Chủ Nhật, 11 tháng 11, 2018

CMCN4 và gợi ý đào tạo nhân lực ngành TT-TV với các kỹ năng và năng lực khoa học mở (toàn văn)



Bài viết cho hội thảo khoa học ‘Đào tạo ngành thông tin - thư viện trong cuộc cách mạng công nghiệp 4.0’ do Khoa TT-TT Đại học KHXHNV, ĐHQG-HCM tổ chức ngày 09/11/2018 tại thành phố Hồ Chí Minh
Bài được đăng trong kỷ yếu hội thảo, các trang 8-21
--------------------------------------------------------

Tóm tắt:
Rất cần khoa học mở cho cách mạng công nghiệp lần thứ tư (CMCN4) ở Việt Nam. Bộ các kỹ năng và năng lực khoa học mở và các thành phần của nó là mới lạ đối với các cơ sở giáo dục mọi cấp ở Việt Nam. Các thư viện, các thủ thư, những người chuyên nghiệp về thông tin và các nhà nghiên cứu là các tác nhân không thể thiếu trong ứng dụng và phát triển khoa học mở. Vì vậy, bài viết gợi ý đào tạo và huấn luyện các kỹ năng và năng lực khoa học mở, trước hết là các thành phần như truy cập mở và tài nguyên giáo dục mở, những thành phần là cơ bản và phù hợp nhất với môi trường huấn luyện và đào tạo cho các thủ thư, sinh viên và giảng viên chuyên ngành thông tin - thư viện (TT-TV).
Các từ khóa: cách mạng công nghiệp lần thứ tư (CMCN4); khoa học mở; truy cập mở (TrCM); tài nguyên giáo dục mở (TNGDM); dữ liệu mở (DLM); dữ liệu mở liên kết (DLMLK); thông tin - thư viện (TT-TV); thủ thư; kỹ năng và năng lực.
--------------------------------------------------------
Cách mạng công nghiệp lần thứ tư (CMCN4) đang len lỏi khắp mọi lĩnh vực của xã hội trên phạm vi toàn cầu, đang và sẽ mang lại những thay đổi chưa từng có trong lịch sử loài người. Giống như bất kỳ cuộc cách mạng nào, việc đào tạo huấn luyện các kỹ năng và năng lực mới để đáp ứng các nhu cầu của cuộc cách mạng là cần thiết, và với CMCN4, trong số những điều khác, các kỹ năng và năng lực của khoa học mở là điều không thể thiếu, được cả các quốc gia G7, G20, OECD và đặc biệt là các quốc gia của Liên minh châu Âu đề cập tới ngày một nhiều trong thời gian gần đây. Các hoạt động huấn luyện/đào tạo khoa học mở trong lĩnh vực Thông tin - Thư viện (TT-TV) có vai trò quan trọng trong việc nâng cao nhận thức và có khả năng cung cấp các kỹ năng và năng lực cần thiết để Việt Nam cũng có thể tiếp cận CMCN4 phù hợp với điều kiện hoàn cảnh hiện nay.
A. Định nghĩa Khoa học Mở và các thành phần liên quan tới nhau của nó

Các nhà khoa học châu Âu định nghĩa Khoa học Mở như sau:
Khoa học Mở[1] đại diện cho tiếp cận nghiên cứu có tính cộng tác, minh bạch, và truy cập được. Một dải rộng lớn các hoạt động tới dưới cái ô Khoa học Mở, bao gồm xuất bản Truy cập Mở, Dữ liệu Mở, Sổ ghi chép Mở, Rà soát lại Ngang hàng Mở, và Giáo dục Mở. Nó cũng bao gồm cả khoa học công dân, nơi những người không phải là các chuyên gia tham gia trực tiếp vào nghiên cứu.
Liên minh Xuất bản Học thuật và Tài nguyên Hàn lâm – SPARC (Scholarly Publishing and Academic Resources Coalition), một liên minh toàn cầu với cam kết làm cho Mở thành mặc định cho nghiên cứu và giáo dục đã đưa ra các định nghĩa cho một vài thành phần quan trọng của Khoa học Mở như sau:
Truy cập mở là sự sẵn sàng tự do, ngay lập tức, trên trực tuyến của các bài báo nghiên cứu có sự kết hợp với các quyền để sử dụng các bài báo đó một cách đầy đủ trong môi trường số. Truy cập mở là sự cập nhật hiện đại cần thiết cho truyền thông nghiên cứu sử dụng đầy đủ Internet cho những gì đã được xây dựng từ ban đầu để làm - tăng tốc cho nghiên cứu.
Truy cập mở là sự sẵn sàng tự do, ngay lập tức, trên trực tuyến của các bài báo nghiên cứu đi cùng với các quyền để sử dụng đầy đủ các bài báo đó trong môi trường số. Truy cập mở đảm bảo rằng bất kỳ ai cũng có thể truy cập và sử dụng các kết quả đó - để biến các ý tưởng thành các ngành công nghiệp và các đột phá để cuộc sống tốt đẹp hơn.
Dữ liệu Mở là dữ liệu nghiên cứu sẵn sàng tự do trên Internet cho phép bất kỳ người sử dụng nào tải về, sao chép, phân tích, tái chế, truyền tới các phần mềm hoặc sử dụng vì bất kỳ mục đích nào khác mà không có các rào cản về tài chính, pháp lý hay kỹ thuật khác với các rào cản không thể tách rời khỏi việc có được sự truy cập tới bản thân Internet.
Dữ liệu Mở Liên kết là dữ liệu liên kết được phát hành theo một giấy phép mở, không cản trở sử dụng lại nó một cách tự do.
Giáo dục Mở xoay quanh các tài nguyên, các công cụ và các thực hành là tự do, không có các rào cản về pháp lý, tài chính và kỹ thuật và có thể hoàn toàn được sử dụng, được chia sẻ và được tùy biến thích nghi trong môi trường số.
Nền tảng của Giáo dục Mở là Tài nguyên Giáo dục Mở - OER (Open Educational Resources), chúng là các tài nguyên dạy, học và nghiên cứu không có các chi phí và không có các rào cản truy cập, và chúng cũng mang sự cho phép về pháp lý để sử dụng mở. Thông thường, sự cho phép này được trao thông qua việc sử dụng một giấy phép mở (ví dụ, các giấy phép Creative Commons) cho phép bất kỳ ai tự do để sử dụng, tùy biến thích nghi và chia sẻ tài nguyên đó - bất kỳ lúc nào, bất kỳ ở đâu. Sự cho phép “Mở” thường được định nghĩa theo “5R”: người sử dụng được tự do để Giữ lại, Sử dụng lại, Làm lại, Pha trộn và Phân phối lại (Retain, Reuse, Revise, Remix and Redistribute) các tư liệu giáo dục đó.
Các thành phần của khoa học mở có liên quan tới nhau. Tuy nhiên, vì mục đích và trong phạm vi của bài viết này, chỉ nêu lên sự liên quan giữa một vài thành phần như tài nguyên Truy cập Mở (TrCM), Dữ liệu Mở (DLM) và Tài nguyên Giáo dục Mở (TNGDM) từ khía cạnh cấp phép mở Creative Commons, như trong Hình 2.
Hình 2 cho thấy phổ các giấy phép khác nhau có khả năng gắn vào các tài nguyên để đáp ứng được với các định nghĩa khác nhau của DLM và TNGDM là khác nhau, cụ thể:
  • Chỉ 3 giấy phép ở phần trên cùng có thể gắn vào tài nguyên để nó đáp ứng được định nghĩa của DLM.
  • Chỉ 5 giấy phép ở phần trên có thể gắn vào tài nguyên để nó đáp ứng được định nghĩa của TNGDM.
  • Cả 7 giấy phép đều có thể gắn vào tài nguyên để nó trở thành tài nguyên TrCM.
Điều quan trọng được nêu ở đây là: từ khía cạnh cấp phép mở Creative Commons, DLM và TNGDM trước hết đều là tài nguyên TrCM được.

