Thứ Tư, 6 tháng 6, 2012

Sử dụng phần mềm nguồn mở cho các dữ liệu mở là 'thực dụng và logic'


-->
Use of open source software for open data 'pragmatic and logical'
Submitted by Gijs HILLENIUS on May 31, 2012
Bài được đưa lên Internet ngày: 31/05/2012
Sử dụng phần mềm nguồn mở (PMNM) để xây dựng ứng dụng dữ liệu mở là thực dụng và logic, Pieter Colpaert, thành biên ban lãnh đạo Quỹ Tri thức Mở mới được thành lập của Bỉ (OKF). OKF đang hỗ trợ chính phủ vùng Flanders của Bỉ trong việc tổ chức một ngày hội dữ liệu mở hackaton, tại Brussels vào 15/06.
Using open source software to build open data application is pragmatic and logical, says Pieter Colpaert, board member of the newly founded Belgian chapter of the Open Knowledge Foundation. The OKF is assisting the government of the Belgian region of Flanders in organising a open data hackaton, in Brussels on the 15 of June.
Lời người dịch: Quỹ Tri thức Mở của Bỉ: “Sử dụng phần mềm nguồn mở (PMNM) để xây dựng ứng dụng dữ liệu mở là thực dụng và logic”.
OKF Bỉ bản thân nó đang tổ chức một loạt sự kiện tương tự, với đầu đề 'Các ứng dụng cho Flanders'. Sự kiện đầu tiên đã diễn ra vào ngày 14/05. Tại thành phố Ghent những người tham dự đã thảo luận các cách thức để sử dụng lại các dữ liệu có sẵn một cách thương mại trong các doanh nghiệp tại Bỉ.
Sự kiện thứ 2 như vậy, sử dụng các dữ liệu chính phủ, sẽ diễn ra cuối tuần này tại thành phố Kontich. Cuộc họp này được tổ chức cùng với 'Hack tử tế ngẫu nhiên', một cộng đồng những người nhiệt thành về công nghệ mở. Colpaert mong đợi một nhóm khoảng 15 người nhiệt thành về phần mềm sẽ tham gia. Hackaton lần thứ 3 sẽ được tổ chức vào 15/06 với Corve (coördinatiecel Vlaams e-government), một cơ quan điều phối cho các dịch vụ chính phủ điện tử (CPĐT) được chính quyền vùng Flanders tổ chức.
Nhóm này đang lên kế hoạch cho cuộc gặp lần thứ 4 của mình vào tháng 9, nhằm để các sinh viên khoa học máy tính tham gia vào.
Colpaert giải thích rằng Quỹ Tri thức Mở hỗ trợ các cộng đồng như vậy, và rằng đó là những dự án ưu tiên có liên quan tới nguồn mở, phần cứng mở, văn hóa tự do và creative commons.
Ông nói rằng các công cụ nguồn mở là trong số những phần cốt lõi của phong trào dữ liệu mở: “Nguồn mở không được xem như là một tuyên bố, nhiều người đơn giản coi nó là thực dụng và logic. Làm thế nào bạn đi thâu nạp bất kỳ ai tham gia vào các chính sách tham gia điện tử (e-participation? Làm thế nào bạn sẽ chắc chắn được rằng mọi người có thể sử dụng được phần mềm. Làm thế nào bạn đảm bảo rằng các dự án sẽ hưởng lợi từ khả năng phát hiện tình cờ?”
The Belgian OKF chapter is itself organising a series of similar events, titled 'Apps For Flanders'. The first one already took place on 14 May. In the city of Ghent attendees discussed ways to reuse commercially available data on businesses in Belgium.
A second such event, using government data, will take place this weekend in the city of Kontich. This meeting is organised together with 'Random Hacks of Kindness', a community of open technology enthusiasts. Colpaert expects a group of some fifteen software enthusiasts to show up.
The third hackaton is organised on 15 June with Corve (coördinatiecel Vlaams e-government), a coordination body for e-Government services developed by the Flanders regional government.
The group is planning its fourth meeting in September, aiming to get computer science students involved.
Colpaert explains that the Open Knowledge Foundation supports such communities, and that is cherishes projects involving open source, open hardware, free culture and creative commons.
He says that open source tools are among the core parts of the open data movement: "Open source is not seen as a statement, many simply consider it pragmatic and logical. How else are you going to get everyone involved in e-participation policies? How else will you make sure that everybody can use the software. How else can you guarantee that projects will benefit from serendipity?"
Dịch: Lê Trung Nghĩa

Thứ Ba, 5 tháng 6, 2012

Các nghị sỹ châu Âu muốn báo cáo về sử dụng nguồn mở của mình


EP wants a report on its use of open source
Submitted by Gijs HILLENIUS on May 31, 2012
Bài được đưa lên Internet ngày: 31/05/2012
Ban Tổng giám đốc về Đổi mới và Hỗ trợ Công nghệ của Nghị viện châu Âu sẽ đưa ra báo cáo về các chương trình PMTDNM của các nghị viện châu Âu (EP). Nghị sỹ Bart Staes (Nhóm của Liên minh Xanh và Tự do châu Âu) hôm 10/05 đã bổ sung điều này như một yêu cầu cho sự giải tán ủy ban ngân sách Nghị viện châu Âu 2010.
The European Parliament's Directorate General for Innovation and Technological Support is to produce report on the EP's free and open source software programmes. MEP Bart Staes (Group of the Green and European Free Alliance) on 10 May added this as a requirement for the discharge of the EP's 2010 budget committee.
Lời người dịch: Các nghị sỹ Nghị viện châu Âu không chỉ yêu cầu một bản báo cáo về sử dụng phần mềm nguồn mở của mình, mà còn nhiều yêu cầu khác, như yêu cầu các thành viên EU phát triển 'phần mềm giáo dục mở'. Họ muốn các quốc gia thành viên “trao đổi những thực tiễn tốt nhất, và phát triển những nền tảng trực tuyến cho sự cộng tác trong các tư liệu và tài nguyên mà là tự do cho các sinh viên và tính tới sự bảo vệ dữ liệu và các qui định về bản quyền”.
Trong yêu cầu của mình, Staes viết rằng 'mong đợi một báo cáo đầy đủ về các dự án PMTD của nghị viện'. Staes cũng muốn phòng CNTT của Nghị viện châu Âu kiểm tra liệu những lựa chọn phần mềm của mình có phản ánh bổn phận của nghị viện để tiến hành các hoạt động của nó với sự minh bạch tối đa hay không.
Xem xét không chỉ vào những triển khai của riêng mình về nguồn mở, Nghị viện châu Âu trước đó, hôm 12/04, đã thông qua một nghị quyết về chính phủ điện tử (CPĐT). Nghị quyết này chào đón Kế hoạch Hành động CPĐT của châu Âu 2011-2015, Chiến lược về Tính tương hợp của châu Âu (EIS) và Khung Tương hợp châu Âu (EIF).
EIS đưa ra cơ sở hỗ trợ tính tương hợp về tổ chức, tài chính và vận hành của các dịch vụ CPĐT châu Âu. EIF đưa ra chỉ dẫn về thiết kế và các yêu cầu về tính tương hợp. Một trong những khuyến cáo là các cơ quan hành chính nhà nước chia sẻ và sử dụng lại các giải pháp phần mềm.
Trong nghị quyết của họ Nghị viện châu Âu kêu gọi các Quốc gia Thành viên nhanh chóng tuân theo các chiến lược với EIS và EIF.
Trong cùng văn bản, các nghị sỹ yêu cầu các quốc gia châu Âu và Ủy ban châu Âu làm cho sẵn sàng các dữ liệu được cấp vốn một cách công khai của họ ở dạng máy đọc được 'theo các giấy phép mở'.
Họ cũng yêu cầu các thành viên EU phát triển 'phần mềm giáo dục mở'. Họ muốn các quốc gia thành viên “trao đổi những thực tiễn tốt nhất, và phát triển những nền tảng trực tuyến cho sự cộng tác trong các tư liệu và tài nguyên mà là tự do cho các sinh viên và tính tới sự bảo vệ dữ liệu và các qui định về bản quyền”.
In his request, Staes writes that he 'expects a full report on the parliaments free software projects'. Staes also wants the EP's IT department to check if its software choices reflect the parliament's obligation to conduct its activities with the utmost transparency.
Looking not just at its own implementations of open source, the EP earlier, on 12 April, adopted a resolution on eGovernment. This resolution welcomes the European eGovernment Action Plan 2011-2015, the European Interoperability Strategy (EIS) and the European Interoperability Framework (EIF).
The EIS provides a basis for the organisational, financial and operational support of interoperability of Europe's e-government services. The EIF next provides guidance on the design and requirements of interoperability. One of the recommendations is that public administrations share and re-use software solutions.
In their resolution the EP calls on the Member States to rapidly align their strategies with the the EIS and EIF.
In the same text, the parliamentarians ask the EU countries and the EC to make available their publicly funded data in machine-readable form 'under open licences'.
They also request the EU members to develop 'open educational software'. They want the member states to "exchange best practices, and to develop online platforms for collaboration on educational materials and resources that are free for students and take due account of data protection and copyright rules."
Dịch: Lê Trung Nghĩa

