Thứ Sáu, 9 tháng 10, 2020

Giới thiệu bản thân

Mr. Lê Trung Nghĩa

Mr. Lê Trung Nghĩa

Thông tin cá nhân:

Thành viên Ban chấp hành Hiệp hội các trường đại học, cao đẳng Việt Nam (AVU&C); Đồng sáng lập viên của Câu lạc bộ Phần mềm Tự do Nguồn Mở Việt Nam (VFOSSA); Phó Viện trưởng Viện Nghiên cứu, đào tạo và phát triển Tài nguyên Giáo dục Mở (InOER).

Thông tin liên hệ:

Hiệp hội các trường đại học, cao đẳng Việt Nam (AVU&C).

Tầng 10, Cung Tri thức, số 1 Tôn Thất Thuyết, Cầu Giấy, Hà Nội.

Điện thoại: (84-4) – 32222361

Cập nhật thông tin lần cuối: 13/04/2026

Personal information:

Executive committee member, Association of Vietnam Universities and Colleges (AVU&C); Co-founder of The Vietnam Free and Open Source Software Association (VFOSSA); Deputy Director of the Institute for Research, Training and Development of Open Educational Resources (InOER)

  • In charge of the content for Open Education & Open Educational Resources website, AVU&C: https://giaoducmo.avnuc.vn/

  • Outstanding speaker of The Vietnam Free and Open Source Software Association on the fields of Open Source so far, since its foundation in early 2012. List of presentations and slides (Vi).

  • Blogger on Open Source with more than 6,000 articles and translation news since 2007 so far, at http://vnfoss.blogspot.com/ and http://letrungnghia.mangvn.org/

  • Author of 200+ articles on Open Source and related in Tia Sang, Informatics and Life and Digital World magazines of Vietnam and at conferences and seminars. List of articles (Vi).

  • Translator of more than 690 reports and books relating to Open Source from English into Vietnamese. List of translated documents (Vi).

  • Instructor of more than 80 training for trainers courses on exploring Open Educational Resources for faculty staff and teachers of universities and colleges in Vietnam since late 2017 so far. List of the courses (Vi).

Contact information:

Association of Vietnam Universities and Colleges (AVU&C).

Address: Level 10 - Knowledge Palace - Number 1 Ton That Thuyet, Cau Giay District, Hanoi.

Telephone: (84-4) – 32222361

 Last updated: April 13th, 2026


CÁCH QUẢN LÝ PHIÊN BẢN CÁC MÃ NHẬN DIỆN ĐỐI TƯỢNG SỐ VỚI CÁC TÀI NGUYÊN TRUY CẬP MỞ, ĐƯỢC CẤP PHÉP MỞ



Lê Trung Nghĩa*, Tống Việt Hùng**
* Ban Tư vấn Phát triển Giáo dục Mở, Hiệp hội các trường đại học, cao đẳng Việt Nam
** Phòng Công nghệ mở, Trung tâm Công nghệ thông tin, Bộ Khoa học và Công nghệ
Giấy phép nội dung: CC BY 4.0 Quốc tế (https://creativecommons.org/licenses/by/4.0/)


TÓM TẮT— Bài báo này trình bày cách thức các mã nhận diện đối tượng số - DOI (Digital Object Identifier) và việc quản lý phiên bản của chúng được sử dụng cho các tài nguyên dạng số, đặc biệt là các tài nguyên truy cập mở, được cấp phép mở với giấy phép Creative Commons qua vài ví dụ thực tế và từ đó đưa ra các kết luận có liên quan.
Từ khóa— Mã nhận diện đối tượng số (DOI), phiên bản, quản lý phiên bản DOI, tài nguyên truy cập mở, được cấp phép mở, giấy phép Creative Commons Attribution (CC BY).

I. ĐẶT VẤN ĐỀ
Có ý kiến cho rằng các tài nguyên truy cập mở, được cấp phép mở là thiếu tin cậy, ngay cả khi chúng được gắn các mã nhận diện đối tượng số (DOI) với lý do là DOI cũng có thể bị thay đổi theo thời gian dù được cấp duy nhất. Liệu có đúng như vậy không? Hiểu thế nào cho đúng về DOI và việc quản lý phiên bản DOI khi chúng đi với các tài nguyên truy cập mở, được cấp phép mở dạng (kỹ thuật) số?