Hình 2[2]. Phân biệt phổ các giấy phép Creative Commons với các tài nguyên mở[3]

B. CMCN4 với các đặc tính nổi bật của nó cần được đáp ứng
Trong thời gian qua, đã có không ít các bài viết nêu những đặc tính của CMCN4, trong số đó, có lẽ nổi bật nhất là: (1) người máy có khả năng thay thế con người; và (2) sự thông minh trong giải quyết nhiều vấn đề khác nhau trong cuộc sống của con người theo các mức độ ‘thông minh’ khác nhau, với mức thông minh cao nhất được cho là nhờ vào khả năng sử dụng các kết quả phân tích dữ liệu lớn theo thời gian thực (hoặc gần với thời gian thực) để đưa ra các quyết định điều khiển sự vận hành của một (vài) quy trình công việc nào đó cũng theo thời gian thực (hoặc gần với thời gian thực).’
Cả 2 đặc tính nổi bật nhất đó có khả năng hiện thực hóa được trong cuộc sống nhờ vào việc ứng dụng và phát triển của dữ liệu mở (DLM) và dữ liệu mở liên kết (DLMLK).
B1. Người máy có khả năng thay thế con người


Để người máy có khả năng thay thế con người, các dữ liệu được xuất bản phải có khả năng để máy cũng có khả năng đọc/hiểu được, chứ không chỉ con người đọc/hiểu được như trước kia, nghĩa là:
  • Dữ liệu cần tuân thủ quy tắc 4 điểm và lược đồ tiêu chuẩn 5 sao của Tim Berners-Lee, trong đó DLM là mức thấp nhất 1 sao trong lược đồ tiêu chuẩn 5 sao của DLMLK do Tim Berners-Lee, nhà phát minh ra World Wide Web, đã đưa ra vào năm 2006; và/hoặc
  • Dữ liệu cần tuân thủ các nguyên tắc FAIR (Findable, Accessible, Interoperable, Reusable) để các dữ liệu nghiên cứu tìm thấy được, truy cập được, tương hợp được và sử dụng lại được.
B2. Có được sự thông minh mức cần thiết


Để có được sự thông minh cần thiết, châu Âu, nơi đã nghiên cứu và triển khai hướng tới khoa học mở từ hơn 10 năm trước qua các chương trình khung FP7 cho các năm 2007-2013 và hiện nay qua chương trình Horizon 2020 và dự kiến qua chương trình khung FP9 cho các năm sau 2020, đã chỉ ra rằng, nếu:
  • Đi theo tiếp cận DLM thì kết quả thu được nhiều nhất là các ứng dụng thông minh
  • Đi theo tiếp cận DLMLK thì kết quả thu được không chỉ là các ứng dụng thông minh, mà còn cả các sản phẩm thông minh và các hệ thống thông minh.
B3. Gợi ý
Các nội dung được nêu ra ở các phần B1 và B2 ở trên đều là những cái đích quan trọng chúng ta muốn hướng tới, chứ chúng chưa hiện diện ở bất kỳ đâu ở Việt Nam hiện nay. Vì vậy nhu cầu và vai trò của đào tạo huấn luyện là quan trọng để các dữ liệu được xuất bản trong thời gian tới sẽ từng bước đạt được các yêu cầu của DLM và DLMLK.
Có thể tham khảo bài viết ‘Rất cần khoa học mở cho CMCN 4.0[4]’ trên tạp chí Tia Sáng để có thêm các chi tiết làm rõ thêm về các yêu cầu của DLM và DLMLK.

C. Các kỹ năng và năng lực cần thiết về khoa học mở
Hiện hành, các kỹ năng khoa học mở có thể được phân loại thành 4 nhóm chính sau đây:
  1. Các kỹ năng liên quan tới xuất bản TrCM
    1. Các kỹ năng thông tin thư viện và nghiên cứu
    2. Các kỹ năng về năng lực xuất bản mở (mức người sử dụng nghiên cứu).
  2. Các kỹ năng liên quan tới quản lý dữ liệu và DLM
    1. Các kỹ năng kỹ thuật, đặc biệt là các kỹ năng khoa học dữ liệu
  3. Các kỹ năng xúc tác để tiến hành nghiên cứu chuyên nghiệp
    1. Các kỹ năng quản lý nghiên cứu
    2. Các kỹ năng pháp lý
    3. Các kỹ năng về liêm chính và đạo đức nghiên cứu
  4. Các kỹ năng khoa học công dân
Có thể phân loại các kỹ năng khoa học mở theo một cách khác, như trong Hình 5. Khoang giữa bên phải Hình 5 liệt kê các kỹ năng khoa học mở ở mức tổng quát nhất cần được huấn luyện cho các đối tượng khác nhau. Các kỹ năng đó là: Truy cập Mở; Dữ liệu Mở; Quản lý dữ liệu nghiên cứu; Hạ tầng nghiên cứu; Các vấn đề pháp lý, bao gồm các quyền số, bản quyền, cấp phép; Đánh giá nghiên cứu; Khai thác văn bản và dữ liệu; Liêm chính nghiên cứu và hàn lâm; Lưu trữ bảo tồn; Thông tin nghiên cứu và quản lý hệ thống thông tin nghiên cứu hiện hành - CRIS (Current Research Information System); Tài nguyên Giáo dục Mở; và các kỹ năng khác.
Hình 5. Khả năng cung cấp huấn luyện các kỹ năng khoa học mở ở châu Âu[5]

Để có thể có được bức tranh toàn diện và chi tiết hơn về các kỹ năng cần thiết về khoa học mở, tham khảo toàn bộ chương 3 tài liệu ‘Cung cấp cho các nhà nghiên cứu các kỹ năng và năng lực họ cần để thực hành Khoa học Mở[6]’.


D. Gợi ý nội dung đào tạo nhân lực ngành thông tin thư viện với các kỹ năng và năng lực khoa học mở cần thiết
Với việc liệt kê các kỹ năng khoa học mở ở phần C, cộng với lưu ý ở phần A rằng từ khía cạnh cấp phép mở Creative Commons, DLM và TNGDM trước hết đều là tài nguyên TrCM được, cộng với đặc thù của việc đào tạo và nghiên cứu chuyên ngành TT-TV, gợi ý trước mắt nên tập trung vào đào tạo nhân lực ngành TT-TV về TrCM và TNGDM.

D1. Gợi ý đào tạo phần lý thuyết
Không phải ngẫu nhiên UNESCO năm 2015 đã xuất bản 2 bộ tài liệu chuyên về TrCM dành cho các trường thư viện và các nhà nghiên cứu. Đây chính là những nội dung cơ bản về TrCM rất nên được cân nhắc, nghiên cứu để có thể đưa vào đào tạo phần lý thuyết rất tốt cho các sinh viên và giảng viên chuyên ngành TT-TV. Các tài liệu đó đều đã được dịch sang tiếng Việt, gồm:
  1. Bộ tài liệu về TrCM dành cho các trường thư viện:
    1. Giới thiệu truy cập mở[7]
    2. Hạ tầng truy cập mở[8]
    3. Tối ưu hóa tài nguyên[9]
    4. Tính tương hợp và truy xuất[10]
  2. Bộ tài liệu về TrCM dành cho các nhà nghiên cứu:
    1. Truyền thông hàn lâm[11]
    2. Các khái niệm về tính mở và truy cập mở[12]
    3. Các quyền sở hữu trí tuệ[13]
    4. Đo đếm đánh giá nghiên cứu[14]
    5. Chia sẻ tác phẩm của bạn theo truy cập mở[15]
  3. Ngoài 2 bộ tài liệu trên, nên tham khảo tài liệu hướng dẫn làm chính sách TrCM của UNESCO: Chỉ dẫn chính sách để phát triển và thúc đẩy truy cập mở[16]. Bổ sung thêm là có rất nhiều các tài liệu liên quan tới chính sách TrCM ở tất cả các mức như nhóm quốc gia, quốc gia, tổ chức quốc tế, tổ chức quốc gia, cơ sở viện – trường. Tuy nhiên, chúng là nằm ngoài phạm vi trọng tâm của bài viết này.
Về TNGDM cũng có rất nhiều tài liệu. Gợi ý chắt lọc các nội dung từ các tài liệu sau đây để đưa vào đào tạo lý thuyết cho các sinh viên và giảng viên chuyên ngành TT-TV:
  1. Các tài liệu của UNESCO và Khối Thịnh vượng chung về Học tập (COL):
    1. Chỉ dẫn cơ bản về TNGDM[17]
    2. Các chỉ dẫn về TNGDM trong giáo dục đại học[18]
    3. TNGDM: Chính sách, các chi phí và sự biến đổi[19]
    4. TNGDM: Từ cam kết tới hành động[20]
  2. Các tài liệu khác
    1. Vai trò của các thư viện và các thủ thư trong các sáng kiến TNGDM[21]
    2. TNGDM trong các ngôn ngữ ít được sử dụng[22]
  3. Tham khảo thêm:
    1. Tài liệu ‘Tổng quan về TNGDM và một kịch bản giả tưởng về tương lai của giáo dục Việt Nam[23]’, được viết cho hội thảo do Hiệp hội Các trường đại học cao đẳng Việt Nam (AVNUC) tổ chức tại Hà Nội ngày 16/05/2018.
    2. Nhiều tài liệu về TNGDM đã được dịch sang tiếng Việt trên Blog: Phần mềm tự do nguồn mở cho Việt Nam[24].

