overcome to fully leverage the power of open source for software outsourcing. These challenges include a predominantly non-English speaking IT industry and higher hourly wages. But the Brazilians are optimistic that deep knowledge of open source can overcome such factors and help them compete globally.

Các chuyên gia nguồn mở của Brazil trong IT, chính phủ và giáo dục là rất tích cực trong các diễn đàn nguồn mở quốc tế cũng như việc lôi kéo các chuyên gia quốc tế tại Brazil. Ví dụ, Quỹ Linux sẽ tổ chức hội nghị thượng định lần đầu tiên từ trước tới nay tại Brazil cuối năm nay. Sự trao đổi như vậy về các ý tưởng, các kỹ năng và sự tinh thông có thể giúp thúc đẩy nền kinh tế tri thức bản địa và mang lại cho Brazil một sự sắc sảo đặc biệt trong sự tinh thông về nguồn mở.

Brazil có những ưu thế khác mà có thể kết hợp với tri thức về nguồn mở để phát triển các thị trường outsourcing phát triển phần mềm với sự tập trung đặc biệt vào Mỹ. Những ưu tiên này bao gồm gần về địa lý với Mỹ, nghiên cứu công nghệ tiên tiến trong nước và hạ tầng tuyệt với như đường xá, điện và truyền thông.

Sự hợp tác là tốt

Trong tinh thần thực sự của nguồn mở, cả Ấn Độ và Brazil có thể học được nhiều của nhau. IT của Ấn Độ và các nền công nghiệp outsourcing có thể học được chắc chắn một hoặc hai thứ từ cam kết của Brazil với nguồn mở để thúc đẩy đổi mới sáng tạo và phát triển các thị trường nội địa và xuất khẩu. Việc cam kết sâu hơn áp dụng nguồn mở có thể chỉ giúp cho cả 2 quốc gia phát triển các nền kinh tế của họ trong khi chia sẻ các kinh nghiệm và những thực tiễn tốt nhất. Các nền kinh tế tri thức chỉ có thể thịnh vượng được trong việc tiếp tục sự theo đuổi giáo dục tốt hơn, sự tinh thông sâu hơn, đổi mới sáng tạo nhiều hơn và hợp tác dài lâu hơn.

Brazil's open source experts in IT, government and education are very active in international open source forums as well as engaging international experts in Brazil. For example, the Linux Foundation will be holding its first-ever Brazil summit later this year. Such exchange of ideas, skills and expertise can help stimulate the local knowledge economy and give Brazil an edge especially in open source expertise.

Brazil has other advantages that it could combine with the knowledge of open source to develop its software development outsourcing markets with special focus on the US. These advantages include geographical proximity to the US, in-country advanced technology research and excellent infrastructure such as roads, airports, power and telecommunications.

Collaboration is good

In the true spirit of open source, both India and Brazil can learn a lot from each other. India's IT and outsourcing industries could certainly learn a thing or two from Brazil's commitment to open source to foster innovation and develop its internal and export markets. Making deeper commitments to adopting open source can only help both countries grow their economies while sharing their experiences and best practices. Knowledge economies can only thrive on continuing the pursuit of better education, deeper expertise, more innovation and long term collaboration.

Also published on my blog at Open Source Buzz.

Dịch tài liệu: Lê Trung Nghĩa

letrungnghia.foss@gmail.com

EU: Gia tăng sử dụng EUPL cho việc đưa ra các phần mềm nguồn mở

EU: Rise in use of EUPL for publishing open source software

— filed under: [T] Legal Aspects, European Union Public License (EUPL), eupl-community, [GL] EU and Europe-wide, EUPL community

by Gijs Hillenius — published on Aug 31, 2010

Theo: http://www.osor.eu/news/eu-rise-in-use-of-eupl-for-publishing-open-source-software

Bài được đưa lên Internet ngày: 31/08/2010

Lời người dịch: Tại các quốc gia thuộc Liên minh châu Âu hiện nay, giấy phép nguồn mở của Liên minh châu Âu EUPL được 1/4 các dự án phần mềm nguồn mở (47/183) của các quốc gia thành viên lựa chọn từ cả các giới hàn lâm lẫn các doanh nghiệp vì chúng có trong tất cả các ngôn ngữ và tuân thủ các luật của các quốc gia thành viên EU. Năm ngoái con số này là 0. Biết đâu trong tương lai cũng sẽ có ASEANPL hay ASIANPL nhỉ???

