Thứ Hai, 20 tháng 6, 2016

Nhìn vào chính sách phác thảo của Mỹ về 'nguồn liên bang'


A fresh look at the U.S. draft policy on 'federal sourcing'
Posted 28 Apr 2016 by Mark Bohannon
Bài được đưa lên Internet ngày: 28/04/2016
Trong bài báo gần đâytrong Government Computer News (Tin tức Máy tính của Chính phủ), tôi đã nhìn vào thách thức của việc định hình lại CNTT liên bang với nguồn mở không thấy có các tiếp cận đi một mình và dùng ngay được của chính phủ đối với phần mềm nguồn mở. Trong bài báo đó, tôi đã lưu ý rằng sử dụng ngày một gia tăng của chính phủ các phần mềm nguồn mở đã dịch chuyển từ “liệu có sử dụng” sang “triển khai thế nào”. Bằng chứng mới nhất cho điều này là phác thảo Chính sách Nguồn của Liên bang được Văn phòng Quản lý và Ngân sách Liên bang Mỹ (OMB) công bố, nó dẫn dắt chính sách CNTT và mua sắm của chính phủ Mỹ. Đây là chính sách nhìn trước trong nhiều lĩnh vực. Và với vài sự làm sáng tỏ, nó có thể thậm chí còn tốt hơn.
Một chút ngữ cảnh
Chính sách đó vừa khẳng định lại và vừa mở rộng mục tiêu được đưa ra trong Kế hoạch Hành động Quốc gia của Chính phủ Mở lần thứ 2 về “truy cập được cải thiện cho mã phần mềm tùy biến được phát triển cho Chính phủ Liên bang”. Kế hoạch đó đã nhấn mạnh sử dụng phần mềm nguồn mở (PMNM) (và đóng góp trở ngược lại) để nuôi dưỡng sự đổi mới, các chi phí thấp hơn, và lợi ích cho công chúng. Nó cũng đi xa hơn mục tiêu 'mặc định là mở' dài lâu đi ngược về những ngày đầu của Chính quyền.
Chính sách phác thảo đó đặc trưng vài thành phần. Trước hết, nó đưa ra “3 bước quy trình” được khuyến cáo về cân nhắc mua sắm phần mềm để tối thiểu hóa mua sắm các phần mềm được phát triển tùy biến. Thứ 2, nó thiết lập các yêu cầu cho việc phát hành mã trong phạm vi công cộng hoặc như là PMNM, nhân bản sớm các nỗ lực của các cơ quan có rồi tại chỗ các chính sách phát hành mã được phát triển trong nội bộ.
Cuối cùng, các cơ quan được đề cập tới phải phân phối mã tùy biến sử dụng lại được sản xuất trong sự thực thi thỏa thuận của chính phủ liên bang và, tuân theo các ngoại lệ nhất định, làm cho nó sẵn sàng rộng rãi khắp chính phủ. Như được nêu rộng rãi, từng cơ quan được đề cập tới sẽ tham gia trong dự án thí điểm để “phát hành ít nhất 20% mã tùy biến được phát triển mới của nó mỗi năm như là nguồn mở”, sử dụng các giấy phép của Sáng kiến Nguồn Mở (Open Source Initiative), những để chừa chỗ cho các giấy phép bổ sung thêm như là cần thiết.
“Phân tích 3 bước”
Trong khi các báo cáo phương tiện đã tập trung vào khoản mục cuối cùng, thì đây là “phân tích 3 bước” bắt mắt tôi. Nó dường như cố tuyên bố lại chính sách hiện hành. Nhưng liệu sự xây dựng bản phác thảo có vô tình gây rủi ro cho việc khuyến khích các giải pháp phần mềm dùng ngay được trong chính phủ - GOTS (Government Off The Shelf) hơn là các phần mềm thương mại dùng ngay được - COST (Commercial Off The Shelf) chăng?
Nó đòi hỏi việc đọc cẩn thận. Như là bước đầu tiên, “các cơ quan được đề cập tới phải tiến hành trước hết phân tích lựa chọn thay thế và trình bày ưu tiên cho sử dụng các giải pháp phần mềm đang tồn tại theo đó Chính phủ nắm giữ các quyền giấy phép đúng phù hợp hoặc khả năng sử dụng lại. Điều này có thể bao gồm các dịch vụ được Liên bang chia sẻ hoặc mã được phát triển trước sẵn sàng để sử dụng lại rộng khắp Chính phủ” (được nhấn mạnh thêm). Chỉ khi phân tích kết luận “rằng không giải pháp đang tồn tại nào của Liên bang và đáp ứng được có hiệu quả các nhu cầu vận hành và nhiệm vụ của nó, cơ quan được đề cập tới sau đó phải khai thác liệu giải pháp COTS đúng thích hợp có sẵn hay không” (một lần nữa, nhấn mạnh được bổ sung). Đây là bước thứ 2. (Chỉ khi không tồn tại giải pháp 'Liên bang' và/hoặc COTS nào được tìm thấy thì có quan sẽ đi tới bước 3, và cân nhắc mua sắm phần mềm tùy biến).
Sự xây dựng phân tích 3 bước này tương phản với các sáng kiến và chính sách cải cách CNTT đang tồn tại tránh GOTS và các tiếp cận tùy biến. Ví dụ, Chiến lược các Dịch vụ được Chia sẻ của Chính quyền đã nhấn mạnh vai trò chính của các tổ chức thương mại trong việc cung cấp dịch vụ CNTT được chia sẻ cho các cơ quan, với sử dụng ngày càng gia tăng CNTT hàng hóa, module hóa, và “các giải pháp mở”, trong khi giảm sự hỗ trợ có tính đúp bản. Yếu tố chủ chốt đó sẽ được phản ánh trong phân tích bước đầu tiên.
Và nó cũng tương phản với tiếp cận từ lâu của Thông tư A-130, nó chỉ dẫn các cơ quan trao ưu tiên như là bước đầu tiên “để sử dụng các hệ thống thông tin, phần mềm, công nghệ và dịch vụ được chia sẻ và/hoặc các tiện ích xử lý thông tin của Liên bang đang tồn tại phù hợp và có sẵn rồi”, và nhấn mạnh vào phiên bản mới nhất của nó rằng “tất cả các hệ thống và dịch vụ CNTT vận hành chỉ các giải pháp được các nhà cung cấp hỗ trợ”.
Dù có ý định hay không, thì sự nhấn mạnh về “các giải pháp của Liên bang” gợi ý rằng chính sách có thể nghiêng về GOTS hơn là COTS. Điều này có thể là lo ngại lớn cho các cộng đồng nguồn mở, và các nhà cung cấp giải pháp, và cũng cho các cơ quan chính phủ mà đã ôm lấy nguồn mở được chứng minh có hỗ trợ thương mại.
Tôi và những người khác đã viết rằng một trong những lợi ích của nguồn mở được hỗ trợ thương mại, được kiểm thử liên tục là nó là COTS. Nó có thể được hỗ trợ bởi sự đa dạng các nhà cung cấp và chào tiếp cận lanh lẹ, sử dụng lại được, theo module cho các cơ quan. Báo cáo gần đây của Bộ An ninh Nội địa Mỹ đã thấy rằng “một rẽ nhánh dự án thường đắt giá hơn nhiều cho chính phủ để duy trì về lâu dài vì chính phủ phải trả tiền cho mọi thay đổi (thay vì việc chia sẻ các chi phí bền vững với những người khác), và bản rẽ nhánh cũng cắt khỏi những đổi mới trong tương lai trong dự án nguồn mở chính”. Phát hiện này thường nhất quán với các giáo lý của nguồn mở “khuyến cáo mạnh mẽ tránh tạo ra rẽ nhánh dự án bất kỳ ở đâu có thể”. Vâng chính phủ và các nhà thầu của nó thường không nhất thiết khuyến khích tạo ra các rẽ nhánh dự án. Việc giải quyết vấn đề này rõ ràng trong chính sách phác thảo có thể là một bước quan trọng tiến lên phía trước.
Làn gió đó là ở sau lưng của sử dung nguồn mở, cả trong chính phủ và trong khu vực thương mại. Chính sách phác thảo này là ví dụ mới nhất về điều, tập trung không vào 'liệu' phần mềm nguồn mở có nên được sử dụng hay không, mà thay vào đó vào 'làm thế nào' để triển khai nó. Đây là cách nhìn về phía trước, và sẽ cải thiện với những điều làm rõ cần thiết, vài điều được nêu ở trên. Không có chúng thì sẽ có rủi ro thúc đẩy GOTS hơn COTS, rẽ nhánh các dự án nguồn mở, và sự hỗ trợ kiểu 'đi một mình'.
In a recent article in Government Computer News, I looked at the challenge of reshaping federal IT with open source without go-it-alone government-off-the-shelf approaches to open source software. In that article, I noted that the growing use of open source software by governments has shifted from "whether to use" to "how to deploy." The latest evidence for this is a draft Federal Sourcing Policy announced by the U.S. Office of Management and Budget (OMB), which drives U.S. government (USG) procurement and IT policy. It is a forward-looking policy in many respects. And with some clarifications, it could even be better.