D2. Gợi ý huấn luyện thực hành
Một số phần lý thuyết được gợi ý ở phần trên có khả năng được hiểu rõ hơn thông qua các bài thực hành sau:
  1. Thực hành cấp và sinh giấy phép mở Creative Commons cho các tài nguyên bằng các công cụ cấp và sinh giấy phép của Creative Commons. Thực hành này đặc biệt quan trọng vì nó chung cho tất cả các dạng tài nguyên mở như tài nguyên TrCM, TNGDM, DLM... Tham khảo thêm: ‘Sổ tay cấp phép mở của Liên bang’[25].
  2. Tìm kiếm và sử dụng các kho tài nguyên TrCM, TNGDM, DLM có sẵn trên Internet qua: ‘Tìm kiếm và sử dụng các nguồn tài nguyên được cấp phép mở[26]’.
  3. Thực hành theo ‘Khóa tập huấn ‘Xây dựng tài nguyên giáo dục mở trên nền tảng công nghệ mở’, một bước tiến nhỏ hướng tới ứng dụng và phát triển tài nguyên giáo dục mở (TNGDM) trong các thư viện đại học[27]’, như lược đồ trong Hình 6.

Hình 6. Lược đồ tạo lập và chia sẻ video truy cập mở, được cấp phép mở

  1. Bản địa hóa các tài nguyên TrCM, TNGDM từ tiếng Anh sang tiếng Việt bằng việc sử dụng môi trường trực tuyến của hệ thống wikiHow, bao gồm cả wikiHow.com và wikiHow.vn qua: ‘Viết bài trên wikiHow.vn[28]’ và một vài bài ví dụ cụ thể.
  2. Tạo lập sách điện tử định dạng epub bằng phương pháp mở[29].
  3. Ngoài các nội dung thực hành được nêu ở trên, một số bài thực hành khoa học mở có thể được nghiên cứu và tùy biến thích nghi để triển khai trong các cơ sở giáo dục đào tạo ở Việt Nam qua tài liệu ‘Sổ tay huấn luyện khoa học mở’ do ‘một nhóm 14 tác giả vào tháng 02/2018 đã cùng tới Thư viện Khoa học Công nghệ Quốc gia Đức ở Hannover để tạo ra cuốn sổ tay mở sống động này nhằm huấn luyện khoa học mở’[30].
Kết luận
Rất cần khoa học mở cho CMCN4 ở Việt Nam. Khoa học mở đang và sẽ trở thành dòng chính thống trên thế giới, trong khi ở Việt Nam hiện nay hầu như không tồn tại. Các kỹ năng và năng lực khoa học mở không được huấn luyện, đào tạo tại bất kỳ cơ sở giáo dục nào ở Việt Nam hiện nay. Các thư viện, các thủ thư, những người chuyên nghiệp về thông tin và các nhà nghiên cứu đều là các tác nhân chính trong ứng dụng và phát triển khoa học mở. Vì vậy, việc huấn luyện, đào tạo các kỹ năng và năng lực khoa học mở trong những năm tới tại các khoa TT-TV là quan trọng và cấp bách.
Trong phạm vi một bài viết cho hội thảo, sẽ không thể nêu hết được các vấn đề cần thiết có liên quan tới huấn luyện, đào tạo các kỹ năng và năng lực khoa học mở. Vì vậy, từ quan điểm chủ quan của tác giả, bài viết này chỉ gợi ý tham chiếu tới vài tài liệu được cho là cơ bản và có khả năng giúp cho việc huấn luyện, đào tạo các kỹ năng và năng lực khoa học mở trong thời gian tới, cả về lý thuyết và thực hành.
Cũng cần bổ sung thêm, để các cơ sở giáo dục, nhất là các cơ sở giáo dục công lập, có khả năng triển khai các hoạt động huấn luyện, đào tạo các kỹ năng và năng lực khoa học mở một cách chính thống, rất cần có chính sách khoa học mở và các thành phần cơ bản của nó ở mọi cấp quản lý, đặc biệt là ở cấp chính phủ[31].

Các tham chiếu
[1] Lê Trung Nghĩa biên dịch: Cung cấp cho các nhà nghiên cứu các kỹ năng và năng lực họ cần để thực hành khoa học mở, EC xuất bản tháng 7/2017: https://www.dropbox.com/s/qc0cfjd80ipmvnx/os_skills_wgreport_final_Vi_01032018.pdf?dl=0, trang 8
[2] TS. Cable Green, Open Education: The Moral, Business & Policy Case for OER, hình được tùy biến từ slide số 26 https://www.slideshare.net/cgreen/updated-keynote-slides-october-2014, giấy phép CC BY.
[3] Lê Trung Nghĩa, Cấp phép mở Creative Commons cho các tài nguyên truy cập mở, tài nguyên giáo dục mở và dữ liệu mở: https://vnfoss.blogspot.com/2018/05/cap-phep-mo-creative-commons-cho-cac.html
[4] Lê Trung Nghĩa: Rất cần khoa học mở cho CMCN4.0, Tạp chí Tia Sáng, 26/08/2017: http://tiasang.com.vn/-doi-moi-sang-tao/Rat-can-khoa-hoc-mo-cho-CMCN-40--10878
[5] Lê Trung Nghĩa biên dịch: Cung cấp cho các nhà nghiên cứu các kỹ năng và năng lực họ cần để thực hành Khoa học Mở, EC xuất bản tháng 07/2017: https://www.dropbox.com/s/qc0cfjd80ipmvnx/os_skills_wgreport_final_Vi_01032018.pdf?dl=0, trang 42
[6] Lê Trung Nghĩa biên dịch: Cung cấp cho các nhà nghiên cứu các kỹ năng và năng lực họ cần để thực hành Khoa học Mở, EC xuất bản tháng 07/2017: https://www.dropbox.com/s/qc0cfjd80ipmvnx/os_skills_wgreport_final_Vi_01032018.pdf?dl=0
[7] Lê Trung Nghĩa biên dịch: Giới thiệu truy cập mở, UNESCO xuất bản 2015: https://www.dropbox.com/s/pieghb3m5r7hm5i/231920E-Vi-06082017.pdf?dl=0
[8] Lê Trung Nghĩa biên dịch: Hạ tầng truy cập mở, UNESCO xuất bản năm 2015: https://www.dropbox.com/s/u1wc3yp0i9vib9h/232204E-Vi-16082017.pdf?dl=0
[9] Lê Trung Nghĩa biên dịch: Tối ưu hóa tài nguyên, UNESCO xuất bản năm 2015: https://www.dropbox.com/s/d7oh3271m0z622h/232201E-Vi-22082017.pdf?dl=0
[10] Lê Trung Nghĩa biên dịch: Tính tương hợp và truy xuất, UNESCO xuất bản năm 2015: https://www.dropbox.com/s/1xkxe2y8oy0ln2m/232199E-Vi-06082017.pdf?dl=0
[11] Lê Trung Nghĩa biên dịch: Truyền thông hàn lâm, UNESCO xuất bản năm 2015: https://www.dropbox.com/s/6irainzgx3qa65h/231938e-Vi-20092017.pdf?dl=0
[12] Lê Trung Nghĩa biên dịch: Các khái niệm về tính mở và truy cập mở, UNESCO xuất bản năm 2015: https://www.dropbox.com/s/bnpg9kn6phkqnii/232207E-Vi-27092017.pdf?dl=0
[13] Lê Trung Nghĩa biên dịch: Các quyền sở hữu trí tuệ, UNESCO xuất bản năm 2015: https://www.dropbox.com/s/dboxp5uju3kjy0u/232208E-Vi-09092017.pdf?dl=0
[14] Lê Trung Nghĩa biên dịch: Đo đếm đánh giá nghiên cứu, UNESCO xuất bản năm 2015: https://www.dropbox.com/s/n1xohy7tgjdnt4o/232210E-Vi-12102017.pdf?dl=0
[15] Lê Trung Nghĩa biên dịch: Chia sẻ tác phẩm của bạn theo truy cập mở, UNESCO xuất bản năm 2015: https://www.dropbox.com/s/bff7xp7ppmm6yun/232211E-Vi-14092017.pdf?dl=0
[16] Lê Trung Nghĩa biên dịch: Chỉ dẫn chính sách để phát triển và thúc đẩy truy cập mở, tác giả: Almar Swan, UNESCO xuất bản 2012: https://www.dropbox.com/s/t0pw2yrsfludxp5/215863e-Vi-04102017.pdf?dl=0
[17] Lê Trung Nghĩa biên dịch: Chỉ dẫn cơ bản về TNGDM, UNESCO và COL xuất bản năm 2011 và cập nhật 2015: https://www.dropbox.com/s/lr35lwf436l4ggj/215804e-Vi-04102015.pdf?dl=0
[18] Lê Trung Nghĩa biên dịch: Các chỉ dẫn về TNGDM trong giáo dục đại học, UNESCO và COL xuất bản năm 2011 và cập nhật 2015: https://www.dropbox.com/s/p1tfmi5swd229e8/213605e-Vi-21092015.pdf?dl=0
[19] Lê Trung Nghĩa biên dịch: TNGDM: Chính sách, các chi phí và sự biến đổi, UNESCO và COL xuất bản năm 2016: https://www.dropbox.com/s/rsweet9lr2j50i5/244365e-Vi-20072016.pdf?dl=0
[20] Lê Trung Nghĩa biên dịch: TNGDM: Từ cam kết tới hành động, COL xuất bản năm 2017: https://www.dropbox.com/s/vyoczt07w3r49pf/2017_COL_OER-From-Commitment-to-Action-Vi-15102017.pdf?dl=0
[21] Lê Trung Nghĩa biên dịch: Vai trò của các thư viện và các thủ thư trong các sáng kiến TNGDM, JISC và CETIS xuất bản tháng 08/2012: https://www.dropbox.com/s/u74gh16watjwqo2/OER-Libraries-Survey-Report-Vi-16032016.pdf?dl=0
[22] Lê Trung Nghĩa biên dịch: TNGDM trong các ngôn ngữ ít được sử dụng, các tác giả: Linda Bradley, Sylvi Vigmo, 2014: https://www.dropbox.com/s/uqae2g324jt49mf/WP2%20study%200207-Vi-24042016.pdf?dl=0
[23] Lê Trung Nghĩa: Tổng quan về TNGDM và một kịch bản giả tưởng về tương lai của giáo dục Việt Nam: https://www.dropbox.com/s/bfjjs0c64b8lq9d/OER-Overview_For_AVNUC_Conference_16052018.pdf?dl=0
[24] Lê Trung Nghĩa biên dịch: Giáo dục mở và tài nguyên, giấy phép tư liệu mở: http://vnfoss.blogspot.com/2014/06/giao-duc-mo-va-tai-nguyen-giay-phep-tu.html
[25] Lê Trung Nghĩa biên dịch: Sổ tay cấp phép mở của Liên bang (Mỹ): https://www.dropbox.com/s/4s48mcx47b6wb0c/open_licensing_playbook_final_Vi-26052018.pdf?dl=0
[26] Lê Trung Nghĩa, 2018: Tìm kiếm và sử dụng các nguồn tài nguyên được cấp phép mở: https://www.dropbox.com/s/xaz6kjsyh2ag44y/OER_Searching_%26_Using.pdf?dl=0
[27] Lê Trung Nghĩa, 2017: Khóa tập huấn ‘Xây dựng tài nguyên giáo dục mở trên nền tảng công nghệ mở’, một bước tiến nhỏ hướng tới ứng dụng và phát triển tài nguyên giáo dục mở (TNGDM) trong các thư viện đại học: http://vnfoss.blogspot.com/2018/10/khoa-tap-huan-xay-dung-tai-nguyen-giao.html
[28] wikihow.vn: Cách để Viết bài trên wikihow.vn: https://www.wikihow.vn/Vi%E1%BA%BFt-b%C3%A0i-tr%C3%AAn-wikihow.vn
[29] wikihow.vn: Cách để Tạo eBook định dạng ePub trong LibreOffice bằng Writer2ePub: https://www.wikihow.vn/T%E1%BA%A1o-eBook-%C4%91%E1%BB%8Bnh-d%E1%BA%A1ng-ePub-trong-LibreOffice-b%E1%BA%B1ng-Writer2ePub
[30] Lê Trung Nghĩa biên dịch, 2018: Sổ tay huấn luyện khoa học mở: https://www.dropbox.com/s/1qey0usiae43y5l/Open_Science_Trainning_Handbook_Vi-20052018.pdf?dl=0
[31] Lê Trung Nghĩa, Kỹ năng và năng lực cho khoa học mở: Thách thức và gợi ý cho Việt Nam: http://tiasang.com.vn/-khoa-hoc-cong-nghe/Ky-nang-va-nang-luc-cho-khoa-hoc-mo-Thach-thuc-va-goi-y-cho-Viet-Nam-12350

