Thứ Năm, 7 tháng 5, 2020

Mở là mặc định, đóng là ngoại lệ

Open by default, closed by exception
Victoria Passau, Mar 4 · 6 min read
Bài được đưa lên Internet ngày: 04/03/2020
Draffin Album. Khai trương Viện bảo tàng Tưởng niệm Chiến tranh Auckland, 1929. AWMM. PH-ALB-458–2–34.
Trong phần đầu của loạt bài có 2 phần, Victoria Passau (Quản lý bộ sưu tập, Bia kỷ niệm trên trực tuyến) và Zoë Richardson (Quản lý các quyền và đơn hàng hình ảnh) mô tả hành trình của Viện bảo tàng tưởng niệm chiến tranh Tāmaki Paenga Hira Auckland hướng tới truy cập mở, và đâu là nơi nó đã hướng tới tiếp sau.
Kō Pukekawa te maunga; kō Waitematā te moana; kō Tāmaki Paenga Hira te whare taonga.
Viện nghiên cứu và thu thập lâu đời nhất của New Zealand, Viện bảo tàng Tưởng niệm Chiến tranh Tāmaki Paenga Hira ở Auckland được xây dựng dựa vào di sản 168 năm học bổng và đổi mới sáng tạo mà đã đóng góp cho sự hiểu biết sâu sắc thế giới xung quanh chúng ta. Chúng tôi là viện bảo tàng khu vực lớn nhất của Aotearoa, trong một thành phố với 1,6 triệu dân. Viện bảo tàng có 4,5 triệu hạng mục khắp 4 lĩnh vực thu thập chính: Khoa học tự nhiên, Di sản tài liệu, Lịch sử con người, và Bia kỷ niệm trên trực tuyến.
Thông tin bộ sưu tập và nhóm về Truy cập của viện bảo tàng tạo thuận lợi cho nghiên cứu và truy vấn và cung cấp truy cập tới dữ liệu và các hình ảnh. Theo cách này, chúng tôi hành động như là chất xúc tác cho tri thức mới. Nhóm của chúng tôi gồm các nhiếp ảnh gia, các thủ thư, các kỹ thuật viên bộ sưu tập, và các chuyên gia kỹ thuật. Chúng tôi làm việc trong các hợp đồng ảnh, về sự cho phép bản quyền và văn hóa, các cơ sở dữ liệu Bia tưởng niệm trên trực tuyến và các bộ sưu tập trên trực tuyến, nghiên cứu, Mātauranga Māori (tri thức Māori), dữ liệu, và website của chúng tôi.
Nhóm về Thông tin và Truy cập bộ sưu tập, 2020.
Hành trình của chúng tôi tới Mở
Hành trình của viện bảo tàng Auckland tới “Mở” đã bắt đầu vào năm 2012 với sự triển khai chiến lược Viện bảo tàng Tương lai (Future Museum) của chúng tôi mà sau đó đã phát hành hơn 1 triệu bản ghi trong bộ sưu tập qua một cơ sở dữ liệu các bộ sưu tập trên trực tuyến được cập nhật vào năm 2015. Kể từ đó chúng tôi đã hoạt động trong khái niệm “Mở là mặc định, đóng là ngoại lệ” (Open by default, closed by exception). Điều này áp dụng cho cả truy cập vật lý hoặc số, thông qua các hợp đồng hình ảnh, cấp phép cho dữ liệu, và nghiên cứu.
Năm ngoái, các bộ sưu tập trên trực tuyến và bia tưởng niệm trên trực tuyến đã được gần 500.000 người sử dụng truy cập, với tổng số 2 triệu lượt xem trang. API của chúng tôi có thể được sử dụng để truy cập siêu dữ liệu của bộ sưu tập, thông tin người phục vụ, và các tài nguyên đa phương tiện. Chúng tôi cam kết khuếch đại tầm với các bộ sưu tập số và đã thiết lập hơn 20 quan hệ đối tác với các nền tảng trên trực tuyến, các tổ chức đối tác, và các nhà tổng hợp để chia sẻ các bộ sưu tập của chúng tôi với thế giới.
Các mối quan hệ đối tác cộng tác với các tổ chức cùng chí hướng cho phép chúng tôi chia sẻ sự đam mê của chúng tôi về truy cập mở bất cứ nơi đâu có những người sử dụng tiềm năng, thay vì kỳ vọng họ tới với chúng tôi. Ví dụ, chúng tôi có hơn 125.000 hình ảnh được cấp phép mở trên Wikimedia Commons. Nội dung này đã được nhúng vào 700 trang Wikipedia trong 97 ngôn ngữ. Các quan hệ đối tác đã giúp chúng tôi mở rộng triệt để khán thính phòng của chúng tôi.
Năm tài chính này (2019/2020) chúng tôi đã trải nghiệm rồi 13 triệu lượt xem và tương tác với các bản ghi, các hình ảnh và dữ liệu trên các nền tảng bên ngoài, khắp nhiều lĩnh vực và khu vực thu thập. Chúng tôi chưa bao giờ có được mức độ tương tác này từ những người truy cập tới trang của riêng chúng tôi.
Chúng tôi cũng đã tải lên Flickr hơn 2.300 ảnh chụp trong số các hình ảnh của bộ sưu tập được nhóm các nhiếp ảnh gia hàng đầu của chúng tôi chụp. Đây là một trong những góc nhìn ‘nghệ thuật nhất’…

Cùng với các bản tải lên các dữ liệu và hình ảnh mang tính đại chúng đó, chúng tôi làm việc với các nền tảng với nội dung được giám tuyển như Nghệ thuật và Văn hóa của Google (Google Arts & Culture), tiến hành các triển lãm và các bộ sưu tập sẵn sàng cho bất kỳ ai có kết nối Internet.
Bia tưởng niệm trên trực tuyến là cơ sở dữ liệu quân nhân của chúng tôi, những người đã phục vụ trong nghĩa vụ tích cực trong Lực lượng Vũ trang New Zealand, hoặc những người New Zealand Mới đã phục vụ ở đâu đó khác trong các thời kỳ xung đột. Nó bao gồm hơn 235.000 bản ghi và xúc tác cho công chúng để bổ sung thêm thông tin trực tiếp vào từng bản ghi riêng rẽ. Chúng tôi đã nhận được hơn 100.000 mẩu dữ liệu, các hình ảnh, tài liệu, và các thông điệp cá nhân, kể từ khi nó được khai trương năm 2015. Dữ liệu này được chia sẻ theo giấy phép CC BY 4.0. Hãy đọc Chính sách Bộ sưu tập Bia tưởng niệm Trên trực tuyến để có thêm thông tin.
Biện hộ cho cải cách bản quyền
Chúng tôi tin tưởng pháp luật bản quyền nên cân bằng các quyền của các nhà sáng tạo và người sử dụng để phổ biến của và truy cập tới tri thức và các tác phẩm sáng tạo mới.
Giống như nhiều cơ sở đủ mọi kích cỡ của chúng tôi, chúng tôi có Khung Bản quyền. Đây là một nơi kaupapa (chủ đề) “Mở là mặc định, đóng là ngoại lệ” chiếm vị trí trung tâm. Ở những nơi viện bảo tàng Auckland nắm giữ bản quyền trong một hạng mục nào đó, chúng tôi cố gắng phát hành các hình ảnh của nó theo giấy phép CC BY 4.0. Chúng tôi sử dụng tuyên bố “Không có các hạn chế bản quyền được biết nào” khi phát hành các hình ảnh số của các tác phẩm phạm vi công cộng 2 chiều. Khi phát hành các hình ảnh của các hiện vật theo đó chúng tôi không nắm giữ bản quyền, chúng tôi chào các lựa chọn cấp phép Creative Commons cho những người nắm giữ bản quyền bên ngoài, tiếp tục biện hộ cho tiếp cận mở tới nội dung.