A little context

The policy both reaffirms and broadens a goal laid out in the Administration’s Second Open Government National Action Plan for "improved access to custom software code developed for the Federal Government."The Plan emphasized use of (and contributing back to) open source software to fuel innovation, lower costs, and benefit the public. It also furthers a long-standing 'default to open' objective going back to the early days of the Administration.
The draft policy features several components. First, it provides a recommended "3-step process" on software procurement considerations to minimize procurement of custom-developed software. Second, it establishes requirements for releasing code in the public domain or as open source software, replicating early efforts by agencies to have in place policies to release code developed in-house.
Finally, covered agencies must deliver for reuse custom code produced in the performance of a federal government agreement and, subject to certain exceptions, make it broadly available government-wide. As widely reported, each covered agency will participate in a pilot program to "release at least 20 percent of its newly-developed custom code each year as open source," using existing Open Source Initiative licenses, but leaves room for additional licenses as necessary.

The "3-step analysis"

While the media reports have focused on the last item, it's the "3-step analysis" that caught my eye. It appears to attempt a restatement of current policy. But does the draft's formulation inadvertently risk encouraging government-off-the-shelf (GOTS) solutions over commercial-off-the-shelf (COTS)?
It requires a careful reading. As a first step, "covered agencies must first conduct an alternatives analysis and demonstrate a preference for the use of existing software solutions for which the Government holds appropriate license rights or ability to reuse. This may include Federal shared services or previously developed code available for Government-wide reuse." (emphasis added) Only when the analysis concludes "that no existing Federal solution efficiently and effectively meets its operational and mission needs, a covered agency must subsequently explore whether an appropriate COTS [commercial-off-the-shelf] solution is available." (again, emphasis added) This is the second step. (Only when no existing ‘Federal’ and/or COTS solutions is found should an agency go to step 3, and consider procurement of custom software.)
This formulation of the 3-step analysis contrasts with existing IT reform initiatives and policies to avoid GOTS and custom approaches. For example, the Administration's Shared Services Strategy emphasized the key role of commercial organizations in providing IT shared service to agencies, with growing use of commodity IT, modularity, and "open solutions,"while reducing duplicative support. That key element should be reflected in first step analysis.
And it also contrasts with the long-standing approach of Circular A-130 which directs agencies to give priority as a first step "to use of available and suitable existing Federal information systems, software, technologies, and shared services and/or information processing facilities,"and emphasizes in its latest version that "all IT systems and services operate only vendor-supported solutions."
Whether intentional or not, the emphasis on "Federal solutions"suggests that the policy may lean toward GOTS over COTS. This would be of great concern for open source communities, and solution providers, and also for government agencies that have embraced proven commercially-supported open source.
I and others have written that one of the benefits of road-tested, commercially-supported open source is that it is COTS. It can be supported by a variety of vendors and offers an agile, reusable, modular approach to agencies. A recent report by the U.S. Department of Homeland Security found that "a project fork is typically far more expensive for the government to maintain in the long term because the government must pay for every change (instead of sharing sustainment costs with others), and the fork is also cut off from the future innovations in the main open source project." This finding is consistent generally with the tenets of open source literature which "strongly recommends avoiding creating a project fork wherever possible." Yet the government and its contractors often unnecessarily encourage creating project forks. Addressing this issue clearly in the draft policy would be an important step forward.
The wind is at the back of open source use, both in government and the commercial sector. This draft policy is the latest example of that, focusing not on 'whether' open source should be used, but rather the 'how' of doing it. It is forward-looking, and will improve with needed clarifications, some noted above. Without them there is real risk of promoting GOTS over COTS, forking of open source projects, and 'go it alone' support.
Dịch: Lê Trung Nghĩa