Giấy phép nguồn mở của Liên minh châu Âu EUPL đang được sử dụng ngày càng nhiều hơn. 1/4 các dự án có sẵn trên site phát triển phần mềm của Ủy ban châu Âu EC, OSOR Forge, 47 trong số 183 dự án, được xuất bản có sử dụng EUPL. Trên Sourceforge, một nhà đầu tư thương mại cho phát triển nguồn mở có trụ sở tại Mỹ, giấy phép này bây giờ được 49 dự án chọn. Một năm trước là không có gì.

EUPL đã được viết để được sử dụng cho việc phân phối các ứng dụng phần mềm nguồn mở được xây dựng cho hoặc của Ủy ban châu Âu. Không ngạc nhiên rằng trên OSOR Forge, nhiều dự án sử dụng EUPL được xuất bản bởi các quốc gia thành viên của EU và của EC.

EUPL đã được xem xét một cách ưu tiên vào tháng trước trong một tài liệu về bản quyền cấp phép cho Bộ Ngân sách, Kế toán Công và Dịch vụ Dân sự của Pháp. “EUPL có thể được sử dụng và được sản xuất, trong khuôn khổ một số pháp luật, trong các tòa án và các cơ quan hành chính của nhiều quốc gia thành viên của EU, mà không có bổn phận hoặc rủi ro phải kêu gọi một người dịch để thề. EUPL cũng tuân thủ với các luật của các quốc gia thành viên EU”.

Và trên site mạng LinkeIn, EUPL được thảo luận một các ưu tiên bởi các cơ quan dân sự của Hà Lan thảo luận giấy phép nào để sử dụng cho các dự án phần mềm mà chính phủ xuất bản. “Nếu 100% các bản quyền mã nguồn thuộc về chính phủ, thì EUPL dường như là sự lựa chọn rõ ràng”, một người tham gia viết. Ít ngày trước, một người tham gia khác đã chỉ tới một Wiki được đưa trên trung tâm tài nguyên của chính phủ Hà Lan NOiV để giúp các tổ chức chính phủ chọn giấy phép tốt nhất, cũng ưu tiên EUPL.

The European Union's open source licence, (European Union Public Licence, EUPL) is being used more and more. A quarter of the projects available on the European Commission's software development site, the OSOR Forge, 47 out of 183 projects, are published using the EUPL. On Sourceforge, a commercial venture for open source software development based in the US, the licence is now selected by 49 projects. One year ago there were none.

The EUPL was written to be used for distributing open source software applications built for or by the European Commission. No wonder that on the OSOR Forge, many of the projects using the EUPL are published by European Commission and the EU's member states.

The EUPL was reviewed favourably last month in a document on copyright an licences French Ministry for the Budget, Public Accounts and the Civil Service. "The EUPL can be used and produced, in the framework of some litigation, in courts and administrations of numerous EU member states, without the obligation or the risk to call upon a sworn translator. The EUPL is also compliant with the European Member States laws."

And on the networking site LinkedIn, the EUPL is discussed favourably by Dutch civil administrators discussing what licence to use for publishing government software projects. "If 100 percent of the code's copyright belongs to the government, the EUPL seems the obvious choice", a participant writes. A few days ago, another participant pointed to a Wiki hosted by the Dutch government's resource centre NOiV to help government organisations choose the best licence, also preferring the EUPL.

Ngoài các chính phủ ra, EUPL cũng được chọn bởi các lập trình viên giới hàn lâm và các công ty thương mại. Lý do chính ở đây là tính sẵn sàng của EUPL trong tất cả chứ không chỉ trong 1 ngôn ngữ của EU.

Ví dụ, trên OSOR Forge, đầu tháng này, EUPL đã được chọn bởi hãng an ninh IT Estonia K5Security. Theo nhà lập trình hàng đầu Hillar Poldmaa, nhiều ngôn ngữ là lý do chính cho việc chọn giấy phép này.

Điều này cũng đúng cho dự án đầu tiên được liệt kê trên Sourceforge khi được xuất bản có sử dụng EUPL, ExpSuite. Đây là một ứng dụng cho các kiểm thử âm thanh trong tâm thần học, được phát triển bởi Viện Hàn lâm Khoa học Áo tại Vienna. Nhà lập trình Piotr Majdak giải thích: “Chúng tôi muốn phân phối các phần mềm của chúng tôi theo một giấy phép công cộng và thực sự, lựa chọn đầu tiên là GNU GPL. Ít ngày sau chúng tôi thấy EUPL và nó là tuyệt vời cho chúng tôi: Nó sẵn sàng trong vài ngôn ngữ và nó tuân thủ với các luật của EU”.

