Thứ Hai, 7 tháng 5, 2018

Chính sách tài nguyên giáo dục mở (OER) của bang RHODE ISLAND, nước Mỹ

Các chính sách hiện hành:
Sáng kiến Sách giáo khoa Mở của Rhode Island (2016): Vào ngày 27/09/2016, Thống đốc Gina Raimondo đã công bố Sáng kiến Sách giáo khoa Mở rộng khắp bang thách thức các cơ sở giáo dục đại học của Rhode Island giảm các chi phí đại học bằng việc tiết kiệm cho các sinh viên 5 triệu USD qua 5 năm bằng việc sử dụng các sách giáo khoa được cấp phép mở. Văn phòng Cách tân Rhode Island điều phối Sáng kiến Sách giáo khoa Mở trong đối tác với Thư viện Adams của Cao đẳng Rhode Island và Đại học Roger Williams và với sự hỗ trợ từ các đối tác bên ngoài. Việc cấp vốn cho các trợ cấp nhỏ được Văn phòng Ủy viên hội đồng Sau trung học của Rhode Island và Văn phòng Cách tân cung cấp. Lưu ý: Chưa cơ quan lập pháp nào có liên quan với sáng kiến này.
Existing Policies:
  • Rhode Island Open Textbook Initiative (2016): On September 27th 2016, Governor Gina Raimondo announced a statewide Open Textbook Initiative challenging Rhode Island’s higher education institutions to reduce college costs by saving students $5 million over five years using open licensed textbooks. The Rhode Island Office of Innovation coordinates the Open Textbook Initiative in partnership with Rhode Island College’s Adams Library and Roger Williams University and with support from external partners. Funding for micro-grants is provided by Rhode Island Office of the Postsecondary Commissioner and the Office of Innovation. Note: No legislation is associated with this initiative.

Chủ Nhật, 6 tháng 5, 2018

Chính sách tài nguyên giáo dục mở (OER) của bang PENNSYLVANIA, nước Mỹ

Hoạt động năm 2018:
  • HB 712 (chuyển từ 2017 sang): Cung cấp tính sẵn sàng các tài nguyên điện tử trong các cơ sở giáo dục đại học: Dự luật này yêu cầu không muộn hơn 01/01/2020, bất kỳ thực thể nào xuất bản các sách giáo khoa được chào bán trong một cơ sở giáo dục đại học sẽ phải làm cho các sách giáo khoa đó sẵn sàng, toàn bộ hoặc một phần, để bán ở định dạng điện tử. Phiên bản điện tử của bất kỳ sách giáo khoa nào cũng sẽ có nội dung y hệt phiên bản in và có thể được bảo vệ chống sao chép. Hành động mới nhất: Quy cho Giáo dục ngày 06/03/2017.
2018 Activity:
  • HB 712 (carried over from 2017): Providing for Availability of Electronic Resources at Institutions of Higher Education: This bill requires that no later than Jan. 1, 2020, any entity that publishes textbooks offered for sale at an institution of higher education shall make the textbooks available, in whole or in part, for sale in electronic format. The electronic version of any textbook shall contain the same content as the printed version and may be copy-protected. Last Action: referred to Education 3/6/17.



Thứ Bảy, 5 tháng 5, 2018

Chính sách tài nguyên giáo dục mở (OER) của bang OREGON, nước Mỹ

Các chính sách hiện hành:
  • HB 2729 (2017): yêu cầu Ủy ban Điều phối Giáo dục Đại học làm việc thường xuyên với các trường đại học và cao đẳng cộng đồng để phân tích và đánh giá tính hiệu quả của các tài nguyên giáo dục mở được áp dụng trước đó và gia tăng số lượng tài nguyên giáo dục mở được sử dụng trong các khóa học.
  • HB 2871 (2015): đã thiết lập chương trình trợ cấp tài nguyên giáo dục mở trong Ủy ban Điều phối Giáo dục Đại học để khuyến khích sử dụng các tài nguyên giáo dục mở không mất chi phí hoặc chi phí thấp trong các cơ sở giáo dục sau trung học của Oregon. Nó cũng đã yêu cầu đại học công lập và cao đẳng cộng đồng phải chỉ định rõ ràng các khóa học với các tư liệu khóa học hoàn toàn gồm các sách giáo khoa tự do hoặc các tư liệu khác có chi phí thấp hoặc không mất chi phí.
Existing Policies:
  • HB 2729 (2017): requires the Higher Education Coordinating Commission to work regularly with public universities and community colleges to analyze and evaluate effectiveness of previously adopted open educational resources and to increase number of open educational resources used in courses.
  • HB 2871 (2015): established an open educational resources grant program within the Higher Education Coordinating Commission to encourage the use of low or no-cost open educational resources in Oregon’s post-secondary institutions of education. It also required that each public university and community college must prominently designate courses whose course materials exclusively consist of open or free textbooks or other low-cost or no-cost course materials.