Bộ Đổi mới sáng tạo Doanh nghiệp và Việc làm của New Zealand (MBIE) hiện đang triển khai sự rà soát lại Luật Bản quyền 1994. Tài liệu các vấn đề ban đầu MBIE đã phát hành đã nhận được phản hồi và các đệ trình đáng kể từ khu vực GLAM, nhấn mạnh các thách thức trong pháp luật hiện hành và tác động liên tục lên khu vực văn hóa rộng lớn hơn. Đệ trình của chúng tôi có thể đọc trên trực tuyến (PDF, 214KB).
Một trong các vấn đề lớn của chúng tôi là sự loại trừ các viện bảo tàng và các phòng trưng bày ra khỏi các ngoại lệ của thư viện và kho lưu trữ. Chúng tôi có một thư viện theo quy định trong viện bảo tàng nhưng các ngoại lệ kham được đối với các thủ thư của chúng tôi lại không kham được đối với các đồng nghiệp khác của chúng tôi. Ví dụ, đó có thể là một vấn đề về tai nạn lịch sử hoặc quyết định quản lý có chủ ý để đưa một bức ảnh chụp hoặc tài liệu vào bộ sưu tập lịch sử của bảo tàng hoặc thư viện của nó, điều có thể dẫn tới xử lý pháp lý khác nhau theo Luật hiện hành. Các viện bảo tàng và phòng trưng bày nên được đưa vào trong các ngoại lệ hiện có đối với các thư viện và kho lưu trữ, vì điều này có thể cung cấp vài sự nhất quán xuyên khắp lĩnh vực và bên trong các cơ sở.
Các tác phẩm mồ côi thể hiện một vấn đề và chi phí đáng kể đối với chúng tôi như một viện bảo tàng. Các dự án số hóa liên quan tới đánh giá rủi ro thường trực. Các bộ sưu tập với bản quyền phức tạp thường được dành cho các bộ sưu tập thế kỷ 19, chúng thường được xem là khá “dễ” để xử lý và duy trì. Điều này có liên quan vì nó làm lệch lạc nhận thức của công chúng về những gì chúng tôi nắm giữ và có giá trị. Về cơ bản, các bộ sưu tập của thế kỷ 20 phần lớn vẫn là không nhìn thấy. Chúng tôi đang triển khai chuyên cần các tìm kiếm và đánh giá các rủi ro cho vô số các tác phẩm mồ côi của chúng tôi.
New Zealand may mắn có được khung Truy cập và Cấp phép Mở của Chính phủ New Zealand - NZGOAL (New Zealand Government Open Access and Licensing), một tập hợp các hướng dẫn của chính phủ cho tất cả các cơ quan để tuân thủ khi phát hành để sử dụng lại các tác phẩm có bản quyền và tư liệu không có bản quyền hoặc nằm trong phạm vi công cộng. Trong khi chúng tôi bị loại trừ khỏi NZGOAL vì chúng tôi không phải là một tổ chức chính phủ hoặc được hội đồng chính phủ kiểm soát, chúng tôi ôm lấy các giá trị của kaupapa (chủ đề) này.

Ornithoptera (ornithoptera) priamus euphorion, AWMM, AMNZ100288, CC BY 4.0
Các kết luận
Hành trình chúng tôi đã đi qua để mở ra các bộ sưu tập của chúng tôi từng là đầy sự dũng cảm và hiệu chỉnh lại. Chúng tôi vui khi bây giờ thấy được thành quả lao động của chúng tôi. Câu thần chú “Mở là mặc định, đóng là ngoại lệ” là trọng tâm cho công việc của nhóm CIA. Tuy nhiên, Aotearoa là một xã hội thuộc địa và các viện bảo tàng như của chúng tôi phải nhận thức rõ vai trò của chúng tôi trong việc chuyển đổi cuộc đối thoại.
Trong khi chúng tôi nhắm tới cho tính mở, chúng tôi có ý thức rằng viện bảo tàng Auckland hoạt động trong không gian tam giác giữa mong muốn có triết học về tính mở, các ràng buộc của một chế độ bản quyền không hoàn hảo, và những lo ngại xung quanh sự giám hộ cộng đồng, sở hữu trí tuệ bản địa và chủ quyền dữ liệu.
Về cơ bản chúng tôi tin tưởng ‘mở’ như một khái niệm, nhưng luôn có vùng xám và chúng tôi nghĩ tới lúc phải có vùng liền kề - vùng liền kề mở OpenAdjacent. Ở phần 2 của loạt bài này, chúng ta sẽ thảo luận ngữ cảnh văn hóa của tiếp cận truy cập mở và cách để chúng ta xem xét Māori và Pacific taonga (kho châu báu) với sự quan tâm của chúng ta.
Các tác giả: Victoria Passau, Collection Manager, Online Cenotaph; Zoë Richardson, Image Orders and Permissions Manager, Tāmaki Paenga Hira Auckland War Memorial Museum

Draffin Album. Opening of Auckland War Memorial Museum, 1929. AWMM. PH-ALB-458–2–34.
In the first of a two-part series, Victoria Passau (Collection Manager, Online Cenotaph) and Zoë Richardson (Image Orders and Permissions Manager) describe Tāmaki Paenga Hira Auckland War Memorial Museum’s journey towards open access, and where it’s headed next.
Kō Pukekawa te maunga; kō Waitematā te moana; kō Tāmaki Paenga Hira te whare taonga.
New Zealand’s oldest research and collecting institution, Auckland War Memorial Museum Tāmaki Paenga Hira is built on a 168-year legacy of scholarship and innovation that has contributed to a deep understanding of the world around us. We are Aotearoa’s largest regional museum, in a city of 1.6 million people. The Museum holds 4.5 million items across four main collecting areas: Natural Sciences, Documentary Heritage, Human History, and Online Cenotaph.
The museum’s Collection Information and Access team facilitates research and enquiry and provides access to data and images. In this way, we act as a catalyst for new knowledge. Our team includes photographers, librarians, collection technicians, and technical specialists. We work on image orders, copyright and cultural permissions, our Online Cenotaph and Collections Online databases, research, Mātauranga Māori (Māori knowledge), data, and our website.
Collection Information and Access team, 2020.
Our Journey to Open
Auckland Museum’s journey to “Open” started in 2012 with the implementation of our Future Museum strategy that was followed by a release of more than a million collection records through an updated Collections Online database in 2015. Since then we’ve operated on the concept of being “Open by default, closed by exception”. This applies to both physical or digital access, through image orders, data licensing, and research.
In the last year, Collections Online and Online Cenotaph have been accessed by nearly 500,000 users, for a total of 2 million page views. Our API can be used to access collection metadata, serviceperson information, and multimedia resources. We’re committed to amplifying the reach of our digital collections and have established more than 20 partnerships with online platforms, partner organisations, and aggregators to share our collections with the world.
Collaborative partnerships with like-minded organisations allow us to share our passion for open access wherever potential users are, rather than expecting them to come to us. For example, we have more than 125,000 openly licensed images in Wikimedia Commons. This content has been embedded in 700 Wikipedia pages in 97 languages. Partnerships have helped us to massively extend our audience.
This financial year (2019/20) we’ve already experienced 13 million views and interactions with records, images and data on external platforms, across a variety of disciplines and collecting areas. We would never get this scale of interaction from people accessing our own site.
We’ve also uploaded to Flickr more than 2,300 photos of collection images taken by our ace team of photographers. This is one of the ‘artier’ angles …..
Alongside these mass uploads of data and images, we work with platforms with curated content such as Google Arts & Culture, making exhibitions and collections available to anyone with an Internet connection.
Online Cenotaph is our database of military personnel who have served on active duty in the New Zealand Defence Force, or New Zealanders who have served elsewhere in times of conflict. It includes more than 235,000 records and enables the public to add information directly into each individual record. We have received more than 100,000 pieces of data, images, documents and personal messages since it re-launched in 2015. This data is shared under CC- BY 4.0. Read the Online Cenotaph Collection Policy for more information.
Advocating for Copyright reform
We believe copyright legislation should balance the rights of creators and users with the dissemination of and access to knowledge and new creative works.
Like many institutions of our size, we have a Copyright Framework. This is one place where the kaupapa (topic) of “Open by default, closed by exception” is central. Where Auckland Museum holds the copyright in a given item, we try to release our images of it under a CC-BY 4.0 license. We use the statement “No known copyright restrictions” when releasing digital images of two-dimensional public-domain works. When releasing images of objects for which we do not hold the copyright, we offer Creative Commons licensing options to external rights holders, further advocating for an open approach to content.
New Zealand’s Ministry for Business Innovation and Employment (MBIE) is presently undertaking a review of the Copyright Act 1994. The initial issues paper MBIE released received significant feedback and submissions from the GLAM sector highlighting challenges in the current legislation and the ongoing impact on the wider cultural sector. Our submission can be read online (PDF, 214KB).
One of our big issues is the exclusion of Museums and Galleries from Library and Archives exceptions. We have a prescribed library within the Museum but the exceptions afforded to our librarians aren’t afforded to our other colleagues. For example, it can be a matter of historical accident or deliberate management decision to include a photograph or document in the museum’s history collection or its library, which can lead to different legal treatment under the current Act. Museums and Galleries should be included in existing Libraries and Archives exceptions, as this would provide some consistency across the sector and within institutions.
Orphaned works present a considerable issue and cost for us as a museum. Digitisation projects involve constant risk assessment. Collections with complex copyright are often shelved in favour of 19th-century collections, which are often seen as comparatively “easy” to process and maintain. This is concerning as it skews the public’s perception of what we hold and value. Essentially, 20th-century collections remain largely invisible. We do undertake due-diligence searches and risk assessments for our numerous orphaned works.
New Zealand is blessed with the NZGOAL (New Zealand Government Open Access and Licensing) framework, an all-of-government set of guidelines for agencies to follow when releasing for reuse copyrighted works and non-copyright/public-domain material. While we are exempt from NZGOAL because we are not a government- or council-controlled organisation, we embrace the values of this kaupapa.
Ornithoptera (ornithoptera) priamus euphorion, AWMM,
AMNZ100288, CC BY 4.0
Conclusions
The journey we have been on to open our collections has been full of courage and recalibration. We are pleased to now see the fruits of our labour. The mantra of “Open by default, closed by exception” is central to the work of the CIA team. However, Aotearoa is a colonial society and museums like ours must remain cognisant of our role in shifting the dialogue.
While we aim for openness, we are conscious that Auckland Museum operates in a triangular space between the philosophical desire for openness, the constraints of an imperfect copyright regime, and concerns around community guardianship, indigenous intellectual property, and data sovereignty.
We fundamentally believe ‘open’ as a concept, but there is always a grey area and we think it’s time to get adjacent — #OpenAdjacent. In the second instalment of this series, we will discuss the cultural context of our open-access approach and how we consider Māori and Pacific taonga (treasures) in our care.
Authors: Victoria Passau, Collection Manager, Online Cenotaph; Zoë Richardson, Image Orders and Permissions Manager, Tāmaki Paenga Hira Auckland War Memorial Museum
No rights reserved by the author. CC0
Dịch: Lê Trung Nghĩa