II. DOI VÀ VIỆC QUẢN LÝ PHIÊN BẢN DOI
Nhận thức chung là các tài liệu xuất bản dạng giấy theo truyền thống được xác định tính duy nhất của chúng bằng các mã số định danh (nhận diện) tiêu chuẩn quốc tế, như mã số tiêu chuẩn quốc tế cho sách - ISBN (International Standard Book Number) cho các cuốn sách, mã số tiêu chuẩn quốc tế cho tạp chí - ISSN (International Standard Serial Number) cho các tạp chí xuất bản định kỳ. Với kỷ nguyên số ngày nay, khi chuyển đổi các tài liệu xuất bản từ dạng giấy theo truyền thống sang dạng kỹ thuật số, các tài liệu đó thường được quản lý để xác định tính duy nhất của chúng bằng mã nhận diện đối tượng số - DOI (Digital Object Identifier). DOI được sử dụng không chỉ cho sách và tạp chí, mà còn cho các dạng tài nguyên kỹ thuật số khác, như các xuất bản phẩm dạng văn bản nói chung (sách, tạp chí, bài báo, sách chuyên khảo, .v.v.), hình ảnh, âm thanh, video, tập hợp dữ liệu, phần mềm, và bất kỳ các dạng tài nguyên số nào khác (xem phần Type - Dạng tài nguyên trên trang Zenodo[1]).
Cùng với việc gắn DOI vào một tài nguyên dạng số, là việc sử dụng cơ chế quản lý phiên bản DOI (DOI Versioning) để phân biệt tính duy nhất giữa các phiên bản khác nhau của cùng một tài nguyên dạng số đó, thậm chí của các bản tải lên khác nhau của cùng một phiên bản tài nguyên đó trên trang web chứa chúng ở các thời điểm khác nhau.
Việc quản lý phiên bản DOI cho phép bạn:
  • sửa/cập nhật các tệp hồ sơ sau khi chúng đã được xuất bản.
  • trích dẫn một phiên bản cụ thể của hồ sơ.
  • trích dẫn tất cả các phiên bản của hồ sơ.

A. Cách vận hành của cơ chế quản lý phiên bản DOI trên trang Zenodo
Như một ví dụ minh họa cụ thể, dưới đây giải thích cách vận hành của cơ chế quản lý phiên bản trên trang Zenodo, một trong những trang chuyên đặt chỗ cho các kết quả nghiên cứu ở Liên minh châu Âu.
Khi bạn xuất bản bằng việc tải một tài nguyên lên Zenodo lần đầu tiên, Zenodo đăng ký 2 DOI:
  • Một DOI đại diện cho phiên bản cụ thể hồ sơ của bạn.
  • Một DOI đại diện cho tất cả các phiên bản hồ sơ của bạn.
Sau đó Zenodo đăng ký một DOI cho từng phiên bản mới bạn tải lên, thậm chí cho từng lần tải lên khác nhau của cùng một phiên bản.
Điều này được minh họa tốt nhất bằng một ví dụ cụ thể với một bản thảo nghiên cứu chưa được rà soát lại ngang hàng (Priprint) có 3 phiên bản và riêng phiên bản 3 (Version 3.0) có tới 4 lần được tải lên Zenodo[2]. Dưới đây là các DOI đã được đăng ký cho các phiên bản và các bản tải lên khác nhau của cùng một phiên bản (Hình 1):
Hình 1. Ví dụ về quản lý phiên bản DOI trên Zenodo với bản thảo có nhiều phiên bản và nhiều lần với một phiên bản

Hai số DOI đầu tiên cho các phiên bản v1.0 và v2.0 đại diện cho các phiên bản cụ thể của phần mềm đó. Bốn số DOI tiếp theo cho phiên bản v3.0 với lần lượt các lần phiên bản đó được tải liên Zenodo. DOI cuối cùng đại diện cho tất cả các phiên bản của bản thảo nghiên cứu chưa được rà soát lại ngang hàng được tải lên Zenodo, nghĩa là khái niệm của bộ hồ sơ với tất cả các phiên bản và các lần tải lên. Zenodo vì thế cũng gọi chúng lần lượt là các DOI Phiên bản (Version DOIs) và các DOI Khái niệm (Concept DOIs) (lưu ý là, về mặt kỹ thuật cả 2 loại đó chỉ là các DOI thông thường).
Bạn có thể lưu ý thấy rằng các DOI phiên bản không có tiếp vị ngữ “.v1.0”. Bên dưới đây giải thích vì sao.

B. DOI nào trên Zenodo tôi nên sử dụng trong các trích dẫn?
Bạn nên luôn sử dụng như bình thường DOI cho phiên bản cụ thể hồ sơ của bạn trong các trích dẫn. Điều này đảm bảo rằng các nhà nghiên cứu khác có thể truy cập chế tác nghiên cứu chính xác bạn đã sử dụng cho việc tái tạo lại. Mặc định, Zenodo sử dụng phiên bản cụ thể để tạo ra các trích dẫn.
Bạn có thể sử dụng DOI Khái niệm đại diện cho tất cả các phiên bản trong các trích dẫn khi có mong muốn trích dẫn một chế tác nghiên cứu đang tiến hóa, không sử dụng DOI Phiên bản cụ thể nào.
Hiện hành DOI Khái niệm trỏ tới phiên bản mới nhất trong hồ sơ của bạn. Trong ví dụ cụ thể được nêu ở đây, nếu bạn muốn trích dẫn tất cả các phiên bản, bao gồm cả các bản tải lên khác nhau của phiên bản v.3.0, Zenodo hướng dẫn bạn như sau:
“Trích dẫn tất cả các phiên bản? Bạn có thể trích dẫn tất cả các phiên bản bằng việc sử dụng DOI 10.5281/zenodo.3971127. DOI này đại diện cho tất cả các phiên bản và sẽ luôn trỏ tới phiên bản mới nhất”.
Nếu bạn di chuột lên đường liên kết của DOI 10.5281/zenodo.3971127, thì bạn sẽ nhìn thấy đường liên kết đó có địa chỉ web là https://doi.org/10.5281/zenodo.3971127. Nhưng nếu bạn nhấn vào đường liên kết này, thì Zenodo sẽ trỏ bạn tới trang của phiên bản mới nhất với bản tải lên lần cuối cùng của phiên bản cuối cùng đó, nghĩa là trang của phiên bản v3.0 với lần tải lên thứ 4 (chứ không trỏ tới bất kỳ phiên bản nào trước đó, hoặc lần tải lên nào trước đó của phiên bản v3.0) hiện đang có DOI là 10.5281/zenodo.3976104 (https://zenodo.org/record/3976104#.XzCnhBlS_MY).
Để có thêm thông tin về quản lý phiên bản DOI trên Zenodo, bạn có thể đọc trên trang đó, phần viết về “DOI Versioning”[3].