Thứ Sáu, 4 tháng 5, 2018

Kỹ năng và năng lực cho khoa học mở: Thách thức và gợi ý cho Việt Nam

(Bài viết được đăng trên tạp chí Tia Sáng, bản điện tử trên trực tuyến xuất bản ngày 30/04/2018 tại địa chỉ: http://tiasang.com.vn/-khoa-hoc-cong-nghe/Ky-nang-va-nang-luc-cho-khoa-hoc-mo-Thach-thuc-va-goi-y-cho-Viet-Nam-12350)
---------------------------------------------------------
Ngày nay, khoa học mở không còn là khái niệm trừu tượng chỉ mang tính lý thuyết nữa, mà nó đang và sẽ trở thành dòng chính thống từ nay trở đi, nhất là sau cuộc họp của các bộ trưởng khoa học các nước G7 tại Turin, nước Ý, ngày 28/09/2017 gồm Canada, Pháp, Đức, Ý, Nhật, Anh và Mỹ cùng với Ủy viên châu Âu về Nghiên cứu, Khoa học và Cách tân, nơi các bên tham gia đã ra thông cáo chung1 thừa nhận, khẳng định và ủng hộ việc ứng dụng và phát triển khoa học mở trong thời gian tới.
Gần một tháng sau sự kiện trên, ngày 26/10/2017, Ủy ban châu Âu - EC (European Commission) đã ra ‘Tuyên bố Đám mây Khoa học Mở châu Âu‘, gọi tắt là Tuyên bố EOSC (European Open Science Cloud), mở ra các cơ hội mới về nghiên cứu và cách tân trong khoa học không chỉ dành riêng cho các nhà khoa học của châu Âu, mà toàn thế giới. Tuyên bố EOSC khẳng định sẽ hiện thực hóa EOSC tới năm 2020 và sẽ làm cho tất cả các dữ liệu nghiên cứu khoa học sử dụng tiền từ khu vực nhà nước sẽ ‘mở mặc định’ theo các nguyên tắc: tìm thấy được, truy cập được, tương hợp được và sử dụng lại được - FAIR (Findable, Accessible, Interoperable, Reusable).
Để có thể hiện thực hóa được EOSC, EC đã ban hành hàng loạt các tài liệu chỉ dẫn, một trong số đó là tài liệu ‘Cung cấp cho các nhà nghiên cứu các kỹ năng và năng lực họ cần để thực hành khoa học mở’, được EC xuất bản vào tháng 7/2017, nó liệt kê các kỹ năng đặc thù các nhà nghiên cứu cần có để làm khoa học mở và đưa ra các khuyến cáo chính sách cho các bên tham gia đóng góp ở mức châu Âu, quốc gia, và cơ sở để nâng cao nhận thức, huấn luyện, hỗ trợ, và khuyến khích các nhà nghiên cứu đi theo khoa học mở.
Trước khi đi sâu hơn vào các kỹ năng đặc thù cho khoa học mở, cần thiết để nêu định nghĩa khoa học mở là gì.
Định nghĩa khoa học mở
EC định nghĩa khoa học mở như sau2:
Khoa học Mở đại diện cho tiếp cận nghiên cứu có tính cộng tác, minh bạch, và truy cập được. Một dải rộng lớn các hoạt động tới dưới cái ô Khoa học Mở, bao gồm xuất bản Truy cập Mở, Dữ liệu Mở, Sổ ghi chép Mở, Rà soát lại Ngang hàng Mở, và Giáo dục Mở. Nó cũng bao gồm cả khoa học công dân, nơi những người không phải là các chuyên gia tham gia trực tiếp vào nghiên cứu. Khoa học Mở đi cùng với liêm chính nghiên cứu, và đòi hỏi nhận thức về pháp lý và đạo đức từ phía các nhà nghiên cứu. Động lực cho Khoa học Mở là phong trào nghiên cứu và thẩm định nghiên cứu minh bạch cũng như quyền sở hữu nhà nước của khoa học, đặc biệt là nghiên cứu được nhà nước cấp vốn.
Định nghĩa ở trên cho chúng ta thấy khoa học mở không chỉ đi với các kỹ năng mang tính kỹ thuật công nghệ, mà còn cả các kỹ năng về đạo đức từ phía các nhà nghiên cứu.
Hình 1. Bánh xe Khoa học Mở, mô tả các đặc tính và chỉ số chính của Khoa học Mở3, nhấn mạnh đặc biệt và trước nhất vào Truy cập Mở và Dữ liệu Mở