Thứ Tư, 6 tháng 5, 2020

“Phao nhắc bài” các thực hành cấp phép GLAM và các chính sách Truy cập Mở

A “cheatsheet” of GLAM licensing practices and Open Access policies
Anne Young, Mar 10 · 3 min read
Bài được đưa lên Internet ngày: 10/03/2020
Trong bài đăng mới nhất của loạt bài này (bài đăng thứ nhất [bản dịch tiếng Việt], thứ hai [bản dịch tiếng Việt] và thứ ba [bản dịch tiếng Việt]), Anne Young chào các suy nghĩ của cô về các thực hành cấp phép và các chính sách Truy cập Mở ở các cơ sở GLAM. Và với điều này, Anne nói lời tạm biệt cho tới loạt bài tiếp sau!
Đức Phật Shakyamuni (chi tiết), triều đại Qing, 1600–1799, đồng mạ vàng, thuốc màu. Viện bảo tàng Nghệ thuật Indianapolis ở Newfields, Quà tặng của James W. Alsdorf, 55.183A-B. Phạm vi công cộng.
Bất kể cơ sở GLAM của bạn ở đâu trong các thực hành R&R của nó, hãy cân nhắc “phao nhắc bài” sau đốiv ới các bước mà bất kỳ chuyên gia R&R nào cũng nên cân nhắc.
  • Đảm bảo các tiến trình cơ bản về các quyền và tái tạo lại và các thực hành cấp phép GLAM của bạn được thiết lập TRƯỚC KHI bạn tích hợp Truy cập Mở.
  • Đừng sợ triển khai biện pháp giữa đường của “Truy cập Mở nửa vời” nếu cơ sở GLAM của bạn chưa thể cam kết với Truy cập Mở được tự động hóa đầy đủ.
  • Một khi cơ sở GLAM của bạn đã có khả năng khởi xướng Truy cập Mở đầy đủ, giữ lại nhận thức rằng đó không phải là tình huống “một lần là làm xong”. Các chương trình Truy cập Mở cần được đánh giá và tinh chỉnh liên tục để giữ được cập nhật với các thực hành và các công cụ của giới công nghiệp để tiếp tục với các phát hiện và sự tích hợp của người sử dụng.
  • Hãy cân nhắc việc tích hợp các công cụ với Truy cập Mở trong cơ sở GLAM của bạn như các giấy phép Creative Commons, Các tuyên bố Quyền cho các tuyên bố bản quyền của bạn, Dữ liệu Mở Liên kết cho siêu dữ liệu của bạn, và các hình ảnh IIIF, chỉ nêu vài điều.
Tất cả các công cụ và tiêu chuẩn đó tiếp tục tích hợp nội dung bộ sưu tập GLAM, tiêu chuẩn hóa thuật ngữ mô tả bản quyền, sử dụng và sử dụng lại, và toàn bộ làm gia tăng khả năng phát hiện trên toàn cầu nội dung Truy cập Mở trên trực tuyến của bạn.
Các công cụ đó đòi hỏi sự xem xét thận trọng và công việc kỹ thuật để quyết định quyền cho cơ sở GLAM của bạn là gì. Nó có thể chỉ là một hoặc vài việc làm cùng nhau để tiếp tục các mục tiêu Truy cập Mở, nhưng hãy nhớ là nếu bạn không có các khung nằm bên dưới cho các quyền và tái tạo lại để hỗ trợ cho Truy cập Mở để bắt đầu, thì việc ném các điều như Creative Commons, các tuyên bố quyền, Dữ liệu Mở Liên kết, hoặc IIIF lên đỉnh mà không có mục tiêu chiến lược có thể chỉ bổ sung thêm rối rắm.
Hãy cân nhắc có các cơ sở về các quyền và tái tạo lại được thiết lập, tích hợp một mức Truy cập Mở mà cơ sở GLAM của bạn có thể hỗ trợ, VÀ SAU ĐÓ tiếp tục tinh chỉnh Truy cập Mở là gì đối với cơ sở GLAM của bạn bằng việc mang các công cụ và các tuyên bố mô tả bổ sung đó vào pha trộn.
Cuối ngày, Truy cập Mở thực sự chỉ là cách thức khác đối với cơ sở GLAM của bạn để truyền đạt về bản quyền và nội dung bộ sưu tập của nó cho một thế giới trên trực tuyến rộng lớn hơn, điều chỉ được trợ giúp bằng sử dụng có tinh chỉnh ngôn ngữ được tiêu chuẩn hóa sao cho tất cả chúng ta biết chúng ta đang nói về điều gì.
Và dù bạn chỉ mới đang cân nhắc Truy cập Mở cho cơ sở GLAM của bạn hoặc cơ sở GLAM của bạn là chuyên nghiệp trong Truy cập Mở, hãy chắc chắc kiểm tra danh sách đang gia tăng chưa từng thấy các chính sách và các thực hành OpenGLAM được Andrea Wallace và Douglas McCarthy duy trì: https://t.co/7X9KIwRi8x — luôn là các ý tưởng tốt ở đây! Có thể giải pháp GLAM 2020 của bạn nên là tiếp tục các hoạt động Truy cập Mở của nó chăng?
Khước từ: Nội dung của bài đăng này không cấu thành sự tư vấn pháp lý và cũng không tham chiếu tới bất kỳ tình huống đặc biệt hay đặc thù nào. Nếu bạn có bất kỳ sự nghi ngờ nào về tình huống đặc thù của bạn, bạn nên tư vấn với luật sư.
Các bài đăng đã được biên tập ngoài tập hợp các đoạn tweet mà Anne đã làm trong quá trình giám tuyển của cô đối với tài khoản Twitter @openglam. Hãy nhớ là bạn cũng có thể làm điều đó, hãy đăng ký ở đây!
Anne Young là Giám đốc các công việc pháp lý và sở hữu trí tuệ ở Newfields và là người biên tập “Các quyền và tái tạo lại: Sổ tay cho các cơ sở văn hóa, ấn bản lần hai”, vì nó mà bà đã nhận được giải thưởng Nancy DeLaurier của Hiệp hội Tài nguyên Nhìn vào năm 2017.

In her last post in this series (post one, two & three) Anne Young offers her thoughts on licensing practices and Open Access policies at GLAM institutions. And with this, Anne says farewell until the next series!
Shakyamuni Buddha (detail), Qing dynasty, 1600–1799, gilt bronze, pigment. Indianapolis Museum of Art at Newfields, Gift of James W. Alsdorf, 55.183A-B. Public Domain.
No matter where your GLAM is at in its R&R practices, consider the following a “cheatsheet” to the steps any R&R Specialist should consider.
  • Ensure the basic rights and reproductions workflows and licensing practices of your GLAM are established BEFORE you integrate Open Access.
  • Don’t be afraid to undertake the halfway measure of “Semi-Open Access” if your GLAM can’t commit yet to fully automated Open Access.
  • Once your GLAM has been able to launch full Open Access, remain aware that it is not a “one and done” situation. Open Access programs need to be continually evaluated and refined to remain current with industry practices and tools to further user discovery and integration.
  • Consider integrating tools with Open Access in your GLAM such as Creative Commons licenses, Rights Statements for your copyright statements, Linked Open Data for your metadata, and IIIF images, just to name a few.
All of these standards and tools further integrate GLAM collection content, standardize the terminology that describes copyright, use and reuse, and overall increases the global discoverability of your Open Access content online.
These tools require careful consideration and technical work to decide which are right for your GLAM. It might be just one or a few working together to further Open Access goals, but remember that if you don’t have the underlying rights and reproductions framework to support Open Access to begin with, throwing things like Creative Commons, Rights Statements, Linked Open Data, or IIIF on top without a strategic goal can just add confusion.
Consider getting the rights and reproductions basics established, integrate a degree of Open Access your GLAM can support, AND THEN continue to refine what Open Access is for your GLAM by bringing these additional tools and descriptive statements into the mix.
At the end of the day, Open Access is really just another way for your GLAM to communicate about copyright and its collection content to a wider online world, which is only aided by the refined use of standardized language so we all know what we’re talking about.
And whether you’re just considering Open Access for your GLAM or your GLAM is a pro at Open Access, be sure to check out the ever-growing list of Open GLAM policies and practices maintained by Andrea Wallace and Douglas McCarthy: https://t.co/7X9KIwRi8x — always good ideas here! Maybe your GLAM’s 2020 resolution should be to further its Open Access activities?
Disclaimer: The content of this post does not constitute legal advice nor does it refer to any particular or specific situation. If you have any doubts about your specific situation, you should consult with a lawyer.
These posts were compiled out of the set of tweets that Anne did during her curation of the @openglam Twitter account. Remember you can do it too, just sign up here!
Anne Young is the Director of Legal Affairs and Intellectual Property at Newfields and editor of “Rights and Reproductions: The Handbook for Cultural Institutions, Second Edition”, for which she received the Visual Resources Association’s Nancy DeLaurier Award in 2017.
Dịch: Lê Trung Nghĩa