Lê Trung Nghĩa

PS: Bạn có thể tự do tải về bài trình bày ở định dạng PDF theo địa chỉ:

Thứ Năm, 8 tháng 11, 2018

Cách mạng công nghiệp 4.0 và gợi ý đào tạo nhân lực ngành Thông tin - Thư viện với các kỹ năng và năng lực khoa học mở


Là bài trình bày tại Hội thảo: ‘Đào tạo ngành Thông tin - Thư viện trong cuộc cách mạng công nghiệp 4.0’ do Khoa Thông tin - Thư viện, Đại học Khoa học Xã hội Nhân văn, Đại học Quốc Gia thành phố Hồ Chí Minh tổ chức ngày 09/11/2018.


Bạn có thể tự do tải về bài trình bày tại địa chỉ:




Blogger: Lê Trung Nghĩa

Thứ Ba, 6 tháng 11, 2018

Chính sách tài nguyên giáo dục mở (OER) của bang MICHIGAN, nước Mỹ



Hoạt động năm 2018:
  • HB 5579 (được ban hành năm 2018): Dự luật dành riêng, bao gồm việc cấp vốn cho Đại học Ảo Michigan (Michigan Virtual University). Bao gồm điều khoản yêu cầu các vốn cấp sẽ được sử dụng để cung cấp sự lãnh đạo cho hệ thống giáo dục học tập ảo của bang bằng việc cung cấp nền tảng dựa vào Internet sao cho các nhà giáo dục có thể sử dụng để tạo lập các công cụ và tài nguyên học tập lấy sinh viên làm trọng tâm để chia sẻ trong kho tài nguyên giáo dục mở của bang và tạo thuận lợi cho mạng những người sử dụng để hỗ trợ cho các nhà giáo dục trong việc sử dụng nền tảng tạo lập nội dung và kho các tài nguyên giáo dục mở của bang. Như một phần của sáng kiến này, Đại học Ảo Michigan sẽ làm việc cộng tác với các khu trường và các khu trường trung gian để lên kế hoạch làm cho các tài nguyên ảo sẵn sàng và phù hợp với các tiêu chuẩn của chương trình giảng dạy của hệ thống K-12 của Michigan để các sinh viên, các nhà giáo dục và các bậc phụ huynh sử dụng. Hành động mới nhất: Thống đốc Bang đã ký ngày 28/06/2018.


2018 Activity:
  • HB 5579 (enacted 2018): Appropriations bill including funding for the Michigan Virtual University. Includes provision requiring that funds shall be used to provide leadership for the state’s system of virtual learning education by providing an internet-based platform that educators can use to create student-centric learning tools and resources for sharing in the state’s open educational resource repository and facilitate a user network that assists educators in using the content creation platform and state repository for open educational resources. As part of this initiative, the Michigan Virtual University shall work collaboratively with districts and intermediate districts to establish a plan to make available virtual resources that align to Michigan’s K-12 curriculum standards for use by students, educators, and parents. Last Action:Signed by the Governor – 06/28/2018.
Blogger: Lê Trung Nghĩa

Thứ Hai, 5 tháng 11, 2018

Chính sách tài nguyên giáo dục mở (OER) của bang GEORGIA, nước Mỹ



Hoạt động năm 2018:
Không có dự luật thích hợp nào được đệ trình trong năm 2018.
Các chính sách hiện hành đã được ban hành trong các năm trước:
  • Georgia Học tập Kham được - Affordable Learning Georgia (2014): là sáng kiến của Hệ thống Đại học Georgia để thúc đẩy sự thành công của sinh viên bằng việc hỗ trợ triển khai các lựa chọn thay thế kham được đối với các sách giáo khoa thương mại đắt giá, đặc biệt các Tài nguyên Giáo dục Mở - OER (Open Educational Resources) và các sách giáo khoa mở. Chương trình này đã được cấp vốn dành riêng theo luật pháp vào năm 2014 và các năm sau đó.
2018 Activity:
No relevant bills were filed in 2018.
Existing Policies Enacted in Previous Years:
  • Affordable Learning Georgia (2014): Affordable Learning Georgia a University System of Georgia initiative to promote student success by supporting the implementation of affordable alternatives to expensive commercial textbooks, particularly Open Educational Resources (OER) and open textbooks. The program was funded by appropriations from the legislature in 2014 and subsequent years.
Blogger: Lê Trung Nghĩa


Chủ Nhật, 4 tháng 11, 2018

Các chỉ thị truy cập mở rất cần cho giáo dục mở


Bài viết cho Hội thảo ‘Đổi mới căn bản toàn diện hoạt động đào tạo trong các trường đại học và cao đẳng’ do AVNUC tổ chức ngày 02/11/2018 tại trường Đại học Sư phạm Kỹ thuật TP. Hồ Chí Minh
Bài được đăng trong kỷ yếu của hội thảo, các trang 672-679
------------------------------------------------------


Tóm tắt:
Giáo dục mở, một thành phần không thể thiếu của khoa học mở, chỉ có thể hiện thực hóa được khi sự truy cập tới tri thức nói chung, các tài nguyên giáo dục/khoa học hàn lâm nói riêng trở thành truy cập mở - truy cập không có rào cản về tài chính, pháp lý và kỹ thuật, nhất là khi chúng được tạo ra từ nguồn vốn của nhà nước. Tuy nhiên, cho tới nay, chưa có bất kỳ chỉ thị hay chính sách truy cập mở nào tồn tại ở Việt Nam. Rất cần cấp bách thay đổi hiện trạng này.