C. Cơ chế quản lý phiên bản DOI trên các trang khác nhau có thể khác nhau
Các trang khác nhau có thể có cơ chế quản lý phiên bản DOI khác nhau. Một ví dụ cụ thể có thể so sánh được là cơ chế quản lý phiên bản DOI trên trang chuyên quản lý các bản thảo nghiên cứu chưa được rà soát lại ngang hàng PeerJ (https://peerj.com/preprints/), ví dụ như sau:
Bản thảo nghiên cứu chưa được rà soát lại ngang hàng có 3 phiên bản[4] (Hình 2), lần lượt có các DOI như sau:
Hình 2. Quản lý phiên bản (DOI) trên PeerJ

Khi bạn nhấn vào các đường liên kết của các DOI ở đây, thì PeerJ sẽ trỏ tới các địa chỉ web tương ứng sau:

Điều này cho thấy, khác với của Zenodo, các DOI của PeerJ có tiếp vị ngữ đi với các phiên bản tương ứng của xuất bản phẩm và trỏ trực tiếp tới địa chỉ web của các trang tương ứng với từng phiên bản đó.

III. DOI VÀ QUẢN LÝ PHIÊN BẢN DOI VỚI CÁC TÀI NGUYÊN TRUY CẬP MỞ, ĐƯỢC CẤP PHÉP MỞ
Cả 2 ví dụ cụ thể được nêu ở trên đều là các bản thảo nghiên cứu chưa được rà soát lại ngang hàng (Priprint) và chúng đều là các tài nguyên truy cập mở, được cấp phép mở với cùng một loại giấy phép: Creative Commons Attribution (CC BY)[5]. Đây là giấy phép dễ dãi nhất trong bộ các giấy phép mở Creative Commons, nó cho phép bất kỳ ai cũng được phép tự do không mất tiền để truy cập, sử dụng lại, tái mục đích, tùy biến thích nghi và phân phối lại các tài nguyên đó, thậm chí để sử dụng cho cả các mục đích thương mại, miễn là (các) tác giả của tài nguyên đó được thừa nhận ghi công đúng. Bằng cách này, bản thân (các) tác giả của tài nguyên đó giữ lại được bản quyền xuất bản phẩm của họ không có các hạn chế cả sau khi xuất bản phẩm đó đã được đăng trên các trang (các) tác giả chọn đăng.
Bạn có thể nhìn thấy giấy phép đó ngay trên trang của từng phiên bản với Zenodo (Hình 3). Còn với PeerJ, bạn có thể nhìn thấy giấy phép đó ở chân trang của từng trang bản thảo (Hình 4).
Hình 3. Giấy phép Creative Commons Attribution (CC BY) của bản thảo có DOI 10.5281/zenodo.3976104 trên Zenodo
Hình 4. Giấy phép Creative Commons Attribution (CC BY) của bản thảo có DOI 10.7287/peerj.preprints.28002v3 trên PeerJ

Điều này là rất khác nếu bạn ký các thỏa thuận với nhà xuất bản theo cách truyền thống để xuất bản các kết quả nghiên cứu của bạn, vì nó thường đi với việc bạn, như là tác giả của xuất bản phẩm đó, sẽ thường phải chuyển giao toàn bộ các quyền bản quyền sang cho nhà xuất bản, và vì thế, nếu sau đó bạn muốn cập nhật cho chính xuất bản phẩm đó, bạn rất có thể phải xin phép nhà xuất bản để họ trao quyền cho bạn để cập nhật các kết quả nghiên cứu đó.