Quốc hội Thụy Sỹ yêu cầu các dịch vụ CPĐT độc lập với nhà cung cấp


Swiss parliament demands vendor independent e-government services
Submitted by Gijs HILLENIUS on May 31, 2012
Bài được đưa lên Internet ngày: 31/05/2012
Hội đồng quốc gia Thụy Sỹ hôm 03/05 đã phê chuẩn một nghị quyết đánh tín hiệu rằng các dịch vụ chính phủ điện tử (CPĐT) phải làm việc trong tất cả các dạng nền tảng điện toán và nên không phụ thuộc vào một nhà cung cấp CNTT duy nhất. Nghị viện đã biểu quyết có lợi cho một động thái thúc đẩy một ứng dụng phần mềm 'Agate', mà phải được những nông dân chăn gia súc của quốc gia này sử dụng để đệ trình các dữ liệu về súc vật sống.
The national council of Switzerland on 3 May adopted a resolution signalling that electronic governmental services must work on all kinds of computing platforms and should not depend on a single IT vendor. The parliament voted in favour of a motion for improving a software application 'Agate', which must be used by the country's cattle farmers for filing livestock data.
Lời người dịch: Sự bền vững số không thể phụ thuộc vào công nghệ sở hữu độc quyền của một nhà cung cấp duy nhất, đặc biệt lại vào những sản phẩm đã lỗi thời.
Nghị quyết đã được đặt lên bàn hồi tháng 4 từ Edith Graf-Litscher, nghị sỹ quốc hội vùng Canton của Thurgau và đồng chủ tịch của Nhóm nghị sỹ vì Sự bền vững Số. Bà viện lý rằng ứng dụng đó của Thụy Sỹ dựa nhầm vào phần mềm đa phương tiện sở hữu độc quyền, mà làm cho các nông dân sử dụng Linux không có khả năng chạy được ứng dụng đó.
Nghị sỹ quốc hội đã được một nông dân chăn ngựa duy nhất tiếp cận, người có thể không chạy được phần mềm của chính phủ trong chiếc máy tính cá nhân PC Linux của mình.
Trong một cuộc phỏng vấn với site thông tin CNTT của Thụy Sỹ Netzwoche, nghị sỹ quốc hội Graf-Litscher giải thích rằng sự phụ thuộc vào nhà cung cấp dường như là một chủ đề nhỏ. Sau một phân tích kỹ lưỡng, các nghị sỹ đã nhận thức được rằng nhiều vấn đề hơn nhiều có liên quan, mà giải thích vì sao động thái đó đã được phê chuẩn với 96 phiếu thuận và 57 phiếu chống.
Trong một tuyên bố được xuất bản hôm 05/05 của /CH/Open, một nhóm đại diện cho những người sử dụng các hệ thống điện toán mở, MP Graf-Litscher được trích dẫn chỉ trích chính phủ Thụy Sỹ vì dựa quá nhiều vào công nghệ sở hữu độc quyền. “Chính phủ liên bang dựa vào một công nghệ mà nhà sản xuất trong khi chờ đợi đã công bố lỗi thời. Điều này không phải là sự bền vững số”.
The resolution was tabled in April by Edith Graf-Litscher, MP for the Canton of Thurgau and Co-President of the Parliamentary Group for Digital Sustainability. She argues that the Swiss application erroneously relies on proprietary multimedia software, which makes it impossible for farmers using Linux from running the application.
The MP was approached by a single horse farmer, who could not run the government's software on his Linux PC.
In an interview with the Swiss IT news site Netzwoche, MP Graf-Litscher explains that Agata's vendor dependence seemed a minor topic. Following a thorough analysis, the parliamentarians realised that much more is involved, which is why the motion was approved by 96 votes with 57 votes against.
In a statement published 5 May by /CH/Open, a group representing users of open computing systems, MP Graf-Litscher is quoted criticising the Swiss government for relying too much on proprietary technology. "The federal government relies on a technology that the manufacturer has meanwhile declared obsolete. This is not digital sustainability."
Dịch: Lê Trung Nghĩa