A. Bối cảnh chung
Ngày 28/09/2017, các bộ trưởng khoa học các nước G7 gồm Canada, Pháp, Đức, Ý, Nhật, Vương quốc Anh, Mỹ và Ủy viên châu Âu về Nghiên cứu, Khoa học và Cách tân đã gặp nhau tại Ý để bàn cách tận dụng các cơ hội và vượt qua các thách thức của cuộc cách mạng sản xuất tiếp sau – NPR (Next Production Revolution) và đã đưa ra thông cáo chung 26 điểm[01] với mục đích thúc đẩy khoa học và cách tân toàn diện như là ưu tiên chính để triển khai trong thời gian tới, trong đó nhấn mạnh tới Khoa học Mở (Open Science), bao gồm cả Khoa học Công dân (Citizen Science) với 2 khía cạnh cụ thể được ưu tiên ở thời điểm này gồm: (1) khuyến khích tính mở của hệ sinh thái nghiên cứu: đánh giá các sự nghiệp nghiên cứu cần nhận biết tốt hơn và thưởng cho các hoạt động Khoa học Mở; và (2) các hạ tầng để sử dụng tối ưu dữ liệu nghiên cứu: tất cả các nhà nghiên cứu cần có khả năng ký gửi, truy cập và phân tích dữ liệu nghiên cứu xuyên các ngành nghề và ở phạm vi toàn cầu, và dữ liệu nghiên cứu cần gắn với các nguyên tắc FAIR (Findable, Accessible, Interoperable, Reusable) để tìm kiếm được, truy cập được, tương hợp được và sử dụng lại được.
Từ tuyên bố này của G7, vào tháng 05/2018, Ủy ban châu Âu đã đưa ra tài liệu hướng dẫn về ‘Truy cập tới và bảo tồn thông tin khoa học ở châu Âu[02]’, nhấn mạnh các đường hướng ưu tiên chính cho nghiên cứu và cách tân ở châu Âu trong thời gian tới, gồm:
  1. Truy cập Mở tới các xuất bản phẩm khoa học
  2. Truy cập Mở tới dữ liệu nghiên cứu
  3. Xây dựng hạ tầng điện tử, phổ biến và sử dụng lại các kết quả đầu ra nghiên cứu
  4. Các hệ thống thưởng cho văn hóa chia sẻ và huấn luyện các kỹ năng Khoa học Mở
  5. Cộng tác và minh bạch trong nghiên cứu khoa học
Có thể nhận thấy việc truy cập mở ngày nay trên thế giới được đặt lên hàng đầu, dù là tới các xuất bản phẩm khoa học hay dữ liệu nghiên cứu.


B. Truy cập Mở là gì[03]
Truy cập mở - OA (Open Access) tới tư liệu ngụ ý tính sẵn sàng tự do trên Internet công khai, cho phép bất kỳ người sử dụng nào để đọc, tải về, sao chép, phân phối, in, tìm kiếm, hoặc liên kết tới toàn văn các bài báo đó, đi sâu vào chúng để đánh chỉ mục, truyền chúng như là dữ liệu tới phần mềm, hoặc sử dụng chúng vì bất kỳ mục đích hợp pháp nào khác, mà không có các rào cản về tài chính, pháp lý hoặc kỹ thuật ngoại trừ những rào cản gắn liền với sự truy cập tới bản thân Internet.
Truy cập mở ngụ ý truy cập tự do tới thông tin và sử dụng không có giới hạn các tài nguyên điện tử đối với bất kỳ ai. Bất kỳ dạng nội dung điện tử nào cũng có thể là OA, từ các văn bản và dữ liệu cho tới các phần mềm, audio, video, và đa phương tiện. Trong khi hầu hết chúng có liên quan chỉ tới các văn bản, thì số lượng ngày một gia tăng đang tích hợp văn bản với hình ảnh, dữ liệu, và mã thực thi được. OA cũng có thể áp dụng cho các nội dung phi hàn lâm, như âm nhạc, phim ảnh, và các tiểu thuyết.
Một xuất bản phẩm được coi là OA nếu:
  • nội dung của nó truy cập được vạn năng và tự do, độc giả không mất chi phí, qua Internet hoặc khác;
  • tác giả hoặc chủ sở hữu bản quyền trao cho tất cả những người sử dụng một cách không thể hủy bỏ, qua một giai đoạn thời gian không có giới hạn, quyền để sử dụng, sao chép, hoặc phân phối bài báo, với điều kiện thừa nhận ghi công thích hợp được đưa ra;
  • nó được ký gửi, tức thì, đầy đủ và ở dạng điện tử phù hợp, ít nhất vào một kho truy cập mở được thừa nhận quốc tế rộng rãi, cam kết truy cập mở.


C. Từ góc độ cấp phép mở Creative Commons, dữ liệu mở và tài nguyên giáo dục mở chỉ là tập con/trường hợp đặc biệt của truy cập mở.
Từ góc độ của việc cấp phép mở Creative Commons (CC) có thể thấy:
  1. Truy cập mở tới các xuất bản phẩm khoa học là một tập con của truy cập mở tới các tài nguyên nói chung;
  2. Truy cập (mở) tới dữ liệu mở là một tập con của truy cập mở tới dữ liệu nghiên cứu và tới lượt nó, truy cập mở tới dữ liệu nghiên cứu cũng là tập con của truy cập mở tới các tài nguyên nói chung.
Hình 1 bên dưới được tùy biến thích nghi từ hình trong tài liệu của UNESCO-UNEVOC xuất bản năm 2018 có tên: ‘Tài nguyên Giáo dục Mở trong Giáo dục và Huấn luyện Kỹ thuật và Nghề nghiệp[04]’ và các giải thích về sự phân biệt giữa Truy cập Mở, Tài nguyên Giáo dục Mở và Dữ liệu Mở từ khía cạnh cấp phép mở Creative Commons (CC) được giải nghĩa trong bài báo ‘Cấp phép mở Creative Commons cho các tài nguyên truy cập mở, tài nguyên giáo dục mở và dữ liệu mở[05]’ với kết luận tóm tắt sau đây: ‘Phổ các giấy phép Creative Commons được sử dụng cho các tài nguyên truy cập mở, tài nguyên giáo dục mở và dữ liệu mở là khác nhau. Trong khi các tài nguyên truy cập mở có thể được trao bất kỳ giấy phép nào, thì các giấy phép CC BY-ND và CC BY-NC-ND không thể được trao cho tài nguyên giáo dục mở và chỉ các giấy phép CC0, CC BY và CC BY-SA mới có thể trao cho dữ liệu mở được’.
Hình 1. Phân biệt các dạng tài nguyên được cấp phép mở CC


Hình 1 cho thấy, từ khía cạnh cấp phép mở Creative Commons, dữ liệu mở và tài nguyên giáo dục mở chỉ là tập con và/hoặc các trường hợp đặc biệt của truy cập mở tới các tài nguyên nói chung.
Nói một cách khác, để một tài nguyên trở thành dữ liệu mở và/hoặc tài nguyên giáo dục mở, trước hết tài nguyên đó phải là tài nguyên truy cập mở được.