IV. KẾT LUẬN
Dù cơ chế quản lý phiên bản DOI trên các trang khác nhau có thể là khác nhau, việc các xuất bản phẩm nghiên cứu dạng kỹ thuật số được quản lý bằng các DOI và phiên bản DOI đảm bảo tính duy nhất cho các phiên bản khác nhau, thậm chí cho các bản tải lên khác nhau của cùng một phiên bản trên các trang chuyên đặt chỗ cho các xuất bản phẩm nghiên cứu như Zenodo, PeerJ hay bất kỳ trang tương tự nào khác. Bằng cách quản lý đó, dù bạn là nhà nghiên cứu hay người sử dụng, bạn chắc chắn có khả năng rõ ràng và minh bạch để: (1) sửa/cập nhật các tệp hồ sơ sau khi chúng đã được xuất bản; (2) trích dẫn một phiên bản cụ thể của hồ sơ; và (3) trích dẫn tất cả các phiên bản của hồ sơ.
Kế hoạch S của Liên minh S khuyến cáo: “Các tác giả giữ lại bản quyền xuất bản phẩm của họ không có các hạn chế. Tất cả các xuất bản phẩm phải được xuất bản theo một giấy phép truy cập mở, ưu tiên là giấy phép Creative Commons Attribution (CC BY)...”[6]. Điều này giải thích vì sao nhiều xuất bản phẩm nghiên cứu, bao gồm cả các bản thảo nghiên cứu chưa được rà soát lại ngang hàng (Priprints), mang giấy phép CC BY, đặc biệt là trên các trang của châu Âu như Zenodo hay các trang chuyên dành cho các bản thảo dạng Priprints như PeerJ.
Việc quản lý bằng DOI và phiên bản DOI, cùng với các chính sách cấp tiến hiện nay như Truy cập Mở đầy đủ và tức thì tới các xuất bản phẩm và dữ liệu nghiên cứu với ưu tiên sử dụng giấy phép CC BY như được nêu ở trên của nhóm 24 nhà cấp vốn nghiên cứu quốc gia, châu Âu và các quỹ từ thiện cấp vốn nghiên cứu trong trong Liên minh S với Kế hoạch S mà theo đó: “Kế hoạch S yêu cầu rằng, từ 2021, các xuất bản phẩm khoa học là kết quả từ nghiên cứu được các trợ cấp nhà nước cấp vốn phải được xuất bản tuân thủ với các tạp chí hoặc các nền tảng Truy cập Mở”[7], sẽ mang lại thêm nhiều lợi ích hơn nữa cho cả các tác giả cũng như các độc giả - những người sử dụng các kết quả nghiên cứu đó, vì tất cả họ sẽ không phải trả tiền cho các khoản phí xử lý bài báo - APC (Article Processing Charges) cũng như các khoản phí thuê bao để có thể đọc các tạp chí, mà trách nhiệm đó sẽ thuộc về các nhà cấp vốn nghiên cứu. Đây sẽ là sự tiến bộ lớn, rất lớn trong hệ thống xuất bản học thuật, với mục đích cuối cùng là để trả lại các quyền tự do xuất bản cho các nhà nghiên cứu khỏi sự phụ thuộc vào các nhà xuất bản.

V. TÀI LIỆU VÀ THÔNG TIN THAM KHẢO
[1] https://zenodo.org/search?page=1&size=20&q=
[2] Kira Smith, 2020: “Eradicate Coronavirus by blocking replication, counteracting its defense system”: https://zenodo.org/search?page=1&size=20&q=conceptrecid:%223971127%22&sort=-version&all_versions=True, truy cập ngày 10/08/2020, CC BY.
[3] Zenodo, “DOI Versioning”: https://help.zenodo.org/#versioning. Bản dịch sang tiếng Việt của Lê Trung Nghĩa có tại địa chỉ: https://giaoducmo.avnuc.vn/truy-cap-mo/quan-ly-phien-ban-ma-nhan-dien-doi-tuong-so-doi-digital-object-identifier-tren-zenodo-264.html
[4] John P Staub, 2020: “A simplified correlation between vertebrate evolution and Paleozoic geomagnetism”: https://peerj.com/preprints/28002v3/, truy cập ngày 10/08/2020, CC BY.
[5] https://creativecommons.org/licenses/by/4.0/
[6] Lê Trung Nghĩa biên dịch, 2018: “Kế hoạch S - Tăng tốc chuyển đổi quá độ sang Truy cập Mở đầy đủ và tức thì tới các xuất bản phẩm khoa học”: https://www.dropbox.com/s/9758mj1voyjeyel/Plan_S-Vi-06042019.pdf?dl=0
[7] https://www.coalition-s.org/

PS: Tải về bài trình chiếu tại hội nghị tại địa chỉ:
https://www.dropbox.com/s/6d5c5l90qv6h387/DOI_Versioning_Final.pdf?dl=0

Thứ Năm, 8 tháng 10, 2020

GIỚI HẠN VÀ PHẠM VI CỦA “ĐÁNH DẤU KHÓA HỌC MỞ VÀ KHAM ĐƯỢC: CÁC THỰC HÀNH TỐT NHẤT VÀ CÁC TRƯỜNG HỢP ĐIỂN HÌNH”

Nguồn: Sarah Hare, Jessica Kirschner, và Michelle Reed biên tập: Đánh dấu khóa học mở và kham được: Các thực hành tốt nhất và các trường hợp điển hình; Nhà in Mavs xuất bản năm 2020, giấy phép mở CC BY 4.0.


Lời người dịch: Ở thời điểm hiện tại, đánh dấu khóa học mở và kham được là OK và chấp nhận được. Nhưng tương lai nên là đánh dấu mở hoặc OER; “đánh dấu mở hoặc OER hơn cả là việc đánh dấu thông thường”.