Governments aside, the EUPL is also chosen by academic developers and commercial enterprises. Here a major reason seems to be the EUPL's availability in all but one of the EU's languages.

For instance, on the OSOR Forge, earlier this month, the EUPL was selected by the Estonian IT security firm K5Security. According to lead developer Hillar Põldmaa, the multiple languages was the main reason for choosing this licence.

This is true also for the first project listed on Sourceforge as published using the EUPL, ExpSuite. It is an application for psychoacoustic tests, developed by the Austrian Academy of Sciences in Vienna. Explains Developer Piotr Majdak: "We wanted to distribute our software under a public license and actually, our first choice was the GNU GPL. A few days later we found the EUPL and it was perfect for us: It is available in several languages and is conform with the EU laws."

Dịch tài liệu: Lê Trung Nghĩa

letrungnghia.foss@gmail.com

Thứ Năm, 2 tháng 9, 2010

Anh: 'Sử dụng ODF của chính phủ có thể giúp phá khóa trói vào nhà cung cấp'

UK: 'Government use of ODF would help break vendor lock-in'

— filed under: [GL] United Kingdom, OpenOffice, End Users/Desktop, OpenOffice.org and ODF in public authorities, [T] Deployments and Migrations

by Gijs Hillenius — published on Aug 30, 2010

Theo: http://www.osor.eu/news/uk-government-use-of-odf-would-help-break-vendor-lock-in

Bài được đưa lên Internet ngày: 30/08/2010

Lời người dịch: Các cơ quan hành chính nhà nước kết hợp các công cụ thay thế sử dụng ODF với sự ảo hóa máy để bàn, có thể tiết kiệm hàng tỷ, Maxwell đánh giá. Hiện tại, một máy để bàn trong thành phố mất khoảng 345 GBP (khoảng 419 euro) một năm và các máy để bàn sử dụng bởi chính phủ trung ương mất 800-1600 GBP mỗi năm. “Với ODF và ảo hóa chúng ta có thể làm giảm xuống còn 200-300 GBP mà không có tầng an ninh, nhưng chúng tôi không nghĩ rằng điều đó sẽ lớn hơn 200 GBP cho một máy trạm ở khắp mọi nơi mà chỉ cần 5% cho những nơi nhạy cảm nhất”. Đó là những gì đang xảy ra ở Anh.

Quyết định của chính phủ Anh sử dụng ODF (định dạng tài liệu mở) cho các tài liệu điện tử của nó, có thể giúp các cơ quan hành chính nhà nước vượt qua được sự khóa trói vào nhà cung cấp đối với các ứng dụng văn phòng, Liam Maxwell, ủy viên hội đồng cho Royal Borough của Windsor & Maidenhead, nói. Ông nói việc chuyển này sẽ bắt đầu quá trình tiết kiệm hàng tỷ mà chính phủ Anh cần thấy trong những lĩnh vực chi tiêu không hiệu quả.

Theo Maxwell, thành phố này muốn bắt đầu sử dụng OpenOffice, một bộ phần mềm văn phòng nguồn mở trên nhiều trong số 1400 máy trạm của mình. Nó cũng muốn gia tăng sử dụng các công cụ văn phòng dựa trên Internet tự do. “Chúng tôi đang chậm chạp chuyển các ủy viện hội đồng của chúng tôi qua sử dụng Google Docs”.

Một kiểm thử với OpenOffice chỉ ra rằng người sử dụng có thể có một chút vấn đề khi chuyển, Maxwell nói. “Và các bàn trợ giúp của chúng ta mong đợi sẽ có ít hơn những vấn đề về hỗ trợ với OpenOffice”.

Tuy nhiên, sự chuyển sang OpenOffice vẫn còn đang treo, vì một số ứng dụng sống còn được sử dụng bởi các cơ quan hành chính của thành phố được lập trình để làm việc chỉ với bộ phần mềm văn phòng từ một nhà cung cấp sở hữu độc quyền duy nhất. “Ứng dụng mà giúp các quản trị viên dân sự của chúng tôi phác thảo việc xây dựng cho phép, ví dụ, là khó lập trình để sử dụng Microsoft Office. Cách thực tế duy nhất để thay đổi điều này, là đối với chính phủ để yêu cầu sử dụng ODF, mà cách duy nhất để các nhà cung cấp bên thứ 3 sẽ thay đổi”.