Thứ Ba, 5 tháng 5, 2020

Lấp khoảng trống: từ không Truy cập Mở tới vài/tất cả Truy cập Mở

Bridging the gap: from no Open Access to some/all Open Access
Anne Young, Mar 3 · 3 min read
Theo: https://medium.com/open-glam/3-bridging-the-gap-from-no-open-access-to-some-all-open-access-d7d2d916e7d3
Bài được đưa lên Internet ngày: 03/03/2020
Trong bài đăng thứ ba của loạt bài thứ hai (bài đăng thứ nhất [bản dịch tiếng Việt] và thứ hai [bản dịch tiếng Việt]), Anne Young suy ngẫm bạn có thể làm gì khi cơ sở GLAM của bạn muốn đi với Truy cập Mở nhưng không có các năng lực để tự động hóa đầy đủ quy trình và giúp bạn lấp khoảng trống từ tất cả các quyền được giữ lại sang Truy cập Mở đầu đủ bằng việc đi với “Truy cập Mở nửa vời” (Semi-Open Access).
Cậu bé (chi tiết), 1919, dầu trên vải, 36–1/4 x 23–3/4 in. Viện bảo tàng Nghệ thuật Indianapolis ở Newfields, Quà tặng của bà Julian Bobbs để tưởng nhớ William Ray Adams, 46.22. Phạm vi công cộng.

Bây giờ, bạn có thể nói rằng “Truy cập Mở nửa vời” không thực sự là điều thực tế, và rằng Truy cập Mở thực sự đòi hỏi không có hạn chế sử dụng nội dung GLAM VÀ truy cập trên trực tuyến được tự động hóa đầy đủ đối với nội dung được nói tới. Nhưng, hãy thừa nhận rằng nhiều cơ sở GLAM vật lộn để làm cho nội dung của họ trong một bộ sưu tập trên trực tuyến bắt đầu với, hãy để một mình triển khai các bước tiếp sau để tự động hóa các bản tải về Truy cập Mở. Vì thế, tôi trình bày “Truy cập Mở nửa vời” có thể là điểm giữa trụ vững được.
Nhiều cơ sở GLAM có khả năng xử lý các yêu cầu cấp phép riêng rẽ và phân phối nội dung các bộ sưu tập cho những người sử dụng, nhưng có thẻ không có CMS, DAMS và các thành phần API có phối hợp để làm cho các bản tải về trực tiếp trên trực tuyến trở thành hiện thực. Vì thế, các cơ sở GLAM có thể đạt được phương án Truy cập Mở bằng việc chào các nội dung bộ sưu tập cho những người sử dụng - không có phí, các hợp đồng, hoặc các hạn chế sử dụng và sử dụng lại - bằng việc đi theo các quy trình tương tự với việc cấp phép riêng rẽ cho nội dung và vì thế đạt được “Truy cập Mở nửa vời”.
Trong các trường hợp đó, gợi ý của tôi cho các cơ sở GLAM là phác thảo chính sách rõ ràng KHÔNG có phí tái tạo lại nội dung trong phạm vi công cộng, yêu cầu KHÔNG cấp phép cho các hợp đồng sử dụng hoặc sử dụng lại nội dung THEO BẤT KỲ CÁCH GÌ, và cung cấp cho các bên thứ 3 với nội dung riêng rẽ thông qua thư điện tử hoặc dịch vụ chia sẻ tệp. Các cơ sở GLAM cũng có thể xem xét sử dụng một nền tảng, như Wikimedia Commons, để tạo thuận lợi cho việc chia sẻ các tệp nội dung bộ sưu tập của họ.
Chuyến đi vì tự do - Các nô lệ chạy trốn, about 1862, oil on paperboard, 21–15/16 × 26–1/8 in. Viện bảo tàng Nghệ thuật Brooklyn, Quà tặng của Gwendolyn O. L. Conkling, 40.59A-B. phạm vi công cộng.

Trong khi bước đi nửa vời này của “Truy cập Mở nửa vời” là còn lâu mới tuyệt vời, là đạt được nhiều hơn đối với nhiều cơ sở GLAM. Đó là một bước đệm khi họ có thể triển khai CMS, DÁM, và phân phối API có phối hợp cho các bản tải về nội dung trực tiếp trên trực tuyến và vì thế đạt được Truy cập Mở đầy đủ.
Ngoài ra, khái niệm “Truy cập Mở nửa vời” này có thể là cách thức tốt để “thử nước” mà một cơ sở GLAM đối mặt với những hạn chế và lo ngại từ các nhân viên để sự thiếu kiểm soát được thừa nhận đối với các sử dụng “nội dung bộ sưu tập của họ” bằng việc thiết lập Truy cập Mở đầy đủ.
(Ở đây hãy nhìn từ những người đang làm việc trong các cơ sở GLAM đã trải qua Truy cập Mở và có thể chứng minh không có gì phải sợ từ việc mở nội dung phạm vi công cộng ra để sử dụng và sử dụng lại!)
Hy vọng, rốt cuộc, tất cả các cơ sở GLAM sẽ có Truy cập Mở đầy đủ từ các website của họ, nhưng tạm thời, tôi khuyến khích những ai trong số các bạn ở đó còn chưa triển khai ít nhất “Truy cập Mở nửa vời” theo tinh thần đồng nghiệp đại học, hỗ trợ sử dụng lại, và - nếu không gì hơn - ít hơn các hợp đồng!
Bài báo gần đây này chỉ ra vì sao chúng ta cần Truy cập Mở để giảm thiểu những điều không cần thiết, và tôi thậm chí dám nói tới các khoản phí khai thác, cấp phép cho nội dung GLAM phạm vi công cộng.
Trong bài đăng mới nhất của tôi, tôi sẽ trao cho bạn một “phao nhắc bài” các thực hành cấp phép GLAM và các chính sách Truy cập Mở.
Khước từ: Nội dung của bài đăng này không cấu thành sự tư vấn pháp lý và cũng không tham chiếu tới bất kỳ tình huống đặc biệt hay đặc thù nào. Nếu bạn có bất kỳ sự nghi ngờ nào về tình huống đặc thù của bạn, bạn nên tư vấn với luật sư.
Các bài đăng đã được biên tập ngoài tập hợp các đoạn tweet mà Anne đã làm trong quá trình giám tuyển của cô đối với tài khoản Twitter @openglam. Hãy nhớ là bạn cũng có thể làm điều đó, hãy đăng ký ở đây!
Anne Young là Giám đốc các công việc pháp lý và sở hữu trí tuệ ở Newfields và là người biên tập “Các quyền và tái tạo lại: Sổ tay cho các cơ sở văn hóa, ấn bản lần hai”, vì nó mà bà đã nhận được giải thưởng Nancy DeLaurier của Hiệp hội Tài nguyên Nhìn vào năm 2017.
Giữ lại một số quyền CC BY-NC
 
In the third post of her second series (post one & two), Anne Young ponders what can you do when your GLAM wants to go Open Access but doesn’t have the capabilities to fully automate the process and helps you bridge the gap from all rights reserved to full Open Access by going “Semi-Open Access.”
The Boy (detail), 1919, oil on canvas, 36–1/4 x 23–3/4 in. Indianapolis Museum of Art at Newfields, Gift of Mrs. Julian Bobbs in memory of William Ray Adams, 46.22. Public Domain.
Now, you may say that that “Semi-Open Access” isn’t actually an actual thing, and that true Open Access requires zero restrictions on use of the GLAM content AND fully automated online access to said content. But, let’s acknowledge that many GLAMs struggle to get their content into an online collection to begin with, let alone implement the next steps to automate Open Access downloads. Hence, I present “Semi-Open Access” may be a viable mid-point.
Many GLAMs are able to process individual licensing requests and deliver collections content to users, but may not have the coordinated CMS, DAMS, and API components to make direct online downloads a reality. Thus, GLAMs can attain a variant of Open Access by offering collection content to users―with zero fees, contracts, or restrictions on use and reuse―by following similar processes to individually licensing content and thereby achieve “Semi-Open Access.”
In these cases, my suggestion to GLAMs is to outline a clear policy of NO reproduction fees on Public Domain content, require NO licensing contracts to use or reuse content IN ANY WAY, and provide third parties with the content individually via email or a file sharing service. GLAMs may also consider utilizing a platform, such as Wikimedia Commons, to facilitate sharing files of their collection content.
A Ride for Liberty — The Fugitive Slaves, about 1862, oil on paperboard, 21–15/16 × 26–1/8 in. Brooklyn Museum of Art, Gift of Gwendolyn O. L. Conkling, 40.59A-B. Public Domain.
While this halfway step of “Semi-Open Access” is far from perfect, it is more attainable for many GLAM institutions. It is a stepping stone for when they can implement the coordinated CMS, DAMS, and API delivery for direct online downloads of content and thus achieve Full Open Access.
Further, this concept of “Semi-Open Access” can be a good way to “test the waters” should a GLAM face reservations or concerns from staff to perceived lack of control of uses of “their collection content” by instituting full Open Access.
(Insert eye roll here from those working in GLAM institutions that have gone Open Access and can attest there is nothing to fear from opening up Public Domain content to use and reuse!)
Hopefully, eventually, all GLAMs will have full Open Access from their websites, but in the interim, I encourage those of you that aren’t there yet to implement at least “Semi-Open Access” in the spirit of collegiality, supporting reuse, and―if nothing else―fewer contracts!
This recent article shows why we need Open Access to reduce unnecessary, and dare I even say exploitative, licensing fees to Public Domain GLAM content.
In my last post, I’ll give you a “cheatsheet” of GLAM licensing practices and Open Access policies.
Disclaimer: The content of this post does not constitute legal advice nor does it refer to any particular or specific situation. If you have any doubts about your specific situation, you should consult with a lawyer.
These posts were compiled out of the set of tweets that Anne did during her curation of the @openglam Twitter account. Remember you can do it too, just sign up here!
Anne Young is the Director of Legal Affairs and Intellectual Property at Newfields and editor of “Rights and Reproductions: The Handbook for Cultural Institutions, Second Edition”, for which she received the Visual Resources Association’s Nancy DeLaurier Award in 2017.
Dịch: Lê Trung Nghĩa