Thứ Hai, 4 tháng 6, 2012

Thẩm phán bãi yêu sách bản quyền API Java của Oracle


Judge dumps Oracle Java API copyright claim
1 June 2012, 11:41
Bài được đưa lên Internet ngày: 01/06/2012
Lời người dịch: Dù Oracle có thể còn tiếp tục kháng án để đưa lên tòa phúc thẩm, nhưng hiện trạng của vụ kiện Oracle - Google đã được “thẩm phán William Alsup đã phán quyết rằng Oracle không có bản quyền trong cấu trúc, sự liên tục và tổ chức (SSO) của 37 Java API trong vụ kiện vi phạm bản quyền của hãng chống lại Google.... Phán quyết này có nghĩa là vụ kiện lòng thòng của Oracle chống lại Google về Android đang tiến tới một kết cục nhục nhã - với hầu như chẳng có lý lẽ ban đầu nào của Oracle trong sự truy đuổi pháp lý của hãng đối với hệ điều hành di động nguồn mở sống sót được qua vụ kiện. 2 bằng sáng chế đi tới vụ kiến đã bị thẩm phán tuyên không vi phạm từ tuần trước... Tất cả những điều còn lại bây giờ chỉ là 9 dòng lệnh mà “lẻn vào cả Android và Java”; Những yêu sách của Oracle xung quanh mã nguồn này được mô tả như là “nở quá lớn” của Alsup, chỉ ra 9 dòng lệnh được xuất hiện trong lớp 3.179 dòng làm cho nó trở thành một “sự việc sao chép ngây ngô và vụn vặt”. Yêu sách đó về bản quyền được giới hạn tình trạng thiệt hại 150.000 USD“. Xem thêm: [01], [02], [03], [04], [05].
Thẩm phán William Alsup đã phán quyết rằng Oracle không có bản quyền trong cấu trúc, sự liên tục và tổ chức (SSO) của 37 Java API trong vụ kiện vi phạm bản quyền của hãng chống lại Google. Thẩm phán đã xác định rằng các API từng, vì lý do pháp lý, giống như các đầu đề hoặc những câu khẩu hiệu, mà từng không được bản quyền bao trùm. Phán quyết này có nghĩa là vụ kiện lòng thòng của Oracle chống lại Google về Android đang tiến tới một kết cục nhục nhã - với hầu như chẳng có lý lẽ ban đầu nào của Oracle trong sự truy đuổi pháp lý của hãng đối với hệ điều hành di động nguồn mở sống sót được qua vụ kiện. 2 bằng sáng chế đi tới vụ kiến đã bị thẩm phán tuyên không vi phạm từ tuần trước.
Tất cả những điều còn lại bây giờ chỉ là 9 dòng lệnh mà “lẻn vào cả Android và Java”; Những yêu sách của Oracle xung quanh mã nguồn này được mô tả như là “nở quá lớn” của Alsup, chỉ ra 9 dòng lệnh được xuất hiện trong lớp 3.179 dòng làm cho nó trở thành một “sự việc sao chép ngây ngô và vụn vặt”. Yêu sách đó về bản quyền được giới hạn tình trạng thiệt hại 150.000 USD.
41 trang phán quyết của Alsup về 37 Java API đã cho thấy rằng bất chấp có một yếu tố sáng tạo trong sự sáng tạo của cây các lời gọ được API thực hiện, nó cũng từng là một “cấu trúc lệnh chính xác” và như vậy một “tập hợp các biểu tượng chức năng và tiện ích”; theo Luật Bản quyền, nó có thể không, vì thế, được bảo vệ bản quyền và đúp bản cấu trúc đó từng nhất thiết cho tính tương hợp.
“Chấp nhận yêu sách của Oracle có thể cho phép bất kỳ ai cũng có bản quyền một phiên bản mã nguồn triển khai một hệ thống các lệnh và vì thế ngăn cản tất cả những người khác khỏi việc viết những phiên bản khác của riêng họ để triển khai tất cả hoặc một phần các lệnh y hệt. Không có sự nắm giữ nào cho sự đề xuất chung chung như vậy”, Alsup nói. Thẩm phán đã không chỉ ra dù phán quyết của ông “không giữ rằng các gói Java API là tự do cho tất cả sử dụng mà không có giấy phép” hoặc rằng SSO của tất cả các chương trình máy tính “có thể bị ăn cắp”, nói rằng nó chỉ ngụ ý cho “những sự việc cụ thể của vụ kiện này”.
Người phát ngôn của Oracle đã nói cho Tạp chí Phố Uôn rằng hãng có thể theo đuổi một vụ phúc thẩm nói rằng phán quyết có thể “làm khó hơn nhiều để bảo vệ các quyền sở hữu trí tuệ”. Google ngợi khen quyết định khi ủng hộ “nguyên tắc rằng các ngôn ngữ máy tính mở và có khả năng tương hợp tạo thành một cơ sở cơ bản cho sự phát triển của phần mềm”.
Judge William Alsup has ruled that Oracle does not have a copyright in the structure, sequence and organisation (SSO) of 37 Java APIs in its copyright infringement case against Google. The judge determined that APIs were, for legal purposes, akin to titles or catchphrases, which were not covered by copyright. The ruling means that Oracle's long running case against Google over Android is coming to an ignominious end – with almost none of Oracle's original allegations in its legal pursuit of the open source mobile operating system surviving the case. The two patents that came to trial were ruled non-infringing by the jury a week ago.
All that remains now are nine lines of code which "crept into both Android and Java"; Oracle's claims around this code are described as "overblown" by Alsup, pointing out the nine lines appeared in a 3,179 line class making it an "innocent and inconsequential instance of copying". That copyright claim is limited to statutory damages of $150,000.
Alsup's 41 page ruling on the 37 Java APIs found that despite there being a creative element in the creation of the tree of calls that made up the API, it was also a "precise command structure" and as such a "utilitarian and functional set of symbols"; under the Copyright Act, it could not, therefore, be copyrighted and duplication of the structure was necessary for interoperability.
"To accept Oracle’s claim would be to allow anyone to copyright one version of code to carry out a system of commands and thereby bar all others from writing their own different versions to carry out all or part of the same commands. No holding has ever endorsed such a sweeping proposition", said Alsup. The judge did point out though that his ruling "does not hold that Java API packages are free for all to use without license" or that the SSO of all computer programs "may be stolen", saying that it only applies to the "specific facts of this case".
Oracle's spokesperson told the Wall Street Journal that it would be pursuing an appeal saying that the ruling would "make it far more difficult to defend intellectual property rights". Google applauded the decision as upholding "the principle that open and interoperable computer languages form an essential basis for software development".
(djwm)
Dịch: Lê Trung Nghĩa