Các cơ quan hành chính nhà nước kết hợp các công cụ thay thế sử dụng ODF với sự ảo hóa máy để bàn, có thể tiết kiệm hàng tỷ, Maxwell đánh giá. Hiện tại, một máy để bàn trong thành phố mất khoảng 345 GBP (khoảng 419 euro) một năm và các máy để bàn sử dụng bởi chính phủ trung ương mất 800-1600 GBP mỗi năm. “Với ODF và ảo hóa chúng ta có thể làm giảm xuống còn 200-300 GBP mà không có tầng an ninh, nhưng chúng tôi không nghĩ rằng điều đó sẽ lớn hơn 200 GBP cho một máy trạm ở khắp mọi nơi mà chỉ cần 5% cho những nơi nhạy cảm nhất”.

Ảo hóa có thể cho phép thành phố làm cho các công cụ văn phòng sở hữu độc quyền sẵn có dễ dàng hơn chỉ đối với ít các quản trị viên mà thực sự cần nó. “Vì thế chúng ta có thể trả tiền cho những ứng dụng như chúng ta trả tiền để sử dụng điện thoại, theo giá cho từng ngày”.

A UK government's decicion to use ODF (Open Document Format) for its electronic documents, would help public administrations overcome vendor lock-in for office applications, says Liam Maxwell, councillor for Royal Borough of Windsor & Maidenhead. He says the move will start the process to the billions of savings that British government needs to find in unproductive areas of spending.

According to Maxwell, the borough wants to start using OpenOffice, an open source suite of office productivity tools on many of its 1400 workstations. It also wants to increase the use of free Internet-based office tools. "We are slowly moving our councillors over to use Google-docs."

A test with OpenOffice showed users would have little trouble to switch, says Maxwell. "And our help desk expects to have fewer support issues with OpenOffice."

However, the switch to OpenOffice has been put on hold, for some of the critical applications used by the borough's administration are programmed to work only with the office suite from a single proprietary vendor. "The application that helps our civil administrators draft building permits, for example, is hard-coded to use Microsoft Office. The only practical way to change this, is for the government to demand the use of ODF, that's the only way the third party vendors will change."

Public administrations combining alternative office tools using ODF with desktop virtualisation, could save billions, Maxwell estimates. At the moment, a desktop in the borough costs around 345 GBP (about 419 Euro) a year and desktops in use by the central government cost between 800 and 1600 GBP a year. "With ODF and virtualisation we could bring this down to 200 or 300 GBP without the security layer, but we don't think that's going to be more than 200 GBP per workstation in all but those 5 percent in the most sensitive locations"

Virtualisation would allow the borough to make the proprietary office tools easily available only to those few administrators that actually needed it. "So we would pay for applications like we pay for the use of telephony, on a price per day."

Hàng hóa

Thành phố đã quyết định gia tăng sử dụng của nó đối với nguồn mở từ đầu năm. Trong các kế hoạch ICT cho các năm 2010-2015, thành phố viết sẽ trao ưu tiên cho dạng phần mềm này. Đối với thư điện tử và văn phòng, nguồn mở và các giải pháp dựa trên đám mây nên là mặc định càng sớm càng tốt.

Trong một cuộc phỏng vấn được xuất bản tuần trước bởi ComputerWeekly, Maxwell nói: “Định nghĩa tiêu chuẩn cho một sản phẩm hàng hóa là việc ai đó đã làm một phiên bản nguồn mở. Microsoft Office là một hàng hóa. Nên vì sao chúng ta lại không trả giá ban đầu cho một sản phẩm hàng hóa nhỉ?”

Commodity

The borough decided to increase its use of open source earlier this year. In its ICT plans for 2010 - 2015, the borough writes it will give priority to this type of software. For email and office, open source and cloud-based solutions should be the default as soon as possible."

In an interview published last week by ComputerWeekly, Maxwell says: "The standard definition for a commodity product is that someone has made an open source version. Microsoft Office is a commodity. So why are we paying premium pricing for a commodity product?"