D. Các chỉ thị truy cập mở trên thế giới
Trên thế giới, nhiều tổ chức, cơ sở nghiên cứu khoa học/giáo dục và các nhà cấp vốn nghiên cứu có các chỉ thị truy cập mở như trên Hình 2. Các chỉ thị đó đòi hỏi các nhà nghiên cứu - thường là các giảng viên đại học hoặc các nhà nghiên cứu và/hoặc những người nhận trợ cấp nghiên cứu làm cho các bài báo và các tài liệu hội nghị được rà soát lại ngang hàng và được xuất bản của họ trở thành truy cập mở được (1) hoặc bằng việc tự lưu trữ các bản thảo cuối cùng và được rà soát lại ngang hàng của họ vào một kho của cơ sở hoặc một kho chuyên ngành truy cập được tự do (cách này được gọi là Truy cập Mở Xanh - Green OA [Green Open Access]); hoặc (2) hoặc bằng việc xuất bản chúng trên một tạp chí truy cập mở (cách này được gọi là Truy cập Mở Vàng - Gold OA [Gold Open Access]); hoặc bằng cả 2 cách này.
Hình 2. Các chỉ thị truy cập mở trên thế giới tới tháng 3/2018[06]


D1. Đặc tính của các chỉ thị truy cập mở[07]
Các trường đại học đã áp dụng các chỉ thị truy cập mở cho các giảng viên, ví dụ, gồm Đại học Harvard[08], Viện Công nghệ Massachusetts, Cao đẳng Đại học Luân Đôn, Đại học Công nghệ Queensland, Đại học Minho (Bồ Đào Nha), Đại học Liege (Bỉ) và ETH Zurich (Thụy Sỹ). Các tổ chức đã áp dụng các chỉ thị truy cập mở cho những người nhận trợ cấp, ví dụ, gồm Viện Y tế Quốc gia Mỹ, Hội đồng Nghiên cứu Vương quốc Anh, Quỹ Quốc gia về Nghiên cứu Khoa học, Wellcome Trust và Hội đồng Nghiên cứu châu Âu. Có thể xem danh sách đầy đủ các chỉ thị truy cập mở của các cơ sở và nhà cấp vốn tại nhà Đăng ký các Chính sách Lưu trữ các Chỉ thị Truy cập Mở - ROARMAP[09] (Registry of Open Access Mandatory Archiving Policies).
Các chỉ thị truy cập mở có thể được phân loại theo nhiều cách thức: theo dạng tổ chức ra chỉ thị (cơ sở tuyển dụng hoặc nhà cấp vốn nghiên cứu); theo vị trí (trong hay ngoài cơ sở) và thời điểm của bản thân ký gửi (tức thì, có độ trễ); theo thời gian (tức thì hay có độ trễ) ở đó bản ký gửi được làm thành truy cập mở; hoặc theo cách thức liệu có hay không hợp đồng mặc định giữ lại bản quyền (và liệu nó có thể được/bị khước từ hay không). Các dạng chỉ thị cũng có thể được so sánh theo điểm mạnh và tính hiệu lực (về các khía cạnh lượng/tỷ lệ và thời điểm ký gửi hàng năm, so với tổng số bài viết hàng năm, cũng như thời gian truy cập tới ký gửi được thiết lập như là truy cập mở.
D1.1 Các chỉ thị của cơ sở và nhà cấp vốn
Các trường đại học có thể áp dụng các chỉ thị truy cập mở cho các giảng viên của họ. Tất cả các chỉ thị như vậy được đưa ra theo các trường hợp đặc biệt. Các giảng viên ký hợp đồng theo nhiệm kỳ không thể được/bị yêu cầu để xuất bản; họ cũng có thể không bị/được yêu cầu làm cho các xuất bản phẩm của họ thành truy cập mở .Tuy nhiên, các chỉ thị có thể ở dạng các thủ tục hành chính, như việc chỉ định ký gửi vào kho như là biện pháp chính thức đệ trình các xuất bản phẩm để rà soát lại hiệu năng nghiên cứu của cơ sở, hoặc để làm mới hoặc xin trợ cấp nghiên cứu. Nhiều chỉ thị ở các trường đại học châu Âu triển khai dạng các yêu cầu hành chính, trong khi nhiều chỉ thị ở các trường đại học ở Mỹ triển khai dạng đồng thuận của giảng viên tự đồng thuận hoặc gần như tự đồng thuận với một hợp đồng mặc định giữ lại các quyền (cùng với lựa chọn khước từ cho các trường hợp riêng rẽ đặc biệt).
Các nhà cấp vốn nghiên cứu như các cơ quan chính phủ hoặc các quỹ tư nhân (như Wellcome Trust) có thể áp dụng các chỉ thị truy cập mở như là các điều kiện hợp đồng để nhận được vốn cấp.