Thứ Hai, 4 tháng 5, 2020

Hành trình trong tính mở: cuộc phỏng vấn với Mike Kemezis của Kho lưu trữ Số Connecticut

A journey into openness: an interview with Connecticut Digital Archive’s Mike Kemezis
scann, Feb 29 · 7 min read
Bài được đưa lên Internet ngày: 29/02/2020

Michael Kemezis là Quản lý Kho ở Thư viện Homer Babbidge ở Đại học Connecticut. Ông có trách nhiệm đối với Kho Lưu trữ Số của Connecticut (Connecticut Digital Archive) (CTDA) và ông từng là nhân vật chính trong việc CTDA áp dụng các công cụ Creative Commons và Tuyên bố các Quyền.
Trong cuộc phỏng vấn này, chúng tôi khám phá quy trình CTDA đã đi theo để triển khai các Tuyên bố Quyền và các công cụ Creative Commons, và giành được sự thấu hiểu về những gì vẫn còn cần thiết phải làm để trao quyền cho khu vực này.
Kho lưu trữ Số Connecticut là chương trình kho số hướng lưu trữ được Đại học Connecticut hỗ trợ. Bất kỳ cơ sở di sản văn hóa nào có trụ sở ở Connecticut cũng là hợp lệ để bổ sụng các bộ sưu tập của nó vào kho CTDA. Nó hiện có 45 thành viên, bao gồm các viện bảo tàng, các thư viện công, các thư viện và các kho lưu trữ đặc biệt, các cơ sở hàn lâm và các xã hội lịch sử.
Đó là số lượng rất lớn các cơ sở để điều khiển! Một cách hợp tác họ nắm giữ hơn 1,5 triệu đối tượng số nằm rải rác trong kho từ hơn 1.100 bộ sưu tập, tính tới tất cả các tệp sách và trang báo riêng rẽ mà nó tạo nên đa số nội dung, với các kho lưu trữ và các bộ sưu tập đặc biệt của Đại học Connecticut và Thư viện Bang Connecticut bổ sung thêm phần lớn nội dung đó.
Hãy nói cho chúng tôi một chút về công việc của bạn, và cách bạn đi tới quyết định triển khai các công cụ Tuyên bố Quyền và Creative Commons.
Như là quản lý kho, tôi là điểm liên hệ giữa kho và tất cả các Thành viên Cộng đồng bao gồm một số các hoạt động thường ngày, cả xử lý sự cố và giao thiệp với hững người sử dụng của chúng tôi, cộng tác với các thành viên cộng đồng của chúng tôi trong các dự án cho các bộ sưu tập số của họ, và làm việc trong các dự án dài hạn hơn và các cơ hội trợ cấp để phát triển chương trình kho.
Các tuyên bố quyền rõ ràng và nhất quán cho tất cả các đối tượng trong kho luôn là thứ gì đó nằm trong tầm ngắm của chúng tôi, thậm chí khi kho từng được khởi xướng ngược về tháng 11/2013, nhưng đã có các dự án và sáng kiến khác được ưu tiên vào thời điểm đó.


Đàn Piano do William Geib làm ra trong các bộ sưu tập của viện bảo tàng Barnum
Điểm khởi đầu đưa chúng tôi tới triển khai từng là khi Greg Cram từ NThư viện Công cộng New York tới vào tháng 06/2018 và đã nói về bản quyền và sáng kiến RightsStatements.org tại cuộc họp thường niên của chúng tôi ở Hartford, CT. Đã có nhiều quan tâm từ cộng đồng của chúng tôi tham gia vào phong trào các Tuyên bố Quyền như là kết quả của cuộc nói chuyện của Greg, nên chúng tôi đã hình thành nhóm làm việc của các thành viên cộng đồng có quan tâm. Nhóm làm việc đó gặp nhau vài lần đầu năm 2019 và họ đã xử lý các câu hỏi và các cơ hội có thể liên quan tới việc sử dụng các tuyên bố quyền trong ngữ cảnh cộng đồng của chúng tôi. Nhóm đó đã kết thúc bằng việc khuyến cáo rằng chúng tôi nên triển khai 5 tuyên bố quyền và Dấu Phạm vi Công cộng cho các hạng mục được bổ sung thêm vào kho.
Từ đó tôi đã lấy các khuyến cáo đó và đã xác định cách để triển khai kỹ thuật các tuyên bố để sử dụng trong kho. Tôi cũng đã làm việc về chiến lược truyền thông của chúng tôi xung quanh triển khai, nó bao gồm một chiến dịch truyền thông xã hội, những giờ làm việc trong văn phòng ảo để trả lời các câu hỏi từ cộng đồng của chúng tôi, và viết các bài đăng trên blog về dự án.
Ảnh chụp màn hình Tuyên bố Quyền trong CTDA.
Bây giờ bạn có các tuyên bố và các công cụ được triển khai, thế dữ liệu trông như thế nào? Có bao nhiêu tác phẩm bạn có trong phạm vi công cộng?
Dựa vào các tuyên bố quyền hiện hành được các cơ sở của chúng tôi cung cấp, khoảng 200 đối tượng (ít hơn 1%) đã được xác định đặc biệt như là nằm trong phạm vi công cộng. Để có được bức tranh rõ ràng hơn về nội dung trong kho tiềm tàng nằm trong phạm vi công cộng, chúng tôi đã xác định khoảng 20.000 đối tượng đã được tạo ra trước năm 1919 và tiến hành xem xét các tuyên bố quyền của chúng. Đây chưa phải là bức tranh hoàn chỉnh, vì ngày tháng của phạm vi công cộng bây giờ được tạo ra trước năm 1925, mà đây mới là bước đầu tiên của dự án chính rà soát lại các quyền. Đa số các tuyên bố nằm trong 4 chủng loại sau khi chúng tôi đã đối chiếu dữ liệu, và bạn có thể tìm ra nhiều hơn về các quyền trong kho trong bài đăng của chúng tôi Các Tuyên bố Quyền trong Kho Số của Connecticut.
Phần 2 của dự án triển khai các tuyên bố quyền được tiêu chuẩn hóa là đi ngược lại và rà soát lại các bộ sưu tập với các thành viên cộng đồng của chúng tôi để áp dụng tình trạng bản quyền đúng cho các bộ sưu tập trong kho.
Bạn có thể nói gì với chúng tôi về kinh nghiệm làm việc với quá nhiều thư viện và đối tác khác nhau trong dự án này?
Một điều mà tôi đã thấy là các cơ sở khác nhau tiếp cận bản quyền từ tất cả các góc độ khác nhau và các mức độ thuận tiện khác nhau. Vài cơ sở tất cả đều đang sử dụng các tuyên bố quyền như là cách thức để mở ra các bộ sưu tập của họ. Các cơ sở khác sử dụng các tuyên bố để bảo vệ sở hữu trí tuệ các bộ sưu tập của họ. Và có cả các cơ sở khác không chắc chắn về việc sử dụng các tuyên bố quyền được tiêu chuẩn hóa vì họ có lẽ không có sự xử lý tốt về tình trạng các bộ sưu tập và các hạng mục của họ hoặc họ chưa chắc chắn về bản quyền nói chung. Tôi không chỉ trích họ vì bản quyền có thể là rất rối rắm!
Chúng tôi đã tạo ra Hướng dẫn Bản quyền Tương tác của CTDA để giúp những người sử dụng của chúng tôi xác định tình trạng bản quyền của các đối tượng của họ và học được nhiều hơn về các tuyên bố quyền và các tài nguyên bản quyền khác để cắt qua vài sự lúng tungs và trình bày các tuyên bố quyền theo cách thức có ý nghĩa cho những người sử dụng của chúng tôi.