CÁC GIỚI HẠN VÀ PHẠM VI

Đánh dấu tư liệu khóa học mở và kham được là lĩnh vực tư liệu cự kỳ non trẻ về OER, với hầu như không có các trường hợp điển hình hay nghiên cứu chính thức nào được xuất bản về chủ đề này. Trong khi một chương trình ưu đãi hoặc sáng kiến tư liệu khóa học kham được hoặc OER đang có không phải là tiền thân được yêu cầu cho việc chỉ định các tư liệu trong thời khóa biểu của các lớp học, các hoạt động đó là đồng vận. Việc có chương trình tại chỗ, và vài tri thức đang có về OER trong khu trường, có thể trợ giúp để tập hợp hỗ trợ và các tài nguyên để đánh dấu khóa học và thậm chí giúp cho các cơ sở nhanh chóng tìm ra các khóa học để đánh dấu. Tương tự, việc đánh dấu các khóa học OER và kham được có thể dẫn tới nhiều hơn những người hướng dẫn và sinh viên học về khả năng kham được tư liệu khóa học và có chương trình OER được thiết lập tại chỗ có thể cung cấp cơ hội tức thì cho những ai có quan tâm trở nên có liên quan có hệ thống hơn. Vì lý do này, Đánh dấu các khóa học mở và kham được tập trung vào việc đánh dấu khóa học một cách cụ thể nhưng cũng vốn dĩ thảo luận những lợi ích có được chương trình tư liệu khóa học kham được hoặc OER lớn hơn cùng với một sáng kiến đánh dấu khóa học.

Đánh dấu các khóa học mở và kham được tạo ra các ý tưởng và triển khai nhìn thấy được vẫn còn đang tiến hóa. Các tác giả cho rằng sử dụng OER và đánh dấu các khóa học là lý tưởng. Chúng tôi biết sự cho phép vốn có trong OER là nền tảng cơ bản để tiếp tục việc dạy và học. Tuy nhiên, cuốn sách này phản ánh hiện trạng lĩnh vực này càng nhiều càng tốt trong nỗ lực truyền cảm hứng thảo luận về những gì có thể xảy ra.

Vì thế, trong khi có nhiều lợi ích của việc sử dụng OER, cuốn sách có chủ ý tập trung vào chi phí và khả năng kham được. Chi phí cao của các tư liệu khóa học thường là xung lượng chính để bắt đầu một sáng kiến đánh dấu khóa học, nhưng chúng không nên là các câu từ cuối cùng. Một khi việc chỉ định các chi phí tư liệu khóa học trở thành thông thường hơn, các cơ sở nên cân nhắc việc đánh dấu mở hoặc OER hơn cả là việc đánh dấu thông thường. Làm như vậy có thể bắt đầu các thảo luận với những người hướng dẫn và các sinh viên về mở khác biệt như thế nào với (hoặc thường vượt quá) các giải pháp tư liệu khóa học kham được khác.

Thứ Tư, 7 tháng 10, 2020

MINH BẠCH VÀ ĐẠI LÝ CỦA SINH VIÊN

 

Nguồn: Sarah Hare, Jessica Kirschner, và Michelle Reed biên tập: Đánh dấu khóa học mở và kham được: Các thực hành tốt nhất và các trường hợp điển hình; Nhà in Mavs xuất bản năm 2020, giấy phép mở CC BY 4.0.


Lời người dịch: Khi người lớn không minh bạch và/hoặc không muốn minh bạch, không có cửa cho thành công của sinh viên!


MINH BẠCH VÀ ĐẠI LÝ CỦA SINH VIÊN

Các đánh dấu khóa học là chìa khóa để sinh viên có quyền tự quyết khi lựa chọn các khóa học của họ. Các đánh dấu đó không chỉ cho phép các sinh viên đưa ra các quyết định có giáo dục về các khóa học ở đó họ ghi danh, mà chúng còn cung cấp thông tin không thể thiếu về các khóa học, bao gồm các yêu cầu về sự tuần tự và trình độ của khóa học.

Đối với các khóa học mở và kham được, các nỗ lực đánh dấu cũng tăng cường cho mục tiêu minh bạch giá thành được Luật Cơ hội Giáo dục Đại học của liên bang yêu cầu (Bộ Giáo dục Mỹ 2008). Như được nêu ở trên, các chi phí sách giáo khoa có thể có tác động đáng kể lên kinh nghiệm giáo dục của sinh viên, thậm chí với chi tiêu thêm nhỏ nhất trở thành đường liên kết giữa việc ở lại trường hay bỏ học, như được thể hiện bằng dữ liệu được Ủy ban Điều phối Giáo dục Đại học Oregon thu thập (Open Oregon 2019). Thậm chí khi các cơ sở tìm cách cung cấp cho các sinh viên thông tin về các chi phí tư liệu khóa học trước khi họ đăng ký với một khóa học cụ thể, các khó khăn với các lịch hàn lâm thường cản trở sự thành công. Thay vào đó, các sinh viên thường đăng ký tới khóa học trước vài tháng và sau đó không thể truy cập được thông tin của cửa hàng sách hoặc giáo trình về các tư liệu khóa học được yêu cầu cho tới thời điểm vài tuần trước khi học kỳ, quý, hoặc niên học bắt đầu. Lưu ý là các kỳ hạn có thể được sử dụng lẫn nhau xuyên suốt văn bản này để ám chỉ giai đoạn hàn lâm duy nhất.