Chủ Nhật, 19 tháng 6, 2016

OER@University Roadshow 2016. Khóa tập huấn về OER tại Đại học Khoa học Xã hội Nhân văn thành phố Hồ Chí Minh




Khóa tập huấn 1 ngày về OER tại Khoa Thông tin - Thư viện Đại học Khoa học Xã hội Nhân Văn, thành phố Hồ Chí Minh ngày 17/06/2016, thu hút được gần 40 giáo viên và cán bộ thư viện một số trường đại học tại TP. Hồ Chí Minh tham gia.

Các bài trình bày tại khóa tập huấn gồm:
1. Buổi sáng: 'Giới thiệu tài nguyên giáo dục mở - OER (Open Educational Resources)'. Tải về: http://www.slideshare.net/lnghia/oer-basicsjun2016
2. Buổi chiều: 'Hệ thống giấy phép của thế giới nguồn mở & thực hành cấp phép Creative Commons cho OER'. Tải về: http://www.slideshare.net/lnghia/cc-licensetooermay2016


Blogger: Lê Trung Nghĩa

Thứ Sáu, 17 tháng 6, 2016

Hệ thống giấy phép của thế giới nguồn mở & thực hành cấp phép Creative Commons cho OER





Là bài trình bày trong chương trình OER@University RoadShow 2016, được tổ chức tại khóa tập huấn về OER tại Khoa Thông tin - Thư viện Đại học Khoa học Xã hội Nhân Văn, thành phố Hồ Chí Minh ngày 17/06/2016.
Khóa học thu hút được gần 40 giáo viên và cán bộ thư viện một số trường đại học tại TP. Hồ Chí Minh.

Bạn có thể tải về bài trình bày tại địa chỉ:



Blogger: Lê Trung Nghĩa


Thứ Năm, 16 tháng 6, 2016

Bản vá ngày thứ Ba tháng 6/2016


Patch Tuesday June 2016

Posted by wkandek in The Laws of Vulnerabilities on June 14, 2016 10:03 AM
Bài được đưa lên Internet ngày: 14/06/2016
Lời người dịch: Bản vá ngày thứ Ba tháng 06/2016 của Microsoft có 16 bản tin giải quyết 44 chỗ bị tổn thương. 5 bản tin được xếp hạng sống còn giải quyết các chỗ bị tổn thương được thấy trong MS DNS Server, Edge, Internet Explorer, JScript/VBScript, và Office. Các bản tin còn lại được xếp hạng quan trọng và giải quyết các chỗ bị tổn thương trong Active Directory, Exchange Server, Group Policy, SMB Server, Netlogon, Windows Graphics component, Windows Kernel-mode Drivers, Windows PDF, Window Search Component, và WPAD.