Trung Quốc có sự truy cập qua cửa hậu vào các hệ thống của Mỹ


Chinese Regime Has Backdoor Access to US Systems
Alarming report reveals malware in silicon chips
By Joshua Philipp
Epoch Times Staff Created: May 29, 2012 Last Updated: May 29, 2012
Bài được đưa lên Internet ngày: 29/05/2012
Lời người dịch: Nỗi sợ hãi của những người Mỹ đối với các phần mềm, phần cứng được sản xuất tại Trung Quốc có nhúng sẵn các phần mềm độc hại, các bom logic... để gián điệp, ăn cắp và phá hủy các hạ tầng của Mỹ. “Và chỉ gần đây, hôm 29/04, cựu ông hoàng chống khủng bố của Mỹ là Richard Clarke, người bây giờ quản lý hãng an ninh KGM của riêng mình, đã nói cho Tạp chí Smithsonian rằng phần mềm độc hại như vậy của Trung Quốc thậm chí tồn tại ở mức người tiêu dùng - sự thịnh hành khắp nơi gây sốc - nói rằng mọi thứ từ các chip silic, cho tới các bộ định tuyến router, cho tới phần cứng có thể được tải với các bom logic, các ngựa Trojan, và các dạng phần mềm độc hại khác”. Thông tin như vậy, tin hay không là tùy bạn. Xem thêm: “Mối lo an ninh các hệ thống thông tin nhìn từ chuyện Hoa Vĩ”.
Một nghiên cứu gần đây cho thấy rằng một chip quân sự của Mỹ được sản xuất tại Trung Quốc - được sử dụng rộng rãi trong các hệ thống vũ ký, các nhà máy điện hạt nhân và giao thông công cộng - có thức một cửa hậu được xây dựng sẵn mà cho phép Trung Quốc truy cập được vào các hệ thống sống còn của Mỹ.
“Nói một cách khác, sự truy cập cửa hậu này có thể biến thành một vũ khí Stuxnet tiên tiến để tấn công một cách tiềm tàng hàng triệu hệ thống. Phạm vi và mức độ các cuộc tấn công có thể có những tác động khổng lồ cho an ninh quốc gia và hạ tầng công cộng”, nhà nghiên cứu về an ninh Sergei Skorobogatov viết trên blog. Skorobogatov là từ Nhóm An ninh Phần cứng có trụ sở ở Anh tại Đại học Cambridge, nhóm đã tiến hành nghiên cứu.
Vũ khí Stuxnet mà ông tham chieus tới từng là một mẩu phần mềm độc hại đã có khả năng phá hủy vật lý các máy li tâm hạt nhân tại một nhà máy hạt nhân của Iran.
Đưa ra những tuyên bố từ một số cơ quan tình báo hàng đầu thế giới - trong số đó có MI5, NSA, và IARPA - rằng các chip máy tính có thể được tải trước đó với các phần mềm tiềm tàng sự phá hủy, Nhóm An ninh Phần cứng đã quyết định đặt điều này lên để kiểm thử.
“Chúng tôi chọn một chip quân sự của Mỹ mà là an ninh cao với tiêu chuẩn mã hóa phức tạp, được sản xuất tại Trung Quốc”, Skorobogatov nói. Họ đã sử dụng một dạng công nghệ mới quét chip để “xem liệu có bhaats kỳ tính năng nào không mong đợi trên con chip hay không”.
“Các quan chức Anh sợ rằng Trung Quốc có khả năng đánh sập hạ tầng sống còn của các doanh nghiệp, quân đội thông qua các cuộc tấn công không gian mạng (KGM) và gián điệp thiết bị nhúng trong thiết bị viễn thông và máy tính”, ông nói, lưu ý, “Đã từng có những trường hợp phần cứng máy tính có các cửa hậu, Trojan, hoặc các chương trình khác để cho phép một kẻ tấn công giành được sự truy cập hoặc truyền các dữ liệu bí mật tới một bên thứ 3”.
A recent study found that a U.S. military chip manufactured in China—widely used in systems for weapons, nuclear power plants, and public transport—contains a built-in backdoor that allows the Chinese regime access to critical U.S. systems.
“In other words, this backdoor access could be turned into an advanced Stuxnet weapon to attack potentially millions of systems. The scale and range of possible attacks has huge implications for national security and public infrastructure,” writes security researcher Sergei Skorobogatov on his blog. Skorobogatov is from U.K.-based Hardware Security Group at the University of Cambridge, the group that conducted the study.
The Stuxnet weapon he refers to was a piece of malware that was able to physically destroy nuclear centrifuges at an Iranian nuclear plant.
Going off claims from some of the world’s top intelligence agencies—among them MI5, NSA, and IARPA—that computer chips could be preloaded with potentially devastating malware, Hardware Security Group decided to put this to the test.
“We chose an American military chip that is highly secure with sophisticated encryption standard, manufactured in China,” Skorobogatov said. They used a new form of chip scanning technology to “see if there were any unexpected features on the chip.”
“U.K. officials are fearful that China has the capability to shut down businesses, military and critical infrastructure through cyber-attacks and spy equipment embedded in computer and telecommunications equipment,” he said, noting, “There have been many cases of computer hardware having backdoors, Trojans, or other programs to allow an attacker to gain access or transmit confidential data to a third party.”
Their complete findings will be published in September, in a paper called “Breakthrough silicon scanning discovers backdoor in military chip,” which Skorobogatov says “will expose some serious security issues in the devices, which are supposed to be unbreakable.”
The chip scanning technology is still relatively new, and thus, studies such as this are few and far between. Skorobogatov notes that 99 percent of chips are manufactured in China, and the prevalence of such malware is something he and his research group would like to investigate further.
Even so, the issue of the Chinese regime planting malware in exported technology is not unknown.
Back in July 2011, Greg Schaffer, acting deputy undersecretary of the Department of Homeland Security (DHS) National Protection and Programs Directorate, testified before the House Oversight and Government Reform Committee.
After being pressed with questions around this, Schaffer admitted he was “aware of some instances” of foreign-made software and hardware being purposely embedded with malware, The Epoch Times reported.
Những phát hiện hoàn chỉnh của họ sẽ được xuất bản vào tháng 9, trong một tài liệu gọi là “Xuyên qua việc quét silicon phát hiện cửa hậu trong chip quân sự”, mà Skorobogatov nói “sẽ hé lộ một số vấn đề nghiêm trọng về an ninh trong các thiết bị, mà được cho rằng không thể xuyên phá được”.
Công nghệ quét chip vẫn còn khá mới, và vì thế, các nghiên cứu như thế này là ít. Skorobogatov lưu ý rằng 99% chip được sản xuất tại Trung Quốc, và sự lưu hành khắp nơi các phần mềm độc hại như vậy là thứ gì đó ông và nhóm nghiên cứu của mình muốn nghiên cứu xa hơn.
Thậm chí như vậy, vấn đề cài cắm phần mềm độc hại của Trung Quốc trong công nghệ được xuất khẩu còn chưa được rõ.
Quay lại năm 2011, Greg Schaffer, quyền thứ trưởng Bộ An ninh Nội địa (DHS), Ban điều hành Chương trình và Bảo vệ Quốc gia, đã chứng thực trước Ủy ban Cải cách Chính phủ và Giám sát của Hạ viện.