Các kết luận và bài học chính nào học được mà bạn có thể chia sẻ với những người khác khi làm việc với các mạng tương tự đang cố gắng đưa ra quyết định này?
Tôi nghĩ để thành công trong dự án như thế này, bạn cần hiểu và đánh giá được tất cả các cơ sở đối tác của bạn tới từ đâu và lắng nghe các bình luận và các lo ngại của họ Chúng tôi đã thấy tất cả các cơ sở của chúng tôi cố gắn làm điều gì đó đúng cho các bộ sưu tập của họ, và họ nhìn sang chúng tôi để có sự tư vấn. Tôi đã quen với các tài nguyên bản quyền và quyền để giúp các thành viên cộng đồng của chúng tôi hiểu việc triển khai các tuyên bố quyền có nghĩa gì đối với họ.
Việc lấy chứng chỉ khóa học Creative Commons cho các thủ thư mùa hè năm ngoái đã trao cho tôi nền tảng tốt và sự tự tin để hỗ trợ cho dự án này. Khóa học cũng đã giúp tôi xác định được điều gì là đúng thích hợp và điều gì có ý nghĩa để triển khai trong ngữ cảnh chương trình kho của chúng tôi. Các thảo luận về các quyền và bản quyền luôn diễn ra trong các cuộc gặp với các cơ sở, và có nền tảng vững chắc về bản quyền và các giấy phép CC từng là khổng lồ để giúp nói cho mọi người về các lo ngại của họ.
Tôi cũng đã may mắn là Greg Colati, người giám sát chương trình kho, đã đứng sau sáng kiến này 100% toàn thời gian, nên đã không cần nhiều việc thuyết phục cần phải được làm.
Vài cơ sở ở nước Mỹ vật lộn với ý tưởng phát hành các bộ sưu tập của họ như là truy cập mở vượt ra khỏi sự sợ hãi mất doanh thu và doanh số, ví dụ ở những nơi các thỏa thuận tài trợ chính đang tồn tại. Bạn có thể nói gì cho các cơ sở đang vật lộn với thế tiến thoái lưỡng nan này? Các lý lẽ nào đã làm việc được trong trường hợp của CTDA?
Một trong các cách thức chúng tôi tiếp cận khi nói về việc bổ sung thêm các bộ sưu tập vào kho, đó là truy cập mở mặc định, là việc các cơ sở đang đóng góp thứ gì đó lớn hơn bằng việc bổ sung thêm nội dung vào kho. Họ đang đóng góp cho di sản văn hóa số ở Connecticut và nước Mỹ bằng việc bao gồm trong DPLA. Chúng tôi cũng nghĩ rằng các lợi ích của việc đóng góp cho các thực thể lớn hơn đó và sự phơi mở mà nó có thể mang lại cho một cơ sở, đặc biệt cho các đối tác nhỏ hơn của chúng tôi, những người không có phương tiện để hỗ trợ cho các hệ thống hoặc chương trình lưu trữ xố, cân nhắc rủi ro tiềm tàng của việc mất doanh số.

Nhưng chúng tôi cũng để từng cơ sở tự quyết đối với những gì họ bổ sung vào kho. Quan điểm của chúng tôi là nếu một cơ sở bổ sung một bộ sưu tập với 100 đối tượng tự do mở cho nghiên cứu mà không bổ sung bộ sưu tập khác với 200 đối tượng vì các lo ngại bản quyền, thì chúng tôi vẫn có hơn 100 đối tượng so với chúng tôi đã làm trước đó.
Và sau đó chúng tôi có thể chỉ cho cơ sở đó giá trị của việc đóng góp cho kho và cũng làm việc với họ để trả lời cho các câu hỏi bản quyền của họ để cuối cùng có được nhiều nội dung hơn trong kho.
Quyết định của CTDA có ảnh hưởng gì tới việc áp dụng và triển khai RS & CC?
Tất nhiên, mong muốn của cộng đồng chúng tôi áp dụng các Tuyên bố Quyền và các giấy phép Creative Commons từng là một trong những động lực chính trong quá trình này. Ảnh hưởng chính khác đặt chúng tôi vào con đường triển khai từng là việc ra nhập Thư viện Công cộng Số của Mỹ - DPLA (Digital Public Library of America) như là một bộ chia (Hub) nội dung vào tháng 03/2018.
Chúng tôi xem xét các Hubs DPLA khác như là Hub Số của cơ quan nhà nước (PA) và Thư viện Số Minnesota như là các ví dụ tuyệt vời của những gì có thể được làm bằng việc triển khai các tuyên bố quyền được tiêu chuẩn hóa trong kho kỹ thuật số. Chúng tôi đã xem xét công việc họ đã làm để bắt dầu thu thập các tài nguyên và thông tin cũng như thông báo về các quyết định của chúng tôi xung quanh sự triển khai.
Cho tới nay, bạn có thể nói gì về tác động của quyết định đó?
Tôi nghĩ rằng một trong những tác động là mọi người đang nói và nghĩ về các quyền của các bộ sưu tập của họ và điều đó có ý nghĩa gì để làm cho các bộ sưu tập sẵn sàng trên trực tuyến. Chúng tôi thực sự sẽ biết tác động lên cộng đồng của chúng tôi trong thời gian ít tháng tới, khi mọi người đã có thời gian để quen với các thay đổi mới đòi hỏi tuyên bố các quyền được tiêu chuẩn hóa cho từng đối tượng được bổ sung vào kho.
Một trong những tác động tôi muốn thấy về việc triển khai các tuyên bố quyền được tiêu chuẩn hóa là sự dịch chuyển hướng tới việc giáo dục các thành viên của chúng tôi về OpenGLAM và truy cập mở cho các cơ sở văn hóa vượt ra khỏi các tuyên bố quyền được tiêu chuẩn hóa. Tôi muốn thấy các hành viên của chúng tôi tham gia vào các thảo luận xung quanh các bộ sưu tập và truy cập mở với CTDA, các thành viên của cộng đồng khác, và các cơ sở khắp trên đất nước này và trên thế giới.
Chúng tôi có những người sử dụng thông minh, có tài, và có động lực trong cộng đồng của chúng tôi, những người tôi biết có thể đóng góp các ý tưởng và ý kiến của họ cho thảo luận lớn hơn về truy cập mở trong di sản văn hóa.
Michael Kemezis đã nói với Evelin Heidel.

Michael Kemezis is the Repository Manager at the Homer Babbidge Library at the University of Connecticut. He is in charge of the Connecticut Digital Archive (CTDA) and he has been a key figure in CTDA’s adoption of Creative Commons and Rights Statements tools.
In this interview, we explore the process that the CTDA followed to implement Rights Statements and Creative Commons tools, and gain insight on what still needs to be done to empower the sector.
The Connecticut Digital Archive is a preservation-oriented digital repository program supported by the University of Connecticut. Any Connecticut-based cultural heritage institution is eligible to add its collections into the CTDA repository. It currently has 45 members, including museums, public libraries, special libraries and archives, historical societies and academic institutions.
That’s a very large number of institutions to handle! Collectively they hold over 1.5 million discrete digital objects in the repository from over 1,100 collections, counting all individual book and newspaper page files, which make up the majority of content, with the University of Connecticut Archives and Special Collections and the Connecticut State Library adding a large portion of that content.