Các kỹ năng đặc thù khoa học mở khái quát chung hiện trạng ở Việt Nam
Để có thể thực hành khoa học mở, huấn luyện và phát triển các kỹ năng khoa học mở là quan trọng và không thể thiếu.
Phù hợp với các đặc tính và chỉ số của Khoa học Mở được ưu tiên nhấn mạnh trước nhất theo Hình 1 ở trên, các kỹ năng Khoa học Mở của các nhà nghiên cứu có thể được chia thành 4 chủng loại lớn sau:
  • Các kỹ năng và sự tinh thông cần thiết cho xuất bản truy cập mở.
Ở Việt Nam hiện nay khái niệm và các hoạt động liên quan tới truy cập mở tới các xuất bản phẩm hay xuất bản truy cập mở là chưa tồn tại.
  • Các kỹ năng và sự tinh thông về dữ liệu nghiên cứu, sản xuất, quản lý, phân tích/ sử dụng/ sử dụng lại, phổ biến dữ liệu và thay đổi hệ biến hóa từ “dữ liệu được bảo vệ mặc định” sang “dữ liệu mở mặc định”, trong khi vẫn tôn trọng các ràng buộc pháp lý và khác.
Ở Việt Nam hiện nay chưa ở đâu có dữ liệu mở theo đúng định nghĩa như ở các quốc gia tiên tiến như châu Âu và Mỹ đang thực hành, lại càng không thể có nguyên tắc “dữ liệu mở mặc định” trong các nghiên cứu được nhà nước cấp vốn như chính sách EC đã nêu trong xây dựng và triển khai EOSC. Trong khi dữ liệu mở châu Âu được định hình theo các nguyên tắc tìm thấy được, truy cập được, tương hợp được và sử dụng lại được - FAIR (Findable, Accessible, Interoperable, Reusable), thì dữ liệu mở ở Việt Nam còn chưa tồn tại, kể cả với các dữ liệu được cho là ‘mở’, nằm trong vùng được gắn nhãn ‘Dữ liệu mở’ trên trang chủ của Hệ tri thức Việt Số hóa (xem https://dulieu.itrithuc.vn/).
  • Các kỹ năng và sự tinh thông để hành động trong và ngoài cộng đồng hàn lâm và ngành nghề của riêng mình, bao gồm: (1) Các kỹ năng quản lý nghiên cứu; (2) Các kỹ năng pháp lý; (3) Các kỹ năng liêm chính nghiên cứu và đạo đức nghiên cứu.
Các cơ sở giáo dục đại học và sau đại học của Việt Nam chắc chắn có cung cấp các kỹ năng như được nêu ở đây, dù nhiều khả năng là chưa phù hợp với khoa học mở, nhất là các kỹ năng pháp lý - khi có liên quan tới các vấn đề cấp phép mở cho các xuất bản phẩm và các dữ liệu nghiên cứu để chúng trở thành các xuất bản phẩm truy cập mở và các dữ liệu mở đúng.
  • Các kỹ năng và sự tinh thông là kết quả từ khái niệm chung và rộng về khoa học công dân, nơi các nhà nghiên cứu tương tác với công chúng nói chung để cải thiện tác động của khoa học và nghiên cứu.
Khái niệm khoa học công dân có lẽ cũng là rất mới đối với Việt Nam và nếu bạn tìm kiếm cụm từ ‘khoa học công dân’ thì hầu như sẽ không có kết quả nào được trả về, kể cả trên trang chủ của Bộ Khoa học và Công nghệ.