Sau khi bị ép với các câu hỏi xung quanh điều này, Schaffer đã thừa nhận ông từng “nhận thức được về một số sự việc” về phần mềm và phần cứng được làm từ nước ngoài đang được nhúng có chủ đích với phần mềm độc hại. Tờ Epoch Times nói.
Đại biểu Jason Chafetz (R-Utah) đã tiếp tục ép Schaffer về điều này, và sau khi cố gắng tránh câu hỏi hoặc đưa ra những câu trả lời mơ hồ vài lần, Schaffer đã thừa nhận rằng ông đã nhận thức được về điều này đang xảy ra, và nói, “Chúng tôi tin tưởng có rủi ro đáng kể trong lĩnh vực của chuỗi cung ứng”.
“Đây là một trong những thách thức khó khăn và phức tạp nhất mà chúng ta có”, Schaffer nói. “Có ít chi tiết được phát hiện kể từ đó. Vâng, vào tháng 04/2011, Bộ Thương mại đã gửi đi một khảo sát tới các công ty viễn thông Mỹ- bao gồm cả AT&T Inc. và Verizon Communications Inc.— yêu cầu “thông tin bí mật về các mạng của họ trong một sự săn lùng gián điệp KGM Trung Quốc”, Bloomberg nói hồi tháng 11/2011.
Gián điệp được xây dựng sẵn
Trong số những thông tin được yêu cầu đã có những chi tiết về phần cứng và phần mềm được làm từ nước ngoài trong các mạng công ty, và nó đã yêu cầu về bất kỳ phát hiện nào về “phần cứng điện tử không được phép” hoặc bất kỳ thứ gì khác đáng ngờ. Bloomberg nói.
Rep. Jason Chaffetz (R-Utah) continued pressing Schaffer on this, and after trying to avoid the question or give vague responses several times, Schaffer admitted that he was aware of this happening, and said, “We believe there is significant risk in the area of supply chain.”
“This is one of the most complicated and difficult challenges that we have,” Schaffer said. “There are foreign components in many U.S. manufactured devices.”
Few details have been revealed since. Yet, in April 2011, the Commerce Department sent a survey to U.S. telecommunication companies—including AT&T Inc. and Verizon Communications Inc.—demanding “confidential information about their networks in a hunt for Chinese cyberspying,” Bloomberg reported in November 2011.
Built-in Spying
Among the information requested were details on foreign-made hardware and software on company networks, and it asked about any findings of “unauthorized electronic hardware” or anything else suspicious, Bloomberg reported.
Dường như đã có một cái nắp chặt chẽ về điều này, thậm chí sau đó. Một quan chức cao cấp Mỹ đã nói cho Bloomberg trong tình trạng dấu tên, lưu ý, họ nói, “Khảo sát đại diện cho mối lo lắng 'mức độ rất cao' rằng Trung Quốc và các quốc gia khác có thể đang sử dụng các khu vực xuất khẩu đang gia tăng của họ để phát triển các khả năng gián điệp được xây dựng sẵn trong các mạng của Mỹ...”
Điều này đã được hé lộ hơn nữa một tháng sau bằng tác giả và nhà văn Robert McGarvey, báo cáo về sự Tiến hóa của Internet. Ông được Don DeBolt, giám đóc nghiên cứu các mối đe dọa tại hãng tư vấn an ninh tại New York là Total Defense nói cho rằng “Trung Quốc đánh lỗi cho các máy tính của chúng ta từ lâu” và “Chúng tôi từng thấy những trường hợp nơi mà phần mềm độc hại được cài đặt vào ở mức BIOS. Các bộ về an ninh không dò tìm ra được nó”. Tất cả các máy tính đều có một chip BIOS (Hệ thống cơ bản đầu vào/đầu ra) mà đối khi được lập trình cứng, nghĩa là chúng chỉ có thể được viết một lần và chứa các thông tin về phần cứng hệ thống.
Và chỉ gần đây, hôm 29/04, cựu ông hoàng chống khủng bố của Mỹ là Richard Clarke, người bây giờ quản lý hãng an ninh KGM của riêng mình, đã nói cho Tạp chí Smithsonian rằng phần mềm độc hại như vậy của Trung Quốc thậm chí tồn tại ở mức người tiêu dùng - sự thịnh hành khắp nơi gây sốc - nói rằng mọi thứ từ các chip silic, cho tới các bộ định tuyến router, cho tới phần cứng có thể được tải với các bom logic, các ngựa Trojan, và các dạng phần mềm độc hại khác.
“Mỗi công ty chính tại Mỹ đều đã bị Trung Quốc thâm nhập”, Clarke đã nói cho Tạp chí Smithsonian.
“Nỗi sợ hãi lớn nhất của tôi”, ông tiếp tục, “là, thay vì có một sự kiện Trân châu cảng KGM, chúng ta sẽ có sự chết chóc của hàng ngàn nhát cắt này. Ơ những nơi chúng ta mất sự cạnh tranh của chúng ta bằng việc có tất cả những nghiên cứu và phát triển của chúng ta bị Trung Quốc ăn cắp”.
“Và chúng ta không bao giờ tháy sự kiện duy nhất nào mà làm cho chúng ta làm thứ gì đó về nó. Điều đó luôn chỉ nằm dưới ngưỡng đau của chúng ta. Hết công ty này tới công ty khác tại Mỹ bỏ ra hàng triệu, hàng trăm triệu, trong một số trường hợp hàng tỷ USD vào R&D và những thông tin đó đi tự do tới Trung Quốc... Sau một hồi bạn không thể cạnh tranh được nữa”, Clarke kết luận.
There seemed to be a tight lid on this, even then. A senior U.S. official spoke to Bloomberg on anonymity, noting, they report, “The survey represents ‘very high-level’ concern that China and other countries may be using their growing export sectors to develop built-in spying capabilities in U.S. networks…”
This was further exposed a month later by author and freelance writer Robert McGarvey, reporting for Internet Evolution. He was told by Don DeBolt, director of threat research at the New York security-consulting firm Total Defense, that “China has been bugging our computers for a long time,” and “We have seen cases where malware is installed at the BIOS level. Security suites do not detect it.” Computers all have a BIOS (Basic Input/Output System) chip that is sometimes hard-coded, meaning they can only be written once and contain information about the system’s hardware.
And just recently, on April 29, former U.S. counterterrorism czar Richard Clarke, who now runs his own cybersecurity firm, told Smithsonian Magazine that such Chinese malware even exists at the consumer level—in shocking prevalence—stating that everything from silicon chips, to routers, to hardware could be loaded with logic bombs, Trojan horses, and other forms of malware.
“Every major company in the United States has already been penetrated by China,” Clarke told Smithsonian Magazine.
“My greatest fear,” he continued, “is that, rather than having a cyber-Pearl Harbor event, we will instead have this death of a thousand cuts. Where we lose our competitiveness by having all of our research and development stolen by the Chinese.
“And we never really see the single event that makes us do something about it. That it’s always just below our pain threshold. That company after company in the United States spends millions, hundreds of millions, in some cases billions of dollars on R&D and that information goes free to China. … After a while you can’t compete,” Clarke concluded.
Dịch: Lê Trung Nghĩa