Dịch tài liệu: Lê Trung Nghĩa

letrungnghia.foss@gmail.com

IT: Chính quyền tự trị của Modena loại bỏ các công cụ văn phòng phụ thuộc vào nhà cung cấp

IT: Municipality of Modena removing vendor dependency office tools

by Gijs Hillenius — published on Aug 24, 2010

— filed under: OpenOffice.org and ODF in public authorities, Office Suites, [GL] Italy, Desktop Environment, OpenOffice, [T] Deployments and Migrations, Office/Business, Italian

Theo: http://www.osor.eu/news/it-municipality-of-modena-removing-vendor-dependency-office-tools

Bài được đưa lên Internet ngày: 24/08/2010

Chính quyền tự trị Modena của Ý đang đi tốt trên con đường của mình để trở thành độc lập khỏi một nhà cung cấp IT chính đối với các công cụ sản xuất văn phòng, Laura Seidenari, người của phòng IT của thành phố, nói.

Hội đồng thành phố Modena đã cài đặt OpenOffice lên khoảng 1500 trong số 1600 máy trạm của mình. Thành phố này đã bắt đầu thay thế các công cụ văn phòng sở hữu độc quyenf vào tháng 01/2008. Seidenari nói điều này đã giúp tiết kiệm cho thành phố khoảng 250,000 euro về giấy phép cho phần mềm sở hữu độc quyền.

Trên các máy tính để bàn này, chính quyền thành phố cũng đã cài đặt những công cụ nguồn mở khác, bao gồm trình thư điện tử máy trạm Thunderbird, công cụ soạn sửa ảnh GIMP và công cụ truyền tệp Filezilla.

Tuy nhiên, sự chuyển dịch sang độc lập với nhà cung cấp còn chưa hoàn tất. Thành phố tiếp tục bị trói vào các công cụ văn phòng sở hữu độc quyền, vì nhiều tính toán bảng tính của thành phố phụ thuộc vào các macro sở hữu độc quyền. Kết quả là, hội đồng bị ép phải tiếp tục trả tiền cho các giấy phép phần mềm sở hữu độc quyền cho nhiều máy tính trạm của mình, và phòng IT phải nặng gánh với sự duy trì bổ sung. Để giải quyết tình trạng này, Seidenari giải thích, các quản trị IT đang nghiên cứu cách để thay thế các macro đó.

The Italian municipality of Modena is well on its way to become independent from a major IT vendor for its office productivity tools, reports Laura Seidenari, instructor at the city's IT department.

The city council of Modena has installed OpenOffice on about 1500 of its 1600 workstations. The city started replacing the proprietary office tools in January 2008. Seidenari says this has helped save the city some 250.000 Euro on licences for proprietary software.

On these desktops, the city administration also has installed other open source tools, including mail client Thunderbird, photo editing tool Gimp and file transfer tool Filezilla.

However, the transition to vendor independence is not yet complete. The city continues to be tied to the proprietary office tools, since many of the city's spreadsheet calculations depend on proprietary macros. As a result, the council is forced to continue to pay for proprietary software licences for many of its workstations, and the IT department is burdened with the extra maintenance. To remedy the situation, explains Seidenari, the IT administrators are studying how to replace these macro's.

Dễ sử dụng

Theo Seidenari, hầu hết các quan chức thành phố thấy bộ phần mềm nguồn mở dễ sử dụng. “Việc tạo ra những tài liệu mới không là vấn đề. Vấn đề lớn nhất là chuyển đổi các tài liệu được tạo ra bằng các công cụ sở hữu độc quyền”.

Những người sử dụng ban đầu đã kháng cự lại việc chuyển sang OpenOffice, nhắc hội đồng thành phố gia tăng việc huấn luyện và hỗ trợ người sử dụng. “Điều này đã giúp thay đổi thái độ. OpenOffice bây giờ được chấp nhận bởi hầu hết những người quản trị dân sự”.

Hội đồng thành phố Modena đã quyết định gia tăng các công cụ nguồn mở của mình trong năm 2004. Nó tiếp tục hỗ rợ chuyển đổi, Seidenari nói, khi nó đã giúp tiết kiệm về các giấy phép sở hữu độc quyền và đã giúp để làm cho các công dân và doanh nghiệp tại Modena nhận thức được về nguồn mở.

“Chúng tôi cũng được liên hệ bởi các thành phố tự trị khác trong vùng, rằng sử dụng OpenOffice, hoặc điều đó là thú vị để chuyển”.

Modena hiện chưa xem xét thay thế hệ điều hành sở hữu độc quyền. Tuy nhiên, một số máy trạm trong phòng IT đang chạy Linux, Seidenari bổ sung. Modena cũng đang chạy Linux trong một viện đào tạo thanh niên địa phương và hợp tác với Đại học Modena để tạo nhận thức về nguồn mở.