Điểm mấu chốt
Trên thực tế, ở châu Âu, các kỹ năng khoa học mở không chỉ được đào tạo trong giới hàn lâm mà còn mở rộng sang nhiều đối tượng khác nữa bao gồm những người làm chính sách, các nhà xuất bản, các doanh nghiệp ở mọi quy mô từ các công ty khởi nghiệp cho đến các tập đoàn thông qua các hội thảo chuyên đề, các tài liệu khuyến cáo hoặc các webinar trên mạng. Những đối tượng này được gọi là “các bên tham gia đóng góp cho khoa học mở và các thành phần của nó”. Hơn thế nữa, việc huấn luyện các kỹ năng khoa học mở được khuyến cáo đưa vào trong chương trình giáo dục từ sớm, không chỉ ở trình độ đại học và sau đại học mà còn ngay ở cấp phổ thông trung học4.
Hình 2: Các bên tham gia đóng góp cho nghiên cứu và cách tân cung cấp huấn luyện về các kỹ năng Khoa học Mở (dữ liệu có nguồn gốc từ SPARC Europe).

Cách tiếp cận và thực hành của khoa học truyền thống và khoa học mở trong từng thành phần của chúng là rất khác nhau, đôi khi ngược chiều nhau, ví dụ như:
  • dữ liệu nghiên cứu chuyển từ “dữ liệu được bảo vệ mặc định” sang “dữ liệu mở mặc định”, trong khi vẫn tôn trọng các ràng buộc pháp lý và khác như được nêu ở trên; hay
  • truy cập mở tới các xuất bản phẩm làm cho hệ thống truyền thông nghiên cứu chuyển từ chế độ người sử dụng trả tiền để được truy cập tới các xuất bản phẩm nghiên cứu sang chế độ tác giả trả tiền để được xuất bản các kết quả nghiên cứu của chính họ.
Chính sự khác biệt rất lớn và đôi khi ngược chiều nhau này giữa tiếp cận và thực hành khoa học truyền thống và khoa học mở đòi hỏi sự chuyển đổi lớn, tận gốc cách tư duy và thực hành khoa học và để vượt qua được thói quen vốn có từ nhiều thế kỷ nay trong tiếp cận và thực hành khoa học truyền thống sang khoa học mở. Đây là sự chuyển đổi không hề dễ dàng, nếu không nói là vô cùng khó khăn, vì nó liên quan tới sự thay đổi lớn của tất cả các bên tham gia đóng góp cho khoa học mở và từng thành phần của nó trong nhiều vấn đề, chỉ nêu ví dụ một vài vấn đề như trong các mô hình vận hành, mô hình tạo lập - phát triển, mô hình cấp phép, mô hình kinh doanh, và tới lượt nó, cần có sự điều phối, phối hợp để hài hòa hóa và tránh các xung đột lợi ích giữa tất cả các bên tham gia đóng góp đó.
Chắc chắn việc nói ‘hài hòa hóa lợi ích của tất cả các bên tham gia đóng góp cho khoa học mở và các thành phần của nó’ là dễ hơn rất nhiều lần so với việc hiện thực hóa nó, hay nói theo một cách dân dã, là nói luôn dễ hơn làm, biết rằng, nếu không có sự điều phối và/hoặc phối hợp, thì một cách tự nhiên, từng bên sẽ tối đa hóa lợi ích của mình mà không cần quan tâm tới lợi ích của các bên khác, và hệ quả là sự chuyển đổi từ khoa học truyền thống sang khoa học mở sẽ không bao giờ có cơ hội xảy ra.
Trên thực tế, sẽ không có bất kỳ cơ sở giáo dục nào ở bất kỳ cấp học nào, đặc biệt là các cơ sở giáo dục công lập, có thể mạo hiểm tiến hành các khóa huấn luyện đào tạo cho các đối tượng của khoa học mở khi chưa có chính sách chung về khoa học mở và các thành phần cơ bản của nó ở các mức cần thiết như chính phủ, tỉnh - bộ - ngành và cơ sở vì các lý do, như ở trên đã nêu, sự khác biệt quá lớn, đôi khi trái ngược nhau giữa khoa học truyền thống và khoa học mở, đồng nghĩa là hệ thống chính sách hiện hành với hệ thống chính sách cho khoa học mở, nếu có, chắc chắn sẽ có nhiều điểm khác nhau, đôi khi sẽ là trái ngược nhau hoàn toàn. Vì vậy, việc triển khai các hoạt động huấn luyện và giáo dục đào tạo các kỹ năng và năng lực cho khoa học mở chắc chắn sẽ có nhiều điều trái ngược hoàn toàn với các chính sách hiện hành, điều mà sẽ không có cơ sở giáo dục nào dám mạo hiểm để tiến hành khi chưa có các chính sách ở các mức cần thiết cho khoa học mở và các thành phần cơ bản của nó.