Đây là Bản vá ngày thứ Ba tháng 6/2016, và Microsoft đang đưa ra 16 bản tin sửa hơn 40 chỗ bị tổn thương khác nhau (CVEs). Nó mang ra tổng cộng 81 dự án trong vòng nửa năm so với tổng số hơn 160 bản tin cho năm 2016, một kỷ lục mới về các bản vá trong thập kỷ vừa qua.
Nhưng sự chú ý trước tiên của bạn nên tập trung vào Adobe Flash. Adobe đã công nhận rằng chỗ bị tổn thương (CVE-2016-4171) trong trình chơi Flash hiện hành đang được sử dụng trong hoang dại và bị chậm ra bản vá hàng tháng được kỳ vọng cho Adobe Flash. Trong khuyến cáo của mình APSA16-03 họ hứa vá vào cuối tuần này. Hãy thật chú ý vào phát hành đó và hãy giải quyết càng nhanh càng tốt. Nếu bạn có EMET trên các máy tính của bạn, thì bạn được bảo vệ. Dù vậy, đây là tháng thứ 3 liên tục chúng tôi đang thấy lỗi ngày số 0 trong Flash, làm cho nó chắc chắn nhất trở thành phần mềm bị ngắm đích nhiều nhất trong các điểm cuối của tổ chức của bạn.
Nếu không, sẽ có sự pha trộn ở phía máy trạm và phía máy chủ các bản tin tháng này, nên toàn bộ đội CNTT sẽ có tải công việc tuần này để đảm bảo an toàn cho các hệ thống của bạn.
Chỗ bị tổn thương thú vị nhất ở phần máy chủ được đề cập tới trong MS16-071. Nó sửa chỗ bị tổn thương sống còn trong máy chủ DNS của Microsoft. Sự khai thác thành công bày ra cho kẻ tấn công sự Thực thi Mã Từ xa (RCE) trên máy chủ, nó là cực kỳ đáng lo ngại đối với dịch vụ sống còn như DNS. Các tổ chức mà quản lý máy chủ DNS của họ trên cùng máy với máy chủ Active Directory cần nhận thức gấp đôi về sự nguy hiểm của chỗ bị tổn thương này.
Về phía máy trạm thì chỗ bị tổn thương quan trọng nhất được đề cập tới trong MS16-070, nó sửa một số vấn đề trong Microsoft Office. Chỗ bị tổn thương quan trọng nhất ở đây là CVE-2016-0025 trong định dạng Microsoft Word RTF, nó bày ra RCE cho kẻ tấn công. Vì RTF có thể được sử dụng để tấn công qua khung xem trước của Outlook, lỗi đó có thể được kích hoạt với một thư điện tử đơn giản mà không cần sự tương tác của người sử dụng.
Ở phía trình duyệt web, MS16-063 cho Internet Explorer, MS16-068 cho Edge và MS16-069 cho Javascript trong Windows Vista hiện diện với một số chỗ bị tổn thương sống còn RCE có khả năng bị khai thác thông qua duyệt web đơn giản. Các chỗ bị tổn thương đó đại diện cho vật trung gian tấn công ưa thích đối với các tội phạm không gian mạng và chúng tôi khuyến cáo giải quyết chúng trong 7 ngày tiếp sau.
Các chỗ bị tổn thương còn lại tất cả được xếp hạng quan trọng và thường có thể được sử dụng để leo thang quyền ưu tiên một khi ai đó đã giành được sự thực thi mã trên máy tính, vì thế chúng có thể được sử dụng kết hợp với thực thi mã ở xa như được mô tả ở trên. Ngoại lệ là MS16-076 giải quyết lỗi duy nhất trong Windows Netlogon có thể cung cấp RCE cho kẻ tấn công - độ nghiêm trọng của nó là thấp hơn so với chỗ bị tổn thương RCE thông thường vì nó đòi hỏi kẻ tấn công kiểm soát được máy chủ thư mục tích cực rồi.
Có 2 chỗ bị tổn thương nữa ở phía máy chủ mà được xếp hạng là “quan trọng”:
  • Sự leo thang quyền ưu tiên trong thành phần máy chủ SMB trong MS16-075
  • Lỗi trong Microsoft Exchange trong MS16-079 cũng gây ra sự leo tháng quyền ưu tiên, vài lỗi từ Oracle Patch (Bản vá của Oracle) trong thư viện Outside-in của họ.
Tổng thể đây là Bản vá ngày thứ Ba thường lệ với 1 lỗi ngày số 0 được biết, nên việc giám sát khẩn cấp đặc biệt cho bản cập nhật Flash sắp tới. Hãy vá phần còn lại theo các ưu tiên thông thường của bạn, nhưng hãy chú ý đặc biệt tới chỗ bị tổn thương của máy chủ DNS vì nó có liên quan tới sự hấp dẫn một vài sự chú ý không mong muốn.
It is Patch Tuesday June 2016, and Microsoft is coming out with 16 bulletins bringing fixing over 40 distinct vulnerabilities (CVEs). It brings up the half-year total to 81 which projects to a total of over 160 bulletins for 2016, a new record in terms of patches for the last decade.
But your primary attention should be on Adobe Flash. Adobe has acknowledged that a vulnerability (CVE-2016-4171) in the current Flash player is being used in the wild and delayed the expected monthly Adobe Flash patch.  In their advisory APSA16-03 they promise the  patch for the end of this week. Pay close attention to the release and address as quickly as possible. If you have EMET on your systems you are protected. By the way, this is the third month in a row that we are seeing a 0-day in Flash, making it most certainly the most targeted software on your organization’s endpoints.
Otherwise, there is a mix of client side and server side bulletins this month, so the whole IT team will have a workload this week to secure their systems.
The most interesting vulnerability on the server side is addressed in MS16-071. It fixes a single critical vulnerability in Microsoft’s DNS server. Successful exploitation yields the attacker Remote Code Execution (RCE) on the server, which is extremely worrisome on such a mission critical service such as DNS. Organizations that run their DNS server on the same machine as their Active Directory server need to be doubly aware of the danger of this vulnerability.
On the client side the most important vulnerability is addressed in MS16-070, which fixes a number of problems in Microsoft Office. The most important vulnerability here is CVE-2016-0025 in Microsoft Word RTF format, which yields RCE for the attacker. Since RTF can be used to attack through Outlook’s preview pane, the flaw is can be triggered with a simple e-mail without user interaction.
On the web browser side MS16-063 for Internet Explorer, MS16-068 for Edge and MS16-069 for Javascript on Windows Vista attend to a number of critical RCE vulnerabilities exploitable through simple web browsing. These vulnerabilities represent a favorite attack vector for cyber criminals and we recommend to address them with the next 7 days.
The remaining vulnerabilities are all rated important and typically can be used to elevate privileges once one has gained code execution on the machine, so they would be used in concert with a remote code execution as described above. The exception is MS16-076 which addresses a single flaw in Windows Netlogon that can provide RCE to the attacker – its severity is lower than for a normal RCE vulnerability because it requires that the attacker control the active directory server already.
There are two more vulnerabilities on the server side that are rated “important”:
  • An elevation of privilege on the SMB server component in MS16-075
  • A flaw in Microsoft Exchange in MS16-079 also resulting in elevation of privilege, some resulting from the Oracle Patch in their Outside-in library.
Overall this is a normal Patch Tuesday with one known 0-day, so special urgency monitoring for the upcoming Flash update. Patch the remainder according to your normal priorities, but pay special attention to the DNS server vulnerability as it is bound to attract some unwanted attention.
Dịch: Lê Trung Nghĩa

Thứ Tư, 15 tháng 6, 2016

Năm của các cuộc hội thoại về tổ chức mở


A year of conversations about the open organization
Posted 31 May 2016 by Jim Whitehurst