Bằng việc tích hợp các chi phí tài nguyên vào quy trình đăng ký, các cơ sở giúp các sinh viên ra quyết định đúng lúc, đầy đủ thông tin. Dựa vào các nghiên cứu được nêu ở trên, như Khảo sát các Tư liệu Khóa học và Sách giáo khoa Sinh viên của Florida, là rõ ràng các chi phí đó có thể ảnh hưởng tới các lớp học các sinh viên chọn ghi danh vào hoặc các chuyên ngành họ theo đuổi. Bằng việc nâng cao sự minh bạch thông qua thời khóa biểu các lớp học, các sinh viên truy cập được tới tất cả các thông tin cần thiết để lựa chọn khóa học của họ, thậm chí ở mức học phần. Sự minh bạch như vậy làm gia tăng quyền tự quyết của sinh viên trong sự nghiệp hàn lâm của họ, cho phép họ có khả năng lớn nhất để thành công.

Thứ Ba, 6 tháng 10, 2020

ĐÁNH DẤU KHÓA HỌC MỞ VÀ KHAM ĐƯỢC

Nguồn: Sarah Hare, Jessica Kirschner, và Michelle Reed biên tập: Đánh dấu khóa học mở và kham được: Các thực hành tốt nhất và các trường hợp điển hình; Nhà in Mavs xuất bản năm 2020, giấy phép mở CC BY 4.0.


Lời người dịch: Ở Mỹ và Canada, việc đánh dấu khóa học mở và kham được sẽ giúp cho sinh viên lựa chọn dễ hơn các khóa học cho chính họ, phù hợp với túi tiền của họ, chứ không chỉ có duy nhất lựa chọn phải mua các cuốn sách đắt tiền do các giảng viên chỉ định cho khóa học đó một cách ‘đương nhiên’. Bạn lo ngại về chất lượng của các tư liệu của các khóa học đó, đặc biệt là các Tài nguyên Giáo dục Mở ư? Câu trả lời, như ở bài trước, là: “ngày một gia tăng các nghiên cứu chỉ ra rằng các sinh viên học tốt bằng hoặc tốt hơn trong các khóa học sử dụng Tài nguyên Giáo dục Mở (OER) so với các tư liệu khóa học thương mại truyền thống (Nhóm Giáo dục Mở 2019)”.


ĐÁNH DẤU KHÓA HỌC MỞ VÀ KHAM ĐƯỢC

Một số lượng nhỏ các trường cao đẳng và đại học ở nước Mỹ đã triển khai phương pháp có hệ thống để truyền thông về tính sẵn sàng của các khóa học sử dụng OER với các sinh viên vào thời điểm họ đang xây dựng các thời khóa biểu của họ. Ví dụ, Liên minh Xuất bản và Tài nguyên Học thuật (SPARC) đã nêu rằng ít hơn 1/4 trong số 132 cơ sở thành viên đã trả lời cho khảo sát về Kết nối OER trong các năm 2018/2019 đã nêu rằng họ đã có vài dạng đánh dấu tư liệu khóa học trong thời khóa biểu các lớp học của họ (SPARC 2019).

Trong khi các cơ sở được yêu cầu cung cấp thông tin sách giáo khoa cho các sinh viên như là kết quả của Luật Cơ hội Giáo dục Đại học (Bộ Giáo dục Mỹ 2008), thông tin này không luôn được tích hợp hiệu quả với thời khóa biểu của các lớp học. Thường thấy, thông tin về các tư liệu khóa học và các chi phí của chúng được cửa hàng sách trong khu trường cung cấp. Thời khóa biểu các lớp học có thể cung cấp đường liên kết tới website của cửa hàng sách; cách khác, các sinh viên có thể phải điều hướng và tìm kiếm trang một cách tách bạch. Bằng việc tích hợp thông tin chi phí các tư liệu khóa học vào SIS thông qua các đánh dấu khóa học, các sinh viên nhận được thông tin về lớp học và chi phí cùng một nơi, giúp họ đưa ra các quyết định đầy đủ thông tin.

Ngoài ra, các đánh dấu khóa học biến động mạnh theo cơ sở và không bị giới hạn đối với mở hoặc OER. Các đánh dấu cũng bao gồm các chỉ định như vậy như là tự do không mất tiền, không mất chi phí, chi phí sách giáo khoa bằng 0 (ZTC), chi phí thấp hoặc kham được, và truy cập bao hàm toàn diện. Thuật ngữ và những giải thích các nhãn đó là khác nhau tùy theo các cơ sở, có lẽ với biến động lớn nhất là ngưỡng chi phí (như, 25 USD, 40 USD) cho các khóa học kham được hoặc chi phí thấp (Chương 12 [Thương hiệu]). Trong khi các đánh dấu chi phí thấp và kham được không truyền tải được các chi phí chính xác, các định nghĩa đi kèm giúp các sinh viên phân bổ ngân sách cho các lớp học của họ. Các nhãn mở, tự do không mất tiền, và chi phí bằng 0 chỉ ra một khóa học không có các chi phí tài nguyên khóa học.

Chiến lược tránh sử dụng “mở” hoặc “OER” khi đánh dấu các khóa học thường là sự thỏa hiệp thực dụng có ý định làm cho việc đánh dấu là hiểu được đối với nhiều sinh viên hơn. Tuy nhiên, lựa chọn này có thể có vấn đề cho các nghiên cứu tập trung đặc biệt vào OER, làm tổn hại tới khả năng của cơ sở để đo đếm sử dụng và tác động đặc thù của nội dung được cấp phép mở trong các lớp học. Những ai có quan tâm tới việc đánh dấu OER phải cân bằng cam kết của họ với truy cập mở với mong muốn của họ để tiếp cận đại lý của sinh viên, đảm bảo rằng các giao diện và các lựa chọn sinh viên đối mặt là càng trực tiếp càng tốt.