Chủ Nhật, 3 tháng 6, 2012

Hỏi đáp thường gặp: Flame, “Siêu gián điệp”


FAQ: Flame, the "super spy"
31 May 2012, 13:33, by Jürgen Schmidt
Bài được đưa lên Internet ngày: 31/05/2012
Sâu gián điệp Flame đang được xem như một “vũ khí không gian mạng (KGM) chết người”, nhưng một phân tích bình tĩnh hơn phát hiện nó sẽ là một công cụ của các chuyên gia dành cho các chuyên gia mà không thực sự có nhiều tính năng so sánh được để, nói, với trojan ngân hàng trực tuyến rộng khắp như Zeus.
The spyware worm Flame is being billed as a "deadly cyber weapon", but a calmer analysis reveals it to be a tool by professionals for professionals that doesn't actually have that many new features compared to, say, the widespread online-banking trojan Zeus.
Lời người dịch: Lại một virus khủng mới được phát hiện, có tên là Flame, hoặc Flamer và sKyWIper. Nó được đánh giá là “Siêu gián điệp không gian mạng”, tấn công có chủ đích, có chọn lọc chứ không phải loại thông thường. Phần mềm gián điệp này chủ yếu để nắm bắt nhiều dạng thông tin khác nhau. “Nó không chỉ có thể ăn cắp các tệp và các thư điện tử từ các máy tính bị lây nhiễm, mà còn biến chúng thành các thiết bị ghi âm và trinh sát có sử dụng các micro và webcam được kết nối. Nó cũng có khả năng ghi lại các màn hình, bàn phím và giao thông mạng”. “Chương trình phần mềm gián điệp này đường như đã được sử dụng nhiều năm mà không bị phát hiện, và cho tới khi bị phát hiện, không chương trình chống virus duy nhất nào nhận biết được phần mềm độc hại này. Tình trạng này chỉ cho thấy một lần nữa các phần mềm chống virus không phù hợp như thế nào cho việc dò tìm các hệ thống chống lại các cuộc tấn công có chủ đích. Các phần mềm chống virus tập trung vào việc dò tìm các máy tính chống lại sự lan truyền, không phần biệt các phần mềm độc hại và hầu hết là vô dụng chống lại các phần mềm chuyên dụng như Flame”.
Flame là gì?
Flame là tên mã cho một chương trình phần mềm gián điệp được xây dựng theo module và cũng được biết tới như là Flamer và sKyWIper. Flame từng chỉ được phát hiện gần đây, và nó là có trước khi tất cả các thành phần của nó được phân tích. Các công ty phần mềm chống virus đánh giá rằng Flame đã lây nhiễm khoảng 1.000 máy tính, chủ yếu ở Trung Đông.
Flame làm gì?
Phần mềm gián điệp này chủ yếu để nắm bắt nhiều dạng thông tin khác nhau. Nó không chỉ có thể ăn cắp các tệp và các thư điện tử từ các máy tính bị lây nhiễm, mà còn biến chúng thành các thiết bị ghi âm và trinh sát có sử dụng các micro và webcam được kết nối. Nó cũng có khả năng ghi lại các màn hình, bàn phím và giao thông mạng.
Nhưng tất cả những thứ đó đã là tiêu chuẩn cho nhiều phần mềm độc hại rồi. Liệu nó có thứ gì đó mới hay không?
Một tính năng không bình thường là Flame có khả năng kết nối với các thiết bị Bluetooth trong khu vực. Còn chưa rõ chính xác điều gì xảy ra trong trường hợp này, nhưng có khả năng là các bộ tai nghe có thể được sử dụng để gián điệp hoặc là các ảnh chụp có thể bị ăn cắp từ các điện thoại thông minh. Phân tích nhiều hơn là cần thiết để tìm ra các chi tiết hơn nữa.
Một tính năng độc nhất vô nhị khác là trình biên dịch LUA được đưa vào, mà có thể được sử dụng để dễ dàng mở rộng chức năng của phần mềm gián điệp với các scripts.
What is Flame?
Flame is the code name for a spyware program that is built to be very modular and which is also known as Flamer and sKyWIper. Flame was just recently discovered, and it will be some time before all of its components are analysed. Anti-virus software companies estimate that Flame has infected about 1,000 computers, mostly in the Middle East.
What does Flame do?
The spyware specialises in getting hold of many different types of information. Not only can it steal files and emails from infected computers, but it can also turn them into bugging and surveillance devices using connected microphones and webcams. It is also able to record screenshots, keystrokes, and network traffic.
But all of that is already standard for a lot of malware. Does it have anything new?
One unusual feature is that Flame is able to connect with Bluetooth devices in the area. It's not clear yet what exactly happens in this case, but it's possible that headsets could be used for spying or that photos could be stolen from smartphones. Machines infected with Flame seem to also be able to broadcast as Bluetooth devices that offer services. More analysis is necessary to uncover further details.
Another unique feature is the LUA interpreter that is included, which can be used to easily extend the functionality of the spyware with scripts.
A modular concept, sophisticated spying features – we've already seen that with Zeus and SpyEye. How is Flame different from those online-banking trojan kits?
Flame khác biệt với các bộ trojan ngân hàng trực tuyến khác như thế nào?
Không giống như các trojan ngân hàng, các cá nhân đứng đằng sau chương trình này không quan tâm trong việc lan truyền nó xa và nhanh nhất có thể - hoàn toàn ngược lại, trong thực tế. Theo chúng tôi được biết tới lúc này, sâu này đã không cố gắng tự mình lan truyền, và nếu một phân tích ban đầu đã không đi với bất kỳ thứ gì hữu dụng trong hệ thống, thì Flame thậm chí có thể bị xóa đi. Chỉ khi nó nhận được các lệnh làm như vậy - nếu thông tin được thấy là có hứa hẹn - thì Flame mới cố gắng gây lây nhiễm cho các hệ thống khác bằng việc sử dụng một tá các máy tính. Tổng số cuối cùng khoảng 1.000 máy tính bị lây nhiễm qua quá trình vài năm là quá bé so với Zeus và SpyEye, mà mỗi con đã làm việc theo cách của chúng trong hàng triệu máy tính.
Làm thế nào Flame nhảy vào được các máy tính bị lây nhiễm lúc đầu?
Chúng tôi còn chưa biết, như chúng tôi giả thiết rằng phương pháp điển hình đối với các cuộc tấn công có chủ đích đã được sử dụng. Trong những trường hợp này, những kẻ thâm nhập xác định một nhóm người mà có sự truy cập tới các thông tin thú vị hoặc có thể ít nhất cung cấp sự truy cập như vậy. Những đích này thường bị lây nhiễm bằng phần mềm gián điệp, thông qua thư điện tử giả mạo đặc biệt hoặc các đầu USB mà ai đó đã chủ ý “đánh mất” - hoặc thậm chí bằng việc thâm nhập vào phòng của nạn nhân, nơi mà phần mềm đó được cài đặt bằng tay lên máy tính đích.
Ai có trách nhiệm về Flame? Tình báo Israel?
Chúng tôi không biết - và chúng tôi nghi chúng ta sẽ khi nào đó biết. Chúng tôi biết rằng phần mềm đã được phát triển bởi những người chuyên nghiệp, có khả năng là cả một nhóm. Hơn nữa, dường như nó được sử dụng lặp đi lặp lại trong những tình huống nhất định, chủ yếu là tại Trung Đông, với một sự tập trung đặc biệt vào Iran. Các kết luận có thể được đưa ra về các bên có trách nhiệm, nhưng điều quan trọng phải giữ trong đầu rằng chúng tôi thường chỉ thấy những gì chúng tôi được cho là thấy trong những tình huống này.
Unlike with banking trojans, the individuals behind this program are not interested in spreading it as far and fast as possible – quite the opposite, in fact. As far as we know at this time, the worm didn't try to spread itself at all at first, and if an initial analysis did not come up with anything useful on a system, Flame would even be deleted. Only when it received orders to do so – if the information it found looked promising – did Flame try to infect other systems using local networks, USB sticks, or other methods. And this would typically only infect up to a dozen computers. The final total of about 1,000 infected systems over the course of several years is minimal compared to Zeus and SpyEye, which each worked their way into millions of machines.
And how did Flame get onto the infected computers in the first place?
We do not know that yet, but we assume that the typical method for targeted attacks was used. In these cases, the perpetrators identify a group of people who have access to interesting information or can at least provide such access. These targets are then infected with the spyware, via specially crafted emails or USB sticks that someone has purposefully "lost" – or even by breaking into the victim's apartment, where the software is manually installed on the targeted computer.
Who's responsible for Flame? Israeli intelligence?
We don't know – and we doubt we ever will. We do know that the software was developed by professionals, most likely by a whole team. In addition, it seems to have been repeatedly used in certain situations, mostly in the Middle East, with a particular focus on Iran. Conclusions could be drawn about the responsible parties, but it is important to keep in mind that we often only see what we are supposed to see in these situations.
Flame thường được nhắc tới y hệt như Stuxnet. Liệu có sự liên kết nào không?
Cả 2 chương trình đều đã được sử dụng theo một cách thức có xu hướng để gợi ý có sự liên can của tình báo, nhưng về mặt kỹ thuật chúng có rất ít điểm chung. Stuxnet từng là một chương trình phá hoại mà đã được nhắm đích và tối thiểu, bất chấp dải các chức năng rộng lớn của nó; Flame, mặt khác, là một chương trình phần mềm gián điệp rất mạnh, vạn năng và, kích thước 20MB, thứ gì đó béo ị. Các chuyên gia về virus đã phân tích phần mềm gián điệp này để biết vì sao 2 chương trình đã lan truyền một phần có sử dụng các chỗ bị tổn thương tương tự như nhau.
Liệu Flame có là một mẫu cho một “vũ khí KGM” hiện đại?
Sự chỉ định của Flame có nhiều thứ phải làm với việc gián điệp hơn là phá hủy. Phần mềm gián điệp vì thế sẽ được gắn nhãn là một “máy nghe trộm KGM” hơn là một vũ khí.
Điều gì là đặc biệt về Flame?
Chương trình phần mềm gián điệp này đường như đã được sử dụng nhiều năm mà không bị phát hiện, và cho tới khi bị phát hiện, không chương trình chống virus duy nhất nào nhận biết được phần mềm độc hại này. Tình trạng này chỉ cho thấy một lần nữa các phần mềm chống virus không phù hợp như thế nào cho việc dò tìm các hệ thống chống lại các cuộc tấn công có chủ đích. Các phần mềm chống virus tập trung vào việc dò tìm các máy tính chống lại sự lan truyền, không phần biệt các phần mềm độc hại và, hầu hết, là vô dụng chống lại các phần mềm chuyên dụng như Flame.
Flame is often mentioned in the same breath as Stuxnet. Is there a connection there?
Both programs were used in a way that tends to suggest intelligence involvement, but technically they have very little in common. Stuxnet was a sabotage program that was very targeted and minimal, despite its wide range of functions; Flame, on the other hand, is a spyware program that is very powerful, universal and, at 20MB, somewhat bloated. The virus experts who analysed the spyware could not find any significant similarities in the code, and there are many potential explanations for why the two programs were spread in part using similar vulnerabilities.
Is Flame a prototype for a modern "cyber weapon"?
Flame's assignment has more to do with spying than with destruction. The spyware should therefore be labelled a "cyber wiretap" rather than a weapon.
What is actually special about Flame?
The spyware program seems to have been used for many years without being discovered, and until that happened, not a single anti-virus program recognised the malware. This situation shows once again how unsuitable anti-virus software is for protecting systems against targeted attacks. Anti-virus software focuses on defending machines against widespread, indiscriminate malware and is, for the most part, powerless against specialised software like Flame.
Dịch: Lê Trung Nghĩa