D1.2 Các dạng chỉ thị truy cập mở điển hình
Chỉ thị” có thể ngụ ý hoặc “ủy quyền” hoặc “bắt buộc”. Cả 2 loại đó đều có ý nghĩa quan trọng trong việc khuyến khích các nhà nghiên cứu cung cấp truy cập mở. Các cách thức khác để mô tả một chỉ thị bao gồm “việc dịch chuyển thực hành xuất bản mặc định sang truy cập mở” trong trường hợp của các giảng viên đại học hoặc “đặt ra điều kiện truy cập mở” lên những người nhận trợ cấp. Các chỉ thị là mạnh hơn so với các chính sách hoặc yêu cầu hoặc khuyến khích truy cập mở, vì chúng yêu cầu các tác giả cung cấp truy cập mở. Vài chỉ thị cho phép tác giả lựa chọn liệu họ có đưa ra được các lý do để làm thế hay không.
  • Các chính sách khuyến khích - Chúng không phải là các yêu cầu mà chỉ là các khuyến cáo cung cấp truy cập mở.
  • Các chỉ thị có lỗ hổng (Loophole mandates) - yêu cầu các tác giả cung cấp truy cập mở nếu và khi các nhà xuất bản của họ cho phép làm điều đó.
Các chỉ thị có thể bao gồm các mệnh đề sau:
  • Các chỉ thị với mệnh đề cấm vận có giới hạn - Chúng yêu cầu các tác giả cung cấp truy cập mở hoặc tức thì hoặc, muộn nhất, sau giai đoạn cấm vận tối đa được phép (có thể dao động từ 6 tháng tới 12 tháng hoặc lâu hơn).
  • Các chỉ thị với mệnh đề ký gửi tức thì - chúng yêu cầu các tác giả ký gửi các bản thảo cuối cùng có tham chiếu của họ vào một kho của cơ sở của họ ngay lập tức khi xuất bản (hoặc khi được chấp nhận để xuất bản) bất kể các hợp đồng xuất bản của họ có hay không cho phép tiến hành ký gửi tức thì theo truy cập mở: nếu nhà xuất bản cấm vận truy cập mở, thì truy cập tới bản ký gửi đó có thể sẽ là truy cập đóng trong bất kỳ giai đoạn cấm vận nào được phép. (Khi này các kho ký gửi truy cập đóng có Núm yêu cầu một bản sao để những người sử dụng có thể yêu cầu và các tác giả có thể cung cấp từng bản sao riêng mỗi lần nhấn vào núm đó trong giai đoạn cấm vận).
  • Các chỉ thị với mệnh đề giữ lại các quyền - Các chính sách đó thường mở rộng cho cơ sở cấp trên với một giấy phép không độc quyền để thực thi bất kỳ và tất cả các bản quyền đối với bài báo đó. Bản quyền nằm lại với tác giả cho tới khi họ chuyển giao nó cho nhà xuất bản, ở thời điểm đó giấy phép không độc quyền có hiệu lực. Làm như vậy thì các tác giả sẽ tự do xuất bản ở bất kỳ nơi nào họ thích, trong khi vẫn trao cho cơ sở quyền đăng một phiên bản của bài báo công khai lên web qua một kho của cơ sở. Lợi ích của mệnh đề giữ lại các quyền là tác giả, hoặc cơ sở, không cần thương lượng về truy cập mở với nhà xuất bản; bản thân chính sách đó cho phép truy cập mở tới bài báo đó. Khi chấp nhận hoặc xuất bản, tác giả hoặc đại diện của tác giả ký gửi bài báo đó vào kho của cơ sở của họ. Các khước từ thường có sẵn trong các trường hợp ở nơi các tác giả không muốn truy cập mở đối với một bài báo nhất định nào đó.
D1.3 Nơi ký gửi
Hầu hết các chỉ thị truy cập mở của cơ sở yêu cầu các tác giả tự lưu trữ các tài liệu của họ trong kho của cơ sở của bản thân họ. Vài chỉ thị của nhà cấp vốn chỉ định ký gửi trong cơ sở, vài chỉ thị chỉ định ký gửi ở bên ngoài cơ sở, và vài chỉ thị cho phép cả 2 trường hợp đó.
D1.4 Thời điểm ký gửi
Các chỉ thị có thể yêu cầu truy cập mở cho ký gửi tức thì khi xuất bản (hoặc khi được phê chuẩn để xuất bản) hoặc sau giai đoạn cấm vận được phép.
D1.5 Thời điểm truy cập mở đối với ký gửi
Các chỉ thị có thể yêu cầu truy cập mở tức thì tới ký gửi khi xuất bản (khi được phê chuẩn để xuất bản) hoặc sau giai đoạn cấm vận được phép.
D2. Các trường hợp áp dụng chỉ thị truy cập mở
D2.1 Các cơ quan cấp vốn của Canada
Các Viện Nghiên cứu Y tế của Canada - CIHR (Canadian Institutes of Health Research) đã đề xuất chỉ thị vào năm 2006 và đã áp dụng nó vào tháng 09/2007, nhà cấp vốn nghiên cứu nhà nước đầu tiên ở Bắc Mỹ có chỉ thị truy cập mở.
Vào tháng 10/2013, hai cơ quan cấp vốn liên bang khác của Canada, Hội đồng Khoa học và Kỹ thuật Quốc gia - NSERC (National Science and Engineering Council) và Hội đồng Nghiên cứu Khoa học Xã hội và Nhân văn – SSHRC (Social Science and Humanities Research Council) đã cùng đề xuất chỉ thị y hệt như của CIHR, và đã khởi xướng 2 tháng tư vấn về những gì sẽ trở thành chính sách truy cập mở của 3 cơ quan đó.
Vào ngày 27/02/2015, Chính sách Truy cập Mở của 3 Cơ quan đối với các xuất bản phẩm đã được công bố. Chính sách đó có hiệu lực cho các trợ cấp được trao từ ngày 01/05/2015 trở đi.
Vào ngày 01/05/2015, Trung tâm Nghiên cứu Phát triển Quốc gia (International Development Research Centre) đã áp dụng chính sách mới về truy cập mở. Chính sách này có hiệu lực cho các đề xuất trong hoặc sau ngày 20/07/2015.
D2.2 Các cơ quan cấp vốn của nước Mỹ
Vào tháng 05/2006, Luật Truy cập Công khai Nghiên cứu của Liên bang Mỹ - FRPAA (US Federal Research Public Access Act) đã được đề xuất hướng tới việc cải thiện Chính sách Truy cập Công khai của Viện Y tế Quốc gia - NIH (National Institutes of Health). Ngoài các điểm để làm cho truy cập mở thành bắt buộc mà NIH đã biên soạn vào năm 2008, nó tranh luận để mở rộng việc tự lưu trữ tới phổ đầy đủ nghiên cứu được nước Mỹ cấp vốn. Chính sách Truy cập Công khai của NIH có hiệu lực vào tháng 04/2008 và nêu rằng “tất cả các bài báo phát sinh từ các quỹ của NIH phải được đệ trình tới PubMed Central khi được chấp nhận để xuất bản”. Vào năm 2012, NIH đã công bố nó có thể ép tuân thủ Chính sách Truy cập Công khai của nó bằng việc không gia hạn mới các cấp vốn trợ cấp cho các tác giả nào không tuân thủ chính sách này.
Vào tháng 02/2013, dự luật Truy cập Công bằng tới Nghiên cứu Khoa học và Công nghệ đã được giới thiệu trong cả 2 viện của Quốc hội. Nó từng được mô tả như là “phiên bản được tăng cường của FRPAA”. Cùng trong tháng đó, Nhà Trắng đã ban hành chỉ thị[10] yêu cầu các cơ quan liên bang “với ngân sách hàng năm hơn 100 triệu USD trong chi tiêu thực hiện ghiên cứu và phát triển” phải xây dựng, trong vòng 6 tháng, kế hoạch làm cho các xuất bản phẩm được rà soát lại ngang hàng được tạo ra trực tiếp từ vốn cấp của liên bang sẽ phải “truy cập được công khai để tìm kiếm, truy xuất và phân tích được”.
D2.3 Các cơ quan cấp vốn châu Âu
Vào tháng 04/2006, Ủy ban châu Âu (EC) đã : Khuyến cáo A1 của EC: “Các cơ quan cấp vốn nghiên cứu … sẽ thiết lập chính sách của châu Âu chỉ thị cho các bài báo được xuất bản từ nghiên cứu được EC cấp vốn sẽ là sẵn sàng sau một giai đoạn thời gian nhất định trong các kho truy cập mở ...”. Khuyến cáo này kể từ đó đã được Ban Cố vấn Nghiên cứu của châu Âu - EURAB (European Research Advisory Board) cập nhật và tăng cường. Dự án Hạ tầng Truy cập Mở cho Nghiên cứu ở châu Âu - OpenAIRE (Open Access Infrastructure for Research in Europe) đã được khởi xướng từ đó.
Sự dịch chuyển toàn cầu hướng tới truy cập mở đối với các kết quả nghiên cứu được cấp vốn nhà nước (các xuất bản phẩm và dữ liệu) là chiến lược cốt lõi của Ủy ban châu Âu để cải thiện sự lưu thông tri thức và vì thế cả sự cách tân. Nó được minh họa đặc biệt bằng nguyên tắc chung về truy cập mở tới các xuất bản phẩm khoa học trong chương trình Horizon 2020 và thí điểm cho dữ liệu nghiên cứu. Vào năm 2012, qua một Khuyến cáo, Ủy ban châu Âu đã khuyến khích tất cả các quốc gia thành viên của Liên minh châu Âu đặt các kết quả nghiên cứu được nhà nước cấp vốn vào môi trường công khai để tăng cường cho khoa học và nền kinh tế dựa vào tri thức. Ngày 07/06/2018, Ủy ban châu Âu đã đưa ra thông cáo báo chí[11], giới thiệu chương trình và cũng là nền tảng xuất bản truy cập mở của riêng mình cho các tư liệu được tạo ra từ kinh phí của Ủy ban - Horizon Europe trong giai đoạn 2021-2027 - để thay thế cho Horizon 2020[12] (giai đoạn 2014-2020). Ngày 11/07/2018, Ủy ban châu Âu đã đưa ra ‘Kế hoạch S[13]’ thấy trước việc từ ngày 01/01/2020, tất cả các xuất bản phẩm hàn lâm là kết quả từ việc cấp vốn nghiên cứu của nhà nước phải được xuất bản trên các tạp chí truy cập mở hoặc trên các nền tảng truy cập mở.
Tại nước Anh, chính sách truy cập mở cũng đã được các nhà cấp vốn nghiên cứu ban hành, như của Hội đồng Nghiên cứu Vương quốc Anh - RCUK[14] (Research Councils UK) từ 2005 (được rà soát lại trong các năm 2014 và có thể cả trong các năm 2016 và 2018) và Hội đồng Cấp vốn Giáo dục Đại học của Anh - HEFCE[15] (Higher Education Funding Council for England) vào năm 2014 và được cập nhật vào tháng 07/2015.
D2.4 Các tổ chức quốc tế
Một số tổ chức quốc tế cũng đã có các chính sách truy cập mở, điển hình như của Ngân hàng Thế giới - WB (World Bank[16]) - ban hành và có hiệu lực từ tháng 04/2012, Tổ chức của Liên hiệp quốc về Giáo dục, Khoa học và Văn hóa (UNESCO) - ban hành và có hiệu lực từ 31/07/2013; hay Tổ chức Sở hữu Trí tuệ Thế giới (WIPO[18]) - ban hành và có hiệu lực từ ngày 15/11/2016 cùng với việc sử dụng hệ thống cấp phép mở Creative Commons cho các xuất bản phẩm của mình.


D3. Tính hiệu quả
Ví dụ được đưa ra với 4 cơ sở có các chỉ thị tự lưu trữ mới nhất, tỷ lệ trung bình tự lưu trữ truy cập mở xanh đã được so sánh với tỷ lệ các bài báo có kiểm soát từ các cơ sở khác được xuất bản trên các tạp chí cùng như nhau (cho các năm 2002-2009, được đo đếm vào năm 2011). Các thỉ thị truy cập mở làm tăng gấp 3 lần Truy cập Mở Xanh - Green OA. Các số liệu tương ứng là từ Web of Science của Thomson Reuters.
Hình 3. Tỷ lệ tự lưu trữ gấp 3 lần giữa khi có các chỉ thị truy cập mở


E. Kết luận và gợi ý đề xuất
Có thể thấy, từ khái niệm cho tới các triển khai thực tế các chỉ thị truy cập mở ở cả các cơ sở giáo dục định hướng nghiên cứu, các viện nghiên cứu cũng như các nhà cấp vốn nghiên cứu là chưa tồn tại ở Việt Nam, cũng tương tự như vậy với các khái niệm như Truy cập mở Xanh/Vàng hay giai đoạn cấm vận và nhiều khái niệm cơ bản khác có liên quan tới truy cập mở. Điều này chắc chắn sẽ cản trở Việt Nam trên con đường bắt kịp với những phát triển của thế giới hướng tới giáo dục mở nói riêng và khoa học mở nói chung, cả ở các khía cạnh truy cập mở tới các xuất bản phẩm cũng như các dữ liệu nghiên cứu - các khía cạnh không thể thiếu trong môi trường giáo dục - nghiên cứu hàn lâm ngày nay.
Rất cần cấp bách thay đổi hiện trạng này càng sớm càng tốt, ít nhất, bằng việc đề xuất triển khai một đề tài nghiên cứu khảo sát thực trạng truy cập mở tới các xuất bản phẩm và các dữ liệu nghiên cứu có sử dụng ngân sách nhà nước, với sự tham gia của các bên tham gia đóng góp trong hệ sinh thái truyền thông hàn lâm như các đại diện của (1) các trường đại học định hướng nghiên cứu và các viện nghiên cứu; các thư viện hàn lâm nghiên cứu; (3) các nhà cấp vốn nghiên cứu; (4) các nhà xuất bản khoa học và giáo dục; (5) cộng đồng các nhà nghiên cứu; và (6) các bộ – ngành/các bên có liên quan nhằm cùng nhau thảo luận, hài hòa hóa lợi ích của các bên để có thể đưa ra các đề xuất khuyến cáo cho chính phủ trong việc xây dựng chính sách và/hoặc các chỉ dẫn cho các chỉ thị truy cập mở ở mức chính phủ và cơ sở nghiên cứu khoa học - giáo dục/các nhà cấp vốn nghiên cứu.