Chúng ta đang ở giữa kỷ nguyên mới về kinh tế và công nghệ, thứ gì đó mọi người thường tham chiếu tới như là “Cuộc cách mạng Công nghiệp lần thứ 4” (The Fourth Industrial Revolution) — hoặc ngắn gọn “Nền công nghiệp 4.0” (Industry 4.0). Các công nghệ thông minh, có kết nối, và có khả năng đáp trả đang nổi lên với các môi trường đang ngày càng giàu dữ liệu hơn, và, kết quả là, sự phá vỡ số (digital disruption) đối với nhiều mô hình kinh doanh truyền thống hơn đang trở thành chuẩn mực, chứ không phải là ngoại lệ.
Nhiều người đang loay hoay xác định làm thế nào tất cả sự thay đổi này sẽ ảnh hưởng không chỉ tới những gì họ làm, mà còn cách thức họ làm nó thế nào. Khi họ đang làm điều này, họ đang trở nên hiện thực hóa sống còn: Cấu trúc tổ chức - cách bạn làm việc, và văn hóa mà thẩm thấu và chỉ dẫn tất cả các hoạt động của bạn - có vấn đề hơn bao giờ hết. Điều đó giải thích vì sao yếu tố quan trọng nhất trong khả năng của một nhóm để sản sinh ra những đổi mới đang có và mới, và ngày nay, khả năng để đổi mới đó, không nghi ngờ gì, là một trong những tài nguyên có giá trị nhất mà tổ chức có thể nuôi dưỡng khi nó cố gắng giành được ưu thế cạnh tranh.
Khi tôi viết cuốn Tổ chức Mở một năm về trước, tôi đã không cố gắng nêu rằng các đồng nghiệp của tôi và tôi ở Red Hat, công ty phần mềm nguồn mở hàng đầu thế giới, đã phát hiện ra vài câu trả lời dứt khoát cho các câu hỏi sự phá vỡ số đang nổi lên. Tôi đã công nhận rằng câu chuyện của chúng tôi - và cách chúng tôi làm việc hàng ngày - đóng góp thứ gì đó quan trọng cho cuộc hội thoại xung quanh nó. Thậm chí bâygiờ, một năm sau, tôi không thể nói chúng tôi đã thấy được tất cả các câu trả lời. Tuy nhiên tôi có thể nói chúng tôi đang thấy cuộc hội thoại tăng tốc. Trong phần Tổ chức Mở trên Opensource.com và ở những nơi khác nữa mọi người đang thảo luận, tranh luận, và đặt ra câu hỏi về sự thông thái lâu đời về công việc, quản lý, và lãnh đạo.
Tôi tự hào về vai trò của Red Hat đang đóng trong việc xúc tác cho cuộc hội thoại đó.
Và Thủ lĩnh - Người xúc tác (Catalyst-In-Chief), cuốn sách mới chúng tôi đã xuất bản hôm nay, có những đóng góp của tôi vào đó. Từ khi viết Tổ chức Mở, tôi đã thấy nó cực kỳ quan trọng để tiếp tục suy nghĩ, viết, và nói về cả những thay đổi chúng tôi đối mặt và hứa hẹn mà tư duy nguồn mở nắm giữ để giúp chúng tôi chèo lái chúng. Hoàn toàn đơn giản, 12 tháng vừa qua từng là năm tuyệt vời với các cuộc hội thoại về tổ chức mở. Chứng là đầy ắp với những thấu hiểu, các câu hỏi - và, vâng, thậm chí một ít nghi ngờ - về sự định hình trong tương lai của công việc.
Những thách thức quan trọng vẫn còn. Hãy nghĩ về hình chóp mà tôi đã vẽ trong Tổ chức Mở để giải thích cách các tổ chức được kết nối mạng sẽ nghĩ lại về sự năng động cốt lõi trong quản lý. Các tổ chức mở, tôi nói, luôn bắt đầu bằng “vì sao” - với niềm đam mê thấm nhuần và mục đích trong từng người, những ai ra nhập chúng - sao cho sứ mệnh đó trở thành động lực của đổi mới. Đó là đáy của hình chóp, nền tảng. Niềm đam mê, mục đích và sự cam kết đó “nổi lên” trên đỉnh của hình chóp, điều được quan tâm bằng “những gì” - những gì lãnh đạo làm để tạo ra các ngữ cảnh phù hợp và năng suất nhất cho công việc đầy đam mê đó.
Ở giữa của hình chóp là “thế nào”, các hoạt động cụ thể và đặc thù xảy ra khi các nhà lãnh đạo như những người xúc tác và những người tham gia có cam kết như những người có liên quan gặp nhau. Chính phần giữa này tiếp tục chứng minh là bí ẩn và khó nắm bắt nhất đối với các tổ chức ngày nay. Chúng ta có thể phát triển các chiến thuật đặc biệt như thế nào để nuôi dưỡng và định hướng cho niềm đam mê và sự thực thi? Chúng ta có thể hệ thống hóa như thế nào các cấu trúc thành công nhất của chúng ta? Và chúng ta chia sẻ như thế nào các thực hành tốt nhất và những thất bại của chúng ta?
Đó là những câu hỏi sẽ dẫn tới năm thứ 2 của các cuộc hội thoại về các tổ chức mở. Bạn có thể đóng vai trò quan trọng trogn các cuộc hội thoại đó. Ở kết luận của cuốn sách này, bạn sẽ thấy các tài nguyên và các địa điểm để kết nối với cộng đồng các tổ chức mở, nên bạn có thể chat, nghĩ, và học với chúng tôi.
Tôi chân thành hy vọng bạn sẽ tham gia vào.
Phiên bản của bài báo này lần đầu xuất hiện như là lời giới thiệu cho cuốn sách Thủ lĩnh - Người xúc tác (Catalyst-In-Chief), xuất bản phẩm mới từ Opensource.com, nó là có sẵn hiện nay.
Tuần lễ Tổ chức Mở đón chào cuốn sách của Jim Whitehurst, Tổ chức Mở, với cuộc hội thoại được cộng đồng dẫn dắt về tương lai công việc, quản lý và lãnh đạo.
We're in the midst of a new economic and technological era, something people often refer to as "The Fourth Industrial Revolution"—or "Industry 4.0" for short. Smart, connected, and responsive technologies are merging with environments that are becoming more data-rich, and, as a result, digital disruption to more traditional business models is becoming the norm, not the exception.
Lots of people are scrambling to determine how all this upheaval will affect not only what they do, but also how they do it. As they're doing this, they're coming to a crucial realization: Organizational structure—how you work, the culture that permeates and guides all your activities—matters more than ever. That's because it's the most important factor in a group's ability to produce new and exciting innovations, and today, that ability to innovate is without a doubt one of the most valuable resources an organization can harness as it tries to gain competitive advantage.
When I wrote The Open Organization a year ago, I wasn't trying to claim that my colleagues and I at Red Hat, the world's leading open source software company, had discovered some definitive answers to the questions digital disruption is raising. I recognized that our story—and the way we work every day—contributes something important to the dialog around it. Even now, one year later, I can't say we've found all the answers. However I can say we're seeing the conversation accelerate. In the Open Organization section on Opensource.com and elsewhere, people are discussing, debating, and calling into question some age-old wisdom about work, management, and leadership. I'm proud of the role Red Hat is playing in catalyzing that conversation.
And Catalyst-In-Chief, a new book we're launching today, contains my contributions to it. Since writing The Open Organization, I've found it extremely important to continue thinking, writing, and talking about both the changes we face and the promise open source thinking holds for helping us navigate them. Quite simply, the past 12 months have been a year of wonderful conversations about the open organization. They've been filled with insights, questions—and, yes, even a few doubts—about the shape the future of work will take.
Important challenges remain. Think of the pyramid I sketched in The Open Organization to explain the way networked organizations should rethink management's core dynamics. Open organizations, I said, always begin with "why"—with instilling passion and purpose in everyone who joins them—so that mission becomes the driver of innovation. That's the base of the pyramid, the foundation. That passion, purpose, and engagement "bubble up" to the top of the pyramid, which is concerned with "what"—what leadership does to create the most fitting and productive contexts for that passionate work.
In the middle of the pyramid is "how," the concrete and specific activities that occur when leaders-as-catalysts and associates-as-engaged-participants meet. It's that middle part that continues to prove most mysterious and elusive to organizations today. How specifically can we develop tactics to harness and direct passion and performance? How can we systematize our most successful structures? And how do we share our best practices and our failures?
These are the questions that will drive the second year of conversations about open organizations. You can play an important role in those conversations. At the conclusion of this book, you'll find resources and avenues for connecting with the open organization community, so you can chat, think, and learn with us.
I sincerely hope you will.
A version of this article originally appeared as the introduction to Catalyst-In-Chief, a new publication from Opensoure.com, which is available now.
Open Organization Week celebrates Jim Whitehurst's book, The Open Organization, with community driven-conversation about the future of work, management, and leadership.
Dịch: Lê Trung Nghĩa