Quân đội Mỹ chuẩn bị cho chiến tranh không gian mạng


US Military Gearing Up for Cyberwar
Các cuộc tấn công KGM vào các hạ tầng sống còn là một 'mối đe dọa đang tiến hóa'
Cyber-attacks on critical infrastructures an 'evolving threat'
By Joshua Philipp
Epoch Times Staff Created: March 15, 2012 Last Updated: May 19, 2012
Bài được đưa lên Internet ngày: 19/05/2012
Lời người dịch: Các mối đe dọa an ninh KGM vẫn gia tăng tại Mỹ. Giám đốc DARPA Regina E. Dugan đã nói hôm 12/05 rằng những rủi ro do các cuộc tấn công KGM gây ra “chỉ không là một mối đe dọa đang tồn tại đối với các bit và byte của chúng ta”, mà hơn thế, “Chúng là một mối đe dọa thực tế cho các hệ thống vật lý của chúng ta, bao gồm cả các hệ thống quân sự của chúng ta”.
Quân đội Mỹ đang làm việc ngoài giờ để đảm bảo an ninh cho các mạng của mình chống lại các cuộc tấn công không gian mạng (KGM), trong khi cũng đang phát triển các hệ thống mới để đánh trả. Các chi tiết vì sao có một cú đánh bất ngờ là mập mờ theo cách nói của công chúng, vẫn còn mối đe dọa được làm rõ trong các báo cáo của chính phủ: Trung Quốc đang nhanh chóng tiến bộ trong các khả năng chiến tranh KGM tấn công, và đã đưa các khả năng đó vào sử dụng chống lại chính phủ, quân đội và khu vực doanh nghiệp Mỹ.
Chỉ trong quá trình vài tuần trước, hơn 2 vi phạm của các tin tặc Trung Quốc đã được phát hiện, bao gồm việc chiếm quyền kiểm soát các vệ tính của NASA và các chiến dịch gián điệp kỹ thuật xã hội thông qua Facebook.
Hôm 12/12, Quốc hội đã ủy quyền sử dụng quân đội tấn công đối với các cuộc tấn công KGM “để phòng thủ quốc gia, các đồng minh và các lợi ích của chúng ta” theo lệnh của tổng thống, miễn là điều đó nằm trong phạm vi của Nghị quyết về Sức mạnh Chiến tranh và các luận hiện hành về xung đột vũ trang.
Điều này đã được mô tả trong Báo cáo Hội nghị về H.R. 1540, Luật Ủy quyền Phòng thủ Quốc gia cho Năm Tài chính 2012. Nó bổ sung rằng trong một số hoàn cảnh, “cách thức có hiệu quả nhất để làm việc với các mối đe dọa và bảo vệ các lực lượng Mỹ là liên quân là thực hiện các hoạt động quân sự tấn công KGM, bao gồm những nơi mà vai trò của chính phủ Mỹ là không rõ ràng hoặc được thừa nhận”.
Ken Gabriel, phó giám đốc của Cơ quan Dự án Nghiên cứu Tiên tiến về Quốc phòng (DARPA), nhánh nghiên cứu và phát triển quân sự, đã phác thảo các kế hoạch của cơ quan này để gia tăng nghiên cứu và phát triển cho “các khả năng tấn công KGM”, trước một tiểu ban Dịch vụ Vũ trang của Hạ viện hôm 12/02.
The U.S. military is working overtime to secure its networks against cyber-attacks, while also developing new systems to strike back. Details of why there’s a sudden push are vague in public speeches, yet the threat has been made clear in government reports: the Chinese regime is quickly advancing offensive cyberwar capabilities, and it is already putting these to use against the American government, military, and business sector.
In the course of the last several weeks alone, two more breaches by Chinese hackers have been discovered, including their taking control of NASA satellites, and of social engineering espionage campaigns through Facebook.
On Dec. 12, Congress authorized the military’s use of offensive cyber-attacks “to defend our nation, allies, and interests” under the direction of the president, as long as it’s within the boundaries of the War Powers Resolution and current laws for armed conflict.
This was described in the Conference Report on H.R. 1540, National Defense Authorization Act for Fiscal Year 2012. It adds that in some circumstances, “the most effective way to deal with threats and protect U.S. and coalition forces is to undertake offensive military cyber-activities, including where the role of the U.S. government is not apparent or to be acknowledged.”
Ken Gabriel, deputy director of the Defense Advanced Research Projects Agency (DARPA), the military’s research and development branch, outlined the agency’s plans to increase research and development for “offensive cybercapabilities,” before a House Armed Services subcommittee on Feb. 12.
Giữa những cắt giảm chi tiêu quân sự rộng rãi, Gabriel đã công bố rằng DARPA đã đang gia tăng đầu tư cho nghiên cứu về KGM tới 8% năm nay và 12% năm sau. Điều này gắn ngược trở về một tuyên bố trong tháng 11 nơi mà DARPA đã công bố gia tăng 50% trong chi tiêu KGM trong 5 năm tới. Để làm điều này, họ lên kế hoạch để “chi tiêu ít hơn nhiều vào các hệ thống năng lượng và tự hành”, một thông cáo báo chí của FARPA nói.
Giám đốc DARPA Regina E. Dugan đã nói hôm 12/05 rằng những rủi ro do các cuộc tấn công KGM gây ra “chỉ không là một mối đe dọa đang tồn tại đối với các bit và byte của chúng ta”, mà hơn thế, “Chúng là một mối đe dọa thực tế cho các hệ thống vật lý của chúng ta, bao gồm cả các hệ thống quân sự của chúng ta”.
Tuyên bố của bà tới chỉ vài ngày sau khi hãng phát triển quân sự Northrop Grumman đã đưa ra một báo cáo 136 trang về các khả năng KGM của Trung Quốc về chiến tranh và gián điệp KGM.
Biết rằng một vấn đề chính với chiến tranh KGM nổi lên khi theo dõi nguồn của một cuộc tấn công, một phần của báo cáo chuyên tâm về cách mà Trung Quốc sử dụng các cuộc tấn công KGM để gián điệp khác với tội phạm KGM chung. Một phần của điều này nói rằng phạm vi, trọng tâm và tính phức tạp của các cuộc tấn công KGM của Trung Quốc “phát hiện một mức độ về các tài nguyên tài chính, nhân sự và phân tích vượt quá thậm chí những gì những hoạt động tội phạm KGM có tổ chức nhất hình như đúng có thể quản lý thậm chí cho các giai đoạn thời gian ngắn”.
Báo cáo kết luận rằng quân đội Trung Quốc đang theo đuổi biện pháp chiếm đoạt 'nền tảng cao của thông tin' trong không gian chiến trận hiện đại bằng việc sử dụng các khái niệm và các công nghệ đó để mở rộng sự kiểm soát đối với thông tin và các hệ thống thông tin.
Trùng khớp với sự phát hành báo cáo này, trước ngày phát hành đó, hôm 06/03, Northrop Grumman đã công bố một hợp đồng 189 triệu USD để đảm bảo an ninh cho các mạng của quân đội và tình báo Mỹ. Nó sẽ triển khai Hệ thống An ninh Dựa vào máy chủ Đặt chỗ - Host (HBSS), là phần mềm của Lầu 5 góc canh phòng cho các máy tính khỏi những mối đe dọa từ bên trong và bên ngoài, theo một thông cáo báo chí.
Sau ngày báo cáo của Northrop Grumman được phát hành, hôm 08/03, nó đã ký một hợp đồng tương tự để đảm bảo an ninh cho các mạng của NATO - mà NATO nói sẽ xúc tác “cho việc vận hành Khả năng Ứng cứu Sự cố Máy tính của NATO (NCIRC) để đạt được khả năng vận hành đầy đủ vào cuối năm 2012”.
Amid widespread cuts to military spending, Gabriel announced that DARPA was increasing funding for cyberresearch by 8 percent this year and 12 percent next year. This ties back to a November statement where DARPA announced a 50 percent increase in cyberspending over the next 5 years.