Thứ Hai, 5 tháng 10, 2020

TÀI NGUYÊN GIÁO DỤC MỞ

Nguồn: Sarah Hare, Jessica Kirschner, và Michelle Reed biên tập: Đánh dấu khóa học mở và kham được: Các thực hành tốt nhất và các trường hợp điển hình; Nhà in Mavs xuất bản năm 2020, giấy phép mở CC BY 4.0.

Xem thêm: định nghĩa OER trong tài liệu Khuyến cáo Tài nguyên Giáo dục Mở, được đại diện của 193 quốc gia thành viên UNESCO phê chuẩn ngày 25/11/2019.


TÀI NGUYÊN GIÁO DỤC MỞ

Khái niệm “OER” đã được đưa ra tại Diễn đàn UNESCO năm 2002 về Tác động của Học liệu Mở cho Giáo dục Đại học ở các Quốc gia Đang phát triển. Kể từ đó, một số tổ chức đã chào các định nghĩa khác nhau về OER, dù họ nhất quán nhấn mạnh tới truy cập tự do không mất tiền, không có rào cản và các quyền sở hữu trí tuệ mềm dẻo. Định nghĩa được trích dẫn phổ biến tới từ Quỹ William and Flora Hewlett Foundation:

Tài nguyên Giáo dục Mở là các tư liệu dạy, học và nghiên cứu trong bất kỳ phương tiện nào - kỹ thuật số hay không - mà nằm trong phạm vi công cộng hoặc đã được phát hành theo một giấy phép mở cho phép những người khác không mất chi phí để truy cập, sử dụng, tùy biến thích nghi và phân phối lại không có các hạn chế nào hoặc có các hạn chế có giới hạn. (Hewlett Foundation 2015)

Nửa sau của định nghĩa này - tình trạng bản quyền và các giấy phép - phân biệt OER với các tư liệu khóa học khác và làm cho chúng trở thành giải pháp độc nhất vô nhị cho khả năng kham được. Trong khi các chiến lược về khả năng kham được của tư liệu khóa học khác được nhắc tới trước đó có thể làm giảm chi phí tức thì đối với các tư liệu khóa học, các sinh viên chỉ có truy cập tới các tư liệu cho một giai đoạn thời gian có giới hạn. Ví dụ, trong khi nội dung có trong các chương trình mua sắm tự động được trao cho các sinh viên từ ngày đầu với giá thành thấp hơn, các sinh viên thường mất truy cập tới nội dung này hoặc vào cuối học kỳ hoặc thời gian được chỉ định sau này. Điều này có thể có vấn đề đối với nội dung cơ bản nền tảng mà các sinh viên sẽ cần phải làm lại và rà soát lại trong các lớp tiếp sau. Tương tự, nội dung được thư viện cấp phép là tự do không mất tiền cho các sinh viên với mã nhận diện (ID) và đăng nhập của trường đại học, nhưng họ thường mất truy cập đó khi tốt nghiệp. OER, mặt khác, cho phép những người sử dụng giữ lại các tư liệu vô thời hạn và truyền các tư liệu đó cho người khác có lẽ cần chúng mà không vi phạm bản quyền.

Sự cho phép bản quyền của OER thường được truyền đạt qua một giấy phép Creative Commons. Các giấy phép đó cho phép giữ lại không có giới hạn và cũng thường cho phép sửa đổi các tư liệu khóa học, với ngoại lệ của giấy phép Creative Commons No-Derivatives (Creative Commons Không có Phái sinh). Vì thế, với OER, những người hướng dẫn có sự mềm dẻo để sửa đổi nội dung hoặc kết hợp nhiều nguồn để tạo ra các tư liệu khóa học mới phù hợp với kế hoạch khóa học mong muốn và các kết quả đầu ra học tập của họ thay vì việc tùy chỉnh giáo trình cho phù hợp với các tài nguyên thương mại. OER có thể được tùy chỉnh cho phù hợp với cơ sở và lượng sinh viên của nó, cho phép các sinh viên liên hệ tốt hơn với nội dung.

David Wiley mô tả khả năng độc nhất vô nhị để giữ lại, sử dụng lại, làm lại, pha trộn, và phân phối lại OER không có giới hạn như là nguyên tắc “5R” (2014). Nguyên tắc 5R, được kết hợp với khả năng truy cập tự do không mất tiền tới các tư liệu, ngụ ý OER có thể có tác động đáng kể lên các kinh nghiệm học tập của sinh viên. Ví dụ, ngày một gia tăng các nghiên cứu chỉ ra rằng các sinh viên học tốt bằng hoặc tốt hơn trong các khóa học sử dụng OER so với các tư liệu khóa học thương mại truyền thống (Nhóm Giáo dục Mở 2019). Các nghiên cứu khác chỉ ra sự gia tăng đáng kể mật độ tuyển sinh giữa các sinh viên được tuyển sinh vào các khóa học OER (Fischer et al. 2015). Phụ lục B (Những lợi ích của OER) có danh sách ngắn gọn những lợi ích khác OER chào cho những người hướng dẫn, các sinh viên, và các cơ sở.