Vài gợi ý cho việc đáp ứng các kỹ năng và năng lực của khoa học mở
Khoa học mở là vấn đề lớn, liên ngành, liên lĩnh vực, và trong điều kiện của Việt Nam thì nó là vấn đề của liên bộ, như đã được trình bày trong bài ‘Giáo dục mở ở Việt Nam: Thách thức và giải pháp’. Vì vậy để có thể có được chính sách và sự điều phối các hoạt động của khoa học mở được tốt, bao gồm cả các hoạt động huấn luyện đào tạo để đáp ứng các kỹ năng và năng lực của khoa học mở, cần thiết và cấp bách:
  1. Thành lập Ban Chỉ đạo Quốc gia về Khoa học mở do Thủ tướng hoặc Phó Thủ tướng đứng đầu với các đại diện của các bộ – ngành và các bên khác có liên quan.
  2. Xây dựng đường lối chính sách chung cho khoa học mở với tầm nhìn dài hạn và quyết tâm cao độ, chứ không phải là chính sách đẽo cày giữa đường hoặc chính sách dù có nhưng không triển khai thực hiện vì không có chế tài nếu không triển khai thực hiện nó, điều đã từng xảy ra trong thời gian nhiều năm qua với các chính sách về công nghệ thông tin có liên quan tới ứng dụng và phát triển phần mềm nguồn mở trong các cơ quan nhà nước, cùng với lộ trình các giai đoạn triển khai càng cụ thể càng tốt và được cập nhật thường xuyên qua thời gian.
  3. Điều phối và xây dựng chính sách truy cập mở ở mức Chính phủ và khuyến khích xây dựng chính sách truy cập mở ở các mức tỉnh - bộ - ngành, cơ sở giáo dục và các viện nghiên cứu dựa vào sự đồng thuận của các bên tham gia đóng góp. Chính sách truy cập mở nên được xây dựng trước một bước hoặc, tối thiểu, được xây dựng cùng với chính sách dữ liệu mở và/hoặc tài nguyên giáo dục mở. Lý do cho điều này là bất kỳ tài nguyên giáo dục mở hay dữ liệu mở nào, trước hết, cũng là tài nguyên truy cập mở, và truy cập mở tới các xuất bản phẩm/dữ liệu có liên quan tới nhiều bên tham gia đóng góp.
  4. Trên cơ sở các chính sách về khoa học mở, truy cập mở, dữ liệu mở và/hoặc tài nguyên giáo dục mở ở các mức giáo dục thích hợp tương ứng, các cơ sở giáo dục ở các mức tướng ứng đó sẽ xây dựng các tài nguyên cần thiết, ưu tiên là các tài nguyên giáo dục mở, để cung cấp cho các nhà nghiên cứu, cả thế hệ hiện hành và trong tương lai, các kỹ năng và năng lực họ cần để thực hành khoa học mở. Khi cung cấp các kỹ năng và năng lực cần thiết cho các đối tượng của khoa học mở, luôn ưu tiên tiến hành trước hết và triệt để, không bỏ sót, trong tất cả các cơ sở giáo dục thuộc khối sư phạm.
  5. Loại bỏ hoàn toàn và vô điều kiện việc giáo dục công nghệ thông tin chỉ phụ thuộc vào một nhà cung cấp độc quyền duy nhất từ bậc tiểu học.
Còn quá sớm để nói tới một chiến dịch phát động các cơ sở giáo dục trong cả nước tiến hành huấn luyện đào tạo các kỹ năng và năng lực khoa học mở cho các đối tượng cần có nó khi chưa có chính sách khoa học mở và các thành phần cơ bản của nó ở các mức cần thiết với các chế tài cứng rắn và quyết liệt, đặc biệt là chính sách ở mức Chính phủ.
Giấy phép: CC BY 4.0 Quốc tế
--------------------------------------
1. Thông cáo của các bộ trưởng khoa học các nước G7, https://www.dropbox.com/s/ywum8nfcgw7c6jz/G7%20Science%20Communiqu%C3%A9_Vi_25022018.pdf?dl=0, các mục số 19 và 20
2. Cung cấp cho các nhà nghiên cứu các kỹ năng và năng lực họ cần để thực hành khoa học mở, https://www.dropbox.com/s/qc0cfjd80ipmvnx/os_skills_wgreport_final_Vi_01032018.pdf?dl=0, trang 8
4. Cung cấp cho các nhà nghiên cứu các kỹ năng và năng lực họ cần để thực hành khoa học mở, https://www.dropbox.com/s/qc0cfjd80ipmvnx/os_skills_wgreport_final_Vi_01032018.pdf?dl=0, trang 13