Tell us a bit about your work, and how did you end up deciding to implement Rights Statements & Creative Commons tools.
As the repository manager, I am the point of contact between the repository and all of our Community Members which includes a number of activities including day-to-day troubleshooting and correspondence with our users, collaborating with our community members on projects for their digital collections, and working on longer term projects and grant opportunities to grow the repository program.
Clear and consistent rights statements for all objects in the repository has always been something on our radar, even when the repository launched back in November 2013, but there were other projects and initiatives that took precedence at the time.
Square Piano made by William Geib in the Barnum Museum Collections
The starting point that got us to implementation was when Greg Cram from the New York Public Library came in June 2018 and spoke about copyright and the RightsStatements.org initiative at our annual meeting in Hartford, CT. There was a lot of interest from our community to join the Rights Statements movement as a result of Greg’s talk, so we formed a working group of interested community members.The working group met a number of times in early 2019 and they tackled questions and possible opportunities concerning using rights statements in the context of our community. That group ended up recommending that we should implement 5 rights statements and the Public Domain Mark for items added to the repository.
From there I took the recommendations and determined how to technically implement the statements for use in the repository. I also worked on our communications strategy around implementation, which included a social media campaign, virtual office hours to answer questions from our community, and writing blog posts about the project.
Screenshot of the Rights Declaration in the CTDA.
So now that you have the statements and the tools implemented, how does the data look? How many works you have in the public domain?
Based on the current rights statements provided by our institutions, around 200 objects (less than 1%) have been specifically identified as in the public domain. In order to get a clearer picture of potential Public Domain content in the repository we identified around 20,000 objects that were created prior to 1919 and took a look at their rights declarations. This is not a complete picture, since the PD date is now created prior to 1925, but this is the first step of a major rights review project. The majority of the declarations fell into four categories after we reconciled the data, and you can find out more about rights in the repository in our post Rights Declarations in the Connecticut Digital Archive.
The second part of the project of implementing standardized rights statements is to go back and review collections with our community members to apply the correct rights status to collections in the repository.
What can you tell us about the experience of working with so many different libraries and partners within this project?
One thing that I have found is that different institutions approach copyright from all different angles and different comfort levels. Some institutions are all in on using rights statements as a way to open their collections. Others want to use statements to protect the intellectual property of their collections. And still others are unsure about using standardized rights statements because they may not have a good handle on the status of their collections and items or they are unsure about copyright in general. I don’t blame them because copyright can be very confusing!
We created the CTDA Interactive Copyright Guide to help our users determine the rights status of their objects and learn more about rights statements and other copyright resources in order to cut through some of the confusion and present rights statements in a meaningful way to our users.
What are your major takeaways and lessons learned that you could share with other people working with similar networks trying to make this decision?
I think to be successful in a project like this, you need to understand and appreciate where all of your partner institutions are coming from and listen to their comments and concerns. We have found that all of our institutions strive to do the right thing for their collections, and they look to us for advice. I had to become familiar with copyright and rights resources in order to help our community members understand what implementing rights statements means for them.
Taking the Creative Commons Certificate for Librarians course last summer gave me a great grounding and confidence to support this project. The course also helped me determine what is appropriate and what makes sense to implement in the context of our repository program. Discussions about rights and copyright always come up in meetings with institutions, and having a solid grounding in copyright and CC licenses has been a huge help talking to people about their concerns.
I have also been lucky that Greg Colati, who oversees the repository program, has been behind this initiative 100% the whole time, so there was not much convincing to be done.
Some institutions in the US struggle with the idea of releasing their collections as open access out of the fear of revenue or income loss, for example where major donation agreements exist. What would you say to institutions that are struggling with this dilemma? What arguments worked in the case of the CTDA?
One of the ways we approach talking about adding collections to the repository, which is open access by default, is that institutions are contributing to something greater by adding content to the repository. They are contributing to digital cultural heritage in Connecticut and the United States by being included in the DPLA. We also think that the benefits of contributing to these larger entities and the exposure that it could bring to an institution, especially our smaller partners who do not have the means to support a digital preservation system or program, outweighs the potential risk of lost income.
But we also leave it up to each institution as to what they add to the repository. It is our view that if an institution adds one collection of 100 objects freely open for research but does not add another collection of 200 objects due to copyright concerns, we still have 100 more objects than we did previously.
And then we can show the institution the value of contributing to the repository and also work with them to answer their copyright questions to get eventually get more content into the repository.
What influenced the CTDA decision to adopt and implement RS & CC?
Of course, the desire of our community to adopt Rights Statements and Creative Commons licenses was one of the main drivers in this process. Another major influence that put us on the road to implementation was joining the Digital Public Library of America (DPLA) as a content Hub in March 2018.
We look at other DPLA Hubs like PA Digital and the Minnesota Digital Library as great examples of what can be done by implementing standardized rights statements in a digital repository. We looked at the work they did to start to gather resources and information as well as inform our decisions around implementation.
As for today, what would you say was the impact of the decision?
I think that one of the impacts is that people are talking and thinking about the rights of their collections and what it means to make collections available online. We will really know the impact on our community in a few months’ time, when people have had time to get used to the new changes requiring a standardized rights statement for each object added to the repository.
One of the impacts I would like to see about implementing standardized rights statements is a move towards educating our members about Open GLAM and open access for cultural institutions beyond standardized rights statements. I would like to see our membership engage in discussions around open collections and access with the CTDA, other community members, and institutions around the country and the world.
We have smart, talented, and driven users in our community who I know can contribute their ideas and opinions to the larger discussion about open access in cultural heritage.
Michael Kemezis spoke with Evelin Heidel.
Dịch: Lê Trung Nghĩa

Chủ Nhật, 3 tháng 5, 2020

Tích hợp Truy cập Mở vào cơ sở GLAM của bạn

Integrating Open Access in your GLAM institution
Anne Young, Feb 24 · 4 min read
Theo: https://medium.com/open-glam/2-integrating-open-access-in-your-glam-institution-56789b1d8fb
Bài được đưa lên Internet ngày: 24/02/2020
Trong bài đăng thứ hai loạt thứ hai của cô (bài đăng đầu tiên ở đây [bản dịch tiếng Việt]), Anne Young chia sẻ vài công cụ và chương trình những người chuyên nghiệp về GLAM có thể sử dụng để tích hợp Truy cập Mở vào cơ sở của họ theo cách thức được tự động hóa nhất có thể.
Tượng tang lễ của Flavius Agricola (chi tiết, thời kỳ của Antonine (138–193 A.D.), đá hoa, 26–1/2 x 70 x 27 in. Viện bảo tàng Nghệ thuật Indianapolis ở Newfields, Quà tặng của Alan Hartman, 72.148. Phạm vi công cộng.
 
Là quan trọng để nhớ là khả năng tạo ra Truy cập Mở bắt nguồn từ việc có các thực hành cấp phép vững chắc có tại chỗ rồi, việc có nội dung số chất lượng cao (các hình ảnh, video, .v.v.) và siêu dữ liệu càng hoàn chỉnh càng tốt đi kèm với nội dung.
Phương tiện trực tiếp nhất để có được nội dung Truy cập Mở trên trực tuyến là qua sự phân phối có điều phối giữa một hệ thống quản lý các bộ sưu tập – CMS (Collections Management System) GLAM và hệ thống quản lý tài sản số - DAMS (Digital Asset Management System) để nhập các bộ sưu tập trên trực tuyến đó.
CMS là gì? “Đó là chương trình máy tính mà tạo thuận lợi cho các trách nhiệm quản trị (làm catalog, ghi lại nhập liệu, cho vay, lập kế hoạch triển lãm, truy xuất hình ảnh kỹ thuật số, quản lý bản quyền, .v.v.” có liên quan tới việc làm tài liệu và quản trị các tài sản GLAM nắm giữ1.
DAMS là “chương trình kỹ thuật số được sử dụng để lưu trữ, quản lý, và truy xuất các tài sản số, như các hình ảnh hoặc video các hiện vật của các bộ sưu tập”2.
Có nhiều CMS và DAMS một cơ sở GLAM có thể sử dụng để phân phối nội dung trên trực tuyến là làm cho sẵn sàng qua một API. Tôi sẽ thậm chí không cố giải thích công nghệ đằng sau tất cả những thứ đó làm việc với nhau như thế nào, nhưng có thể đảm bảo rằng không có các hệ thống đó thì Truy cập Mở có thể sẽ là thách thức hơn nhiều.
Thiên tai thứ năm của Ai cập, 1800, dầu trên vải, 48 × 72 in. Viện bảo tàng Indianapolis ở Newfields, Quà tặng kỷ niệm của Evan F. Lilly, 55.24.
 