Chủ Nhật, 4 tháng 10, 2020

KHẢ NĂNG KHAM ĐƯỢC TƯ LIỆU KHÓA HỌC

Nguồn: Sarah Hare, Jessica Kirschner, và Michelle Reed biên tập: Đánh dấu khóa học mở và kham được: Các thực hành tốt nhất và các trường hợp điển hình; Nhà in Mavs xuất bản năm 2020, giấy phép mở CC BY 4.0.


Lời người dịch: Ví dụ về khả năng kham được tư liệu khóa học như: bộ sách giáo khoa lớp 1 với giá hơn 800.000 VNĐ là không kham được đối với hầu hết các học sinh ở Việt Nam!


KHẢ NĂNG KHAM ĐƯỢC TƯ LIỆU KHÓA HỌC

Các tư liệu khóa học đã trở thành ít kham được hơn khi các chi phí sách giáo khoa gia tăng 88% giữa các năm 2006-2016 (Văn phòng Thống kê Lao động Mỹ 2016). Sự gia tăng này, cùng với sự gia tăng học phí và các khoản phí khác, đã làm cho việc tốt nghiệp trong 4 năm trở nên thách thức hơn, ảnh hưởng không tương xứng tới các sinh viên thu nhập thấp và các sinh viên nào có thể cần phải thu xếp được các yêu cầu về thời khóa biểu công việc, chăm sóc con nhỏ và gia đình, và các trách nhiệm khác (Colvard, Watson, và Park 2018). Quả thực, nhiều sinh viên thể hiện rằng các chi phí tư liệu khóa học có tác động mạnh lên hành vi của họ. Một báo cáo năm 2014 của Nhóm Nghiên cứu Quan tâm Chung của Sinh viên chỉ ra rằng 65% sinh viên chọn bỏ mua tài nguyên giáo dục được yêu cầu vì chi phí (Senack 2014). Đa số lớn các sinh viên đó nói họ đã làm như vậy bất chấp việc thừa nhận quyết định đó có thể có tác động tiêu cực lên điểm số của họ trong khóa học. Báo cáo cũng chỉ ra rằng các chi phí tài nguyên ảnh hưởng tới số lượng và dạng các khóa học ở đó các sinh viên dự tuyển. Các phát hiện đó cộng hưởng với các nghiên cứu khác, như Khảo sát các Tư liệu Khóa học và Sách giáo khoa Sinh viên Florida năm 2016, nó đưa ra bằng chứng nghiêm túc rằng các sinh viên thừa nhận các chi phí tư liệu khóa học gây ra việc bỏ học, thất bại, rút khỏi các khóa học hoặc chọn ít khóa học hơn, tất cả những thứ đó kéo dài thời gian tốt nghiệp (Florida Virtual Campus 2016).

Các cơ sở giáo dục đại học đã đáp lại vấn đề chi phí cao của sách giáo khoa bằng việc tạo ra các sáng kiến về khả năng kham được các tư liệu khóa học. Các thư viện hàn lâm từ lâu đã cung cấp các sách giáo khoa và các tư liệu khác để dự phòng, mua một bản sao sách giáo khoa được yêu cầu và cho phép các sinh viên hoàn trả nó sau một thời gian nhất định. Gần đây hơn, các thư viện đã bắt đầu thúc đẩy có hệ thống hơn nội dung điện tử được thư viện cấp phép như là giải pháp tiềm năng khi các sinh viên trả các khoản phí rồi để hỗ trợ mua sắm các cuốn sách điện tử và các tư liệu khác (xem các ví dụ các chương trình tập trung vào nội dung được thư viện cấp phép trong Walz, Jensen, and Salem 2016). Các cửa hàng sách trong các khu trường đã tạo ra các chương trình sách cũ và cho thuê để xúc tác cho sinh viên truy cập tới các tư liệu khóa học với chi phí giảm và/hoặc trong thời gian ngắn. Vài khu trường đã đưa ra các chương trình mua sắm tự động (như, eText và “truy cập bao hàm toàn diện”) ở đó các nhà xuất bản cung cấp cho các sinh viên truy cập từ ngày đầu tiên tới các tư liệu số với chi phí giảm, thường cho toàn bộ lớp học, để đổi lại đảm bảo rằng tỷ lệ cao các sinh viên sẽ tham gia. Các sinh viên thường được tự động ghi danh vào các chương trình như vậy, dù các cơ sở yêu cầu có các lựa chọn không tham gia. Sự hợp pháp của các chương trình như vậy còn tranh cãi, bằng chứng là vụ kiện tụng được đệ trình năm 2020 chống lại vài nhà xuất bản và chuỗi cửa hàng sách chính (McKenzie 2020).

Cuối cùng, các sáng kiến OER đã giành được sự chú ý trong những năm gần đây. OER là các tư liệu dạy và học tự do không mất tiền được cấp phép có chủ ý để cho phép làm lại và sử dụng lại. Các sáng kiến OER thường khuyến khích những người hướng dẫn sử dụng OER và quảng bá nhiều lợi ích vốn có trong việc sử dụng OER, bao gồm truy cập được tự do không mất tiền và không có ràng buộc đối với sinh viên, cơ sở của người hướng dẫn, và cơ hội lấy các tài nguyên và xây dựng các tư liệu khóa học một cách cộng tác (Jensen, n.d.).