Easy to use

According to Seidenari, most city officials find the open source suite easy to use. "Creating new documents is not a problem. The biggest issue is converting documents created by the proprietary tools."

Users initially resisted switching to OpenOffice, prompting the city council to increase user-training and support. "This has helped to change the attitudes. OpenOffice is now accepted by most of the civil administrators."

Modena's city council decided to increase its use of open source tools in 2004. It continues to support the move, says Seidenari, as it has helped save on proprietary licences and has helped to make citizens and enterprises in Modena to become aware of open source.

"We are also contacted by other municipalities in the region, that use OpenOffice, or that are interested to switch."

Modena is not considering to replace it proprietary operating system. However, are a number of desktops in the IT department are running Linux, Seidenari adds. Modena is also running Linux in a local youth training institute and collaborates with the University of Modena to create awareness on open source.

Dịch tài liệu: Lê Trung Nghĩa

letrungnghia.foss@gmail.com

Thứ Tư, 1 tháng 9, 2010

Trình chơi các tệp Flash nguồn mở Gnash 0.8.8 GNU Flash ra đời

Gnash 0.8.8 GNU Flash player released

23 August 2010, 16:15

Theo: http://www.h-online.com/open/news/item/Gnash-0-8-8-GNU-Flash-player-released-1063748.html

Bài được đưa lên Internet ngày: 23/08/2010

Lời người dịch: Gnash 0.8.8 dùng để chơi các tệp video, bây giờ tương thích với “100% các video của YouTube“ - người sử dụng mà gặp những vấn đề với các video được khuyến cáo xóa tất cả các cookies và làm tươi YouTube của họ. Hiện có cho các phát tán Debian, Fedora, Ubuntu và Red Hat Enterprise Linux (RHEL), và hỗ trợ hàng loạt các vi xử lý không phải là x86 và 64 bit.

6 tháng sau khi bản cập nhật của 0.8.7 ra đời, nhóm phát triển Gnash đã đưa ra phiên bản 0.8.8 trình chơi Flash nguồn mở của họ. Theo các lập trình viên, phiên bản mới nhất của trình chơi SWF làm việc được với “100% các video của YouTube“ - người sử dụng mà gặp những vấn đề với các video được khuyến cáo xóa tất cả các cookies và làm tươi YouTube của họ.

Các tính năng của phiên bản 0.8.8 của Gnash được cải tiến điều khiển thiết bị đầu vào và bây giờ có thể chuyển giữa các trình trả về Cairo, OpenGL và AGG và giữa các trình điều khiển phương tiện (Ffmpeg và Gstreamer) trong thời gian thực. Gnash cũng có khả năng giải mã video nhanh hơn trên phần cứng tương thích thông qua thư viện giao diện ứng dụng tăng tốc Video (VAAPI). Những thay đổi khác bao gồm sự thực thi tốt hơn nhờ những phụ thuộc nội bộ giảm và scripts cho các trình cài cắm sẽ được hỗ trợ, cho phép JavaScript trong trình duyệt làm việc được với ActionScript.

Gnash có thể chạy được như một trình chơi đứng một mình hoặc như một trình cài cắm cho các trình duyệt web Firefox, Mozilla và Konquerer. Nó chạy trên một số phát tán Linux, trong đó có Debian, Fedora, Ubuntu và Red Hat Enterprise Linux (RHEL), và hỗ trợ hàng loạt các vi xử lý không phải là x86 và 64 bit.

Chi tiết hơn về sự tung ra này có thể thấy trong một bài viết trên blog của dự án Gnash. Các tệp nhị phân và mã nguồn của Gnash có sẵn để tải về từ site của dự án là getgnash.org. Gnash được cấp phép theo GPLv3.

Six months after the 0.8.7 update arrived, the Gnash development team have released version 0.8.8 of their open source Flash Player. According to the developers, the latest version of the SWF player should work with "100% of all YouTube videos" – users that encounter problems with videos are advised to delete all of their YouTube cookies and refresh.

Version 0.8.8 of Gnash features improved input device handling and can now switch between the Cairo, OpenGL and AGG renderers and between media handlers (FFmpeg and GStreamer) at runtime. Gnash also has the ability to decode video faster on compatible hardware via the Video Acceleration API (VAAPI) library. Other changes include better performance due to reduced internal dependencies and scripts for plug-ins are supported, allowing JavaScript in the browser to work with ActionScript.