Thứ Ba, 14 tháng 6, 2016

'Thủ lĩnh - Người xúc tác - Năm của các cuộc hội thoại về Tổ chức Mở' - bản dịch sang tiếng Việt






“Giống như rất nhiều người bị cuốn hút vào Linux, tôi đã tới vì công nghệ, nhưng đã ở lại vì triết lý”.


Jim Whitehurst


Là tài liệu của tác giả Jim Whitehurst, Chủ tịch và CEO của hãng Red Hat, xuất bản tháng 06/2016. Tài liệu trình bày các cách thức các nguyên tắc nguồn mở như chia sẻ - cộng tác - minh bạch đang làm thay đổi cách thức chúng ta làm việc, quản lý, và lãnh đạo. Nó có lẽ dành cho bất kỳ nhà lãnh đạo của bất kỳ tổ chức nào có mong muốn hưởng lợi từ việc học nhiều hơn về các cách thức các giá trị của nguồn mở đang làm thay đổi các tổ chức ngày nay. Bản dịch sang tiếng Việt có 40 trang. Tài về:




Blogger: Lê Trung Nghĩa

Thứ Hai, 13 tháng 6, 2016

Tài nguyên giáo dục mở (OER)






Việc giải thích tài nguyên giáo dục mở - OER (Open Educational Resources) và các vấn đề liên quan đối với các nhà quản lý, các nhà công nghệ học tập, các nhân viên kỹ thuật và các nhà giáo dục trong việc phát hành các OER cho cộng đồng giáo dục.



Không chỉ có một định nghĩa về tài nguyên giáo dục mở. Tuy nhiên, định nghĩa OER rộng sau đây từ OER Commons dường như được cộng đồng chấp nhận chung:

'Tài nguyên giáo dục mở là các tư liệu dạy và học sẵn sàng tự do trên trực tuyến cho bất kỳ ai để sử dụng, bất kể bạn là người chỉ dẫn, sinh viên hay người tự học. Các ví dụ về OER bao gồm: các khóa học đầy đủ, các module khóa học, các kế hoạch học tập, các bài giảng, các bài tập ở nhà, các câu đố, các hoạt động trong phòng thí nghiệm và trong phòng học, các tư liệu sư phạm, các trò chơi, các mô phỏng, và nhiều tài nguyên có trong các bộ sưu tập phương tiện số từ khắp nơi trên thế giới'.

Các OER tồn tại trong phong trào và ngữ cảnh 'mở' rộng lớn hơn, được khai thác bên dưới.

Phong trào mở

Một dãy các triết lý và module 'mở' đã nổi lên trong thế kỷ 20 như là kết quả của vài trình điều khiển và động lực khác nhau - bao gồm cả việc chia sẻ tự do, việc ngăn ngừa đúp bản, việc tránh các thực hành hạn chế (bản quyền), việc thúc đẩy hiệu quả kinh tế và việc cải thiện sự truy cập tới các nhóm các bên tham gia đóng góp rộng lớn.