Lê Trung Nghĩa

Thứ Năm, 3 tháng 5, 2018

Chính sách tài nguyên giáo dục mở (OER) của bang OHIO, nước Mỹ

Các chính sách hiện hành:
  • HB 49 (2017): yêu cầu không muộn hơn 30/06/2018, tất cả các cơ sở giáo dục đại học của bang nằm trong cùng vùng của bang sẽ tham gia vào thỏa thuận cung cấp để tạo lập một khế ước. Khế ước này, trong số những điều khác, sẽ xác định, phát triển, và triển khai các tài nguyên chương trình giảng dạy được chia sẻ để thúc đẩy các con đường giáo dục làm giảm thiểu thời gian được yêu cầu để có được trình độ. Điều này có thể bao gồm chương trình giảng dạy được phân phối bằng việc sử dụng tài nguyên giáo dục mở và các định dạng trên trực tuyến.
Existing Policies:
  • HB 49 (2017): requires that no later than June 30, 2018, all state institutions of higher education that are located in the same region of the state to enter into an agreement providing for the creation of a compact. This compact, among other things, shall identify, develop, and implement shared curriculum resources to promote educational pathways that minimize the time required to earn a degree. This may include curriculum delivered using open educational resources and online formats.

Thứ Tư, 2 tháng 5, 2018

Chính sách tài nguyên giáo dục mở (OER) của bang NORTH DAKOTA, nước Mỹ


Các chính sách hiện hành:
  • HB 1358 (2017): Dự luật này yêu cầu quản lý lập pháp cân nhắc nghiên cứu sử dụng tài nguyên giáo dục mở trong hệ thống trường tiểu học và trung học. Nghiên cứu đó phải gồm phân tích tiết kiệm chi phí tiềm tàng cho các khu trường học và phòng chỉ dẫn công lập, tính sẵn sàng của các đối tác khu vực tư nhân để trợ giúp trong phát triển, áp dụng, triển khai, và cấp vốn cho tài nguyên giáo dục mở, và các bước cần thiết để thiết lập North Dakota như là một bang #GoOpen với Bộ Giáo dục Mỹ.
  • HR 1003 (2015): Luật sẽ cung cấp phân bổ để thanh toán cho các chi tiêu của hệ thống đại học của North Dakota. Gồm sự phân bổ 1 lần 110.000 USD cho huấn luyện tài nguyên giáo dục mở cho 2 năm 2015-2017.
  • HCR 3009 (2013): Nghị quyết đồng thời chỉ thị cho Quản lý Lập pháp nghiên cứu sử dụng các sách giáo khoa mở trong Hệ thống Đại học của North Dakota, bao gồm các lựa chọn để phát triển các đối tác với các bang khác để sử dụng sách giáo khoa mở.
  • HCR 3013 (2013): Nghị quyết đồng thời thúc giục Ban lãnh đạo Giáo dục Đại học của Bang và các thành viên giảng viên của các cơ sở trong Hệ thống Đại học của North Dakota gia tăng sử dụng các sách giáo khoa mở cho các khóa học hàn lâm để giảm thiểu gánh nặng tài chính cho các sinh viên giáo dục đại học.
Existing Policies:
  • HB 1358 (2017): This bill requires the legislative management to consider studying the use of open educational resources in the elementary and secondary school system. The study must include an analysis of potential cost savings for school districts and the department of public instruction, the availability of private sector partnerships to aid in the development, adoption, implementation, and funding of open educational resources, and the steps necessary to establish ND as a #GoOpen state with the USED.
  • HR 1003 (2015): An act to provide appropriation for defraying the expenses of the North Dakota university system. Includes a one time appropriation for $110,000 for open education resource training for the 2015-2017 biennium.
  • HCR 3009 (2013): A concurrent resolution directing the Legislative Management to study the use of open textbooks in the North Dakota University System, including options to develop partnerships with other states to use open textbooks.
  • HCR 3013 (2013): A concurrent resolution urging the State Board of Higher Education and faculty members of North Dakota University System institutions to increase the use of open textbooks for academic courses in order to reduce the financial burden to higher education students.