Phụ lục. Số liệu thống kê chỉ thị/chính sách truy cập mở[19]
  • 898. Tới 16/02/2018. Tổng số các chỉ thị truy cập mở, theo ROARMAP.
    • 556. Tới 23/05/2016. Số lượng các cơ sở nghiên cứu có chỉ thị truy cập mở cho kết quả đầu ra nghiên cứu của họ, theo ROARMAP.
    • 79. Tới 23/05/2016. Số lượng các cơ quan cấp vốn có chỉ thị truy cập mở cho nghiên cứu họ cấp vốn, theo ROARMAP.
    • 376. Tới 24/05/2016. Số lượng các chính sách và chỉ thị được áp dụng trong 5 năm qua (2011-2016), theo ROARMAP.
    • 542. Tới 16/02/2018. Số lượng các chỉ thị và chính sách yêu cầu ký gửi, theo ROARMAP.
    • 336. Tới 16/02/2018. Số lượng các chỉ thị luận án, theo ROARMAP.
    • 84. Tới 16/02/2018. Số lượng chính sách và chỉ thị có điều kiện cấp phép đòi hỏi giấy phép “CC BY hoặc tương đương”, theo ROARMAP.
    • 17. Tới 24/05/2016. Số lượng các chính sách và chỉ thị của các nhà cấp vốn có bổ sung các vốn cấp dành riêng cho các khoản phí xử lý bài báo – APC (Article Processing Charges), theo ROARMAP.
    • 8. Tới 16/02/2018. Số lượng các chính sách và chỉ thị đòi hỏi truy cập mở Vàng - Gold OA (Gold Open Access), theo ROARMAP.
  • 72. Tới 16/02/2018. Số lượng các chính sách truy cập mở của trường đại học giữ lại các quyền ở dạng được khuyến cáo trong chỉ dẫn các thực hành tốt cho các chính sách truy cập mở của trường đại học.
  • 91. Tới 16/02/2018. Các quốc gia có các giấy phép Creative Commons được tùy biến cho luật bản địa.


Số liệu về truy cập mở của các quốc gia châu Âu bằng đồ thị tại địa chỉ: https://ec.europa.eu/info/open-science/open-science-monitor/trends-open-access-publications_en




Tài liệu và thông tin tham khảo


[01] Lê Trung Nghĩa biên dịch, 2018: Thông cáo của các Bộ trưởng khoa học các nước G7, Turin, 27-28/09/2017, G7 xuất bản năm 2017: https://www.dropbox.com/s/ywum8nfcgw7c6jz/G7%20Science%20Communiqu%C3%A9_Vi_25022018.pdf?dl=0
[02] Lê Trung Nghĩa biên dịch, 2018: Truy cập tới và bảo tồn thông tin khoa học ở châu Âu, Ủy ban châu Âu (EC) xuất bản tháng 05/2018: https://www.dropbox.com/s/4n5r0cj4chkgfrw/KI0417824ENN.en_Vi-04082018.pdf?dl=0
[03] Truy cập mở là gì? theo UNESCO: https://en.unesco.org/open-access/what-open-access, và bản dịch tiếng Việt: https://vnfoss.blogspot.com/2017/11/inh-nghia-truy-cap-mo.html
[04] Lê Trung Nghĩa biên dịch, 2018: Tài nguyên giáo dục mở trong giáo dục và huấn luyện kỹ thuật và nghề nghiệp, UNESCO-UNEVOC xuất bản năm 2018: https://www.dropbox.com/s/bbkt7x57zg60gu8/OER-in-TVET_Vi-19082018.pdf?dl=0
[05] Lê Trung Nghĩa, 2018: Cấp phép mở Creative Commons cho các tài nguyên truy cập mở, tài nguyên giáo dục mở và dữ liệu mở: https://www.dropbox.com/s/nla830v5c5ac66s/CapPhepChoTaiNguyenMo.pdf?dl=0
[06] Trang chủ ROARMAP: http://roarmap.eprints.org/
[07] Trang các chỉ thị truy cập mở: https://en.wikipedia.org/wiki/Open-access_mandate
[08] Lê Trung Nghĩa biên dịch: Các thực hành tốt cho các chính sách truy cập mở của đại học: https://vnfoss.blogspot.com/2017/08/cac-thuc-hanh-tot-cho-cac-chinh-sach.html
[09] Trang chủ ROARMAP: http://roarmap.eprints.org/
[10] Chỉ thị của Nhà Trắng đối với các cơ quan Liên bang với ngân sách nghiên cứu từ 100 triệu USD trở lên, xuất bản ngày 22/02/2013: https://web.archive.org/web/20170112020320/http://www.whitehouse.gov/sites/default/files/microsites/ostp/ostp_public_access_memo_2013.pdf
[11] Lê Trung Nghĩa biên dịch, 2018: Thông cáo báo chí của Ủy ban châu Âu về ngân sách dài hạn tiếp theo của EU cho các năm 2021-2027, Ủy ban đang đề xuất 100 tỷ cho nghiên cứu và cách tân, Ủy ban châu Âu (EC) xuất bản 07/06/2018: https://www.dropbox.com/s/dh8tcr1mhkj02mg/IP-18-4041_EN_Vi-05082018.pdf?dl=0
[12] Trang chủ chương trình Horizon 2020: https://ec.europa.eu/programmes/horizon2020/en/
[13] Lê Trung Nghĩa biên dịch, 2018: Thông báo về ‘Kế hoạch S’, Science Europe, xuất bản 11/07/2018: https://www.dropbox.com/s/oc6vl1dk09ce3i3/Plan_S_Communication_110718_Vi-06082018.pdf?dl=0
[14] Lê Trung Nghĩa biên dịch, 2016: Chính sách của RCUK về truy cập mở và chỉ dẫn hỗ trợ, Hội đồng Nghiên cứu Vương quốc Anh (RCUK) xuất bản 2013: https://www.dropbox.com/s/uyi0xhn9dufim4k/RCUKOpenAccessPolicy-Vi-03082016.pdf?dl=0
[15] Lê Trung Nghĩa biên dịch, 2016: Chính sách truy cập mở theo khung xuất sắc nghiên cứu sau năm 2014, Hội đồng Cấp vốn Giáo dục Đại học nước Anh (HEFC) xuất bản 2015: https://www.dropbox.com/s/o2hyd6snt0v1j65/HEFCE2014_07_updated%20July%202015-Vi-30072016.pdf?dl=0
[16] Lê Trung Nghĩa biên dịch, 2016: Chính sách truy cập mở của Ngân hàng Thế giới cho các xuất bản phẩm chính thức, Ngân hàng Thế giới xuất bản tháng 04/2012: https://www.dropbox.com/s/n8kfkeiia6ff49w/6783000PP00OFF0icy0Approved0April2-Vi-28072016.pdf?dl=0
[17] Lê Trung Nghĩa biên dịch, 2016: Chính sách truy cập mở liên quan tới các xuất bản phẩm của UNESCO, UNESCO xuất bản 31/07/2013: https://www.dropbox.com/s/u7cfwm9rgt3ibut/oa_policy_rev2-Vi-27072016.pdf?dl=0
[18] Lê Trung Nghĩa biên dịch, 2016: Sử dụng các giấy phép Creative Commons IGO, WIPO xuất bản 15/11/2016: https://www.dropbox.com/s/aor9bb4uxhj47g1/WIPO-Uses-CC-IGO-Since-15112016.pdf?dl=0


Trung Nghĩa

PS: Bạn có thể tự do tải về bài viết ở định dạng PDF ở địa chỉ:

Thứ Năm, 1 tháng 11, 2018

Hệ sinh thái nguồn mở ở Việt Nam - Open Source Ecosystem in Vietnam

Là bài trình bày tại Diễn đàn Kinh tế Số Việt Nam 2018 (Vietnam Digital Economic Forum 2018) diễn ra tại khách sạn Rex, thành phố Hồ Chí Minh, ngày 01/11/2018 do Hội Khoa học và Chuyên gia Việt Nam toàn cầu (AVSE Global), cụ thể là nhóm Chuyên gia Kinh tế số Việt Nam (Vietnam Digital Economy – VDE) phối hợp cùng Công viên Phần mềm Quang Trung (QTSC) và Viện Nghiên cứu Phát triển thành phố (HIDS) dưới sự chỉ đạo của UBND TP.HCM tổ chức.


Bạn có thể tự do tải về bài trình bày tại địa chỉ:


Blogger: Lê Trung Nghĩa