Nhiều trong số đó đã được các cộng đồng dẫn dắt và tạo ra mà thừa nhận những lợi ích đối với bản thân họ, và đôi khi đối với các nhóm rộng lớn hơn. Một vài trong số đó được liệt kê bên dưới:

  • Nguồn mở - OS (Open Source) (có liên quan tới kinh doanh và công nghệ)
  • Phần mềm nguồn mở - OSS (Open Source Software)
  • Phần cứng nguồn mở - OH (Open Hardware)
  • Các tiêu chuẩn mở - OS (Open Standards)
  • Truy cập mở (nghiên cứu) - OA (OR) - Open Access (Open Research)
  • Thiết kế mở - OD (Open Design)
  • Tri thức mở - OK (Open Knowledge)
  • Dữ liệu mở - OD (Open Data)
  • Nội dung mở - OC (Open Content)
  • Khóa học mở - OCW (OpenCourseWare)
  • Tài nguyên giáo dục mở - OER (Open Educational Resources)
  • Thực hành giáo dục mở - OEP (Open Educational Practices)

Vài 'phong trào' hoặc 'triết lý' mở đó đã từng là đáng kể trong cộng đồng giáo dục cả về các khía cạnh nghiên cứu và học và dạy (đặc biệt công nghệ giáo dục). Trong khi được kỳ vọng rằng việc chia sẻ và tính mở có thể mang lại các lợi ích cho một vài bên tham gia đóng góp và các quy trình, và những phức tạp về pháp lý được thừa nhận đã được xác định như là các rào cản cho việc chia sẻ cả bên trong và xuyên khắp các cơ sở. (CD LOR, TRUST DR, chia sẻ nội dung học tập điện tử, báo cáo các ý định tốt)

Trong khi các khái niệm 'nội dung mở' và 'khóa học mở' đôi khi được sử dụng để ngụ ý một dải rộng lớn các tài nguyên để hỗ trợ cho việc học và dạy, thì khái niệm này là khá rộng và khái niệm khác là rất đặc thù. Chúng tôi đã chọn sử dụng khái niệm tài nguyên giáo dục mở - OER (Open Educational Resources) mà được cấp phép đặc biệt để được sử dụng và sử dụng lại trong ngữ cảnh giáo dục.

Tài nguyên giáo dục là gì?

Trong khi nội dung thông tin thuần túy có vai trò đáng kể trong việc học và dạy, là hữu dụng để cân nhắc các tài nguyên học tập theo các mức độ mịn của chúng và tập trung vào mức độ theo đó nội dung thông tin được nhúng vào trong hoạt động học tập (Littlejohn et al, 2008):

  • Các tài sản số - thường là tệp duy nhất (như hình ảnh, video hoặc audio), đôi khi được gọi là 'tài sản phương tiện thô'
  • Các đối tượng thông tin - sự tổng hợp có cấu trúc của các tài sản số, được thiết kế thuần túy để trình bày thông tin
  • Các đối tượng học tập - sự tổng hợp của một hoặc nhiều tài sản số đại diện cho một đơn vị đứng riêng rẽ có nghĩa về mặt giáo dục
  • Các hoạt động học tập - các nhiệm vụ có liên quan tới những tương tác với thông tin để đạt được các kết quả đầu ra học tập nhất định

  • Thiết kế học tập - sự tuần tự có cấu trúc của thông tin và các hoạt động để thúc đẩy việc học

Tài nguyên giáo dục mở là gì?


Các định nghĩa và các ví dụ sau đây được lấy từ tài liệu được Li Yuan ở JISC CETIS chuẩn bị vào năm 2008 có liên quan tới tình hình tài nguyên giáo dục mở quốc tế. Tài liệu được thừa nhận tốt này có thể truy cập được từ website của CETIS

Khái niệm tài nguyên giáo dục mở (OER) lần đầu tiên đã được giới thiệu ở hội nghị được UNESCO tổ chức vào năm 2002 và đã được quảng bá trong ngữ cảnh của việc cung cấp sự truy cập tự do tới các tài nguyên giáo dục ở phạm vi toàn cầu. Như được nêu ở trên, không có định nghĩa được công nhận chính thức về khái niệm OER hiện hành, với OECD ưu tiên hơn, 'các tư liệu số được chào tự do và mở cho các nhà giáo dục, các sinh viên và những người tự học để sử dụng và sử dụng lại cho việc dạy, học và nghiên cứu' (OECD, 2007).

Stephen Downes trình bày tổng quan hữu dụng của những gì tài nguyên giáo dục mở là trong giáo dục mở: các dự án và tiềm năng.

Cam kết với OER có thể còn nhẹ. Các nhân viên mới nên được khuyến khích mở nguồn các tư liệu khi tạo các tư liệu giáo dục mới (từ các tài nguyên CC hoặc các OER khác), và tham chiếu đầy đủ tất cả các tài sản khác trong các tư liệu dạy học của họ. Các tài sản số của riêng một nhà nghiên cứu hàn lâm như các hình ảnh, podcast và video có thể được phát hành theo giấy phép CC tới web 2.0.

Báo cáo tổng kết dự án GEES

Các sáng kiến OER truyền cảm hứng để cung cấp sự truy cập mở cho các tài nguyên giáo dục chất lượng cao ở phạm vi toàn cầu. Từ các sáng kiến dựa vào các cơ sở lớn hoặc được cơ sở hỗ trợ cho tới vô số các hoạt động phạm vi nhỏ, số lượng các chương trình và dự án có liên quan tới OER đã và đang tăng trưởng nhanh chóng trong vòng vài năm qua.