Ngoài bản thân kỹ thuật ra, các cơ sở GLAM cần cân nhắc các điều khoản và điều kiện của cả Truy cập Mở và tổng thể (các) nền tảng website của họ để đảm bảo không có các mệnh đề xung đột (như, không nêu bản quyền và hạn chế sử dụng nội dung ở chỗ này trong khi cố gắng chào Truy cập Mở ở chỗ khác).
Bất luận một cơ sở GLAM làm cho nội dung Truy cập Mở sẵn sàng như thế nào (như, các bản tải về trực tiếp từ các trang của bộ sưu tập hay các trang nhỏ riêng biệt), hãy luôn tích hợp thông tin chính sách và tham chiếu chéo cách để những người sử dụng có thể cấp phép cho nội dung không nằm trong chương trình Truy cập Mở đó.
Ngoài các cơ chế phân phối nội dung, có nhiều quyết định khác phải đưa ra để xác định các tham số Truy cập Mở bạn muốn áp dụng cho bộ sưu tập của bạn. Có các câu hỏi mà bạn cần tự hỏi mình:
  • Các hạn chế sử dụng: cơ sở GLAM sẽ xem xét các mức độ sử dụng khác nhau: chỉ sử dụng phi thương mại, sử dụng không hạn chế, hoặc đâu đó ở giữa? Về cơ bản, câu hỏi bạn muốn trả lời cho cơ sở GLAM của bạn là liệu bạn sẽ đi với Truy cập Mở đầy đủ hay “Truy cập Mở nửa vời” (Semi-Open Access).
  • Ghi công của đối tượng và dòng thừa nhận bộ sưu tập: cơ sở GLAM sẽ yêu cầu hoặc chỉ khuyến cáo đưa vào thông tin này để hỗ trợ tiếp trong nhận diện nội dung bộ sưu tập xuôi xuống bên dưới? Hay đơn giản hỏi về: “Sự nhã nhặn của [chèn vào tên cơ sở GLAM]”?
  • Các bản sao không mất tiền (Gratis copies): cơ sở GLAM sẽ yêu cầu những người sử dụng gửi một bản sao không mất tiền để trợ giúp cho cơ sở trong các bản ghi của tổ chức của nó về nơi nội dung bộ sưu tập được tái tạo lại?
  • Thu thập dữ liệu: cơ sở GLAM sẽ theo dõi các bản tải về hoặc các dạng sử dụng nội dung? Nếu có, nó định thu thập và ghi lại thông tin này như thế nào? Liệu điều này có là sự cản trở cho việc mở đầy đủ hay liệu bản ghi học thuật các bản tái tạo lại được ưu tiên hơn đối với cơ sở?
  • Đặc tả tệp: cơ sở GLAM sẽ đưa ra kích cỡ các tệp gì? Kích cỡ duy nhất, kích cỡ đầy đủ, nhiều kích cỡ được tối ưu hóa cho các sử dụng khác nhau? Liệu siêu dữ liệu có được nhúng và các tệp hay không?
  • Hỏi đáp thường gặp (FAQ): ngoài việc làm lại các điều khoản và điều kiện với các tư liệu đang có trên trực tuyến, cơ sở GLAM có thể muốn chuẩn bị các câu hỏi đáp (làm trước) đề cập tới các câu hỏi cụ thể về chính sách Truy cập Mở của nó.
  • Các hạn chế bản quyền của bên thứ 3: Các cơ sở GLAM nên đảm bảo nội dung bộ sưu tập đó được làm cho sẵn sàng theo Truy cập Mở là nằm trong phạm vi công cộng hoặc các quyền được cơ sở nắm giữ và tự do đối với bất kỳ các bản quyền hoặc các hạn chế pháp lý nào khác.
  • Các hạn chế về tính riêng tư và/hoặc sự công khai: các cơ sở GLAM nên đảm bảo nội dung bộ sưu tập được làm cho sẵn sàng theo Truy cập Mở là tự do đối với bất kỳ vấn đề nào về Tính riêng tư hoặc Sự công khai, nếu có những người được mô tả trong nội dung đó.
  • Các hạn chế hợp đồng: các cơ sở GLAM nên đảm bảo nội dung bộ sưu tập được làm cho sẵn sàng theo Truy cập Mở là tự do khỏi bất kỳ hạn chế hợp đồng nào (như, các hạn chế của tài trợ hoặc mua sắm đối với việc chỉ thị các dòng thừa nhận chi công với tất cả các bản tái tạo lại)3.
Cân nhắc có điều phối các tham số đó trong sự kết hợp với sử dụng CMS, DAMS, và API sẽ xúc tác cho cơ sở GLAM triển khai phiên bản tốt nhất các bản tải về Truy cập Mở được tự động hóa mà cơ sở của họ có thể tạo thuận lợi.
Trong bài đăng tiếp sau, tôi sẽ xem xét bạn có thể làm gì khi bạn có các tài nguyên hạn chế và vẫn muốn có chính sách Truy cập Mở vận hành được.
Khước từ: Nội dung của bài đăng này không cấu thành sự tư vấn pháp lý và cũng không tham chiếu tới bất kỳ tình huống đặc biệt hay đặc thù nào. Nếu bạn có bất kỳ sự nghi ngờ nào về tình huống đặc thù của bạn, bạn nên tư vấn với luật sư.
Các bài đăng đã được biên tập ngoài tập hợp các đoạn tweet mà Anne đã làm trong quá trình giám tuyển của cô đối với tài khoản Twitter @openglam. Hãy nhớ là bạn cũng có thể làm điều đó, hãy đăng ký ở đây!
Anne Young là Giám đốc các công việc pháp lý và sở hữu trí tuệ ở Newfields và là người biên tập “Các quyền và tái tạo lại: Sổ tay cho các cơ sở văn hóa, ấn bản lần hai”, vì nó mà bà đã nhận được giải thưởng Nancy DeLaurier của Hiệp hội Tài nguyên Nhìn vào năm 2017.
Chú giải
[1] Megan P. Bryant, Cherie C. Chen, Kenneth D. Crews, John ffrench, Walter G. Lehmann, Naomi Leibowitz, Melissa Levine, Sofía Galarza Liu, Michelle Gallagher Roberts, Nancy Sims, Deborah Wythe and Anne M. Young, Rights and Reproductions: The Handbook for Cultural Institutions, Second Edition. Edited by Anne M. Young. Lanham, Maryland: Rowman and Littlefield, 2019, p. 343.
[2] Idem, p. 345.
[3] Idem, p. 176–177.
Giữ lại một số quyền CC BY-NC
 
In the second post of her second series (first post here), Anne Young shares some of the tools and programs GLAM professionals can utilize to integrate Open Access in their institution in the most automated way possible.
Funerary Monument of Flavius Agricola (detail), Antonine period (138–193 A.D.), marble, 26–1/2 x 70 x 27 in. Indianapolis Museum of Art at Newfields, Gift of Alan Hartman, 72.148. Public Domain.
It is important to remember that the ability to institute Open Access stems from having solid licensing practices already in place, having high-quality digital content (images, videos, etc.) and as complete as possible metadata to accompany the content.
The most direct means of getting Open Access content online is through the coordinated delivery between a GLAM’s collections management system (CMS) and digital asset management system (DAMS) to populate online collections.
What is a CMS? “It is computer program that facilitates the administrative responsibilities (cataloging, accessioning, loans, exhibition planning, digital image retrieval, copyright management, etc.) associated with the documentation and stewardship of a GLAM’s holdings.”¹
A DAMS is a “digital program used for storing, managing, and retrieving digital assets, such as images or videos of collection objects.”²
There are a host of CMS and DAMS a GLAM might utilize to deliver content online and make available via an API. I will not even try to explain the technology behind how these all work together, but can vouch that without these systems Open Access can be much more challenging.
The Fifth Plague of Egypt, 1800, oil on canvas, 48 × 72 in. Indianapolis Museum of Art at Newfields, Gift in memory of Evan F. Lilly, 55.24.
Beyond the tech itself, GLAMs need to consider the terms and conditions of both Open Access and their website platform(s) overall to ensure no conflicting clauses (i.e., don’t claim copyright and restrict use to content in one place whilst trying to offer Open Access in another).
No matter how a GLAM makes Open Access content available (e.g., direct downloads from collection pages or a separate microsite), always integrate policy information and cross-reference how users can license content not in the Open Access program.
Beyond the mechanisms of content delivery, there are a host of other decisions to make to define what Open Access parameters you want to apply to your collection. These are the questions that you need to ask yourself:
  • Usage restrictions: will the GLAM look at different levels of uses: non-commercial uses only, unrestricted use, or somewhere in-between? Essentially, the question you want to answer for your GLAM is whether you’ll go full Open Access or “Semi-Open Access.”
  • Object attribution and collection credit line: will the GLAM require or merely recommend the inclusion of this information to further assist in downstream identification of collection content? Or simply ask for: “Courtesy of [insert GLAM name]”?
  • Gratis copies: will the GLAM request users send a gratis copy to aid the institution in its institutional records of where collection content is reproduced?
  • Data collection: will the GLAM track downloads or types of uses of the content? If so, how does it intend to gather and record this information? Is this a hindrance to being fully open or does scholarly record of reproductions take precedence for the institution?
  • File specifications: what size files will the GLAM provide? Single size, full size, multiple sizes optimized for different uses? Is the metadata embedded in files?
  • FAQ: in addition to revising terms and conditions with existing online materials, the GLAM may wish to prepare FAQs (in advance) to address specific questions about its Open Access policy.
  • Third-party copyright restrictions: GLAMs should ensure the collection content made available under Open Access is in the Public Domain or that the rights are held by the institution and free of any other copyrights or other legal restrictions.
  • Privacy and/or publicity restrictions: GLAMs should ensure the collection content made available under Open Access is free of any Privacy or Publicity issues, if there are people depicted in the content.
  • Contractual restrictions: GLAMs should ensure the collection content made available under Open Access is free of any contractual restrictions (i.e., donation or purchase restrictions to mandating credit lines with all reproductions).³
The coordinated consideration of these parameters in conjunction with the use of a CMS, DAMS, and API will enable a GLAM to implement the best version of automated Open Access downloads that their institution can facilitate.
In the next post, I’ll have a look to what you can do when you have limited resources and still want to get an Open Access policy running.
Disclaimer: The content of this post does not constitute legal advice nor does it refer to any particular or specific situation. If you have any doubts about your specific situation, you should consult with a lawyer.
These posts were compiled out of the set of tweets that Anne did during her curation of the @openglam Twitter account. Remember you can do it too, just sign up here!
Anne Young is the Director of Legal Affairs and Intellectual Property at Newfields and editor of “Rights and Reproductions: The Handbook for Cultural Institutions, Second Edition”, for which she received the Visual Resources Association’s Nancy DeLaurier Award in 2017.
Footnote
[1] Megan P. Bryant, Cherie C. Chen, Kenneth D. Crews, John ffrench, Walter G. Lehmann, Naomi Leibowitz, Melissa Levine, Sofía Galarza Liu, Michelle Gallagher Roberts, Nancy Sims, Deborah Wythe and Anne M. Young, Rights and Reproductions: The Handbook for Cultural Institutions, Second Edition. Edited by Anne M. Young. Lanham, Maryland: Rowman and Littlefield, 2019, p. 343.
[2] Idem, p. 345.
[3] Idem, p. 176–177.
Dịch: Lê Trung Nghĩa