To do this, they plan to “spend much less on energy and autonomous systems,” states a DARPA press release.
DARPA director Regina E. Dugan stated May 12 that the risks posed by cyber-attacks are “not merely an existential threat to our bits and bytes,” but rather, “They are a real threat to our physical systems, including our military systems.”
Her statement came just several days after arms developer Northrop Grumman released a 136-page report on the Chinese regime’s cybercapabilities for warfare and espionage.
Given that a key problem with cyberwar comes up when tracing the source of an attack, part of the report is dedicated to how the Chinese regime’s use of cyber-attacks for espionage differ from common cybercrime. Part of this states that the scale, focus, and complexity of Chinese cyber-attacks “reveals a degree of financial, staffing, and analytic resources that exceed what even the largest organized cybercriminal operations could likely manage for even short periods of time.”
The report concludes that the Chinese military ‘is pursuing the means to seize and occupy the ‘information high ground’ in the modern battlespace by employing these concepts and new technologies to exert control over information and information systems.”
Coinciding with the release of this report, the day before its release, on March 6, Northrop Grumman announced a $189 million contract to secure U.S. military and intelligence networks. It will be deploying the Host Based Security System (HBSS), which is the Pentagon’s software that guards its computers from internal and external threats, according to a press release.
The day after the Northrop Grumman report was released, on March 8, it signed a similar contract to secure NATO’s networks—which NATO states will enable its “already operating NATO Computer Incident Response Capability (NCIRC) to achieve full operational capability by the end of 2012.”
Hợp đồng 58 triệu euro (khoảng 75.5 triệu USD) là lớn nhất mà NATO từ trước tới nay từng làm về phòng thủ KGM, theo tuyên bố của NATO.
Hôm 09/03, Ủy ban Thương mại, Khoa học và Giao thông của Thượng viện đã công bố họ vẫn thúc đẩy Luật về an ninh KGM 2012, nghĩa là để bảo vệ các công ty Mỹ chống lại các cuộc tấn công KGM và gián điệp KGM.
Dự luật được gắn nhãn, một phần, như một sự canh gác chống lại gián điệp tập đoàn, nhưng căng ra hơn so với việc nhằm vào để canh gác cho hầu hết các hạ tầng sống còn của quốc gia khỏi các cuộc tấn công KGM.
Ăn cắp các bí mật
Bây giờ, huyết mạch tài chính của một đất nước được xem như một trong những “hạ tầng sống còn” mà chúng ta nghe quá nhiều khi quân đội thảo luận về những mối đe dọa của chiến tranh KGM (bổ sung thêm vào lưới năng lượng và các yếu tố chính khác giữ cho đất nước chạy).
Đây là mẩu thứ 3 của một nỗ lực rà quét hướng tới việc đảm bảo an ninh cho các mạng quốc gia. Những nỗ lực khác đang đảm bảo an ninh cho các mạng của chính phủ và quân đội, nhưng các mạng doanh nghiệp là bên ngoài điều này, và khu vực doanh nghiệp từng là một mục tiêu chung của các tin tặc Trung Quốc - bao gồm chiến dịch Aurora chống lại Google, và chiến dịch Con rồng đêm để gián điệp các doanh nghiệp.
Một thư ngỏ từ Bộ trưởng Thương mại John Bryson nói rằng trong 5 năm qua, “một đội vận hành tinh vi cao đã thâm nhập lén lút vào hơn 70 tập đoàn và tổ chức của Mỹ để ăn cắp các bí mật vô giá của các công ty”.
“Tổng cộng, ăn cắp sở hữu này, bao gồm mọi thứ từ công nghệ phòng thủ nhạy cảm cho tới các thiết kế công nghiệp đổi mới, âm thầm làm xói mòn ưu thế cạnh tranh của các tập đoàn và chính phủ giữa các đối tác ngang hàng toàn cầu”, Bryson nói.
Trong bài phát biểu hôm 13/03, giám đốc DARPA Dugan một lần nữa đã dấy lên vấn đề về an ninh KGM, lưu ý rằng trong khi các mạng của Lầu 5 góc an toàn hơn trước, thì các hệ thống hiện hành là “không hội tụ với một mối đe dọa đang tiến hóa”.
Điều này đã được đưa vào trong một thông cáo báo chí của DARPA, nói rằng: “Mỹ sẽ không phổ biến chống lại những mối đe dọa đó bằng việc mở rộng phạm vi các tiếp cận hiện hành”.
Theo Dugan, “về phòng thủ KGM, sự tin tưởng chắc chắn của chúng tôi rằng Bộ Quốc phòng, quả thực quốc gia, đang ở vào một thời điểm biến tố... Để phù hợp, Bộ Quốc phòng cần các công cụ KGM phù hợp theo sự đa dạng về hiệu quả và phạm vi, giải quyết được cho phạm vi thời gian khác nhau và các mục tiêu mới hoàn toàn. Nó sẽ đòi hỏi sự tích hợp chiến tranh điện tử và KGM ở các mức độ chưa từng có”.
The 58 million euro (approx. $75.5 million) contract is the largest NATO has ever made toward cyberdefense, according to a NATO statement.
On March 9, the Senate Committee on Commerce, Science, and Transportation announced they were still pushing for the Cybersecurity Act of 2012, meant to guard U.S. companies against cyber-attacks and cyber-espionage.
The bill is branded, in part, as a guard against corporate espionage, but stretches further than that—aiming to guard the nation’s most critical infrastructures from cyber-attacks.
Stealing Secrets
Now, the financial lifeblood of a country is regarded as one of the “critical infrastructures” we hear so much about when the military discusses threats of cyberwar (in addition to the energy grid and other key elements that keep a country running).
This is the third piece of a sweeping effort toward securing the nation’s networks. Other efforts are securing government and military networks, but business networks are outside of this, and the business sector has been a common target by Chinese hackers—including Operation Aurora against Google, and its Operation Night Dragon campaign for business espionage.
An open letter from Commerce Secretary John Bryson states that over the last 5 years, “a highly sophisticated team of operatives have stealthily infiltrated more than 70 U.S. corporations and organizations to steal priceless company secrets.”
“In the aggregate, the theft of this property, including everything from sensitive defense technology to innovative industrial designs, insidiously erodes government and corporate competitive advantages among global peers,” Bryson states.
In a March 13 speech, DARPA director Dugan again raised the issue of cybersecurity, noting that while Pentagon networks are safer than before, current systems are “not convergent with an evolving threat.”
This was included in a DARPA press release that states: “The U.S. will not prevail against these threats simply by scaling current approaches.”
According to Dugan, “With respect to cyber-offense, it is our firm belief that the Department [of Defense], indeed the nation, is at an inflection point … To be relevant, the DoD needs cybertools that are matched in diversity of effect and scale, address different timescales and entirely new targets. It will require the integration of cyber- and electronic warfare at unprecedented levels.”
Dịch: Lê Trung Nghĩa