Theo OECD trong năm 2007, có các tư liệu từ hơn 3.000 khóa học truy cập mở (các khóa học mở0 hiện có sẵn từ hơn 300 trường đại học trên thế giới:

  • Tại nước Mỹ các tài nguyên từ hàng ngàn khóa học đã được làm cho sẵn sàng theo các dự án dựa vào các trường đại học, như MIT OpenCourseWare và Connexions của Đại học Rice
  • Tại Trung Quốc, các tư liệu từ 750 khóa học đã được làm cho sẵn sàng từ 222 thành viên đại học của nhóm tài nguyên giáo dục mở Trung Quốc - CORE (China Open Resources for Education)
  • Tại Nhật, các tài nguyên từ hơn 400 khóa học đã được làm cho sẵn sàng từ 19 đại học thành viên của Japanese OCW Consortium
  • Tại Pháp, 800 tài nguyên giáo dục từ khoảng 100 đơn vị dạy học đã được làm cho sẵn sàng từ 11 trường đại học thành viên của dự án ParisTech OCW
  • Tại Ireland, các trường đại học đã nhận được vốn cấp từ chính phủ để xây dựng các kho truy cập mở của cơ sở và để phát triển các dịch vụ thu thập theo liên đoàn và phát hiện qua cổng quốc gia. Có ý định là sự cộng tác này sẽ được mở rộng để ôm lấy tất cả các cơ sở nghiên cứu của Ireland.
  • Ở nước Anh, Đại học Mở đã phát hành một dải các tư liệu học tập từ xa của nó thông qua dự án OpenLearn, và hơn 80 dự án của chương trình UKOER đã phát hành nhiều tài nguyên (thông qua Jorum), được sử dụng để hỗ trợ việc dạy học trong các cơ sở và xuyên khắp một dãy các lĩnh vực chủ đề.


Open educational resources (OERs)

Explaining open educational resources (OERs) and surrounding issues for senior managers, learning technologists, technical staff and educators interested in releasing OERs to the education community.
There is no one, standard definition of open educational resources. However, the following broad definition of OERs from OER Commons seems to be generally accepted by the community:
'Open educational resources are teaching and learning materials that are freely available online for everyone to use, whether you are an instructor, student or self-learner. Examples of OER include: full courses, course modules, syllabi, lectures, homework assignments, quizzes, lab and classroom activities, pedagogical materials, games, simulations, and many more resources contained in digital media collections from around the world.'
OERs exist within a wider ‘open’ movement and context, explored below.

The open movement

A range of ‘open’ philosophies and models have emerged during the 20th Century as a result of several different drivers and motivations – including sharing freely, preventing duplication, avoiding restrictive (copyright) practices, promoting economic efficiencies and improving access to wide groups of stakeholders.
Many of these have been driven by and created by communities that recognise the benefits to themselves, and sometimes to wider groups. Some of these are listed below:
  • Open source (relating to business and technology)
  • Open source software
  • Open source hardware
  • Open standards
  • Open access (research)
  • Open design
  • Open knowledge
  • Open data
  • Open content
  • Open courseware
  • Open educational resources
  • Open educational practice
Several of these ‘movements’ or ‘philosophies’ have been significant within the education community both in terms of research and learning and teaching (particularly educational technology). Whilst it is widely expected that sharing and openness would bring benefits to some stakeholders in the educational community, traditional cultures and practices, managerial approaches and processes, and perceived legal complexities have been identified as barriers to sharing both within and across institutions. (CD LOR, TRUST DR, sharing e-learning content, good Intentions report)
Whilst the terms ‘open content’ and ‘open courseware’ are sometimes used to mean the wide range of resources to support learning and teaching, one is fairly broad and the other very specific. We have chosen to use the term open educational resources (OER) as this relates to resources that are specifically licensed to be used and re-used in an educational context.

What are educational resources?

Whilst purely informational content has a significant role in learning and teaching, it is helpful to consider learning resources by their levels of granularity and to focus on the degree to which information content is embedded within a learning activity (Littlejohn et al, 2008):
  • Digital assets – normally a single file (eg an image, video or audio clip), sometimes called a ‘raw media asset’
  • Information objects – a structured aggregation of digital assets, designed purely to present information
  • Learning objects – an aggregation of one or more digital assets which represents an educationally meaningful stand-alone unit
  • Learning activities – tasks involving interactions with information to attain a specific learning outcome
  • Learning design – structured sequences of information and activities to promote learning

What are open educational resources?

The following definitions and examples are taken from a paper prepared by Li Yuan at Jisc CETIS in 2008 concerning the state of open educational resources internationally. This well-received paper can be accessed from the CETIS website.
The term open educational resources (OERs) was first introduced at a conference hosted by UNESCO in 2000 and was promoted in the context of providing free access to educational resources on a global scale. As mentioned above, there is no authoritatively accredited definition for the term OER at present, with the OECD preferring, ‘digitised materials offered freely and openly for educators, students and self-learners to use and reuse for teaching, learning and research’ (OECD, 2007).
Stephen Downes presents a useful overview of what open educational resources are in open education: projects and potential.
Engagement with OER can be light touch. New staff should be encouraged to source open materials when creating new educational materials (from CC resources or other OER), and to fully reference all other assets in their teaching materials. An academic’s own digital assets such as images, pod casts and video can be released under a CC licence to web 2.0.GEES project final report
OER initiatives aspire to provide open access to high-quality education resources on a global scale. From large institution-based or institution-supported initiatives to numerous small-scale activities, the number of OER related programmes and projects has been growing quickly within the past few years.
According to OECD in 2007, there are materials from more than 3000 open access courses (open courseware) currently available from over 300 universities worldwide:
  • In the United States resources from thousands of courses have been made available by university-based projects, such as MIT OpenCourseWare and Rice University’s Connexions project
  • In China, materials from 750 courses have been made available by 222 university members of the China Open Resources for Education (CORE) consortium
  • In Japan, resources from more than 400 courses have been made available by the19 member universities of the Japanese OCW Consortium
  • In France, 800 educational resources from around 100 teaching units have been made available by the 11 member universities of the ParisTech OCW project
  • In Ireland, universities received government funding to build open access institutional repositories and to develop a federated harvesting and discovery service via a national portal. It is intended that this collaboration will be expanded to embrace all Irish research institutions
  • And in the UK, the Open University has released a range of its distance learning materials via the OpenLearn project, and over 80 UKOER projects have released many resources (via Jorum) which are used to support teaching in institutions and across a range of subject areas
Dịch: Lê Trung Nghĩa