Gnash can be run as a standalone player or as a plug-in for the Firefox, Mozilla and Konquerer web browsers. It runs on a number of Linux distributions, including Debian, Fedora, Ubuntu and Red Hat Enterprise Linux (RHEL), and supports various non-x86 and 64-bit processors.

More details about the release can be found in a post on the Gnash Project blog. Gnash 0.8.8 binaries and source code are available to download from the project's getgnash.org site. Gnash is licensed under version 3 of the GNU General Public License (GPLv3) .

See also:

(crve)

Dịch tài liệu: Lê Trung Nghĩa

letrungnghia.foss@gmail.com

Matterhorn: Công cụ ghi bài giảng bằng nguồn mở

Matterhorn: Open source lecture recording tool

23 August 2010, 10:26

Theo: http://www.h-online.com/open/news/item/Matterhorn-Open-source-lecture-recording-tool-1063304.html

Bài được đưa lên Internet ngày: 23/08/2010

Lời người dịch: 13 cơ quan tại Mỹ và châu Âu hợp tác trong dự án Opencast với công việc phát triển nhiều được thực hiện tại Đại học California Berkeley, ETH Zurich, Đại học Osnabrück và Đại học Saskatchewan, sau hơn 1 năm đã tung ra trình ghi bài giảng nguồn mở Matterhorn 1.0, mà nó có thể được sử dụng để chộp các hình ảnh được kiểm soát theo thời gian từ một vài máy ảnh cũng như màn hình máy tính của người giảng, phân loại tư liệu trong các cổng video, các nền tảng dạy học hoặc các phương tiện lưu trữ dữ liệu cho việc soạn sửa các tư liệu đó...

Sau hơn 1 năm nghiên cứu và phát triển, dự án Opencast theo sự đỡ đầu của Đại học California Berkeley đã trình bày hệ thống ghi bài giảng Matterhorn 1.0. Trung tâm quản lý thông tin và dạy học ảo (virtUOS) của Đức tại Đại học Osnabrück là một người đóng góp chính cho việc này.

Phần mềm tự do nguồn mở này có thể được sử dụng để chộp các hình ảnh được kiểm soát theo thời gian từ một vài máy ảnh cũng như màn hình máy tính của người giảng. Hệ thống phân loại tư liệu trong các cổng video, các nền tảng dạy học hoặc các phương tiện lưu trữ dữ liệu cho việc soạn sửa.

Được phát triển chủ yếu bởi đội của Osnabrück, trình chơi video cho phép người sử dụng di chuyển, sửa và tìm các tư liệu được ghi. Theo virtUOS thì trình chơi này hỗ trợ các thiết lập cho người khuyết tật, mà đặc biệt giúp các sinh viên mà có vấn đề dự giảng vì khuyết tật vật lý. Matterhorn hỗ trợ một loạt các định dạng video và cho phép những phân tích mở rộng của tư liệu được chộp. Nếu được yêu cầu thì tải xử lý có thể được chia sẻ qua nhiều máy tính.

13 cơ quan tại Mỹ và châu Âu hợp tác trong dự án Opencast này. Công việc phát triển nhiều được thực hiện tại Đại học California Berkeley, ETH Zurich, Đại học Osnabrück và Đại học Saskatchewan.

After more than a year of research and development, the Opencast project under the patronage of the University of California Berkeley has presented the Matterhorn 1.0 lecture recording system. The German (virtUOS) Centre for Information Management and Virtual Teaching at the University of Osnabrück was a major contributor to this undertaking.

The free open source software can be used to capture time-controlled images from several cameras as well as the lecturer's computer screen. The system sorts the material into video portals, learning platforms or data storage media for editing.

Developed mainly by the Osnabrück team, the video player allows users to navigate, edit and search the recorded material. According to virtUOS the player supports accessibility settings, which particularly help students who have trouble attending lectures due to physical disabilities. Matterhorn supports various video formats and allows extensive analyses of the captured material. If required the processing load can be shared across multiple computers.

Thirteen US and European institutions cooperate on the Opencast project. The bulk of the development work is done at the University of California Berkeley, the ETH Zurich, the University of Osnabrück and the University of Saskatchewan.

(djwm)

Dịch tài liệu: Lê Trung Nghĩa

letrungnghia.foss@gmail.com