Thứ Ba, 1 tháng 5, 2018

Chính sách tài nguyên giáo dục mở (OER) của bang NEW YORK, nước Mỹ


Hoạt động năm 2018:
  • S 6608 (mang từ 2017 sang): Giảm chi phí các sách giáo khoa và các tư liệu khóa học cho sinh viên các cơ sở giáo dục đại học bằng việc yêu cầu từng cơ sở giáo dục đại học áp dụng các chính sách cho phép sử dụng các kỹ thuật định giá có tính cách tân và các lựa chọn thanh toán các sách giáo khoa, các tư liệu bổ sung, và các tư liệu hoặc sách giáo khoa khóa học khác. Hành động mới nhất: Được giới thiệu, được quy cho Giáo dục vào 07/03/2018.
  • A 40 (mang từ 2017 sang): ủy quyền cho những người được ủy quyền của đại học bang New York thành lập ban lãnh đạo rà soát lại hàn lâm để rà soát lại tất cả các sách giáo khoa được bán, mua, hoặc đã qua sử dụng cho các mục đích hàn lâm ở tất cả các khu trường đại học bang New York - mục tiêu là để phục vụ như là giao diện giữa giới công nghiệp xuất bản và quản lý của các cửa hàng sách độc lập và khai thác vấn đề chi phí sách giáo khoa trong tất cả các khu trường. Hành động mới nhất: quy cho Ủy ban Giáo dục Đại học ngày 03/01/2018.
  • A 1685 (chuyển từ 2017 sang): cấp vốn cho các thư viện, bao gồm cả thư viện điện tử ảo trên trực tuyến của New York. Các vốn cấp sẽ được làm sẵn sàng để tăng cường cho các dịch vụ thư viện rộng khắp bang hỗ trợ phát triển và duy trì thư viện số rộng khắp bang và truy cập điện tử tới thông tin. Hơn nữa, việc cấp vốn cũng sẵn sàng để thiết lập chương trình truy cập rộng khắp bang tới các thông tin điện tử của các trường cao đẳng và đại học công lập và độc lập không vì lợi nhuận với các thư viện. Hành động mới nhất: được quy cho Ủy ban Công nghệ các Thư viện và Giáo dục ngày 03/01/2018.
  • A 5899 (chuyển từ 2017 sang): ủy quyền cho các thành viên hội đồng quản trị để tạo ra đội đặc nhiệm để rà soát lại vấn đề chi phí sách giáo khoa và các cách thức để cải thiện vai trò hàn lâm và sự phân phối các tư liệu khóa học, bao gồm cả xem xét các sách giáo khoa đã qua sử dụng, thuê sách giáo khoa, các tư liệu tùy biến, sử dụng các sách giáo khoa truy cập mở, các sách giáo khoa số, in theo các công nghệ theo yêu cầu, và thông qua sự cộng tác lớn hơn giữa các cửa hàng sách và các thư viện của các trường đại học. Hành động mới nhất: Quy cho Ủy ban Giáo dục Đại học ngày 17/02/2018. Dự luật này là chết.
  • A 7221/S 2444 (chuyển từ 2017 sang): yêu cầu Ban lãnh đạo của những người tin cậy được của Đại học Bang New York và Đại học Thành phố New York tiến hành nghiên cứu và báo cáo chung về tính sẵn sàng và khả năng truy cập các tài nguyên khóa học lựa chọn thay thế với chi phí thấp hơn, chất lượng cao thay cho các sách giáo khoa truyền thống, điều có thể bao gồm các tài nguyên giáo dục mở, các sách giáo khoa trên trực tuyến và các tư liệu giáo dục có liên quan khác. Hành động mới nhất: Quy cho Ủy ban Giáo dục Đại học ngày 03/01/2018.
  • A 8296 (chuyển từ 2017 sang): thành lập hội đồng tài nguyên giáo dục mở bang New York và thư viện số nguồn mở bang New York. Mục đích của dự luật này là để khuyến khích các giảng viên tăng tốc áp dụng các tài nguyên giáo dục mở chi phí thấp hơn, chất lượng cao. Điều này có thể ủy quyền cho các khu trường và các trường cao đẳng cộng đồng áp dụng chương trình ưu đãi áp dụng tài nguyên giáo dục mở cho các kế hoạch của khu trường và đệ đơn xin các trợ cấp triển khai các kế hoạch như vậy. Hành động mới nhất: Quy cho Ủy ban Giáo dục Đại học ngày 03/01/2018.
  • A 9088: Dự luật này ủy quyền cho các thành viên hội đồng quản trị để rà soát lại vấn đề chi phí sách giáo khoa và các cách thức để cải thiện vài trò hàn lâm và phân phối các tư liệu khóa học, và đảm bảo sự kham được của sinh viên qua các tiếp cận như các cuốn sách đã qua sử dụng, thuê sách giáo khoa, các tư liệu tùy biến, và sử dụng các sách giáo khoa truy cập mở, các sách giáo khoa số, các công nghệ in theo nhu cầu, và thông qua sự cộng tác giữa các giảng viên, các nhà xuất bản, các cửa hàng sách của các trường cao đẳng, và các thư viện. Hành động mới nhất: Quy cho Ủy ban Giáo dục Đại học ngày 18/01/2018.
Các chính sách hiện hành:
  • FY 2018 State Budget (2017): Ngân sách gồm khoản đầu tư 8 triệu USD để cung cấp tài nguyên giáo dục mở, gồm các sách điện tử, cho các sinh viên ở các trường cao đẳng và đại học bang New York (CUNY và SUNY). Theo đường hướng này, CUNY và SUNY sẽ sử dụng vốn cấp này để nhằm vào các khóa học có tuyển sinh cao, bao gồm cả giáo dục chung, để tối đa hóa tiết kiệm của sinh viên.
2018 Activity:
  • S 6608 (carried over from 2017): Reduces the cost of textbooks and course materials for students of institutions of higher education by requiring every institution of higher education to adopt policies that allow the use of innovative pricing techniques and payment options for textbooks, supplemental materials, and other course materials or textbooks. Last Action: Introduced, referred to Education on 3/7/18.
  • A 40 (carried over from 2017): authorizes the trustees of the state university of New York to create an academic review board for the review of all textbooks sold, purchased, or used for academic purposes on all state university of New York Campuses – the goal is to serve as an interface between the publishing industry and the management of the independent bookstores and to explore the issue of textbook costs on all campuses. Last Action: referred to Higher Education Committee 1/3/18.
  • A 1685 (carried over from 2017): funds libraries, including the New York online virtual electronic library. Funds shall be made available for strengthening the statewide library services that support the development and maintenance of the statewide digital library and electronic access to information. Further, funding is also available for the establishment of a program of statewide access to electronic information by public and nonprofit independent colleges and universities with libraries. Last Action: Referred to Libraries and Education Technology Committee 1/3/18.
  • A 5899 (carried over from 2017): authorizes the regents to create a task force to review the issue of textbook cost and ways to enhance the academic role and delivery of course materials including consideration of used books, textbook rentals, custom materials, the use of open access textbooks, digital textbooks, print on demand technologies, and through greater collaboration between college bookstores and libraries. Last Action: Referred to Higher Education Committee on 2/17/18. This bill is dead.
  • A 7221/S 2444 (carried over from 2017): requires the Board of trustees of the State University of New York and the City University of New York to conduct a joint study and report on the availability and accessibility of alternative high-quality, lower cost course resources in lieu of traditional textbooks, which may include open education resources, online textbooks and other related educational materials. Last Action: Referred to Higher Education Committee on 1/3/18.
  • A 8296 (carried over from 2017): establishes the New York state open education resources council and New York state open source digital library. The purpose of this bill is to encourage faculty to accelerate the adoption of lower cost, high-quality, open educational resources. This would authorize campuses and community colleges to adopt open educational resources adoption incentive program campus plans and apply for grants to implement such plans. Last Action: Referred to Higher Education Committee on 1/3/18.
  • A 9088: This bill authorizes the regents to review the issue of textbook cost and ways to enhance the academic role and delivery of course materials, and ensure student affordability through such approaches as used books, textbook rentals, custom materials, and the use of open access textbooks, digital textbooks, print on demand technologies, and through greater collaboration between faculty, publishers, college bookstores, and libraries. Last Action: Referred to Higher Education Committee on 1/18/18.
Existing Policies:
  • FY 2018 State Budget (2017): The Budget includes an $8 million investment to provide open educational resources, including electronic-books, to students at SUNY and CUNY. At the state’s direction, SUNY and CUNY will use this funding to target high-enrollment courses, including general education, to maximize student savings.